1. Trang chủ
  2. » Tất cả

(Luận văn thạc sĩ) phát triển bền vững nông nghiệp thành phố đà nẵng

100 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển bền vững nông nghiệp thành phố Đà Nẵng
Tác giả Đặng Thị Á
Người hướng dẫn PGS. TS. Võ Xuân Tiến
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 2,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nghiên cứu “Phát triển bền vững nông nghiệp thành phố Đà Nẵng” sẽ phân tích và đánh giá những điều kiện phát triển kinh tế, chính sách đã và đang được thành phố Đà Nẵng thực hiện

Trang 1

ĐẶNG THỊ Á

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

ĐẶNG THỊ Á

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển

Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Võ Xuân Tiến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2011

Tác giả luận văn

Đặng Thị Á

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 4

1.1.1 Một số khái niệm 4

1.1.2 Ý nghĩa của phát triển bền vững nông nghiệp 8

1.2 NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 9

1.2.1 Phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế 9

1.2.2 Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội 12

1.2.3 Phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường 14

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 16

1.3.1 Nhân tố tự nhiên 17

1.3.2 Nhân tố kinh tế - xã hội 17

1.3.3 Nhân tố con người 19

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP 22

1.4.1 Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới 22

1.4.2 Kinh nghiệm của các tỉnh thành trong nước 25

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA 28 2.1 TÌNH HÌNH TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐÀ NẴNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 28

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 28

Trang 5

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA 46

2.2.1 Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế 46

2.2.2 Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội 60

2.2.3 Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường 64

2.1.3 Đánh giá chung 68

2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP NÓI TRÊN 70

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN TỚI 73

3.1 CƠ SỞ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 73

3.1.1 Bối cảnh và tình hình 73

3.1.2 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng thời gian tới 75

3.1.3 Các quan điểm có tính nguyên tắc khi đưa ra giải pháp phát triển nông nghiệp 76

3.2 CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ 77

3.2.1 Giải pháp để phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế 77

3.2.2 Giải pháp để phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội 83

3.2.3 Giải pháp để phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường 84

3.2.4 Giải pháp về tăng cường thể chế, chính sách 86

3.3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

3.3.1 Kết luận 87

3.3.2 Kiến nghị 88

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

- CNH-HĐH: Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa

- FAO (Food Agriculte Organization): Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp

- FDI (Foreign Direct Investment): Đầu tư trực tiếp nước ngoài

- GAP (Good Aquaculture): Quy phạm thực hành nuôi trồng thủy sản tốt

- GDP (Gross domestic product): Tổng sản phẩm trong nước

- GNP (Gross National Product): Tổng sản phẩm quốc dân

- HDI (Human Development Index): Chỉ số phát triển con người

- HĐND: Hội đồng nhân dân

- HTX: Hợp tác xã

- JICA (The Japan International Cooperation Agency): Văn phòng hợp tác

quốc tế Nhật Bản

- KH-CN: Khoa học - Công nghệ

- NGO (non-governmental organization): Tổ chức phi chính phủ

- NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

- ODA (Official Development Assistant): Viện trợ phát triển chính thức

- PPP (Purchasing Power Parity): Sự cân bằng sức mua

- SXKD: Sản xuất kinh doanh

- TW: Trung ương

Trang 7

- UBND: Ủy ban nhân dân

- UICN (International Union for Conservation of Nature ): Hiệp hội quốc tế

về bảo tồn thiên nhiên

- WOED (The World Environmental Organization ): tổ chức sinh thái và môi

trường thế giới

- WTO (Word Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.2 Tốc độ tăng GDP thực tế và theo mục tiêu của thành phố

2.11 Cơ cấu lao động ngành nông nghiệp giai đoạn 2006-2010 54

Trang 9

2.13 Vốn đầu tư phân theo ngành kinh tế của thành phố Đà

2.4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế thành phố Đà Nẵng giai

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta gia nhập WTO đã được hơn 4 năm sau hơn 11 năm đàm phán Tham gia WTO, nước ta có nhiều cơ hội để xây dựng và phát triển đất nước Nền kinh tế nói chung, nền sản xuất nông nghiệp nói riêng có thêm điều kiện tiếp cận thị trường hàng hóa và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên một cách bình đẳng, không bị phân biệt đối xử, tạo cơ hội cho nước ta mở rộng thị trường xuất khẩu, có điều kiện để đấu tranh bảo vệ sự công bằng và hợp lý hơn các lợi ích của đất nước cũng như của doanh nghiệp Vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến sẽ có cơ hội đầu tư vào nước ta hơn, kích thích tăng trưởng kinh

tế, tạo điều kiện mở rộng một số ngành kinh tế hàng hóa xuất khẩu và theo đó tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Gia nhập WTO, phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam đã trở thành vấn đề quan tâm có tính toàn cầu Nhiều hội nghị, hội thảo và diễn đàn đã diễn ra và đã có những kiến nghị, giải pháp mang tính quốc tế, quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển bền vững

Thành phố Đà Nẵng là một thành phố có những bước phát triển về kinh

tế xã hội vượt bậc trong những năm gần đây Nằm trong định hướng chung của cả nước, Đà Nẵng cũng hướng tới là một thành phố phát triển bền vững

cả về kinh tế và xã hội Ngành nông nghiệp của thành phố cũng không nằm ngoài xu hướng đó Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực, cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp ngày càng chuyển dịch theo hướng hiện đại, sản xuất nông nghiệp đang dần phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Đây là thành tựu không ai có thể phủ nhận Tuy nhiên, kinh nghiệm ở các nước trên thế giới và thực tế phát triển kinh tế ở thành phố trong nhiều năm qua cho thấy, không thể tăng trưởng đơn

Trang 11

thuần mà phải trên cơ sở đi cùng nó là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, như xóa đói giảm nghèo, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ và cải thiện môi trường Hơn nữa, với áp lực đô thị hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò nông nghiệp thành phố Đà Nẵng ngày càng quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế bền vững và hội nhập trên cả 3 lĩnh vực: kinh tế, xã hội và môi trường Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề về phát triển nông nghiệp theo yêu cầu phát triển bền vững trong thời gian tới cần tiếp tục quan tâm

Để thành phố Đà Nẵng phát triển ổn định và bền vững không thể thiếu vai trò của nông nghiệp nông thôn Trong những năm qua, mặc dù chính quyền thành phố đã dành nhiều quan tâm để phát triển nông nghiệp thành phố nhưng nông nghiệp vẫn chưa phát triển đúng tiềm năng và mục tiêu đặt ra

Trong nghiên cứu “Phát triển bền vững nông nghiệp thành phố Đà Nẵng” sẽ phân tích và đánh giá những điều kiện phát triển kinh tế, chính sách

đã và đang được thành phố Đà Nẵng thực hiện để phát triển nông nghiệp thành phố, từ đó đề xuất và bổ sung thêm nột số giải pháp phát triển nông nghiệp nhằm tăng khả năng cạnh tranh và tính bền vững của nông nghiệp

thành phố trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến phát triển bền vững nông nghiệp

- Phân tích thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp thành phố Đà Nẵng thời gian qua

- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững nông nghiệp thành phố

Đà Nẵng thời gian tới

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển bền vững nông nghiệp thành phố Đà Nẵng

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu các đối tượng trên, đề tài tập trung sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử

- Phương pháp phân tích thực chứng, phương pháp phân tích chuẩn tắc

- Phương pháp so sánh phân tích điều tra, chuyên khảo, chuyên gia

Chương 3 Giải pháp để phát triển bền vững nông nghiệp thành phố Đà Nẵng thời gian tới

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

NÔNG NGHIỆP

1.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP

1.1.1 Một số khái niệm

a Nông nghiệp

Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng và phức tạp Nó không chỉ

là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi Chúng phát triển theo quy luật sinh học nhất định, con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật để có những giải pháp tác động thích hợp với chúng Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá trình sinh học đó nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản [4]

b Phát triển

Sự phát triển bao hàm nhiều vấn đề rộng lớn và phức tạp, tuy nhiên có

một định nghĩa tổng quát như sau “Phát triển là một quá trình thay đổi liên

tục làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội” (Raanan Weitz, 1995)

Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân, không phân

Trang 14

biệt nam, nữ, các dân tộc, các tôn giáo, các chủng tộc, các quốc gia Mục tiêu này không thay đổi nhiều kể từ năm 1950 khi mà đa số các nước đang phát triển thóat khỏi chủ nghĩa thực dân [6]

Nếu những thành quả tăng trưởng trong xã hội không được phân phối công bằng, hệ thống giá trị của con người không được đảm bảo thì sẽ dẫn đến xung đột, những cuộc đấu tranh có thể xảy ra làm ngưng trệ sự phát triển hoặc đẩy lùi sự phát triển (Raanan Weitz, 1995)

c Phát triển bền vững

Khái niệm phát triển bền vững có nguồn gốc từ những năm 70 và lần đầu

tiên được sử dụng trong tác phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới” do Hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (UICN) đề xuất năm 1980 là “đạt được sự phát

triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” Ở đây, khái niệm

bền vững chỉ mới đề cập đến một nội dung hạn hẹp, nhấn mạnh tính bền vững

về mặt tài nguyên sinh thái nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật

Tác phẩm này đã được phổ biến rộng rãi trong báo cáo Brundland “Tương lai

của chúng ta” (1987) và đã được đề cập chi tiết trong báo cáo “Chăm lo cho trái đất” (1991) và”Chương trình Nghị sự 21” (1992)

Từ đó đến nay, đã có nhiều định nghĩa về phát triển bền vững được giới thiệu, sau đây là một số khái niệm về phát triển bền vững của các tổ chức thế giới và nhà nghiên cứu Việt Nam:

- Theo quan điểm của Ủy ban Môi trường và phát triển thế giới (WCED):

+ Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” (1987) định nghĩa phát triển

bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai” [3]

+ Báo cáo “Chăm lo cho trái đất” (1991): Phát triển bền vững là sự

nâng cao chất lượng đời sống con người trong lúc đang tồn tại, trong khuôn

Trang 15

khổ đảm bảo của các hệ thống sinh thái”; còn tính bền vững là một đặc điểm đặc trưng của mọi quá trình hoặc một trạng thái có thể duy trì mãi mãi

- Phát triển bền vững theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB): Phát triển bền vững là sự phát triển mà trong đó các giá trị kinh tế, xã hội và môi trường luôn luôn tương tác với nhau trong suốt quá trình quy hoạch, phân bố lợi nhuận công bằng giữa các tầng lớp trong xã hội và khẳng định các cơ hội cho sự phát triển kế tiếp duy trì một cách liên tục cho các thế hệ mai sau + Bền vững về kinh tế, thể hiện một cách khái quát ở sự ổn định và không ngừng gia tăng sản xuất của quốc gia, thường được biểu thị bằng các tiêu chí tổng sản phẩm quốc gia (GNP), tổng sản phẩm trong nước (GDP), GDP bình quân đầu người, mức tăng trưởng của GDP, sức mua tương đương (PPP)

+ Bền vững về mặt xã hội, thể hiện ở sự phân phối quyền lợi và các cơ hội một cách công bằng giữa các tầng lớp xã hội, giới và các thế hệ Tính bền vững về xã hội thường được đánh giá qua chỉ số phát triển con người (HDI),

hệ số bình đẳng thu nhập (Hệ số Gini), các chỉ tiêu về giáo dục, dịch vụ y tế… + Bền vững về mặt môi trường, là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và

có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ môi trường sống; khắc phục suy thóai và cải thiện chất lượng môi trường

- Phát triển bền vững theo quan điểm của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp (FAO): Phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn cơ sở tài nguyên thiên nhiên, định hướng những thay đổi công nghệ và thể chế theo một phương thức sao cho đạt đến sự thỏa mãn một cách liên tục những nhu cầu của con người của những thế hệ hôm nay và mai sau Sự phát triển bền vững như vậy trong lĩnh vực nông nghiệp (nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản) chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn gen và thực vật, không bị suy thóai

Trang 16

môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận về mặt xã hội”

(1989)

Theo PGS.TS Trần Văn Chử, “Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

trong cơ chế thị trường ở Việt Nam”, thì phát triển bền vững là sự phát triển

kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian dài dựa trên việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên mà vẫn bảo vệ được môi trường, sinh thái Phát triển kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của

xã hội hiện tại, song không làm cạn kiệt tài nguyên, để lại hậu quả môi trường cho các thế hệ tương lai [3]

Như vậy, có nhiều khái niệm về phát triển bền vững, thậm chí có nhiều quan điểm khác nhau Tổng hợp những các quan điểm được ủng hộ nhiều

nhất có thể hiểu rằng “Phát triển bền vững là sự phát triển trong đó kết hợp

chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển là kinh tế, xã hội và môi trường nhằm thỏa mãn được nhu cầu cầu xã hội hiện tại nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai”

Để đánh giá sự phát triển bền vững đòi hỏi phải có các tiêu chí phát triển bền vững Đó là:

(1) Sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định;

(2) Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội;

(3) Khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; (4) Bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường

Các tiêu chí này một mặt cụ thể hóa chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển, mặt khác là căn cứ để kiểm tra, đánh giá quá trình phát triển

d Phát triển bền vững nông nghiệp

Nông nghiệp bền vững là vấn đề được nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau quan tâm như: nông học, sinh thái học, xã hội học … Hiện

có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển nông nghiệp bền vững

- Theo tổ chức sinh thái và môi trường thế giới (WORD): nông nghiệp

Trang 17

bền vững là nền nông nghiệp thỏa mãn được các yêu cầu của thế hệ hiện nay,

mà không giảm khả năng ấy đối với các thế hệ mai sau Điều đó có nghĩa là nền nông nghiệp không những cho phép các thế hệ hiện nay khai thác tài nguyên thiên nhiên vì lợi ích của họ mà còn duy trì được khả năng ấy cho các thế hệ mai sau, cũng có ý kiến cho rằng sự bền vững của hệ thống nông nghiệp là khả năng duy trì hay tăng thêm năng xuất và sản lượng nông sản trong một thời gian dài mà không ảnh hưởng xấu đến điều kiện sinh thái

- Theo tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO): Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo tồn, sự thay đổi lề lối chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cần ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ, hải sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi

trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có

hiệu quả kinh tế và được ra hội chấp nhận (1992)

Theo Uỷ ban kỹ thuật của FAO, nền nông nghiệp bền vững bao gồm việc quản lý có hiệu quả nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người mà vẫn duy trì hay làm tăng thêm chất lượng của môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Như vậy trên quan điểm phát triển, sự phát triển nông nghiệp bền vững vừa đảm bảo thỏa mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp, vừa không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong tương lai Mặt khác, phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất nông nghiệp cao hơn vừa bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự cân bằng có lợi về môi trường

1.1.2 Ý nghĩa của phát triển bền vững nông nghiệp

Nông nghiệp có vai trò kích thích tăng trưởng nền kinh tế thông qua việc

Trang 18

cung cấp sản phẩm và nguồn lực từ ngành này cho nền kinh tế; như cung cấp lương thực - thực phẩm; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp; cung cấp ngoại tệ cho nền kinh tế thông qua xuất khẩu nông sản; cung cấp vốn cho các ngành kinh tế khác và làm phát triển thị trường nội địa, vì thế phát triển bền vững nông nghiệp sẽ đảm bảo:

- Sử dụng đúng các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm tổn hại

hệ sinh thái và môi trường;

- Đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông nghiệp

- Cung ứng hàng hóa cho xuất khẩu

- Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực: ruộng đất, lao động, nguồn lực khác …

- Giúp cho quá trình sản xuất được tiến hành lâu dài

- Giải quyết, nâng cao đời sống và xóa đói giảm nghèo của người dân

- Rút ngắn khoảng cách giữa các nhóm dân cư trong xã hội

Mục tiêu cuối cùng của phát triển bền vững là thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người, cải thiện cuộc sống, bảo tồn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai ổn định Phát triển bền vững thực hiện và đảm bảo sự liên đới giữa các thế hệ, giữa các quốc gia, giữa hiện tại với tương lai Phát triển bền vững có tính chất đa diện, thống nhất, toàn bộ Muốn phát triển bền vững phải lồng ghép được 3 thành tố quan trọng của sự phát triển với nhau: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Đây là nguyên lý chung

để hướng sự phát triển bền vững của các lĩnh vực trong nền kinh tế

1.2 NỘI DUNG CỦA PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP

1.2.1 Phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã có những chủ trương, chính

Trang 19

sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển của khu vực này Phát triển nông nghiệp được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm tại các địa phương, đóng vai trò quyết định trong xóa đói giảm nghèo

Như vậy có thể hiểu sự phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế là

sự phát triển đảm bảo tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của nông nghiệp, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia, cộng đồng

Mục tiêu của phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng

ổn định với cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thóai và gánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai [2]

Để phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế cần phải đáng ứng các tiêu chí cụ thể sau:

- Sản xuất nông nghiệp phải đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông

nghiệp gồm: gia tăng sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa; hàng hóa

sản xuất ra đáp ứng một phần nhu cầu sử dụng của người dân; chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường, trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm Đồng thời sản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm lượng công nghệ cao Giá cả hợp lý, có sức cạnh tranh

Vì vậy phát triển bền vững nông nghiệp đòi hỏi sản phẩm nông nghiệp từ khâu sản xuất, thu hoạch, bảo quản đến khâu chế biến phải đảm bảo các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm, đảm bảm sức khỏe cho người tiêu dùng

- Hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp ngày càng cao Sản xuất

nông nghiệp gắn liền với nguồn tài nguyên thiên nhiên đất, nước, nên phát triển nông nghiệp bền vững trên cơ sở sử dụng các nguồn tài nguyên này một cách hợp lý, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân Điều này đòi hỏi người nông dân phải có sự đầu tư tăng năng suất lao động, năng suất ruộng đất và năng suất cây trồng, đảm bảo sản xuất ra một khối lượng hàng

Trang 20

hóa khá lớn, đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc dân nói chung và cho từng địa phương nói riêng Có như vậy mới tạo lợi nhuận cao

- Sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao

cho người nông dân Với quy mô lao động đang có xu hướng ngày càng giảm dần thì người nông dân phải sử dụng hợp lý nguồn vốn, đất đai, phải lực chọn hình thức tổ chức sản xuất phù hợp để tăng năng suất lao động

Ngoài ra, theo Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của nước ta, để phát triển bền vững về kinh tế cần đảm bảo 7 chỉ tiêu sau phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội: [1], [2]

(1) GDP bình quân đầu người, tính theo VNĐ (giá hiện hành), từ Niên giám thống kê địa phương

(2) Tăng trưởng GDP, tính theo %, Niên giám thống kê địa phương (3) Cơ cấu các ngành kinh tế quốc dân: nông, lâm, ngư nghiệp; công nghiệp; xây dựng; dịch vụ được tính bằng tỷ trọng (%) đóng góp của ba ngành trên vào GDP, từ Niên giám thống kê địa phương

(4) Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(5) Tỷ lệ thu/chi ngân sách, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(6) Kim ngạch xuất khẩu, tính theo USD giá hiện hành hoặc quy đổi

ra VNĐ theo tỷ giá chính thức của Ngân hàng Nhà nước, từ Niên giám thống

kê địa phương

(7) Tỷ trọng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của địa phương so với

cả nước, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

Tăng trưởng kinh tế cần phải bảo đảm nhanh nhưng bền vững tức là tốc

độ tăng trưởng kinh tế đạt ở mức cao và duy trì ổn định trong nhiều năm liền (thường 20-30 năm) [10]

Trang 21

Như vậy, phát triển bền vững nông nghiệp về kinh tế là sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị sản lượng để đáp ứng nhu cầu xã hội về sản phẩm nông nghiệp

1.2.2 Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội

Phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội đó chính là sự đóng góp cụ thể của nông nghiệp cho phát triển xã hội, đảm bảo sự công bằng trong phát triển

Phát triển nông nghiệp bền vững về xã hội phải đảm bảo để cuộc sống của người nông dân đạt kết quả ngày càng cao; nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống gia đình, cải thiện chất lượng cuộc sống, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội Giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất và tinh thần cho người nông dân

Vì vậy để phát triển nông nghiệp về xã hội cần chú ý đến những vấn đề liên quan đến những yếu tố của phát triển xã hội như:

- Sử dụng hợp lý lao động: phát triển kinh tế nông nghiệp phải đi đôi với giải quyết việc làm cho người lao động Gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với mục tiêu tạo việc làm cho người dân, tăng năng suất lao động

- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo, đó là mục tiêu vừa trước mắt vừa lâu dài, tạo động lực phát triển kinh tế và mặt bằng phát triển đồng đều trong xã hội

- Tăng trưởng kinh tế làm giảm khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Ổn định xã hội được biểu hiện bằng việc đó là không có xung đột sắc tộc giữa các giai tầng trong xã hội Đây cũng là điều kiện để tăng trưởng kinh tế Ngoài ra chất

Trang 22

lượng cuộc sống được biểu hiện ở các chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người, chỉ số hưởng thụ về giáo dục, chỉ số về chăm sóc y tế …

Ngoài ra, theo Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của nước ta, để phát triển bền vững về xã hội cần đảm bảo 14 chỉ tiêu sau phù hợp với yêu cầu của phát triển của xã hội: [1], [2]

(1) Tổng dân số, tính theo triệu người, từ Niên giám thống kê địa phương

(2) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(3) Tỷ lệ dân số sống dưới ngưỡng nghèo, tính bằng phần trăm (%),

từ số liệu công bố kết quả của các cuộc điều tra mức sống

(4) Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi, hoặc tỷ lệ trẻ em tử vong dưới 5 tuổi, hoặc tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng, tính theo phần trăm (%), tính theo thống kê ngành Y tế địa phương

(5) Tỷ lệ thất nghiệp thành thị, tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động ở nông thôn, từ Niên giám thống kê địa phương

(6) Tuổi thọ bình quân, tính hằng năm, tính theo kết quả tổng điều tra dân số

(7) Dân số được sử dụng nước sạch, tính bằng phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(8) Tỷ lệ dân số đựoc tiếp cận hệ thống vệ sinh, tính bằng phần trăm (%),từ Niên giám thống kê địa phương

(9) Tỷ lệ biết chữ ở người lớn, tính theo phần trăm (%), kết quả điều tra dân số

(10) Tỷ lệ phổ cập trung học cơ sở đối với trẻ em trong độ tuổi, tính theo tỷ lệ phần trăm (%), từ thống kê ngành Giáo dục địa phương,

Trang 23

(11) Tỷ lệ lao động được đào tạo, tính theo phần trăm (%), theo số liệu thống kê của địa phương

(12) Tỷ lệ dân số tiếp cận các phương tiện truyền thông hiện đại, tính theo phần trăm (%), theo số liệu thống kê của địa phương

(13) Số người phạm pháp trong năm trên 1.000 dân, lấy theo thống kê ngành Công an địa phương

(14) Số tai nạn giao thông trong năm trên 100.000 dân, theo thống kê ngành Công an địa phương

Như vậy, phát triển bền vững nông nghiệp về xã hội là tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình

độ dân trí và đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân

1.2.3 Phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường

Đất đai, nguồn nước là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được của nông nghiệp Việc khai thác đất đai, nguồn nước để sản xuất nông nghiệp đòi hỏi cần phải được duy trì được chất lượng đất, bảo vệ nguồn nước, hạn chế ô nhiễm môi trường Cần tránh khai thác cạn kiệt các nguồn lợi tự nhiên nhằm đảm bảo cho hoạt động sản xuất nông nghiệp có hiệu quả Quá trình phát triển nông nghiệp bền vững cần chú trọng đến bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo được sự đa dạng và bền vững của môi trường sinh thái Phải

áp dụng khoa học kỹ thuật trong việc xử lý chất thải và các loại hóa chất nguy hại khác để không gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường

Vì vậy, phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường là phải khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường [2]

Trang 24

Đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường trong nông nghiệp thể không chỉ thoả mãn nhu cầu của hiện tại mà còn đảm bảo cho nhu cầu của nhiều thế hệ Để phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường thì quá trình phát triển nông nghiệp phải đảm bảo các yếu tố sau:

- Duy trì độ màu mỡ của đất:

- Độ ô nhiễm của không khí;

- Độ ô nhiễm của nguồn nước

Ngoài ra, theo Bộ chỉ tiêu phát triển bền vững của nước ta, để phát triển bền vững về môi trường cần đảm bảo 6 chỉ tiêu sau phù hợp với yêu cầu của phát triển của xã hội: [1], [2]

(1) Tỷ lệ che phủ của rừng, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(2) Tỷ lệ diện tích khu bảo tồn thiên nhiên so với diện tích tự nhiên, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(3) Tỷ lệ đất nông nghiệp được tưới, tiêu, tính theo phần trăm (%),

từ Niên giám thống kê địa phương

(4) Tỷ lệ đất bị suy thoái hàng năm, tính theo phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(5) Tỷ lệ các khu, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải/chất thải rắn, tính bằng phần trăm (%), từ Niên giám thống kê địa phương

(6) Số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn ISO 14001, từ Niên giám thống

kê địa phương

Tóm lại: phát triển bền vững nông nghiệp về môi trường là giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất kinh nông nghiệp gây ra Có

kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, đảm bảo duy trì độ màu mỡ của đất, giảm thiểu sự ô nhiễm không khí và nguồn nước

Mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành sự phát triển nông nghiệp bền

Trang 25

vững có thể được diễn tả qua mô hình sau:

Như vậy, phát triển bền vững là trung tâm, là sự hài hoà của các giá trị kinh tế – xã hội – môi trường… trong quá trình phát triển Tính bền vững của

hệ thống sản xuất nông nghiệp là kết quả của sự kết hợp ba nội dung nói trên Nếu một yếu tố nào đó gây tác động tiêu cực hoặc giữa chúng phát sinh những tác động ngược chiều nhau thì toàn bộ hệ thống bị ảnh hưởng Nỗ lực phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững phải được đặt ra và giải quyết trong mối quan hệ tổng thể này

1.3 NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP

Phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững nông nghiệp nói riêng chịu tác động của nhiều nhân tố về tự nhiên, xã hội, con người … các nhân tố này gắn bó với nhau, tác động qua lại tạo thành một hệ thống tác động thúc đẩy hoặc cản trở quá trình phát triển của nhau Vì vậy, để quá trình phát triển ngành nông nghiệp nhanh và bền vững thì việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nó một cách khoa học có ý nghĩa quan trọng

Trang 26

1.3.1 Nhân tố tự nhiên

Nhân tố tự nhiên bao gồm các nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên như đất đai, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý…, các nhân tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của ngành nông nghiệp, là điều kiện tiên quyết của sản xuất nông nghiệp Sở dĩ như vậy là vì, hoạt động sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện khách quan Trước hết nông nghiệp khác cơ bản với các ngành khác ở chỗ tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai, điều kiện tự nhiên Ngành nào tiến hành sản xuất kinh doanh cũng cần đất đai, nhưng không có ngành nào đất đai đóng vai trò chủ đạo như nông nghiệp Gắn liền với vai trò của đất đai là ảnh hưởng của thời tiết Cũng không có ngành nào, ngoài nông nghiệp phụ thuộc vào sự biến động thất thường của thời tiết như vậy Cùng với sự biến động của thời thiết, điều kiện thổ nhưỡng, độ màu mỡ của đất đai mỗi nơi mỗi khác nên việc lựa chọn cơ cấu cây trồng, vật nuôi và

kỹ thuật canh tác cũng khác nhau Trong nông nghiệp, sự khác nhau về chất lượng đất trồng, khí hậu, nguồn nước sẵn có dẫn đến việc sản xuất các loại cây khác nhau và sử dụng các biện pháp canh tác khác nhau Để phát triển nông nghiệp được bền vững, trước hết phải xác định được thế mạnh cũng như những bất lợi về điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên như là căn cứ ban đầu

để qua đó xác lập được kế hoạch phát triển bền vững, cơ cấu cây trồng, con vật nuôi một cách phù hợp

Xu hướng chung của việc khai thác, sử dụng các điều kiện tự nhiên là phải tiết kiệm đến mức tối đa nguồn của cải thiên nhiên, đồng thời đề cao chất lượng, hiệu quả và tôn trọng nhân cách sáng tạo của con người

1.3.2 Nhân tố kinh tế - xã hội

a Nhân tố kinh tế

Trang 27

- Nhân tố vốn: Vốn là yếu tố đầu vào được trực tiếp sử dụng vào quá

trình sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác (máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nhà kho, cơ sở hạ tầng kỹ thuật…) để tạo ra các sản phẩm hàng hóa đầu ra

Nguồn vốn trong nước bao gồm: vốn từ ngân sách nhà nước (chủ yếu

từ đóng thuế), vốn tự có của nhân dân và vốn của các tổ chức tín dụng trong nước

Nguồn vốn nước ngoài bao gồm: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

và vốn đầu tư gián tiếp

Để phát triển ngành nông nghiệp theo hướng bền vững đòi hỏi phải có nhiều vốn, từ nhiều nguồn khác nhau Như vậy, mới phát huy hết những khả năng tiềm tàng về các nguồn lợi, đất đai, lao động, cơ sở vật chất hiện có, tạo điều kiện thực hiện cuộc cải biến sâu sắc về trình độ công nghệ, phương tiện

và phương pháp sản xuất, nhận thức và hoạt động của người dân trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong ngành theo hướng hiện đại, hợp lý, hiệu quả và bền vững

- Nhân tố thị trường: Ngành nông nghiệp phát triển theo hướng sản

xuất hàng hóa tất yếu phải gắn với thị trường Thị trường là trung tâm của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu thụ nông sản

Ngành nông nghiệp chỉ đạt hiệu quả cao khi gắn sản xuất với thị trường, thực hiện chiến lược sản xuất - thị trường; thị trường vừa là căn cứ vừa là đối tượng để xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp mà cụ thể là lựa chọn cơ cấu cây trồng, con vật nuôi thích hợp

- Nhân tố khoa học kỹ thuật và công nghệ: Trong quá trình phát triển

của ngành nông nghiệp, KH-CN giữ vai trò hết sức quan trọng, thể hiện ở những nét chính sau:

Trang 28

+ Thúc đẩy và nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất

+ Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp

+ Thúc đẩy tăng năng suất lao động và tiến bộ xã hội

b Nhân tố xã hội

- Chính sách quản lý: các chính sách về phát triển nông nghiệp có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển nông nghiệp bền vững, bao gồm: chính sách đất đai và thuế sử dụng đất; chính sách tín dụng và lãi suất tín dụng; chính sách khuyến nông; các chính sách về khoa học công nghệ; chính sách hỗ trợ lao động …

- Năng lực thực thi chính sách: các chính sách của nông nghiệp được thực thi có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào năng lực của các cấp chính quyền cũng như người triển khai thực hiện Trong nông nghiệp, năng lực thực thi chính sách có vai trò quan trọng trong việc quy hoạch và thực hiện quy hoạch, vận dụng hợp lý các chính sách vào thực tế nhằm đạt hiệu quả cao nhất [5]

1.3.3 Nhân tố con người

Phát triển ngành nông nghiệp theo hướng bền vững là một quá trình kinh tế - xã hội diễn ra trong những hoàn cảnh cụ thể và chịu sự tác động của môi trường chính trị - xã hội nhất định, biểu hiện qua các thể chế nhà nước, chính sách dân số, tập quán xã hội, truyền thống văn hóa, chất lượng nguồn nhân lực… Trong đó yếu tố người lao động và chất lượng lao động đóng một vai trò to lớn

Về chất lượng lao động: muốn nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp không chỉ cần có các phương tiện công nghệ, mà năng lực sản xuất hay khả năng lao động của con người cần phải phát triển một cách tương ứng Con

Trang 29

người vừa là mục đích vừa là động lực, là nhân tố trung tâm của sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng

Để có được đội ngũ những người lao động giỏi và kinh doanh giỏi, mà nhiều nhà kinh tế cho rằng đó là động lực để đạt được sự tăng trưởng cao, cần phải tạo sự chuyển biến căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Phải xác định “giáo dục là của cải nội sinh” và việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư và phát triển, giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Giáo dục đào tạo phải tạo ra một cơ cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, khoa học kỹ thuật, đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà kinh doanh, nhà quản lý… Đây là nguồn lực của mọi nguồn lực Nguồn lực này phải đủ năng lực hoạch định và triển khai đường lối phát triển ngành nông nghiệp, đủ sức nắm bắt, ứng dụng có hiệu quả những thành tựu mới của khoa học và công nghệ vào điều kiện thực tiễn nông nghiệp Việt Nam Việc xây dựng nguồn nhân lực cho ngành nông nghiệp phải tiến hành với tốc độ và quy mô thích hợp, đáp ứng yêu cầu của từng thời kỳ Đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng, phải có chính sách bố trí và sử dụng nguồn nhân lực

đã được đào tạo, phải tận dụng mọi năng lực, phát huy mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân để tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, góp phần quan trọng vào tăng trưởng và phát triển ngành nông nghiệp

Môi trường chính trị - xã hội: để ngành nông nghiệp phát triển nhanh

và bền vững phải dựa trên môi trường chính trị, xã hội và cơ sở pháp lý ổn định, phải có động lực trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích chung và lợi ích riêng, phải hoạt động có trật tự, kỷ cương và phải tạo được sự phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng Hơn nữa, trong thời đại hiện nay, kỹ thuật - công nghệ phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp Nó đòi hỏi phải có sự lựa chọn thích hợp, phải có những khoản đầu tư lớn… Đây là những việc mà

Trang 30

không một cá nhân hay tổ chức nào có thể đảm đương được ngoài Nhà nước

và vai trò Nhà nước thể hiện ở:

- Lựa chọn mô hình, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng các chính sách, chế độ, quy định… phát triển bền vững ngành nông nghiệp

- Xây dựng và triển khai các chính sách về phát triển nguồn nhân lực, xây dựng kết cấu hạ tầng, huy động và sử dụng vốn, phát triển KH-CN…

- Tổ chức bộ máy điều hành và đảm bảo bằng khung khổ pháp lý cho việc thực hiện các chính sách phát triển bền vững ngành nông nghiệp

Chúng ta đã biết, có chính sách đúng đắn nhưng việc tổ chức thực hiện không tốt thì cũng sẽ thất bại Vì vậy, các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực hiện các chính sách là các tổ chức, đơn vị thực sự có năng lực, hiệu lực thì các chính sách mới đi vào đời sống và nhanh chóng phát huy hiệu quả Ngược lại, việc tổ chức thực hiện sai mục tiêu, chậm đưa vào cuộc sống sẽ làm hiệu quả thấp, thậm chí còn làm ảnh hưởng đến kết quả của toàn ngành

Giữ vững ổn định chính trị ở nước ta hiện nay là giữ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy đẩy đủ quyền làm chủ nhân dân Tuy nhiên, thực tiễn đã đúc kết rằng, không phải là làm sao cho vai trò của Nhà nước phình to hay thu hẹp lại thì sẽ tốt, mà quan trọng là Nhà nước phải tạo lập môi trường hoạt động kinh tế hiệu quả vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của các chủ thể sản xuất kinh doanh, vừa tạo điều kiện giúp đỡ, điều tiết thích hợp để ngành thủy sản phát triển nhanh và hiệu quả

Ngoài các nhân tố trên, để phát triển bền vững ngành nông nghiệp còn phải chịu sự chi phối của các nhân tố khác như điều kiện vật chất, kết cấu hạ tầng nông thôn, trình độ dân trí, truyền thống văn hóa… Việc nghiên cứu một cách khoa học các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững ngành nông nghiệp để chủ động, sáng tạo khai thác mặt tích cực, đồng thuận và hạn chế

Trang 31

mặt tiêu cực, ngược chiều của từng nhân tố, cũng như trong quá trình thực thi chiến lược phải có sự phối hợp liên ngành, liên vùng thì sự tăng trưởng và phát triển của ngành nông nghiệp mới hiệu quả và bền vững

1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP

1.4.1 Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới

a Bài học từ nông nghiệp Hà Lan

Hà Lan là một nước nghèo tài nguyên, diện tích nhỏ song đã xây dựng được một nền nông nghiệp có tính cạnh tranh cao phát triển bền vững và có hiệu quả cao nhất thế giới

Đất đai Hà Lan hiếm hoi, diện tích đất canh tác 910.000 ha, đất đồng cỏ 1.020.000ha, diện tích đất canh tác khoảng 0,058 ha/người, là mức thấp nhất của thế giới Trên đất lục địa, đất nông nghiệp và phi nông nghiệp có tỉ lệ 30/70 Trong đất nông nghiệp, tỉ lệ sử dụng để trồng cỏ 51,4%, cây nông nghiệp 41,3%, cây hoa-rau-cây cảnh 5,7% Trong đất phi nông nghiệp, rừng chiếm 9,5%, đất ở 6,6%, đất bảo hộ tự nhiên 4,1%, đất nghỉ 2,4%, đất đường

xá 4,0%, đất công nghiệp và xây dựng 3,8%

Hà Lan đã đạt được những thành tựu vượt trội về phát triển nông nghiệp:

- Hiệu suất xuất khẩu nông sản đứng đầu thế giới (có 9 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đứng đầu thế giới, 3 mặt hàng đứng thứ hai thế giới);

- Mức xuất khẩu về nông sản cũng vượt nhiều cường quốc nông nghiệp thế giới;

Theo cách tính của Bộ Nông nghiệp Mỹ dựa vào "đồng USD quốc tế" của tổ chức FAO, thì hiệu suất sản xuất của đất ở Hà Lan năm 1991 đạt 2468 USD/ha, hiệu suất lao động đạt 44339 USD/người Hiệu suất lao động tuy

Trang 32

thấp hơn Mỹ một chút, nhưng hiệu suất đất thì cao hơn hẳn mọi nước trên thế giới

Trên thị trường thế giới, các mặt hàng nông sản của Hà Lan có sức cạnh tranh cao dựa vào những giải pháp chủ yếu sau đây:

- Dựa vào vốn và kỹ thuật cao, trong đó nổi bật nhất là hoa và cây cảnh

là những ngành sản xuất đòi hỏi nhiều vốn và kỹ thuật, đồng thời phải có một

hệ thống dịch vụ cao cấp mới có thể vận chuyển những mặt hàng này ra nước ngoài Một thí dụ khác là về khoai tây, vốn là một loại "thực phẩm bình dân" của thế giới, giá cả bình thường, nhưng do Hà Lan tạo được giống khoai tây

có kích cỡ đều đặn, vỏ nhẵn bóng được coi là " lương thực thứ hai " được thế giới ưa chuộng, từ đó có thị trường xuất khẩu ổn định, nhất là cung cấp cho nhu cầu chế biến thức ăn nhanh

- Đổi mới phương thức sản xuất, để tăng sức cạnh tranh Hà Lan dùng

vốn và công nghệ cao để thay thế có hiệu quả nguồn quỹ đất hiếm hoi, sử dụng nhà kính để sản xuất cà chua, dưa, ớt quanh năm, tiết kiệm đất, tăng hiệu suất đất Phương thức sản xuất gà đẻ trứng, lợn thịt cũng được cải tiến để bảo vệ môi trường, đảm bảo yêu cầu sức khoẻ động vật và và chất lượng quốc

tế, có hiệu quả cao

- Tăng giá trị gia tăng nhờ vào chế biến chuyên sâu

Trải qua mấy trăm năm cải tiến các công nghệ truyền thống về chế biến pho mát, bơ, sửa tạo được uy tín quốc tế Công nghệ chế biến ca cao, ca phê

từ thời kỳ thực dân vẫn còn phát huy tác dụng trong công nghiệp chế biến hiện nay Nhiều loại nguyên liệu không sản xuất được hoặc thiếu thì dựa vào nhập khẩu, thông qua chế biến sâu, đã vươn ra chiếm lĩnh thị trường thế giới với giá trị gia tăng rất lớn

Trang 33

b Hồng Kông

Với dân số 5 triệu người trong một vùng diện tích nhỏ hẹp (1.060km2), nông nghiệp đô thị của Hồng Kông sử dụng chỉ 10% tổng diện tích đất để sản xuất 45% rau tươi, 15% thịt heo, 68% gà sống để dân tiêu dùng Phát triển rau

và hồ cá chiếm 31,1% và 18,2% diện tích đất nông nghiệp sử dụng năm 1979 Hơn 60 loại rau được trồng quanh năm Sự cơ khí hóa và thâm dụng vốn trong nông nghiệp thông qua hình ảnh của 2.400 máy xới quay vòng, 1.350 đơn vị tưới nước được dùng trong nông trại rau vào năm 1977 Trái ngược lại, diện tích canh tác lúa đã bị thu nhỏ nhanh tới mức: từ 9.450 hecta, chiếm 70,3% đất nông nghiệp trong năm 1954 xuống chỉ còn 40 hecta tức 0,4% vào năm 1979 Sự canh tác lúa nếu được biểu thị trên đồ thị cho thấy mức độ giảm thẳng đứng do liên quan tới lợi nhuận thấp và thiếu lao động trong sản xuất- dân làng liên tục di cư ra vùng đô thị của Hồng Kông hoặc ra nước ngoài

Nuôi cá ao hồ là một nguồn thực phẩm quan trọng khác có sự phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây ở Hồng Kông cùng với phát triển đô thị Hai dạng trại nuôi cá phỗ biến là đa canh và độc canh (nuôi đa canh: cá chép, cá phèn, cá đối… kết hợp với chăn nuôi gia súc; nuôi độc canh: cá ăn thịt như rắn, cá lóc, cá trê) 300 nông trại nuôi độc canh hoạt động ở Hồng Kông với sản lượng 60-74 tấn/hecta cùng với 1.000 nông trại đa canh sản xuất

25 tấn cá/hecta Các trại cá có thể phát triển được bởi vì tỉ lệ sản lượng luôn được cải thiện và giới hạn giá phải trả cho cá nước ngọt tươi sống

Các trang trại nuôi gia súc tập trung cho thấy khả năng hiện đại hóa tiếp tục của khu vực nông nghiệp ở Hồng Kông Chăn nuôi gà có sự thay đổi hoàn toàn từ sản xuất cầm chừng (năm 1949) đến một quy mô thương mại với tổng đàn gà lên đến 6,7 triệu con vào năm 1979 Hiện nay hơn một phần tư các trại nuôi gà kết hợp nuôi hơn 10.000 con/trại Những sự tiến bộ công nghệ, sự

Trang 34

phát triển của đàn gia súc địa phương và sự cung cấp thực phẩm với giá hợp

lý cùng đóng góp cho sự tăng trưởng của công nghiệp chăn nuôi gà

Tương tự, trang trại nuôi heo trở nên hiện đại và quy mô rộng lớn hơn với một xu hướng đã được xác định là số lượng trại ít hơn nhưng số đầu heo lớn hơn Số các trại heo giảm hơn 60% trong 11 năm qua, từ 13.700 trại năm

1968 xuống còn 5.238 trại vào năm 1979 Theo tính toán của các nghiên cứu khoa học ước lượng 130.000 tấn thức ăn thừa từ các nhà hàng và nhà máy chế biến thực phẩm được sử dụng hiệu quả mỗi năm để nuôi heo Đây là việc sử dụng chất thải, thức ăn dư thừa tái chế đáng lưu ý và hiệu quả nhất, mặt khác nếu không tái tận dụng thì chính địa phương sẽ gặp khó khăn để vứt bỏ Ý nghĩa của việc chăn nuôi gia cầm và heo của Hồng Kông hiệu quả đó là duy trì năng lực tái chế thực phẩm dư thừa để chăn nuôi gia súc gia cầm

1.4.2 Kinh nghiệm của các tỉnh thành trong nước

a Cần Thơ

Từ lâu, thành phố Cần Thơ được xem là thủ phủ miền Tây - đô thị trẻ, diện tích khoảng 139 ngàn ha, 1.120 ngàn dân cư sinh sống mang đậm nét văn hóa phương Nam Ngoài đặc trưng về địa lý là đầu mối giao thông quan trọng giữa các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thành phố Cần Thơ được ví như “đô thị miền sông nước” là nơi hết sức độc đáo để phát triển loại hình du lịch sông nước Hiện nay, Cần Thơ có 11 khu sinh thái vườn và vô số vườn cây gia đình lúc nào cũng đón mời khách

Với nhiều tour du lịch sinh thái đa dạng, phong phú, các khu du lịch sinh thái của Cần Thơ không chỉ thu hút khách du lịch nước ngoài mà còn thu hút một lượng lớn khách du lịch trong nước Ngoài ra du lịch sinh thái, du khách còn được tìm hiểu về 9 di tích trên địa bàn thành phố đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa truyền thống như: chùa, đình, chợ cổ Cần Thơ,

Trang 35

nhà cổ Bình Thủy, tuyến lộ vòng cung Tìm hiểu các làng nghề truyền thống

và những nét sinh hoạt độc đáo của 3 dân tộc Việt - Hoa - Khmer Du khách cũng không quên loại hình đờn ca tài tử dặt dìu trên sông làm say lòng người viễn xứ

Như vậy, Cần Thơ đã xây dựng mô hinh phát triển nông nghiệp gắn với

du lịch toàn diện: bảo vệ, tôn tạo và phát triển văn hóa, cảnh quan và môi trường sinh thái

b Đăk Lăk

Cách Buôn Ma Thuột gần 50 km về phía Tây - Bắc, có một vùng đất là nơi chung sống của cộng đồng các sắc tộc: Ê Ðê, M’nông, Gia rai, Lào, Thái…, trong đó có một làng nổi tiếng về nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng, đó là Buôn Ðôn Buôn Ðôn cũng đã và đang trở thành một thương hiệu nổi tiếng của du lịch ĐăkLăk nói riêng và Tây Nguyên nói chung

Đăk Lăk đã phát triển khu du lịch văn hóa - sinh thái Buôn Ðôn với tổng diện tích gần 1.600 ha, bao gồm các tổ hợp du lịch: làng du lịch - văn hóa, khu du lịch lâm sinh, khu chăn thả động vật hoang dã, khu giải trí hồ Đăk Min, khu lưu trú sinh thái, khu dã ngoại rừng cảnh quan, khu sản xuất và du lịch nông nghiệp, Khu chăn thả động vật sẽ chia làm khu vực nuôi tập trung

và khu thả động vật trong rừng theo kiểu bán hoang dã, nhằm phục vụ khách tham quan Với mục tiêu xây dựng một làng du lịch hội đủ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu của các dân tộc thiểu số ở Buôn Đôn và Tây Nguyên, tạo cho du khách có mối quan hệ mật thiết với cư dân bản địa Các dịch vụ du lịch gắn chặt với đời sống, sinh hoạt của cư dân như dịch vụ lưu trú, ẩm thực tại nhà dân, nấu rượu cần, dịch vụ voi và hoạt động giao lưu văn hóa cồng chiêng, lễ hội, kể khan,

Trang 36

Như vậy, với một số mô hình điển hình cho phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sinh thái và bền vững được chọn lọc để tham khảo, đúc kết

và áp dụng những điểm phù hợp với điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội - môi trường của thành phố Đà Nẵng

Trang 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI GIAN QUA

2.1 TÌNH HÌNH TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐÀ NẴNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Thành phố Đà Nẵng có vị trí địa lý thuận lợi không chỉ cho phát triển kinh tế mà còn cho phát triển nông nghiệp Với diện tích tự nhiên 128.343,23

ha, chiếm 0,39% diện tích cả nước, nằm trên trục đường giao thông Bắc Nam

và con đường xuyên Á nên có nhiều lợi thế trong việc giao lưu kinh tế với các tỉnh trong khu vực, là động lực để trở thành một trong những trung tâm kinh

tế quan trọng của vùng trọng điểm miền Trung Có thể nói thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững

b Địa hình

Thành phố Đà Nẵng có địa hình tương đối đa dạng và phức tạp, vừa có đồng bằng, vừa có núi, vùng cao và dốc tập trung ở phía Tây và Tây Bắc có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ những đồng bằng hẹp

Trang 38

Nguồn: Cơ sở dữ liệu GIS của DaCRISS năm 2008 [13]

Hình 2.1 Bản đồ mô tả địa hình thành phố Đà Nẵng

Nhìn chung dạng địa hình của thành phố thấp dần từ Tây sang Đông và

có thể chia thành ba dạng địa hình chính như sau:

- Địa hình núi cao

Đây là địa hình có độ dốc lớn từ 30-40 độ và bị chia cắt mạnh, được tập trung chủ yếu ở phía Tây - Tây Bắc và chiếm phần lớn diện tích của thành phố với những thung lũng và dãy núi cao từ 500-1.500m như đỉnh Bà Nà cao 1.487m Dạng địa hình này rất thuận lợi cho việc phát triển sản xuất lâm nghiệp và du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường Hiện nay toàn bộ diện tích rừng tự nhiên của thành phố đều được tập trung chủ yếu ở vùng núi này

- Địa hình đồi thấp

Là dạng địa hình chuyển tiếp giữa vùng núi cao và đồng bằng Dạng địa hình đồi thấp được tập trung chủ yếu ở một số xã của huyện Hòa Vang như xã Hòa Sơn, Hòa Nhơn, Hòa Liên, Hòa Phong … Tuy diện tích không

Trang 39

lớn nhưng đây là vùng rất thuận tiện cho việc phát triển nông - lâm nghiệp, cây công nghiệp dài ngày và các loại cây ăn quả

- Địa hình đồng bằng

Tập trung chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam của thành phố, có thể chia làm hai dạng chính như sau:

+ Đồng bằng ven biển: đây là vùng đất thấp, chịu ảnh hưởng của biển

nên bị nhiễm mặn; dọc theo bờ biển có nhiều cồn cát và bãi cát lớn như Hòa Hiệp Nam, Hòa Khánh Bắc, Mỹ An … Dạng địa hình này rất thích hợp cho việc xây dựng nhà ở, xây dựng các khu công nghiệp và trồng rừng ven biển

+ Đồng bằng ven sông: đây là dạng địa hình được hình thành nhờ sự

bồi đắp của các con sông lớn chảy ra biển như sông Hàn, sông Túy Loan, sông Cẩm Lệ … rất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản

Do đặc điểm địa hình nên đa phần các con sông này đều ngắn và dốc, các cánh đồng được phù sa bồi đắp cũng không lớn như các vùng khác trên cả nước

c Khí hậu, thời tiết

Thành phố Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc

và khí hậu miền Nam, được chia làm hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 12, mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7 Mùa mưa trùng với mùa bão lớn nên thường có lũ lụt, ngập úng ở nhiều vùng Bão ở Đà Nẵng thường xuất hiện vào các tháng 9, 10, 11, 12; các đợt bão thường kèm theo mưa to, gây lũ lụt cho một số khu vực Trong năm thường xuất hiện từ 8 đến 12 các cơn bão Mùa khô ít mưa, nền nhiệt độ cao gây hạn, một số cửa sông bị nước mặn xâm nhập

Nhiệt độ trung bình là 25,60C, lượng mưa trung bình hằng năm là 1.992mm, số giờ nắng trung bình hằng năm là 2.198 giờ, độ ẩm không khí trung bình hằng năm là 82%, hướng gió thịnh hành là Đông Bắc - Tây Nam

Trang 40

Nhìn chung, khí hậu, thời tiết thành phố Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu của khu vực duyên hải miền Trung nên thường ảnh hưởng không tốt đến sản xuất và đời sống dân cư, đặc biệt là sản xuất thủy sản nông lâm

d Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên đất

Đất đai là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là tư liệu sản xuất đặc biệt,

là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm với giá thành thấp nhất Do đó, chiến lược sử dụng đất tất yếu là một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển nông nghiệp sinh thái và phát triển bền vững Đầu tư theo chiều sâu vào đất đai phải đạt các mục tiêu sau:

+ Nâng cao năng suất, chất lượng nông sản về mặt hàm lượng các chất dinh dưỡng và loại trừ dần các độc tố chứa trong nông sản đó

+ Nâng cao hiệu quả kinh tế trước mắt cũng như lâu dài, do đó cần phải đầu tư theo chiều sâu vào đất phải đem lại lợi nhuận ngày càng tăng cao cho người sản xuất

+ Nâng cao và ổn định lâu dài độ phì nhiêu thực tế của đất Tận dụng mối quan hệ tương hỗ giữa đất với các yếu tố khác để phát huy ưu thế của độ phì nhiêu thực tế ngay cả đối với những đất có độ phì nhiêu thấp

Thành phố Đà Nẵng có tổng diện tích 128.343,23 ha, trong đó huyện đảo Hoàng Sa chiếm 30.500 ha Theo phân loại nguồn gốc phát sinh các loại đất không kể huyện đảo Hoàng Sa thành phố có các nhóm đất chính sau:

+ Nhóm đất cồn cát và đất cát ven biển: có diện tích 9.446 ha, chiếm 9,65% tổng diện tích đất liền

+ Nhóm đất mặn: có diện tích 1.149 ha, chiếm 1,17 % tổng diện tích đất liền

Ngày đăng: 22/02/2023, 20:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hà Ban (2008), Phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh Kom Tum, Luận án tiến sĩ kinh tế nông nghiệp, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững nông nghiệp tỉnh Kom Tum
Tác giả: Hà Ban
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: 2008
2. Chương trình nghị sự 21, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nghị sự 21, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
3. Cục thống kê thành phố Đà Nẵng, Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng từ 2000 - 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê thành phố Đà Nẵng từ 2000 - 2009
Tác giả: Cục thống kê thành phố Đà Nẵng
Năm: 2009
4. GS. TS Nguyễn Thế Nhã - TS.Vũ Đình Thắng (2002) Giáo trình Kinh tế nông nghiệp, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế nông nghiệp
Tác giả: TS. Nguyễn Thế Nhã, TS. Vũ Đình Thắng
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
5. Nguyễn Hồng Cử, Phát triển nông sản xuất khẩu theo hướng bền vững ở Tây Nguyên, Luận án tiến sĩ kinh tế nông nghiệp, Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nông sản xuất khẩu theo hướng bền vững ở Tây Nguyên
Tác giả: Nguyễn Hồng Cử
Nhà XB: Đại học Đà Nẵng
Năm: N/A
6. PGS. TS. Phan Thúc Huân (2006) Kinh tế phát triển, NXB Thống kê, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: PGS. TS. Phan Thúc Huân
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
7. Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng (2006), Quy hoạch ngành nông nghiệp thành phố Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch ngành nông nghiệp thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng
Nhà XB: Đà Nẵng
Năm: 2006
8. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng (2010), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006-2010, phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 2011-2015, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm 2006-2010, phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 2011-2015
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng
Nhà XB: Đà Nẵng
Năm: 2010
9. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng (2007), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007, phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 2008, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kế hoạch năm 2007, phương hướng nhiệm vụ kế hoạch 2008
Tác giả: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Đà Nẵng
Nhà XB: Đà Nẵng
Năm: 2007
10. TS. Đinh Văn Ân, Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, tốc độ nhanh, bền vững chất lượng cao ở Việt Nam, NXB Thống kê Hà Nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm và thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, tốc độ nhanh, bền vững chất lượng cao ở Việt Nam
Tác giả: TS. Đinh Văn Ân
Nhà XB: NXB Thống kê Hà Nội
Năm: 2005
w