1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

121 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 657,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ(Luận văn thạc sĩ) Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trang 1

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

–––––––––––––––––––––––––

ĐÀO MẠNH HOÀNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

–––––––––––––––––––––––––

ĐÀO MẠNH HOÀNG

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60 34 04 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hữu Đạt

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu, thông tin và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ bất cứ một luận văn nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả Đào Mạnh Hoàng

Trang 4

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân và tập thể Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Hữu Đạt

đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Sau Đại học – Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ, Chi cục phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ, Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng tỉnh Phú Thọ, UBND các xã: Gia Thanh, Sai Nga, Tuy Lộc

đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu và những thông tin cần thiết để hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn chân thành tới gia đình, đồng nghiệp

và bạn bè đã giúp đỡ, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2016

Tác giả Đào Mạnh Hoàng

Trang 5

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 5

1.1 Lý luận về phát triển bền vững làng nghề truyền thống 5

1.1.1 Lý luận về làng nghề truyền thống 5

1.1.2 Lý luận về phát triển bền vững làng nghề truyền thống 10

1.2 Thực tiễn phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên thế giới và Việt Nam 22

1.2.1.Phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở một số nước trên thế giới 22

1.2.2 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển bền vững làng nghề truyền thống trong giai đoạn hiện nay 25

1.2.3 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 26

1.2.4 Phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở nước ta 27

1.2.5 Một số bài học rút ra từ sự phát triển làng nghề truyền thống của một số tỉnh 29

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

Trang 6

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết về phát triển bền vững

làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 31

2.2 Phương pháp nghiên cứu 31

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31

2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 31

2.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 34

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 34

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu sử dụng trong đề tài nghiên cứu 34

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG 37

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiêm cứu 37

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37

3.1.2 Đặc điểm về Kinh tế - xã hội tỉnh Phú Thọ 41

3.1.3 Giao thông 42

3.1.4 Đánh giá chung về đặc điểm địa bàn nghiên cứu đối với phát triển bền vững làng nghề truyền thống 45

3.2 Tổng quan chung về phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 46

3.2.1 Lịch sử phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 46

3.2.2 Số lượng và cơ cấu làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 49

3.2.3 Cơ chế hoạt động của các làng nghề truyền thống 50

3.2.4 Lao động và các hình thức tổ chức làng nghề truyền thống tỉnh Phú Thọ 50

3.2.5 Chương trình dự án hỗ trợ phát triển làng nghề truyền thống 52

3.2.6 Kết quả sản xuất kinh doanh làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 53

3.3 Phát triển sản xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống 55

3.3.1 Sử dụng nguồn lực trong sản xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống 55

Trang 7

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

3.3.2 Chi phí sản xuất các sản phẩm ở các làng nghề truyền thống 63

3.3.3 Chủng loại và khối lượng sản phẩm sản xuất 66

3.3.4 Tình hình tiêu thụ sản phẩm các làng nghề truyền thống trên địa tỉnh Phú Thọ 68

3.3.5 Kết quả và hiệu quả kinh tế 71

3.4 Đánh giá phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 72

3.4.1 Bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường 72

3.4.2 Những kết quả và tồn tại hạn chế 78

3.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề truyền thống 80

Chương 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRÊN ĐịA BÀN TỈNH PHÚ THỌ 90

4.1 Quan điểm phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 90

4.1.1 Quy hoạch làng nghề truyền thống là một bộ phận phát triển bền vững kinh tế nông thôn 90

4.1.2 Hoàn thiện hệ thống chính sách để phục hồi, phát triển nghề truyền thống, nhân cấy nghề mới 91

4.1.3 Phát triển công nghệ trong làng nghề truyền thống 91

4.2 Định hướng, mục tiêu phát triển bền vừng làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 92

4.3 Một số giải pháp chủ yếu phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 93

4.3.1 Giải pháp mở rộng thị trường tiêu thụ 93

4.3.2 Giải pháp về vốn 96

4.3.3 Giải pháp về nguồn nguyên liệu 98

4.3.4 Đa dạng hóa sản phẩm 98

Trang 8

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

4.3.5 Giải pháp về xây dựng kết cấu hạ tầng 98

4.3.6 Giải pháp về nguồn nhân lực 99

4.3.7 Giải pháp về ứng dụng khoa học công nghệ 100

4.3.8 Giải pháp về bảo vệ môi trường 101

4.4 Một số kiến nghị 102

KẾT LUẬN 104

TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

PHỤ LỤC 108

Trang 9

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CN - TTCN : Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNTT : Công nghệ thông tin

GTSX : Giá trị sản xuất HĐND : Hội đồng nhân dân

KT - XH : Kinh tế - xã hội

MTTQ : Mặt trận tổ quốc

SXKD : Sản xuất kinh doanh TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TSCĐ : Tài sản cố định

TTCN : Tiểu thủ công nghiệp

Trang 10

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1: Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 32Bảng 3.1: Dân số và lao động tỉnh Phú Thọ 43Bảng 3.2: Cơ cấu kinh tế của tỉnh Phú Thọ qua các năm 44Bảng 3.3: Lao động và các hình thức tổ chức làng nghề truyền thống trên

địa bàn tỉnh Phú Thọ 51Bảng 3.4: Hiện trạng phát triển sản xuất các làng nghề truyền thống tỉnh

Phú Thọ năm 2015 55Bảng 3.5: Tình hình sử dụng đất đai bình quân 1 hộ điều tra ở các làng

nghề truyền thống 56Bảng 3.6: Tình hình sử dụng trang thiết bị máy móc bình quân một hộ ở

các làng nghề truyền thống 57Bảng 3.7: Tình hình sử dụng lao động bình quân 1 hộ ở các làng nghề 59Bảng 3.8: Tình hình sử dụng vốn của các cơ sở điều tra tính bình quân

trên hộ 62Bảng 3.9: Nguyên vật liệu và chi phí nguyên vật liệu bình quân 1 hộ điều

tra năm 2015 ở các làng nghề truyền thống 64Bảng 3.10: Chi phí sản xuất bình quân 1 hộ trong một năm ở các làng

nghề truyền thống 65Bảng 3.11: Chủng loại khối lượng và giá bán sản phẩm nón lá các hộ điều

tra năm 2015 66Bảng 3.12: Chủng loại khối lượng và giá bán sản phẩm các hộ điều tra

làng mộc Dư Ba 67Bảng 3.13: Kết quả và hiệu quả kinh tế bình quân 1 hộ của các làng nghề

truyền thống năm 2015 71Bảng 3.14: Một số chỉ tiêu phân tích bền vững về kinh tế các LNTT 73Bảng 3.15: Một số chỉ tiêu phân tích bền vững về kinh tế LNTT một hộ

đại diện 74Bảng 3.16: Một số chỉ tiêu phân tích bền vững về xã hội 75

Sơ đồ 3.1: Kênh tiêu thụ sản phẩm mộc Dư Ba 70

Trang 11

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một đất nước có nhiều nghề thủ công truyền thống, với đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp mùa vụ và chế độ làng xã, nghề thủ công xuất hiện khá sớm và gắn liền với lịch sử của dân tộc Các làng nghề đã hình thành, tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, của đời sống cộng đồng và dần dần được quy về các khái niệm như nghề truyền thống, nghề cổ truyền, nghề gia truyền.Trải qua những thăng trầm của thời gian, những làng nghề truyền thống đã chứng tỏ được sức sống bền bỉ của mình, giữ gìn được những nét đẹp văn hóa của cha ông chúng ta Hiện nay, nước ta có khoảng gần 2000 làng nghề thủ công thuộc 11 nhóm ngành nghề chính như: Sơn mài, đồ gỗ mỹ ngệ, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá…Có thể nói rằng những làng nghề truyền thống này có

vị trí vô cùng quan trọng trong phát triển nền kinh tế của các địa phương nó trực tiếp giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho lao động nông thôn Hơn nữa, các làng nghề truyền thống còn tạo ra rất nhiều sản phẩm không chỉ đơn thuần là trao đổi thương mại mà còn có giá trị to lớn về văn hoá và lịch sử của đất nước

Tính đến hết tháng 6 năm 2015, trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có 66 làng

nghề thủ công, trong đó có 03 làng đủ tiêu chí công nhận làng nghề truyền thống theo tiêu chí của UBND tỉnh, trong đó có 02 làng sản xuất nón và 01 làng sản xuất đồ mộc Nhiều sản phẩm đã xuất khẩu sang các nước Châu Âu,

Mỹ, Nhật Bản… Nhờ công tác nhân cấy nghề, đến nay các làng có nghề truyền thống đã giải quyết trên 70% lao động nông thôn, cụ thể như nghề mộc

Dư Ba thu hút 95% lao động nông thôn; làng nghề đan nón Sai Nga 70% lao động, làng nghề đan nón Gia Thanh thu hút trên 80% lao động

Trang 12

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Tuy nhiên, trong quá trình phát triển LNTT (làng nghề truyền thống) trên địa bàn tỉnh hiện nay đang còn bộc lộ nhiều bất cập như: Phát triển nghề vẫn mang tính tự phát, phân tán, quy mô sản xuất nhỏ chủ yếu là hộ gia đình, chất lượng sản phẩm còn thấp, khả năng cạnh tranh không cao, mẫu mã sản phẩm ít sáng tạo Thị trường tiêu thụ sản phẩm chưa được bền vững một số sản phẩm không cạnh tranh được với hàng Trung Quốc và các địa phương khác Bên cạnh đó là tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng, ô nhiễm khí thải từ các làng nghề, ô nhiễm nguồn nước… ngày càng nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống trong các làng nghề truyền thống nói riêng ở địa phương nói chung Vấn đề về quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi trường và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong các làng nghề truyền thống, đào tạo nguồn nhân lực và trong trong tương lai tiếp tục phát triển làng nghề truyền thống gắn với du lịch, tiến hành xây dựng thương hiệu cần được định hướng như thế nào để có thể phát triển bền vững

Từ những bất cập đó tỉnh Phú Thọ phải làm thế nào để phát triển bền vững các làng nghề trên địa bàn đang có Nhằm giải quyết những bất cập nêu trên, đồng thời đưa ra các giải pháp giải quyết những bất cập đó chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài:"Phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên

Trang 13

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Đánh giá thực trạng phát triển LNTT, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển bền vững làng nghề truyền thống tại tỉnh Phú Thọ những năm qua

Đề xuất những giải pháp đẩy mạnh phát triển bền vững làng nghề

truyền thống tại tỉnh Phú Thọ trong những năm tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Việc phát triển bền vững làng nghề truyền thống

Hoạt động sản xuất kinh doanh tại các làng nghề truyền thống

Các văn bản pháp quy liên quan đến phát triển làng nghề truyền thống Các vấn đề kinh tế xã hội và môi trường liên quan tại các làng nghề truyền thống

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh

doanh LNTT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Qua việc phân tích thực trạng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng, trên cơ sở đó đề xuất định hướng, giải pháp chủ yếu

đẩy mạnh sự phát triển bền vững LNTT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Về không gian: Đề tài chủ yếu đi sâu điều tra, khảo sát các hộ sản xuất

kinh doanh tập trung tại 3 làng nghề truyền thống gồm: Làng nghề mộc Dư

Ba, xã Tuy Lộc huyện Cẩm Khê; Làng nghề nón lá Gia Thanh, xã Gia Thanh,

huyện Phù Ninh và Làng nghề nón lá Sai Nga, xã Sai Nga, huyện Cẩm Khê

Phạm vi thời gian: Các số liệu thứ cấp được thu thập từ 2013 đến 2014

Các giải pháp được đề xuất từ năm 2016 đến 2020 Dữ liệu sơ cấp khảo sát

năm 2015

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của đề tài bao gồm 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển làng nghề truyền thống Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Trang 14

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chương 3: Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống

Chương 4: Định hướng và một số giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Trang 15

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Làng xã Việt Nam được phát triển rất lâu đời, phần lớn người dân đều làm nông nghiệp, cùng với sự phát triển đã xuất hiện những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau, hình thành thêm một số

tổ chức theo nghề nghiệp tạo thành các làng nghề, phường nghề, xã nghề gắn liền với địa danh của địa phương, từ đó các nghề được lan truyền và phát triển thành làng nghề Bên cạnh những người chuyên làm nghề, thì đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm nghề Nhưng do nhu cầu trao đổi hàng hoá, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn và thường được giới hạn trong quy

mô nhỏ dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển sang nghề thủ công Càng

về sau xu thế người lao động tách khỏi đồng ruộng, chuyển sang làm nghề thủ công và sống bằng nghề đó ngày càng nhiều

Như vậy, làng nghề theo quan niệm lâu nay là hình thức tổ chức chuyên sản xuất phi nông nghiệp của phần lớn dân cư sống trong cộng đồng, thôn, ấp, bản, bao gồm cả làng nghề truyền thống hình thành từ lâu đời và những nghề mới được hình thành do phát triển từ các làng nghề truyền thống hoặc tiếp thu những nghề mới tạo ra

Cũng có quan niệm làng nghề: Một địa bàn hay khu vực dân cư sinh

Trang 16

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

sống trong một làng có hoạt động cùng ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất ở từng hộ gia đình hoặc các cơ sở trong làng; có sử dụng nguồn lực trong và ngoài địa phương, phát triển tới mức trở thành nguồn

sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong làng

* Nghề Truyền thống

Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn thì: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền.”

Để được công nhận là một nghề truyền thống thì theo Thông tư 116/2006/TT BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải đạt 03 tiêu chí sau:

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề

nghị công nhận

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc

- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

* Làng nghề

Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn

có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”

Như vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung chính sau:

“Làng nghề là một thiết chế KT-XH ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu

tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lí nhất định trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối

liên kết chặt chẽ về kinh tế - xã hội và văn hóa”

Trang 17

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Phân loại và tiêu chí công nhận làng nghề: Việc phân loại loại nghề

cũng khá phức tạp người ta thường dựa vào quy mô, lĩnh vực và lịch sử hình thành, ngành nghề sản xuất, loại hình kinh doanh, tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề

Để được công nhận là một làng nghề thì theo Thông tư BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phải đạt 03 tiêu chí sau: (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn

116/2006/TT-(2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận

(3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

* Làng nghề truyền thống

Khái niệm làng nghề truyền thống (LNTT) được khái quát dựa trên hai khái niệm nghề truyền thống và làng nghề nêu trên Theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” Tác giả luận án Bạch Thị Lan Anh cho rằng : “LNTT là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa

họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Họ có cùng

tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội

và gia tộc”, (Bạch Thị Lan Anh, 2010)

Như vậy LNTT được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian vẫn duy trì và phát triển, được lưu truyền từ đời này qua đời khác Trong các LNTT thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy

nghề được thực hiện bằng phương pháp truyền nghề

Trang 18

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1.1.1.2 Đặc điểm làng nghề truyền thống

Điều kiện sản xuất kinh doanh gắn bó với hộ gia đình nông thôn và ngành nông nghiệp: Nghề thủ công truyền thống bắt đầu tư nông nghiệp và

gắn liền với sự phân công lao động ở nông thôn nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt

tự cung tự cấp của người nông dân và chủ yếu phục vụ nông nghiệp Nông nghiệp là nguồn cung cấp nguyên liệu, nguồn nhân lực, nguồn vốn chủ yếu và là thị trường tiêu thụ rộng lớn Lao động trong các làng nghề chủ yếu là nghề nông, các gia đình tự quản lý, phân công lao động, thời gian cho phù hợp giữa việc sản

xuất nông nghiệp lúc mùa vụ với nghề thủ công lúc nông nhàn

Về sản phẩm: Sản phẩm lành nghề truyền thống nhằm phục vụ đời sống

sinh hoạt và sản xuất Nó là các vật dụng hàng ngày, có thể là những sản phẩm vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ, nhân văn và xã hội Các sản phẩm của làng nghề truyền thống được tạo ra với bộ óc sáng tạo và thông qua bàn tay khéo léo và sự tinh tế của người thợ Chất lượng sản phẩm thường không đồng đều do việc sản xuất không thể tạo ra nhiều sản phẩm giống nhau, chỉ là do các người thợ sản xuất và tạo nên từng sản phẩm đơn lẻ, khó

đáp ứng được sản xuất quy mô lớn

Kỹ thuật công nghệ: LNTT thường sử dụng những công cụ thủ công,

công nghệ mang tính cổ truyền do chính người lao động trong làng nghề tạo

ra Kỹ thuật đặc biệt nhất của làng nghề là những bí quyết, kinh nghiệm của

người thợ được tích lũy qua nhiều thế hệ

Tổ chức sản xuất kinh doanh: Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh trong

các làng nghề hiện nay chủ yếu là hộ gia đình Đây được xem là mô hình sản xuất nhỏ, thường chỉ sử dụng lao động gia đình Chính mô hình nhỏ này là một bất lợi cho việc tiếp nhận công nghệ, năng lực quản lý, năng lực tài chính, năng lực sản xuất còn kém vì vậy việc tiếp nhận các đơn đặt hang lớn thường khó khăn Tuy nhiên nó lại là mô hình tổ chức sản xuất phù hợp nhất

Trang 19

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

với cơ sở vật chất ở làng nghề truyền thống hiện nay do có nhiều ưu điểm như tranh thủ thời gian lao động, linh hoạt trong sản xuất thích ứng với cuộc sống

lao động sản xuất ở vùng nông thôn

1.1.1.3 Vai trò của làng nghề truyền thống

a Tạo việc làm cho người lao động

Khi sản xuất các sản phẩm của làng nghề sẽ tạo cho người lao động có việc làm trong thời điểm nông nhàn Từ đó lao động được sử dụng triệt để hơn trong gia đình, nâng cao tỷ lệ thời gian làm việc được sử dụng của lao động trong độ tuổi ở khu vực nông thôn Đặc biệt một số làng nghề truyền thống còn sử dụng được lao động già cả, khuyết tật, trẻ em mà các khu vực kinh tế khác không nhận

Phát triển làng nghề truyền thống là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn và mang lại ý nghĩa to lớn về chính trị,

xã hội Hạn chế sức ép của ngươi lao động dồn về các đô thị kiếm việc làm,

qua đó góp phần giải quyết bớt một số tệ nạn xã hội do thiếu việc làm gây ra

b Tăng thu nhập cho hộ gia đình

Ngoài thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, các hộ gia đình tham gia sản xuất các sản phẩm làng nghề sẽ có thêm nguồn thu cho hộ, từ đó tăng mức sống cho người dân nông thôn Thu nhập của người lao động hưởng lương ở

các làng nghề cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất thuần nông

c Khai thác vốn kỹ thuật của dân

Quá trình sản xuất các sản phẩm của làng nghề đã tận dụng một cách triệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của hộ Tạo việc làm cho tất cả mọi thành viên trong gia đình Nhờ có phát triển ngành nghề truyền thống mà các quy trình sản xuất của ông cha từ xưa để lại không bị mai một mà ngày

càng được cải tiến phong phú hơn đáp ứng nhu cầu của thị trường

d Thay đổi tập quán tư duy sản xuất

Khi người dân làng nghề tham gia sản xuất, sản phẩm của họ làm ra là

Trang 20

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

sản phẩm hàng hóa nên họ phải chủ động trong mọi khâu của quá trình sản xuất, đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa Họ không còn tư tưởng sản xuất tự cung tự cấp của người nông dân Bởi vậy, mà người dân các làng nghề trở nên

năng động hơn, linh hoạt hơn trong việc bố trí sản xuất

e Tăng đóng góp cho ngân sách địa phương

Phát triển sản xuất ngoài tăng thu nhập cho chính hộ gia đình còn tăng thêm thu nhập quốc dân, tăng thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóng

thuế, giải quyết việc làm, du lịch làng nghề

g Góp phần bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc

Mỗi một làng nghề truyền thống là một địa chỉ văn hoá, nó phản ánh nét văn hoá độc đáo của từng địa phương, từng vùng miền Nét văn hoá của làng nghề truyền thốn thể hiện qua các nét độc đáo của từng sản phẩm, các lễ hội, các phong tục tập quán của làng Tại các làng nghề truyền thống, các sản phẩm được sáng tạo bằng đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, thợ giỏi, với các nguyên liệu, phong cách Việt Nam, được lưu giữ và phát triển qua các thế

hệ, trở thành các sản phẩm truyền thống, không chỉ thể hiện nét văn hoá riêng của từng địa phương mà còn là nét văn hoá của Việt Nam Ngoài ra, tại các làng nghề truyền thống thường tổ chức lễ cúng tổ nghề để tưởng nhớ các vị tổ nghề đã có công mang nghề và truyền nghề về cho làng Đây là lễ hội có nhiều ý nghĩa, mang nhiều nét văn hoá dân gian, rất được các làng nghề coi trọng Đồng thời, điều kiện kinh tế được nâng lên, các làng nghề truyền thống

có điều kiện tổ chức nhiều hoạt động văn hoá dân gian khác, tổ chức các cuộc

thi như thi tay nghề, các cuộc thi gắn với nghề

1.1.2 Lý luận về phát triển bền vững làng nghề truyền thống

1.1.2.1 Các khái niệm

* Phát triển bền vững

Ở Việt Nam, ngày 17 tháng 8 năm 2004 Việt Nam đã ban hành Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg phê duyệt và ban hành “định hướng phát triển bền

Trang 21

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

vững ở Việt Nam” (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) nhằm phát triển bền vững đất nước trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Theo quyết định này thì Việt Nam cũng đưa ra 8 nguyên tắc về phát triển bền vững đúng theo Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 Đồng thời theo mục 4 điều 3 Bộ luật Bảo vệ môi trường số 52 của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, có định nghĩa “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ

sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội

Phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định, tiến bộ công bằng

xã hội, khai thác tối đa các nguồn lực, sử dụng hợp lý tiết kiệm tài nguyên, bảo vệ nâng cao chất lượng môi trường sống

Khái niệm về phát triển bền vững LNTT không thể tách rời khái niệm về phát triển bền vững trong các lĩnh vực khác Vì vậy, chúng ta có thể phát biểu

rằng: Phát triển bền vững làng nghề truyền thống là quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh các sản phẩm của các LNTT nhằm thoả mãn nhu cầu đa dạng và ngày càng phát triển của thế hệ hiện tại, mà không làm tổn hại đến môi trường và khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai

1.1.2.2 Vai trò phát triển bền vững làng nghề truyền thống trong phát triển kinh tế xã hội

a Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn

Trang 22

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

theo hướng CNH-HĐH

Phát triển bền vững làng nghề truyền thống có vai trò tích cực góp phần tăng tỷ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động

từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp

có thu nhập cao hơn Hơn nữa, kết quả sản xuất ở các làng nghề cho thu nhập

và giá trị sản lượng cao hơn so với sản xuất nông nghiệp; do từng bước tiếp cận với kinh tế thị trường, năng lực kinh doanh được nâng lên, người lao động nhanh chóng chuyển sang đầu tư cho các ngành nghề phi nông nghiệp, đặc biệt là những ngành mà sản phẩm có khả năng tiêu thụ mạnh ở thị trường trong nước và thế giới

Làng nghề truyền thống phát triển đã tạo cơ hội cho hoạt động dịch vụ ở nông thôn mở rộng quy mô và địa bàn hoạt động, thu hút nhiều lao động, khác với sản xuất nông nghiệp, sản xuất trong các làng nghề là một quá trình liên tục, đòi hỏi một sự thường xuyên cung ứng dịch vụ vật liệu và tiêu thụ sản phẩm Do đó dịch vụ nông thôn phát triển mạnh mẽ với nhiều hình thức

đa dạng phong phú, đem lại thu nhập cao cho người lao động

Sự phát triển của làng nghề truyền thống có tác dụng rõ rệt với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH Sự phát triển lan tỏa của làng nghề đã mở rộng qui mô địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động Đến nay cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề đạt 70

- 80% cho công nghiệp và dịch vụ, 30 - 40% cho nông nghiệp

b Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Phát triển bền vững làng nghề truyền thống tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động Mặt khác, việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc phục được tính thời

vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lí lực lượng lao động nông thôn Vai trò tạo việc làm của các làng nghề còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển lan tỏa sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyết việc làm cho nhiều

Trang 23

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

lao động

Hiện nay việc giao thương, xuất khẩu thuận tiện các làng nghệ có thể tạo việc làm cho người lao động, tăng thu nhập cho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động Ở nơi có làng nghề phát triển thì ở đó có thu nhập và mức sống cao hơn so với vùng thuần nông

c Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn chế di dân tự do

Thường thì đa số các làng nghề thủ công không đòi hỏi số vốn đầu tư lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ do thợ thủ công tự sản xuất được; đặc điểm của sản xuất trong các làng nghề là qui mô nhỏ, cơ cấu vốn và lao động ít nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các gia đình, đó là lợi thế để các làng nghề có thể huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào sản xuất kinh doanh Mặt khác, do đặc điểm sản xuất lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học và tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc, lực lượng này chiếm một tỉ lệ đáng kể trong tổng số lao động làng nghề

Sự phát triển của làng nghề đã có vai trò tích cực trong việc hạn chế di dân tự do ở nông thôn Giảm bớt tác động tiêu cực tới đời sống KT-XH, gây

áp lực đối với dịch vụ, cơ sở hạ tầng xã hội ở thành thị và là một khó khăn lớn trong vấn đề quản lí đô thị Việc phát triển các làng nghề được thúc đẩy ở khu vực nông thôn, ngoại thị là chuyển biến quan trọng tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nông dân Phát triển làng nghề theo phương châm “Ly nông, bất li hương” không chỉ có khả năng giải quyết việc làm,

Trang 24

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nâng cao thu nhập cho người lao động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng di dân tự do ra đô thị

d Đa dạng hóa kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa

Các làng nghề truyền thống đã phá vỡ thế độc canh trong các làng thuần nông, mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghề ở nông thôn Đồng thời cùng với sản xuất nông nghiệp, làng nghề đã đem lại hiệu quả cao trong việc

sử dụng hợp lý các nguồn lực ở nông thôn như đất đai, vốn, lao động, nguyên vật liệu, công nghệ, thị trường Vì vậy, một nền kinh tế hàng hóa với sự đa dạng của các loại sản phẩm được hình thành và phát triển, trong mối quan hệ với các ngành nghề khác, làng nghề đóng góp vai trò động lực

Ở những vùng có nhiều ngành nghề phát triển thường hình thành trung tâm giao lưu buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hoá Những trung tâm này ngày càng được mở rộng và phát triển, tạo nên một sự đổi mới trong nông thôn Hơn nữa, nguồn tích lũy của người dân trong làng nghề cao hơn, có điều kiện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, nhà ở, và mua sắm các tiện nghi sinh hoạt Dần dần ở đây hình thành một cụm dân cư với lối sống đô thị ngày một rõ nét, nông thôn đổi thay và từng bước được đô thị hóa qua việc hình thành các thị trấn, thị tứ Vì vậy dễ nhận thấy rằng ở một làng nghề phát triển thì

ở đó hình thành một phố chợ sầm uất của các nhà buôn bán, dịch vụ Xu hướng

đô thị hóa nông thôn là xu hướng tất yếu, nó thể hiện trình độ phát triển về

KT-XH ở nông thôn, là yêu cầu khách quan trong phát triển làng nghề

e Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc

Lịch sử phát triển của làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của dân tộc, nó là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy; đồng thời là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc Các làng nghề phát triển sẽ bảo tồn, duy trì và phát triển nhiều ngành nghề và các giá trị văn hóa của dân tộc

Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống là sự kết tinh của lao

Trang 25

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công Các sản phẩm của các làng nghề chứa đựng những phong tục, tập quán, tín ngưỡng mang sắc thái riêng có của dân tộc Việt Nam, nhiều sản phẩm làng nghề có giá trị, có tính nghệ thuật cao, trong

đó hàm chứa những nét đặc sắc của văn hóa dân tộc, những sắc thái riêng, đặc tính riêng của mỗi làng nghề và được coi là biểu tượng nghệ thuật truyền thống của dân tộc đồng thời có giá trị minh chứng sự thịnh vượng của quốc gia, cũng như thể hiện những thành tựu, phát minh mà con người đạt được Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản văn hóa quý báu mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thể hệ sau Cho đến nay, nhiều sản phẩm làng nghề là hàng thủ công mỹ nghệ tinh xảo, độc đáo, đạt trình độ bậc cao về mỹ thuật còn được lưu giữ, trình

bày tại nhiều viện bảo tàng nước ngoài

1.1.2.3 Nội dung phát triển bền vững làng nghề truyền thống

a Phát triển bền vững làng nghề truyền thống về kinh tế

Những chủ trương, chính sách đúng đắn để đẩy nhanh sự phát triển nông nghiệp, nông thôn đã được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt trong những năm qua Phát triển các làng nghề, ngành nghề nông thôn được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm tại các địa phương, đóng vai trò quyết định trong xóa đói giảm nghèo Nâng cao năng suất lao động và giải quyết vấn nạn việc làm cho lao động nhàn rỗi ở nông thôn Như vậy, phát triển bền vững LNTT về kinh tế đó là đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển ổn định lâu dài về mặt kinh tế của làng nghề, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia, địa phương và biểu hiện như sau:

Yếu tố đầu tiên của phát triển bền vững LNTT là tăng năng suất lao động Năng suất lao động lại phụ thuộc vào các nhân tố sau: Thứ nhất là việc đào tạo, dạy nghề, truyền nghề trong Làng nghề để các thế hệ lao động tiếp theo có khả năng duy trì, bảo tồn các kỹ xảo truyền thống của cha ông Thứ

Trang 26

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

hai là khả năng áp dụng công nghệ mới vào quá trình sản xuất, để tiết kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt sức lao động, giảm thiểu ô nhiễm, đồng thời nâng cao hiệu suất sử dụng tư liệu sản xuất Thứ ba là các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được trang bị các kiến thức về quản lý quá trình sản xuất, quản lý kinh doanh

Phát triển bền vững LNTT là phải thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

cơ cấu lao động nông thôn theo hướng CNH-HĐH Điều này thể hiện qua: Tăng tỷ trọng công nghiệp - TTCN, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp; chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn; tạo ra một nền kinh tế đa dạng ở nông thôn với sự thay đổi về cơ cấu, phong phú, đa dạng về loại hình sản phẩm Phát triển bền vững làng nghề truyền thống phải gia tăng giá trị sản lượng, làm tăng giá trị sản phẩm hàng hóa, đóng góp đáng kể cho kinh tế địa phương Phát triển bền vững làng nghề truyền thống góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển; kích thích sự ra đời và phát triển các ngành nghề liên

quan mật thiết với nó như dịch vụ, thương mại, vận tải, thông tin liên lạc…

b Phát triển bền vững làng nghề truyền thống về xã hội

Sự phát triển bền vững làng nghề truyền thống về xã hội phải đảm bảo tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng quỹ phúc lợi, nâng cao trình độ dân trí, xây dựng nông thôn mới, bảo tồn văn hóa vùng miền ở làng nghề, thông qua: Tạo thêm nhiều việc làm mới, thu hút nhiều lao động vào các ngành nghề phi nông nghiệp, nhất là lao động nông nhàn, tăng thêm thu nhập cho lao động nông thôn

Giải quyết việc làm không chỉ trong làng nghề mà còn thu hút lao động các vùng lân cận, từ đó tạo ra động lực phát triển KT-XH địa phương

Các làng nghề truyền thống phát triển bền vững thì phải có thu nhập ổn định và mức sống cao hơn các vùng thuần nông Tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động trên độ tuổi hay

Trang 27

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

dưới độ tuổi, hạn chế việc di cư từ vùng này sang vùng khác

Phát triển bền vững làng nghề truyền thống tạo ra nguồn tích lũy lớn và

ổn định cho ngân sách địa phương, từ đó đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn (hệ thống điện, trường học, cấp thoát nước ); tăng sức mua của người dân và thu hẹp khoảng cách thành thị - nông thôn

Nâng cao học vấn của người dân, thể hiện trình độ dân trí văn minh cao hơn; góp phần xóa đói giảm nghèo; giải quyết tốt các vấn đề xã hội như văn hóa, giáo dục, chăm sóc sức khỏe của người dân trong làng nghề, giảm tệ nạn

xã hội

Phát triển bền vững làng nghề truyền thống gắn liền với bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc vì nó là sự kết tinh của lao động vật chất và lao động tinh thần, được tạo nên bởi bàn tay tài hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công

Giữ gìn và phát huy được tính đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc

c Phát triển bền vững làng nghề truyền thống về môi trường

Phát triển bền vững làng nghề truyền thống về môi trường phải đảm bảo giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất kinh doanh gây

ra, có kế hoạch, quy hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên liệu, đa dạng hóa, nghiên cứu, sử dụng nguồn nguyên liệu thay thế, phòng ngừa, hạn chế các bệnh trong sản xuất thông qua: Bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm, hạn chế các bệnh nghề nghiệp Gắn liền tái tạo tài nguyên, có ý thức nâng cao chất lượng môi trường sinh thái làng nghề Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có kế hoạch, quy hoạch vùng nguyên liệu cho làng nghề Hoặc làng nghề truyền thống phải nghiên cứu, hướng tới sử dụng nguyên liệu nhân

tạo, đa dạng hóa, thay thế nguồn nguyên liệu

1.1.2.4 Các nhân tố ả nh hư ở ng đ ế n s phát tri n b n

v ng làng ngh truy n th ng

a Nhân tố thị trường

Trang 28

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Về các yếu tố đầu ra: Là yếu tố tiên quyết, quan trọng nhất của các làng

nghề truyền thống trong giai đoạn hiện nay Thị trường đầu tiên của làng nghề làng nghề truyền thống là chợ làng nhằm phục vụ địa phương và các vùng lân cận, thị trường tại chỗ nhỏ hẹp, sức tiêu thụ chậm Hiện nay sản phẩm của làng nghề ở tỉnh Phú Thọ không những được tiêu thụ rộng rãi tại nơi sản xuất

mà còn được cung cấp ở các địa phương khác trên toàn quốc và xuất khẩu ra

thị trường nước ngoài Châu Âu, Châu Á

Thị trường công nghệ: Được hình thành tự phát trên cơ sở các thiết bị

công nghệ truyền thống, một số người lao động, hộ thủ công đã tách ra chuyên sửa chữa, cải tiến một số công đoạn cho hiệu quả hơn Hoặc một số

hộ có số vốn dồi dào chuyển sang buôn bán máy móc, thiết bị trong phạm vi làng Vì vậy, nhìn chung thị trường công nghệ nhỏ hẹp, chắp vá chưa đáp ứng

nhu cầu hiện đại hóa làng nghề

Thị trường lao động: Được hình thành theo thời vụ, cơ cấu lao động

trong làng nghề được phân hóa như sau: Lực lượng cơ bản nhất ở tại địa phương bao gồm lao động địa phương chuyên nghiệp; lao động địa phương bán chuyên nghiệp là những người trong gia đình tham gia khi công việc cần kíp hoặc công việc của hộ rỗi rãi; lao động làm thuê ở địa phương khác đến làm việc với tư cách đi học việc, như các ngành chạm, khắc, thêu, ren Thực

tế hiện nay tại một số làng nghề, lao động chuyên nghiệp là những người trong độ tuổi trung niên hoặc là người đã lập gia đình, còn đối với lao động trẻ thì quan niệm nghề truyền thông của cha ông chỉ là tạm thời

Trang 29

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ứng nhu cầu mở rộng thị trường

Về quy mô vốn tại các hộ gia đình làng nghề truyền thống không thể so sánh với các cơ sở sản xuất trong các lĩnh vực khác Mặt khác khối lượng vốn còn phụ thuộc vào ngành nghề sản xuất Các làng nghề trên địa bàn huyện Phú Xuyên đòi hỏi vốn lớn như: các làng nghề sản xuất về đồ gỗ, dày da …vì chi phí nguyên liệu và công đoạn sản xuất phức tạp hơn Ngược lại một số làng nghề sản xuất không đòi hỏi vốn đầu tư nhiều như: mây tre đan, thêu ren

Cơ cấu nguồn vốn tại các làng nghề bao gồm nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài Về thu hút vốn đầu tư nước ngoài có thể nói ở làng nghề là rất ít, còn nguồn vốn trong nước bao gồm: Vốn tự có là nguồn vốn của các chủ thể sản xuất kinh doanh trong làng nghề được tích lũy lại, nguồn vốn này quá nhỏ bé so với nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất hay đổi mới trang bị kỹ thuật, nó chiếm khoảng trên 90% tổng số vốn đầu tư của các chủ thể sản xuất kinh doanh Nguồn vốn tín dụng phi chính bao gồm vốn vay mượn trong gia đình, dòng họ, bạn bè người thân Nguồn vốn tín dụng chính thức vay

từ các quỹ tín dụng địa phương, ngân hàng thương mại, tuy nhiên do thủ tục cho vay phức tạp, lượng vốn cho vay còn ít, thời gian vay ngắn nên thực tế hiệu quả của nguồn vốn này còn thấp so với nhu cầu Hiện nay có một số làng nghề còn được nhận một khoản vốn vay ưu đãi được trích ra từ các chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo, vốn của các tổ chức xã hội, đoàn thể

c Nhân tố khoa học công nghệ

Khoa học công nghệ là yếu tố quyết định về chất để tăng năng suất lao động, quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng trong đó có các làng nghề truyền thống Công nghệ tiên tiến phù hợp với tiềm năng nguồn lực, trình độ vận dụng, khả năng quản lý sẽ

là động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế nhanh, bền vững, nguồn khoa học công nghệ được biểu hiện trên nhiều mặt: Trình độ người lao động, đội

Trang 30

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ngũ các nhà nghiên cứu; Cơ sở vật chất tiến bộ phục vụ nghiên cứu, triển khai sản xuất và khả năng tiếp thu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ Tuy nhiên các làng nghề đều chưa đáp ứng được ba tiêu chí trên Đặc thù nghề thủ công truyền thống đòi hỏi công nghệ tùy thuộc từng công đoạn làm sản phẩm

mà áp dụng cho phù hợp để hạn chế ảnh hưởng môi trường, tăng năng suất Công nghệ hóa sản xuất, giảm bớt tính chất lao động nặng nhọc nhưng phải đảm bảo tính độc đáo, tinh xảo của sản phẩm truyền thống

Công nghệ trong làng nghề đặc biệt trong vấn đề tiêu hao năng lượng sẽ tác động trực tiếp đến năng suất lao động, giá thành sản phẩm, năng lực cạnh tranh trên thị trường Áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp làng nghề tăng năng suất, hạ giá thành, đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn, đa dạng hóa sản phẩm, doanh thu tăng và đó là động lực mạnh mẽ nhất để giữ và phát triển làng nghề

d Nhân tố nguồn nguyên liệu

Cũng như bất kỳ quá trình sản xuất, khối lượng, chủng loại nguyên vật liệu và khoảng cách giữa nguồn cung cấp nguyên liệu có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, giá thành, lợi nhuận của các doanh nghiệp Nguồn nguyên liệu chính tại địa phương trong nước, đây chính là lợi thế của làng nghề Thị trường nguyên liệu không chính thức, phương thức thanh toán do hai bên tự thỏa thuận, phụ thuộc thời vụ do tư thương cung cấp nên giá cả lên xuống theo mùa Sử dụng nguyên liệu đa dạng hoặc thay thế sẽ là xu hướng cần được quan tâm để làng nghề phát triển bền vững

e Nhân tố kết cấu hạ tầng

Hạ tầng ở các làng nghề nói riêng còn nghèo nàn, có nhiều cản trở sự phát triển các làng nghề Mặc dù hiện nay hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện phần nào đáp ứng được nhu cầu cho các làng nghề tuy nhiên đang còn nhiều bất cập, giao thông còn khó khăn, ách tắc do vậy việc giao lưu kinh

Trang 31

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tế phát triển, thị trường tiêu thụ sản phẩm không chỉ ở địa phương mà còn vươn tới thị trường gặp nhiều cản trở hơn nữa nguồn nguyên liệu phải vận chuyển từ các nơi xa về thì hệ thống giao thông quyết định trực tiếp chi phí hạ giá thành

Hệ thống cung cấp điện nước tốt, giá rẻ không qua các đơn vị quản lý trung gian, sẽ giúp làng nghề sản xuất liên tục, giảm chi phí, tăng năng suất, đảm bảo chất lượng sản phẩm Tiếp theo, hệ thống dịch vụ thông tin tốt sẽ giúp các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề nắm bắt kịp thời những thông tin về nhu cầu, giá cả, mẫu mã, chất lượng, thị hiếu để có sự điều chỉnh kịp thời nhanh nhạy, đáp ứng yêu cầu thị trường

g Nhân t th chế kinh tế , chính sách kinh tế và s

qu n lý c a Nhà nư ớ c

Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu nhằm tạo lập môi trường kinh doanh, định hướng, tạo động lực cho các làng nghề truyền thống phát triển bền vững Trước thời kỳ đổi mới, cơ chế kinh tế chỉ tập trung phát triển kinh tế quốc doanh và tập thể Làng nghề với tư cách là một chủ thể kinh tế độc lập có đặc trưng mô hình sản xuất kinh doanh là các Hợp tác xã thủ công hoặc Tổ, Đội nghề phụ trong các Hợp tác xã nông nghiệp Mô hình kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã hạn chế sự phát triển kinh tế hàng hóa trong các làng nghề

Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đặc biệt sau Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988) với chính sách kinh tế nhiều thành phần, hộ gia đình được công nhận là chủ thể kinh tế thì các làng nghề phát triển mạnh mẽ

Sau những năm 1990, mô hình kinh tế thị trường và chính sách mở cửa, đặc biệt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo điều kiện mở rộng thị trường cho làng nghề, đồng thời còn làm cho làng nghề phải cạnh tranh với nhiều loại sản phẩm trên thị trường

Từ việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển làng nghề truyền thống ở nước ta đã đặt ra hàng loạt vấn đề cần giải quyết, liên quan đến nhiều

Trang 32

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

đơn vị, nhiều ngành, nhiều cấp Có những vấn đề do bản thân từng hộ, từng

cơ sở kinh doanh tự giải quyết, nhưng cũng có những việc đòi hỏi phải có vai trò quản lý của Nhà nước với tư cách là nhân tố quyết định tính hiệu quả, bền vững trong quá trình phát triển của các làng nghề truyền thống

1.2 Thực tiễn phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên thế giới

Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp của Nhật Bản bao gồm: chế biến lương thực, thực phẩm, nghề đan lát, nghề dệt chiếu, nghề thủ công mỹ nghệ, nghề dệt lụa, nghề rèn nông cụ … Đầu thế kỷ thứ XXI, Nhật Bản hiện còn 887 nghề thủ công cổ truyền hoạt động Đã có hơn ngàn lượt người của 62 nước trong đó có Trung Quốc, Malaysia, Anh, Pháp tới thăm làng nghề của Nhật Bản

Trong các ngành nghề nổi lên có nghề rèn là nghề thủ công cổ truyền phát triển ở nhiều làng nghề và thị trấn của Nhật Thị trấn Takeo tỉnh GiFu là một trong những địa phương có nhiều nghề cổ truyền từ 700 đến 800 năm, đến nay vẫn tiếp tục hoạt động, hiện nay cả thị trấn có khoảng 230 hộ gia đình với 1.080 lao động là thợ thủ công chuyên nghiệp, hằng năm sản xuất ra 9 -10 triệu nông cụ các loại, với chất lượng cao, mẫu mã đẹp Điều đáng chú ý là công nghệ chế tạo nông cụ của Nhật từ thủ công dần dần được hiện đại hóa với các máy gia công tiến bộ và kỹ thuật tiên tiến Thị trấn Takeo có trung

Trang 33

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tâm nghiên cứu mẫu mã và chất lượng công cụ với đầy đủ thiết bị đo lường hiện đại theo tiêu chuẩn quốc gia Mặc dù, hiện nay Nhật Bản đã trang bị đầy

đủ máy móc nông nghiệp và đạt trình độ cơ giới hoá các khâu canh tác tới 95%, nhưng nghề sản xuất nông cụ cũng không giảm sút nhiều Nông cụ của Nhật Bản với chất lượng tốt, mẫu mã đẹp, không chỉ tiêu thụ ở trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài

Vào những năm 1970 ở tỉnh Oita (miền Tây Nam Nhật Bản) đã có phong trào “Mỗi thôn làng một sản phẩm” nhằm phát triển ngành nghề cổ truyền trong nông thôn, do đích thân ông Tỉnh trưởng phát động và tổ chức Kết quả cho thấy, ngay những năm đầu tiên họ đã sản xuất được 143 loại sản phẩm, thu được 1,2 tỷ USD trong đó 378 triệu USD thu được từ bán rượu đặc sản Sakê của địa phương, 114 triệu USD thu từ bán các mặt hàng thủ công mỹ nghệ Phong trào phát triển ngành nghề cổ truyền “Mỗi thôn làng một sản phẩm” đã nhanh chóng lan rộng ra khắp nước Nhật

Đi đôi với việc phát triển ngành nghề cổ truyền Nhật Bản còn nghiên cứu các chủ trương chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập các viện nghiên cứu, viện kỹ thuật và thành lập nhiều văn phòng cố vấn khác Nhờ đó, các hoạt động phi nông nghiệp được phát triển mạnh mẽ; thu nhập ngoài nông nghiệp chiếm 85% tổng thu nhập của hộ Năm 1993 nghề thủ công và làng nghề đã đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ USD

Từ thành công của quận Oita, sau 5 năm phát động cả nước Nhật đã có

20 quận hưởng ứng với các dự án tương tự như “sản phẩm của làng”,

“chương trình phát triển thành phố quê hương”, “chương trình làm sống lại địa phương” Tinh thần của phong trào này còn hấp dẫn nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

1.2.1.2 Phát triển làng nghề truyền thống ở Indonexia

Với Kế hoạch 5 năm chính phủ Inđônêxia đã kính thích thúc đẩy mạnh

Trang 34

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

mẽ và sự phát triển của các ngành tiểu thủ công nghiệp ở các làng nghề Nhiều chủ trương chính sách được ban hành, bên cạnh đó chính phủ còn tổ chức ra: “Hội đồng thủ công nghiệp quốc gia” nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển của ngành này Nhiều việc làm thiết thực đã được thực hiện: tổ chức các cuộc thi thiết kế mẫu mã, thường xuyên tổ chức các cuộc triển lãm hàng tiểu thủ công nghiệp, các “Trung tâm phát triển tiểu thủ công nghiệp” cũng được lập

ra nhằm quản lý, hỗ trợ ngành này Kế hoạch phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp được lồng ghép với các chương trình phát triển nông thôn khác Trong năm 1994 chính phủ đã cung cấp vốn cho việc khôi phục một số làng nghề truyền thống tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho khu vực nông thôn Chương trình này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn mang ý nghĩa xã hội, gìn giữ, bảo

vệ văn hoá truyền thống của dân tộc, của nhân dân Indônêxia

1.2.1.3 Phát triển làng nghề truyền thống ở Hàn Quốc

Sau chiến tranh kết thúc Chính phủ Hàn Quốc đã chú trọng đến công nghiệp nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống Đây là một chiến lược quan trọng để phát triển nông thôn Các mặt hàng được tập trung sản xuất là: hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiểu thủ công nghiệp phục vụ du lịch và xuất khẩu, đồng thời tập trung chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyền

Chương trình phát triển ngành nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn tạo thêm việc làm cho nông dân bắt đầu từ 1967; Chương trình này tập trung vào các nghề sử dụng lao động thủ công, công nghệ đơn giản và nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, sản xuất quy mô nhỏ, khoảng 10 hộ gia đình liên kết với nhau thành tổ hợp tác được ngân hàng cung cấp vốn tín dụng với lãi suất thấp để mua nguyên liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống cũng được triển khai rộng khắp từ những năm 1970 đến 1980, đã xuất hiện 908 xưởng thủ công dân tộc chiếm 2,9% các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23.000 lao động, hoạt động

Trang 35

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

theo hình thức sản xuất tại gia là chính Đây là loại hình nông thôn với 79,4% dựa vào các hộ gia đình riêng biệt, sử dụng nguyên vật liệu địa phương và bí quyết truyền thống Để phát triển công nghiệp thủ công truyền thống Chính phủ đã thành lập 95 hãng thương mại về những mặt hàng này Tương lai của các nghề thủ công truyền thống còn đầy hứa hẹn do nhu cầu về tiêu thụ sản phẩm dân gian bắt đầu tăng Qua đây có thể đánh giá được hiệu quả lao động của chương trình làng nghề thủ công truyền thống là rất thiết thực

1.2.2 Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển bền vững làng nghề truyền thống trong giai đoạn hiện nay

Theo Quyết định số 432/QĐ-TTg ngày 12/4/2012 của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt chiến lược phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Những nội dung phát triển bền vững làng nghề truyền thống được trình bày như sau:

1.2.2.1 Về kinh tế

Duy trì kinh tế tăng trưởng bền vững, từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo

Phát triển bền vững công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ thiết

bị đảm bảo nguyên tắc thân thiện với môi trường,; tích cực ngăn ngừa và xử

lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”

Đẩy mạnh áp dụng sản xuất sạch hơn để nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu, năng lượng, nước, đồng thời giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, bảo vệ chất lượng môi trường, sức khỏe con người, đảm bảo phát triển bền vững

1.2.2.2 Về xã hội

Đẩy mạnh công tác giảm nghèo theo hướng bền vững, tạo việc làm bền vững; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động gắn với phát triển ngành

Trang 36

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nghề, tạo việc làm bền vững Hỗ trợ học nghề và tạo việc làm đối với các đối tượng chính sách, người nghèo tại các vùng nông thôn

Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, tạo cơ hội bình đẳng tiếp cận các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội; có chính sách phù hợp nhằm hạn chế phân hóa giàu nghèo, giảm bớt sự gia tăng chênh lệch về mức sống của các vùng, các nhóm xã hội

Phát triển văn hóa hài hòa với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam tiến bộ, hạnh phúc

Phát triển bền vững các làng nghề, xây dựng nông thôn mới, có sự phân

bố hợp lý giữa dân cư và lao động

1.2.2.3 Về môi trường

- Chống thoái hóa, sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất Tại các làng nghề cần quy hoạch những khu vực riêng để phục vụ sản xuất, đảm bảo khoang vùng và giảm thiểu tác hại trong quá trình sản xuất đến môi trường

- Bảo vệ môi trường nước và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên nước Tăng cường xây dựng hệ thống thu gom và xử lý nước thải, không xả thải trực tiếp ra môi trường

- Giảm thiểu ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn tại các làng nghề Cần xây dựng hệ thống che chắn, giảm tiếng ồn trong quá trình sản xuất

1.2.3 Kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam

Qua nghiên cứu các cơ sở lý thuyết phát triển các làng nghề truyền thống

của các nước chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm sau:

Một là, phát triển làng truyền thống phải gắn với quá trình công nghiệp

hoá nông thôn Kết hợp thủ công với kỹ thuật cơ khí hiện đại, tùy điều kiện cơ

sở vật chất của mỗi nước mà áp dụng công nghệ cổ truyền hay công nghệ hiện đại Quy hoạch bố trí các cơ sở sản xuất gần vùng nguyên liệu và tập trung

Trang 37

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

quản lý những làng nghề truyền thống để tiện cho việc phát triển sản xuất,

giao lưu hàng hoá

Hai là, đào tạo và bồi dưỡng lao động của làng nghề truyền thống Có

chính sách tuyên dương, trao bằng khen cho các nghệ nhân từ nhà nước đến các địa phương Đồng thời phải có sự quan tâm đào tạo thế hệ lao động trẻ

cho làng nghề

Ba là, có chính sách hỗ trợ về tài chính cho làng nghề truyền thống Sự

hỗ trợ về tài chính, tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng Các chương trình

hỗ trợ tài chính, vốn của Nhà nước được thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất cho ngân hàng hoặc bù giá đầu ra cho người sản xuất Thông qua sự hỗ trợ giúp đỡ này mà các làng nghề lựa chọn kỹ thuật gắn với lựa chọn hướng sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho ngành nghề thủ công truyền thống đổi mới công nghệ mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, nâng cao

sức cạnh tranh trên thị trường

Bốn là, để sản phẩm có tính nghệ thuật cao được người tiêu dùng chú ý

cần tời việc tạo ra những mẫu mã sản phẩm có tính thẩm mỹ cao qua việc đào tạo các nhà thiết kế bài bản Liên kết giữa các cơ sở đào tạo ngành mỹ thuật

với nghề sản xuất truyền thống

Năm là, hỗ trợ khoa học công nghệ, thành lập các trung tâm nghiên cứu

về mẫu mã, kỹ thuật sản xuất Kết hợp giữa đại công nghiệp với tiểu thủ công nghiệp và trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống Đưa công nghệ vào nghiên cứu thay thế và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu, thay thế nguyên liệu tự nhiên bằng nguyên liệu khác

1.2.4 Phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở nước ta

1.2.4.1 Làng nghề dát vàng Kiêu Kỵ

Nghề dát vàng quỳ là nghề thủ công truyền thống của Việt Nam, đó là chế biến vàng, bạc dát thành lá mỏng bằng phương pháp sản xuất thủ công lâu đời, độc đáo Đến nay, ở Việt Nam chỉ có làng Kiêu Kỵ (xã Kiêu Kỵ, huyện

Trang 38

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Gia Lâm, Hà Nội) có bề dày hành nghề làm vàng, bạc quỳ hơn 400 năm qua với tổ nghề là danh nhân Nguyễn Quý Trị

Vàng mười, bạc thật được dát mỏng như tờ giấy (gọi là đập diệp), cắt thành từng miếng vuông nhỏ 1cm2 Với bàn tay điêu luyện của người thợ, 1 chỉ vàng có thể đập mỏng thành 980 lá, diện tích hơn 1m2

Hiện làng nghề Kiêu Kỵ đang cung cấp vàng quỳ cho nhu cầu trong

nước và xuất khẩu sang Đài Loan, Hồng Kông và một số nước Đông Nam Á 1.2.4.2 Làng gốm Bát Tràng

Bát Tràng là một làng cổ nằm bên sông Hồng đã có đến 500 năm tuổi

Từ xưa, dân Bát Tràng đã sống và phát triển bằng nghề gốm sứ Đất sét để làm đồ gốm, người Bát Tràng phải mua từ làng Cổ Điển bên Vĩnh Phú, hoặc mua từ làng Dâu bên Bắc Ninh Hàng gốm Bát Tràng thời kỳ đầu là đồ gốm trắng, mãi sau mới chuyển sang làm đồ đàn

Ngoài bát đĩa, ấm chén thông dụng, Bát Tràng còn làm nhiều hàng khác, như các đồ thờ tự và các đồ cho trang trí nội, ngoại thất: lộc bình, lư, đỉnh, đèn thờ, các bộ tượng tam đa, tam thánh, chậu hoa, con giống, gạch trang trí cao cấp Hàng Bát Tràng từ xa xưa đã nổi tiếng về chất men phủ, phổ biến là men màu búp dong, loại men này sắc độ trắng hơi ngả xanh hoặc xám, trong

và sâu Đặc biệt là Bát Tràng đã có men lý, men nho, men này màu gần như

màu ngọc thạch, nên được gọi là men ngọc

1.2.4.3 Làng nghề ở tỉnh Phú Thọ

Tính đến hết tháng 6 năm 2015, tỉnh Phú Thọ có 66 làng nghề trong tổng số

03 làng đạt tiêu chuẩn làng nghề truyền thống theo đúng tiêu chí công nhận của UBND tỉnh Phú Thọ Trong đó có 02 làng làm nón và 01 làng sản xuất đồ mộc Trong những năm qua các làng nghề đã và đang tiếp tục có những bước phát triển tốt, chuyển dịch dần theo hướng cụm, vùng làng nghề; xây dựng làng nghề gắn với du lịch; chú trọng đào tạo nghề; xây dựng trung tâm thương

mại và hình thành các doanh nghiệp thương mại tại các làng nghề

Trang 39

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1.2.5 Mộ t số bài họ c rút ra từ sự phát triể n làng nghề truyề n thố ng củ a mộ t số tỉ nh

Các cơ quan nhà nước phải quan tâm, chỉ đạo và ban hành các chủ trương, chính sách thiết thực, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương để khai thác tốt các nguồn lực

Chú trọng công tác đào tạo nghề cho người lao động, khuyến khích tư nhân và các tổ chức xã hội mở cơ sở đào tạo nghề cho nông dân Ưu tiên sử dụng quỹ khuyến công cho các cơ sở sản xuất trong các làng nghề, nhất là chương trình nhân cấy nghề mới Thông qua các tổ chức chính trị - xã hội phát động các phong trào phát triển nghề Lựa chọn phát triển những ngành nghề phù hợp với điều kiện của địa phương để phát triển

Phải xây dựng quy hoạch phát triển làng nghề và tổ chức tốt công tác triển khai thực hiện quy hoạch

Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ để đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp, các hộ sản xuất trong các làng nghề đối với thế chấp không đủ điều kiện theo yêu cầu của các ngân hàng Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ trung ương và các tổ chức nước ngoài, huy động nguồn đóng góp của các tổ chức kinh tế trong nước hỗ trợ các chương trình, dự án phát triển làng nghề

Quan tâm, hỗ trợ các doanh nghiệp làng nghề đổi mới thiết bị công nghệ, kết hợp cổ truyền với hiện đại

Thành lập và tạo điều kiện cho hoạt động các hội, hiệp hội nghề nghiệp theo nhóm sản phẩm, tạo liên kết giữa các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất với nhau, giữa người sản xuất, cung ứng nguyên liệu với những người chế biến, tiêu thụ để thống nhất định hướng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, tránh cạnh tranh không lành mạnh gây khủng hoảng thừa, thiếu, sốt giá

Kết hợp phát triển du lịch với làng nghề

Các cơ quan nhà nước cần hỗ trợ, tư vấn cho các doanh nghiệp làng nghề, tìm kiếm mặt bằng sản xuất, xin ưu đãi đầu tư xúc tiến thương mại, tìm

Trang 40

Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

kiếm thị trường xuất khẩu

Ngày đăng: 14/03/2021, 11:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w