Khái niệm “Phát triển bền vững” chính thức xuất hiện năm 1987 trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) như là: “Sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa được ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Chính vì những mục tiêu như vậy mà phát triển bền vững đã trở thành những nhu cầu cấp bách, là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người.
Trang 1MỞ ĐẦU 3
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU
1.1 Một số vấn đề lý luận về phát triển bền vững các khu
1.2 Thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh
Chương 2 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI 432.1 Những quan điểm chỉ đạo phát triển bền vững các
khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương 432.2 Giải pháp phát triển bền vững các khu công
nghiệp ở tỉnh Bình Dương trong thời gian tới 51
PHỤ LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khái niệm “Phát triển bền vững” chính thức xuất hiện năm 1987 trongbáo cáo “Tương lai của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi trường và pháttriển (WCED) như là: “Sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại,nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”.Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòađược ba mặt: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Chính vìnhững mục tiêu như vậy mà phát triển bền vững đã trở thành những nhu cầu cấpbách, là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người
Cùng với quá trình hội nhập sâu hơn, rộng hơn với nền kinh tế thếgiới, Đảng ta xác định: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững,phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong chiến lược” [21, tr.98] Pháttriển bền vững ở Việt Nam là chiến lược toàn diện, giữ vị trí vai trò quantrọng trong xây dựng mục tiêu, quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triểnkinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương trên các ngành, các lĩnhvực của đời sống xã hội trong đó có phát triển bền vững các KCN
Bình Dương là tỉnh thuộc Miền đông Nam bộ nằm trong vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam Liên tục trong nhiều năm, Bình Dương là tỉnh có tốc độ tăngtrưởng kinh tế cao với sự phát triển mạnh mẽ của các KCN cả về số lượng và chấtlượng Sự phát triển của các KCN và sức lan tỏa của nó đã tạo ra cho Bình Dươngmột sức sống mới với tốc độ đô thị hóa nhanh, thu hút lượng lao động lớn trong
và ngoài tỉnh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại Bình Dương trởthành điểm sáng, địa phương dẫn đầu trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Tuy nhiên, sự phát triển của các KCN ở Bình Dương chưa thực sựvững chắc, việc xây dựng cơ sở hạ tầng KCN chưa đồng bộ, chưa gắn chặtvới yêu cầu bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm, vai trò thúc đẩy chuyển giao
Trang 3công nghệ còn yếu, liên kết kinh tế và hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp trong KCN chưa cao, khả năng tạo việc làm, thu hút lao động vẫn cònchứa đựng những yếu tố lạc hậu Đời sống khó khăn của người lao động trongcác KCN và những hệ lụy xã hội đang ngày một trở thành rào cản cho sự pháttriển của các KCN và của chính nền kinh tế ở địa phương Vì thế, cần xây dựngmột hệ thống tiêu chí đánh giá các KCN theo yêu cầu phát triển bền vững, từ
đó, đưa ra các giải pháp đảm bảo sự phát triển bền vững các KCN ở BìnhDương Với mong muốn được đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào luậngiải vấn đề phát triển bền vững KCN ở tỉnh Bình Dương, địa bàn gắn bó với tác
giả trong quá trình công tác, tác giả chọn vấn đề “Phát triển bền vững các khu công nghiệp ở Bình Dương” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học.
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Phát triển bền vững KCN là một nội dung, một lĩnh vực của phát triểnbền vững, là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước.Phát triển bền vững trở thành diễn đàn, đối tượng nghiên cứu của nhiều khoahọc: Triết học, Kinh tế học, Kiến trúc, Xã hội học, Môi trường… Ở Việt Nam
đã có nhiều công trình công bố, điển hình như:
TS Trần Anh Phương, (2008), “Phát triển bền vững trong lĩnh vực
kinh tế ở Việt Nam và những tác động chính trị-xã hội”, Kỷ yếu hội thảo
“Phát triển bền vững ở Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, H 2008 Đây là bàiviết điển hình, sâu sắc tập trung giải quyết trên 4 nội dung sau:
Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu; ViệtNam trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu thế này;
Một số thành tựu nổi bật về phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tếcủa Việt Nam trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua;
Một số tác động chính trị - xã hội cơ bản từ thành tựu phát triển bềnvững trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam;
Trang 4Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn một số biểu hiện chưa bền vững nhưngchúng ta có thể vượt qua và vững tin vào tương lai nếu có các giải pháp pháttriển đúng đắn, năng động.
PGS.TS Phan Huy Đường, (2008),“ Hội nhập kinh tế quốc tế với phát
triển bền vững và độc lập tự chủ”, Kỷ yếu hội thảo “Phát triển bền vững ở Việt
Nam”, Nxb Khoa học xã hội, H 2008 Bài viết làm rõ thực chất vấn đề toàncầu hoá kinh tế quốc tế, xu thế mở cửa và hội nhập, vấn đề phát triển bền vững
về kinh tế Tác giả nhấn mạnh nội dung của phát triển bền vững mà các quốc giađang theo đuổi hiện nay đó là: Bảo đảm phát triển kinh tế nhanh và duy trì tốc độ
ấy trong một thời gian dài; môi trường sinh thái được bảo vệ một cách tốt nhất;đời sống xã hội được bảo đảm hài hòa
Tác giả Trần Văn Thọ “Điều kiện để Việt Nam phát triển bền vững”, báo
Tia sáng, Bộ khoa học và công nghệ ra ngày 03/10/2008 Bài viết đề cập đến 3điều kiện để Việt Nam phát triển bền vững: bảo đảm tính dân chủ trong việchoạch định các chiến lược, chính sách; ý kiến của chuyên gia, giới kỹ trịkhông bị chính trị chi phối; phải có đội ngũ quan chức giỏi thật sự để quátrình đặt ra các chính sách và thực hiện chính sách có hiệu quả Về chính sách
cụ thể, tác giả chỉ ra: cần sớm chấm dứt tàn dư của chiến lược cải cách tiệmtiến, cụ thể là phải triệt để cải cách khu vực DN Nhà nước; để phát triển bềnvững trong giai đoạn tới, nhất là thời kỳ cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt,phải có cơ chế xây dựng, nuôi dưỡng các ngành có lợi thế so sánh để ngàycàng chuyển dịch cơ cấu lên cao hơn
Xung quanh vấn đề KCN, phát triển KCN theo hướng bền vững một sốcông trình khoa học cũng đã đề cập như:
PGS.TS Ngô Thắng Lợi, ThS Bùi Đức Tuân, ThS Vũ Thành Hưởng,
Ths Vũ Cương, (2007),“Vấn đề phát triển bền vững các KCN của Việt Nam”
Tạp chí Khu công nghiệp Việt Nam 03/2007 Bài viết tập trung làm rõ những
Trang 5tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững KCN, đề ra một số định hướng pháttriển các KCN ở Việt Nam Tác giả cho rằng, cùng với quá trình phát triểncác KCN thì những hệ lụy về mặt xã hội đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ.Khắc phục những hệ lụy này, nhóm tác giả đề xuất những tiêu chí đánh giátính chất bền vững của một KCN, phương hướng và giải pháp khắc phục Tuynhiên, các giải pháp này thiên về mặt kinh tế học phát triển thuần túy, các giảipháp về mặt chính trị xã hội, văn hóa và môi trường chưa được đề cập.
TS Lê Thế Giới, (2008), “Các KCN Việt Nam qua hệ thống đánh giá phát
triển bền vững” Tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 4(27) Bài
viết này tập trung trình bày lịch sử phát triển KCN Việt Nam, đề xuất hệ thốngcác tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững KCN và các giải pháp tăng cườngtính bền vững trong phát triển các KCN Việt Nam Tác giả nhấn mạnh vấn đềquy hoạch KCN có vị trí vai trò quan trọng trong phát triển các KCN ở ViệtNam, tuy nhiên tác giả chưa đưa ra được mô hình chuẩn cho sự phát triển KCNtheo hướng bền vững, khó áp dụng cho một địa phương cụ thể
Tác giả Nguyễn Thị Thuỷ, (2009), “Phát triển bền vững các KCN ở
Việt Nam: Một số vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước” Thông tin tư
liệu chuyên đề Phát triển KCN theo hướng bền vững, nghiên cứu các KCN ởBắc Ninh số 3/2009, Thư viện Quân đội 33(V)5 T22479 Tác giả đánh giáKCN và vai trò của KCN từ đó đặt ra một số bài học về công tác quản lý nhànước đối với các KCN theo hướng bền vững (Công tác quy hoạch phát triểnKCN, công tác quản lý đầu tư, đảm bảo đời sống người dân KCN, quản lý laođộng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, công tác quản lý môi trường)
Tác giả Đỗ Thị Vinh, (2009), “Mô hình KCN sinh thái-Một giải pháp
phát triển bền vững các KCN” Thông tin tư liệu chuyên đề Phát triển KCN
theo hướng bền vững, nghiên cứu các KCN ở Bắc Ninh số 3/2009, Thư việnQuân đội 33(V)5 T22479 Tác giả đã đề cập đến một khái niệm khá mới mẻ ở
Trang 6Việt Nam đó là KCN sinh thái Theo đó KCN sinh thái có nhiều lợi ích nhưlợi ích kinh tế, lợi ích về môi trường và lợi ích cho chính phủ.
Ths.Nguyễn Văn Hùng, (2009), “Một số vấn đề về đổi mới công tác quy
hoạch phát triển công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường ở nước ta”, Tạp chí
Khu công nghiệp ra ngày 24/09/2009 Tác giả đề cập đến vấn đề quy hoạchKCN ở nước ta hiện nay, chỉ ra những hạn chế trong quy hoạch nhất là gắn vấn
đề quy hoạch với bảo vệ môi trường, một trong những vấn đề nóng bỏng đượcnhiều người quan tâm trong quá trình phát triển các KCN, tác giả cũng đã nêu ranhững giải pháp nhằm giải quyết vấn đề này
Ths.Vũ Thành Hưởng, (2009), “Phát triển bền vững về kinh tế các Khu
công nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Thực trạng và các khuyến nghị chính sách”, Tạp chí Khu công nghiệp ra ngày 02/12/2009 Qua nghiên cứu
các nhân tố thiếu bền vững về kinh tế ở các KCN vùng kinh tế trọng điểm Bắc
bộ như: Vị trí các KCN, tỷ lệ lấp đầy KCN, quy mô diện tích các KCN, liênkết phát triển trong nội bộ KCN và với bên ngoài KCN, trình độ công nghệcủa các DN tác giả Vũ Thành Hưởng khuyến nghị chính sách phát triển bềnvững về kinh tế các KCN vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
TS Nguyễn Hữu Dũng, (2008) ,“Phát triển khu công nghiệp với vấn đề
lao động - việc làm ở Việt Nam”, tạp chí cộng sản số 5(149) năm 2008 Tác giả
đã đánh giá những thành tựu nổi bật của quá trình phát triển các KCN ở ViệtNam từ năm 1991 đến nay nhấn mạnh những thành tựu và hạn chế của vấn đềlao động và việc làm từ đó đề xuất một số giải pháp vĩ mô như giáo dục đào tạo,phát triển hệ thống các trung tâm dạy nghề, gắn nhà trường với các nhà máytrong KCN Bên cạnh đó tác giả còn nhấn mạnh vấn đề an sinh xã hội đối vớilao động trong các KCN, một vấn đề đang được các nhà nghiên cứu quan tâm,các tổ chức chính trị xã hội trên cơ sở đó hoạch định các chính sách nhằm nângcao đời sống người lao động tại các KCN và lân cận KCN
Trang 7TSKH Nguyễn Văn Minh, (2011), “Đánh giá tác động của khu công
nghiệp tới kinh tế xã hội vùng lân cận”, Tạp chí Kinh tế đối ngoại, số 47
(6/2011) Tác giả đã có phương pháp tiếp cận, đánh giá tác động của khu côngnghiệp tới kinh tế xã hội vùng lân cận rất khoa học và có sự thâm nhập thục tếmột số khu công nghiệp ở phía Bắc Theo tác giả, trước hết cần phải lựa chọn
và soạn thảo bộ tiêu chí đánh giá trình độ phát triển bền vững nội tại của cácKCN Sau khi định hình được năng lực nội tại của KCN, sẽ tiến hành xácđịnh cơ chế tác động Về cơ bản tác động diễn ra theo hai hướng: tích cực vàtiêu cực Vấn đề quan trọng là phải xác định được cơ chế lan tỏa của hai chiềuhướng này Theo tác giả đó là các lớp tác động: môi trường sống, đời sốngtinh thần, đời sống kinh tế của người dân Trên cơ sở đánh giá tác động tácgiả đã chỉ ra muốn phát triển bền vững chúng ta cần nhanh chóng có các giảipháp để hạn chế mặt tác động tiêu cực và thúc đẩy mặt tích cực, tiến tới hìnhthành các KCN hoạt động hiệu quả và đi xa hơn nữa là xây dựng một hệ sinhthái kinh doanh thân thiện với môi trường
Tóm lại, các công trình khoa học trên đã đề cập đến những khía cạnh,đối tượng, phạm vi khác nhau, là những tài liệu quan trọng để tác giả thamkhảo, kế thừa nghiên cứu trong luận văn này Một số công trình nghiên cứu vềphát triển KCN theo hướng bền vững, song với cách tiếp cận của kinh tếngành, thiên về lý luận và phương pháp nghiên cứu thiếu tính thực tế, đặc biệt
là nghiên cứu mô hình, giải pháp chưa toàn diện Ngoài ra còn nhiều bài viết,tham luận nghiên cứu những nội dung về phát triển bền vững trên các lĩnhvực của đời sống xã hội Hầu hết những nội dung kể trên là các bài viết, bàitham luận khoa học, thông tin chuyên đề của các tác giả, các nhà khoa học,nhà chính trị Đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề
“Phát triển bền vững các KCN ở tỉnh Bình Dương” vì vậy luận văn khôngtrùng lắp với các công trình khoa học đã công bố
Trang 83 Mục đớch và nhiệm vụ nghiờn cứu của luận văn
* Mục đớch :
Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phỏt triển bền vững cỏc KCN ởtỉnh Bỡnh Dương, trên cơ sở đú đề xuất quan điểm và giải phỏp phỏt triển bềnvững cỏc KCN ở tỉnh Bỡnh Dương trong thời gian tới
Đề xuất những quan điểm và giải phỏp cơ bản nhằm phỏt triển bềnvững cỏc KCN ở Bỡnh Dương trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiờn cứu
* Đối tượng nghiờn cứu:
5 Cơ sở lý luận và phương phỏp nghiờn cứu
*Cơ sở lý luận:
Dựa trờn lý luận của Chủ nghĩa Mỏc - Lờ nin, cỏc quan điểm của Đảngcộng sản Việt Nam trong lĩnh vực phỏt triển bền vững và phỏt triển bền vữngcỏc KCN, cỏc lý luận liờn quan khỏc để tiếp cận đối tượng, luận giải cỏcnhiệm vụ của luận văn
Trang 9*Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng tổng hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu bao gồm:
- Hệ thống phương pháp nghiên cứu nền tảng là Phương pháp Duy vật
biện chứng và Phương pháp Duy vật lịch sử
- Phương pháp nghiên cứu đặc thù của Kinh tế chính trị cùng cácphương pháp phân tích thống kê, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa…
- Phương pháp điều tra nghiên cứu, tham khảo ý kiến của các chuyên gia
6 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần nâng cao hiệu quả quán triệt và thực thi đường lốiphát triển nhanh gắn với phát triển bền vững của Đảng, trên cơ sở đó tham gia
đề xuất một số giải pháp để phát triển bền vững các KCN ở Bình Dương dướigóc độ nghiên cứu của khoa học Kinh tế chính trị
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liêu tuyên truyền,nghiên cứu tham khảo trong thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với cácKCN ở các địa phương đặc biệt là BQL các KCN ở tỉnh Bình Dương Luậnvăn còn có thể dùng trong nghiên cứu và giảng dạy Kinh tế chính trị ở cácHọc viện, Nhà trường trong và ngoài Quân đội
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và các phụ lục
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG 1.1 Một số vấn đề lý luận về phát triển bền vững các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
1.1.1 Khái niệm, phân loại và đặc điểm khu công nghiệp
KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triểnvào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Ở Việt Nam KCN ra đờicùng với đường lối đổi mới, mở cửa do Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộngsản Việt Nam năm 1986 khởi xướng Từ đó đến nay, phát triển KCN đượcxem là động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH đất nước dưới sự lãnh đạocủa Đảng Theo đó, vấn đề phát triển các KCN đã được đầu tư, quan tâmthỏa đáng cả về lý luận và thực tiễn Theo quy chế KCN, KCX, KCNC banhành kèm theo Nghị định số 29/CP ngày 14/03/2008 của Chính phủ có đưa
ra định nghĩa về KCN, KCX, KCNC như sau:
“KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sảnxuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủhoặc Thủ tướng quyết định thành lập Trong KCN có doanh nghiệp chế xuất.”
“KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sảnxuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu; có ranh giới địa lý xác định, không
có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng quyết định thành lập.”
“KCNC là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp kỹ thuật cao
và các đơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao gồm nghiêncứu, triển khai khoa học công nghệ; đào tạo và các dịch vụ có liên quan; córanh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủtướng quyết định thành lập Trong KCNC có thể có doanh nghiệp chế xuất.”
Trang 11Như vậy, có thể hiểu KCN là một tổ chức không gian kinh tế xã hội rộnglớn, có ranh giới địa lý xác định, trong đó có những điều kiện thuận lợi về cơchế chính sách, cơ sở hạ tầng (hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng KT-XH) nhằm tạođiều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư phát triển các DN sản xuất hàng côngnghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp.
Theo số liệu mới nhất hiện nay Việt Nam có 223 KCN, có thể phân loại KCNnằm trong phạm vi, đối tượng điều tiết của Nghị định 29/CP thành ba nhóm chính sau:
Nhóm 1: Các KCN mang tính truyền thống, được thành lập một cách
phổ biến ở Việt Nam Các KCN này có những đặc điểm chung như sau:
Là khu vực được quy hoạch mang tính liên vùng, liên lãnh thổ và cóphạm vi ảnh hưởng không chỉ ở một khu vực địa phương;
Là khu vực được kinh doanh bởi công ty cơ sở hạ tầng (công ty pháttriển KCN, công ty dịch vụ KCN ), công ty này có trách nhiệm bảo đảm hạtầng kỹ thuật và xã hội của cả khu trong suốt thời gian tồn tại;
Trong KCN không có dân cư sinh sống, nhưng ngoài KCN phải có hệthống dịch vụ phục vụ nguồn nhân lực làm việc ở KCN;
Là khu vực được quy họach riêng để thu hút các nhà đầu tư trong vàngoài nước thực hiện sản xuất và chế biến sản phẩm công nghiệp cũng nhưhoạt động hỗ trợ, dịch vụ cho sản xuất công nghiệp;
Sản phẩm của các DN trong KCN có thể tiêu thụ trong nước hoặc bán
ra nước ngoài
Nhóm 2: Khu chế xuất
Theo Nghị định 29-CP, KCX là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu; có ranhgiới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướngquyết định thành lập
Trang 12Như vậy ngoài những đặc điểm chung giống như các KCN truyềnthống, các KCX còn có một số đặc điểm riêng, đó là: được quy hoạchphân tách khỏi phần nội địa bằng tường rào kiên cố, việc ra vào khu phảithông qua sự kiểm soát của hải quan và các cơ quan chức năng; quan hệthương mại giữa các DN trong KCX và nội địa được điều chỉnh bằnghợp đồng ngoại thương, theo các thủ tục xuất, nhập khẩu, các DN trongKCX chỉ được bán tối đa 20% giá trị sản phẩm của mình vào thị trườngnội địa; các DN trong KCX được hưởng những ưu đãi đặc biệt về cácloại thuế như: miễn thuế xuất, nhập khẩu, miễn thuế giá trị gia tăng, thuếtiêu thụ đặc biệt, được hưởng thuế thu nhập DN ở mức ưu đãi 10% vàkhông phải chịu thuế chuyển lợi nhuận về nước.
Nhóm 3: Các khu công nghệ cao
Đây là KCN trong đó tập trung các DN công nghiệp kỹ thuật cao và cácđơn vị hoạt động phục vụ cho phát triển công nghệ cao, có ranh giới xác định
và do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập TrongKCNC có thể có DN chế xuất Ngoài những đặc điểm chung của KCN,KCNC có những nét riêng biệt:
Có hoạt động chính của các DN sản xuất và dịch vụ có hàm lượng côngnghệ và chất xám cao như: nghiên cứu triển khai khoa học công nghệ, đào tạo
và thực hiện các dịch vụ có liên quan Bản thân các DN thường có quá trìnhđổi mới liên tục về công nghệ và sản phẩm;
Các DN trong khu công nghệ cao đều có đầu tư lớn cho nghiên cứu vàphát triển, có năng suất cao, được điều hành bởi các nhà khoa học và côngnhân có trình độ, kinh nghiệm cao;
Công nghệ sử dụng trong KCNC mang tính tiên phong đi trước thờiđại, phát triển kinh doanh của DN trong nhiều trường hợp được coi là mạohiểm và có khả năng được bù đắp cao;
Trong KCNC, còn tiến hành các dịch vụ nghiên cứu và chuyển giaocông nghệ, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao
Trang 131.1.2 Quan niệm phát triển bền vững và phát triển bền vững các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
* Quan niệm và tiêu chí của phát triển bền vững
Những ý tưởng có hàm ý về phát triển bền vững sớm xuất hiện trong xãhội loài người, nhưng phải đến thập niên đầu của thế kỷ XX, những hàm ýnày mới phát triển, chuyển hoá thành hành động và cao hơn là phong trào xãhội Tiên phong cho các trào lưu này, phải kể đến giới bảo vệ môi trường ởTây Âu và Bắc Mỹ Các tổ chức này, đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểudiễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chương trình hành động hướngcác quốc gia phát triển theo mô hình bền vững
Thập kỷ 70, 80 thuật ngữ xã hội bền vững tiếp tục xuất hiện trong cáccông trình nghiên cứu của các học giả phương Tây, với công trình của BarryCômmner “Vòng tròn khép kín” (1971), Herman Daily “Kinh tế học nhà nướcmạnh” (1973) và công trình “Những con đường sử dụng năng lượng mềm: vềmột nền hoà bình lâu dài” của Amory Lovins (1977) Khái niệm phát triểnbền vững tiếp tục được đề cập và bổ sung với những đóng góp quan trọng thểhiện trong các tác phẩm của Maurice Strong (1972), và Ignacy Sachs (1975).Đặc biệt khái niệm này, được đề cập toàn diện nhất trong công trình củaLaster Brown “Xây dựng một xã hội bền vững” (1981) Tuy nhiên, khái niệmnày chính thức phổ biến rộng rãi trên thế giới từ sau báo cáo Brundrland
(1987) Theo Brundtland: “Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn
những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Như vậy, khái niệm “Phát triển bền vững” được đề cập trong báo cáoBrundtland với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh
tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môitrường Nội dung khái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã
Trang 14hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Với ý nghĩa này, nó được xem là “tiếngchuông” hay nói cách khác là “tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loàingười trong thế giới đương đại.
Khái niệm “Phát triển bền vững” được biết đến ở Việt Nam vào nhữngkhoảng cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 Mặc dù, xuất hiện ở Việt Nam khámuộn, nhưng nó lại sớm được thể hiện ở nhiều cấp độ: Bền vững về mặt kinh
tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt
kỹ thuật Phát triển bền vững đang là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vựckhoa học khác nhau với số lượng tham gia đông đảo của các nhà khoa học:kinh tế, chính trị, xã hội, kiến trúc, môi trường… ở Việt Nam
Như vậy, "Phát triển bền vững” có nội hàm rất rộng, mỗi thành tố trong
đó đều có một ý nghĩa riêng Một mẫu hình phát triển bền vững, là mỗi địaphương, vùng, quốc gia… không nên thiên về thành tố này và xem nhẹ thành
tố kia Vấn đề là, áp dụng nó như thế nào ở các cấp độ trên và trong các lĩnhvực khác nhau của đời sống xã hội
Nhận thức vấn đề này, trên cơ sở phương pháp luận của khoa học Kinh
tế chính trị, chúng tôi đưa ra quan niệm về phát triển bền vững như sau:
“Phát triển bền vững, là mô hình phát triển mới trên cơ sở sử dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện này, mà không làm hại cho thế hệ mai sau”.
Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của tất cảcác quốc gia trên thế giới Như đã trình bày, khái niệm “phát triển bền vững”
có nội hàm rất rộng, chính vì vậy, mà hệ tiêu chí đánh giá phát triển bền vữngcũng hết sức phong phú và phức tạp Bằng phương pháp trừu tượng hóa khoahọc- phương pháp đặc thù của Kinh tế chính trị học, dưới đây tác giả đề xuất
hệ các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững
Một là, nhóm tiêu chí về kinh tế: tiêu chí về kinh tế của sự phát triển
bền vững được tính trên giá trị tổng sản phẩm được tạo ra trong nước (GDP)
Trang 15hoặc thu nhập được sử dụng trong nước (GNI) Liên quan đến sự bền vững,các chỉ tiêu này được đánh giá cả về mặt tốc độ tăng trưởng trong một khoảngthời gian dài Nó cũng liên quan đến mô hình và công nghệ sản xuất theohướng sạch hơn, duy trì lối sống của xã hội gần gũi, thân thiện với môi trường
và tài nguyên thiên nhiên Quy mô, số lượng gắn với trình độ của sự pháttriển Kết quả của sự phát triển đồng thời được chuyển hóa phục vụ nhu cầutoàn diện của con người cả về vật chất lẫn tinh thần
Hai là, nhóm tiêu chí về xã hội: Phát triển bền vững đòi hỏi sự công
bằng về các quyền lợi xã hội đối với mỗi công dân như: được học tập, đượctạo mọi điều kiện để phát triển toàn diện cá nhân, có công ăn việc làm, có thunhập ổn định, được đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần, mọi công dân vàcác tổ chức chính trị, xã hội có quyền lợi và nghĩa vụ tham gia vào các quỹphúc lợi xã hội, giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo Nhànước phải có một hệ thống luật pháp đồng bộ đủ sức điều chỉnh các quan hệ
xã hội, đảm bảo dân chủ, công bằng, đáp ứng với yêu cầu của hội nhập kinh
tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay và cả trong tương lai
Ba là, nhóm tiêu chí về tài nguyên - môi trường: Tiêu chí về môi
trường của sự phát triển bền vững có thể đánh giá thông qua chất lượng cácthành phần môi trường như: môi trường không khí, môi trường đất, môi trườngnước, môi trường sinh thái; mức độ duy trì, khai thác và sử dụng hợp lý cácnguồn tài nguyên không tái tạo; nguồn vốn xã hội dành cho các hoạt động bảo
vệ môi trường; khả năng kiểm soát của các cấp chính quyền đối với các hoạtđộng kinh tế xã hội, những vấn đề chứa đựng các yếu tố tiềm ẩn tác động tiêucực đối với môi trường, ý thức bảo vệ môi trường của người dân
Những tiêu chí trên có mối quan hệ biện chứng, tác động ràng buộc qualại lẫn nhau không nên xem nhẹ hay nhấn mạnh yếu tố nào Phát triển bền vữngcần được đánh giá một cách toàn diện trên cơ sở tổng hợp các tiêu chí
Trang 16* Quan niệm phát triển bền vững các KCN ở tỉnh Bình Dương
Phát triển bền vững, như đã trình bày là một nhu cầu cấp bách và là xu thếtất yếu trong tiến trình phát triển KT- XH của đất nước Ở Việt Nam, để thực hiệnmục tiêu phát triển bền vững đất nước theo tinh thần của Đại hội Đảng toàn quốclần thứ IX, X, XI đề ra và thực hiện những cam kết quốc tế, Chính phủ Việt Nam
đã ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững Đây là chiến lược khung,bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương các tổchức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động Mục tiêu phát triểnbền vững đất nước trong thế kỷ XXI chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở thựchiện chiến lược phát triển bền vững trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địaphương trong đó có phát triển bền vững KCN
Trên cơ sở nghiên cứu kế thừa và phát triển các khái niệm về KCN và pháttriển bền vững, chúng tôi đưa ra quan niệm về “ Phát triển bền vững các khu côngnghiệp ở tỉnh Bình Dương ” như sau:
Phát triển bền vững các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương là quá trình Đảng bộ, Chính quyền và các cơ quan, ban ngành chức năng vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý chung về phát triển bền vững, đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng, Chính phủ vào thực tiễn tỉnh nhà nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định, kết hợp phát triển hài hòa về mặt xã hội, an ninh quốc phòng nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường trong và ngoài khu công nghiệp.
Phát triển bền vững KCN ở tỉnh Bình Dương được đặt ra trong khuônkhổ quan niệm về phát triển bền vững, có chú ý đến những yếu tố đặc thù củacác KCN và tỉnh Bình Dương Theo cách hiểu và tiếp cận của tác giả nhưvậy, phát triển bền vững KCN Bình Dương là việc các chủ thể Đảng bộ tỉnh,Chính quyền, các cơ quan ban ngành có chức năng sử dụng các công cụ,
Trang 17chính sách tác động vào KCN nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định, đạthiệu quả ngày càng cao trong bản thân các KCN, gắn liền với việc bảo vệ vànâng cao chất lượng môi trường sống, cũng như những yêu cầu về ổn định xãhội, an ninh quốc phòng trong khu vực có KCN Như vậy, bảo đảm phát triển
bền vững KCN tỉnh Bình Dương phải được xem xét trên hai góc độ: một là,
bảo đảm duy trì tính chất bền vững và hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh
doanh và dịch vụ của bản thân KCN tỉnh Bình Dương; hai là, tác động lan toả
tích cực của KCN đến hoạt động kinh tế, xã hội và môi trường của địaphương, khu vực có KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương
* Hệ thống tiêu chí (nội dung) đánh giá phát triển bền vững KCN
Có thể xem xét tiêu chí đánh giá phát triển bền vững KCN dướinhiều góc độ khác nhau nhưng từ khái niệm và cách triển khai quan niệmphát triển bền vững các KCN ở Bình Dương, tác giả chia thành hainhóm: đánh giá sự bền vững nội tại của KCN và đánh giá tác động lantoả của KCN đến khu vực có KCN
Nhóm một, nhóm tiêu chí đánh giá phát triển bền vững nội tại của KCN
Phát triển bền vững nội tại KCN là yêu cầu quan trọng nhất, vì nó đảmbảo duy trì sự hoạt động “khỏe mạnh” của các khu này Chính sự hoạt động
“khoẻ mạnh” của bản thân KCN sẽ là cơ sở để nó gây ảnh hưởng lan toả tích cựcđối với địa phương có KCN và đối với toàn bộ nền kinh tế
Cơ sở để đánh giá tính bền vững nội tại KCN, là dựa vào các dấu hiệu,
các tiêu chí thể hiện trên ba vấn đề cơ bản: một là, tính chất phù hợp về vị trí đặt,
cơ cấu bố trí các bộ phận trong KCN so với khả năng đất đai; hai là, tính hiệu
quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN trong KCN và khả năng
duy trì, nâng cao hiệu quả trong tương lai; ba là, chất lượng hoạt động của các
KCN như: trình độ công nghệ, trình độ lao động, điều kiện môi trường hoạtđộng, tính chất chuyên môn hóa sản phẩm, tính tổng hợp liên ngành và sự liên
Trang 18kết kinh tế giữa các DN, các bộ phận trong KCN và giữa các KCN trong từngđịa phương và khu vực kinh tế với nhau
Từ những lập luận nêu trên, theo tác giả một KCN được gọi là pháttriển bền vững cần đáp ứng những tiêu chí sau đây:
Thứ nhất, Vị trí đặt của KCN
Đây là dấu hiệu dẫn đến sự thành công của KCN Dấu hiệu này thểhiện: KCN đặt ở vị trí thuận lợi hay khó khăn về cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhưđường sá, cầu cống, bến cảng, nhà ga, sân bay, hệ thống viễn thông; điều kiện
về nguồn nhân lực dồi dào; tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư về vị trí vàđiều kiện sinh hoạt Tất cả những dầu hiệu này phải được xem xét trên khíacạnh hiện tại và sự duy trì khả năng ấy trong tương lai
Thứ hai, Quy mô đất đai, tính hợp lý của quy mô so với mục đích, tính
chất hoạt động của KCN và cơ cấu sử dụng đất trong KCN
Quy mô đất đai sẽ phụ thuộc vào mục đích hình thành KCN: mục đíchhình thành KCN để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thì quy mô có hiệu quảnằm trong khoảng 200 - 300 ha (đối với các KCN nằm trong khu vực thànhthị và vùng kinh tế trọng điểm), còn 300 - 400 ha đối với KCN nằm trên cáctỉnh; nếu KCN được đặt ở địa phương có cảng biển và nguồn nguyên liệu lớn,hình thành với tính chất chuyên môn hoá sản xuất ổn định một số sản phẩmhàng hoá công nghiệp nặng thì quy mô KCN từ 300-500 ha; với các KCNnằm ở xa đô thị, xa cảng biển, với tính chất hoạt động là tận dụng lao động thìKCN sẽ có quy mô hợp lý là 50-100 ha
Cơ cấu sử dụng đất trong KCN: Nội dung này có ý nghĩa quan trọngtrong việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất trong KCN và là cơ sở cho sự pháttriển bền vững KCN Tiêu chí này do cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền ra quyết định nhằm đảm bảo phát triển bền vững của KCN Theo quyđịnh 07/2003/NĐ-CP ngày 30/1/2003 của Chính phủ về việc ban hành Quy
Trang 19chế quản lý vốn đầu tư và xây dựng, cơ cấu sử dụng đất trong KCN có các bộphận như sau: Khu vực sản xuất công nghiệp thường chiếm 55-62%; khu vực
DN hỗ trợ chiếm 5-7%; khu vực DN dịch vụ chiếm 3-5%; khu trung tâm điềuhành, công trình công cộng, dịch vụ (nhà hàng, khu giới thiệu sản phẩm,trưng bày hàng hoá, tổng kho trung chuyển, trạm xăng, bảo dưỡng ô tô) chiếm3-5%; khu vực các công trình kết cấu hạ tầng (đường giao thông, các côngtrình đầu tư hạ tầng kỹ thuật) chiếm 21-34%, so với tổng diện tích KCN Lưu
ý rằng: các tỷ lệ này cần phải thay đổi theo xu hướng phát triển của KCN
Thứ ba, Tỷ lệ lấp đầy KCN
Tiêu chí này được đo bằng tỷ lệ diện tích KCN đã cho các DN và dịch
vụ thuê so với tổng diện tích KCN Tỷ lệ lấp đầy KCN được đánh giá theotừng giai đoạn cụ thể Giai đoạn đầu là thời kỳ thực hiện xây dựng kết cấu hạtầng khoảng 4-5 năm, tiếp sau đó là giai đoạn từng bước hoàn thiện chính sách
và thủ tục với mục tiêu là thu hút các nhà đầu tư vào KCN nhanh chóng “làmsống” KCN để thu hồi chi phí xây dựng, tạo lập việc làm cho người lao động
Thứ tư, hiệu quả hoạt động của DN trong KCN
Tiêu chí này đánh giá thực chất vấn đề về hiệu quả tài chính, kinh tếtrong hoạt động của các DN, quyết định khả năng sống còn của các DN trongKCN Tiêu chí này bao gồm: tổng doanh thu; tổng giá trị gia tăng; tổng laođộng thu hút; tổng vốn kinh doanh; tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng doanhthu; doanh thu trên một đơn vị lao động (năng suất lao động tính theo doanhthu) Đánh giá các chỉ tiêu này phải dựa trên quan điểm “động”, tức là mức vàtốc độ tăng trưởng của các con số đó Điều đó cho phép kết luận về khả năngduy trì bền bỉ và theo xu hướng ngày càng tăng lên của các chỉ tiêu phản ánhhiệu quả hoạt động của DN trong KCN
Thứ năm, trình độ công nghệ của DN và các hoạt động triển khai khoa
học công nghệ vào sản xuất kinh doanh
Trang 20Tiêu chí này phản ánh khả năng cạnh tranh công nghệ của các DN trongnội bộ KCN, giữa các KCN với nhau Nó phản ánh khả năng duy trì hoạt độngsản xuất kinh doanh của DN và xu hướng hiện đại hoá, vận dụng các thành tựuKHCN vào sản xuất kinh doanh Tiêu chí này thể hiện bằng các chỉ tiêu: Sốlượng và cơ cấu máy móc thiết bị sử dụng trong KCN; tỷ lệ máy móc thiết bịmới so với tổng số máy móc thiết bị sử dụng; độ tuổi trung bình của công nghệhoạt động trong DN; tỷ lệ vốn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khaitrong tổng vốn đầu tư của KCN, tỷ lệ doanh thu từ hoạt động nghiên cứu vàtriển khai so với tổng quy mô hoạt động của DN và của toàn KCN.
Thứ sáu, thu nhập bình quân của người lao động
Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó là dấu hiệu có tính chất quyết định đến khảnăng thu hút lao động vào KCN, đến việc duy trì đội ngũ lao động có tay nghềcao Nếu mức thu nhập thấp sẽ dẫn đến nguy cơ luân chuyển lao động không thểkiểm soát được Tiêu chí thu nhập được đo lường bằng mức thu nhập bình quân,tốc độ tăng thu nhập bình quân và được xem xét trong sự so sánh giữa các DNtrong cùng khu và giữa các DN cùng ngành nghề ở các KCN khác nhau
Nhóm hai, nhóm tiêu chí đánh giá tác động lan toả của KCN
Nhóm tiêu chí này phản ánh tác động lan tỏa của KCN đến các hoạtđộng kinh tế, xã hội, và môi trường của địa phương có KCN Đây là mối quan
hệ hai chiều, hỗ trợ phát triển lẫn nhau, có thể gọi là mối quan hệ “cộng sinh”.Căn cứ vào tiêu chí của phát triển bền vững, dưới đây tác giả đề xuất các tiêuchí thể hiện tác động lan tỏa của KCN trên ba vấn đề
Thứ nhất, tiêu chí về kinh tế
Ảnh hưởng của KCN đến lĩnh vực kinh tế đối với khu vực, địa phương
có KCN, được thể hiện bằng các chỉ tiêu đo lường chính: thu nhập bình quân
trên đầu người tính cho toàn khu vực hoặc địa phương; cơ cấu kinh tế của địaphương có KCN; đóng góp của KCN cho ngân sách địa phương; số lượng và
Trang 21chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội của địa phương có KCN;đóng góp về kim ngạch xuất khẩu cho địa phương.
Thứ hai, tiêu chí về xã hội
Mục tiêu cuối cùng của hoạt động kinh tế là phải tạo ra những hiệu ứng
xã hội tốt KCN hoạt động bền vững nếu xét theo góc độ mức lan tỏa ra bênngoài, phải thể hiện ở xu thế thay đổi tích cực trong các vấn đề xã hội của địaphương có KCN mà trực tiếp là có lợi trực tiếp cho đối tượng hưởng lợi, đó làdân cư trên địa bàn có KCN Ở góc độ kinh tế, ảnh hưởng của KCN chính là
sự gia tăng trong thu nhập dân cư và khả năng được tiếp cận của dân cư đếncác cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội Còn ở lĩnh vực xã hội thì ảnh hưởng củaKCN đến dân cư là việc tạo ra môi trường xã hội lành mạnh Sự lành mạnhcủa môi trường xã hội phụ thuộc rất lớn vào khả năng giải quyết việc làm củaKCN cho dân cư địa phương, nhất là những người dân bị mất đất do sự hìnhthành KCN gây nên Như vậy, tiêu chí phản ánh ảnh hưởng xã hội của KCNđược tập trung vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng giải quyết việc làm củaKCN cho địa phương như là : sử dụng lao động địa phương; tỷ lệ hộ gia đình(hoặc là số lao động) tham gia cung cấp sản phẩm - dịch vụ cho KCN nhưngnằm ngoài KCN so với tổng số hộ của địa phương (hoặc so với tổng lao độngđịa phương); cơ cấu lao động địa phương
Thứ ba, tiêu chí về môi trường
Quá trình phát triển KCN phải gắn liền với vấn đề bảo đảm và nâng caochất lượng môi trường của địa bàn có KCN Đánh giá việc bảo đảm môitrường trong và ngoài hàng rào KCN phải dựa theo những tiêu chuẩn ViệtNam hiện hành: mức độ ô nhiễm không khí, mức độ ô nhiễm nguồn nước,mức độ ô nhiễm tiếng ồn và mức độ ô nhiễm rác thải Tuy vậy, các tiêu chíđánh giá về môi trường KCN, cần được hướng vào ba yếu tố thường đượcnhấn mạnh trong các văn bản chiến lược bảo bệ môi trường, luật bảo vệ môi
Trang 22trường và nghị quyết Bộ Chính trị về môi trường, đó là: khả năng duy trì vấn
đề đa dạng hóa sinh học; tiết kiệm tài nguyên; chống ô nhiễm môi trường
Những tiêu chí nêu trên là thực sự cần thiết cho việc đánh giá toàn diện sựphát triển bền vững các KCN Tuy vậy, cần có quan điểm lịch sử, cụ thể trongnghiên cứu và đánh giá theo những tiêu chí nói trên, mục đích là vận dụng nhữngtiêu chí này phù hợp với từng giai đoạn xem xét, phù hợp với những yêu cầu khácnhau của các KCN khác nhau, ở những địa phương, khu vực khác nhau
1.2 Thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
1.2.1 Tổng quan chung về các khu công nghiệp tỉnh Bình Dương
Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, phía đông giáp ĐồngNai, phía nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp tỉnh Tây Ninh vàthành phố Hồ Chí Minh, phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, là tỉnh nằm trongVùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cửa ngõ thông thương giữa các trung tâmcông nghiệp, đô thị lớn với các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam TâyNguyên Bình Dương là trung tâm của các đầu mối giao thông huyết mạch, cókhả năng tiếp nhận các cơ sở công nghiệp từ đô thị chuyển ra đồng thời làvành đai cung cấp hàng hóa cho các vùng đô thị đó Với diện tích tự nhiên269.522 ha (chiếm 0,83% diện tích cả nước), dân số 1.550.000 người, hệthống giao thông được phân bổ đều và thuận tiện, với trục lộ giao thông huyếtmạch của quốc gia quan trọng như quốc lộ 1A, 13, 14, tuyến đường sắt BắcNam và tuyến đường xuyên Á Hệ thống sông tạo thành mạng lưới giao thôngđường thủy thuận tiện như Sông Bé, Ðồng Nai, Sài Gòn và Thị Tính, đồng thời
đã và đang được khai thác để dùng cho thuỷ điện Trị An và hồ thuỷ lợi DầuTiếng
Năm 1997 Bình Dương được tách ra từ tỉnh Sông Bé, từ khi được táilập, tỉnh đã nhanh chóng kế thừa những kết quả về phát triển KCN của tỉnhSông Bé để lại Đảng bộ, Chính quyền, nhân dân tỉnh Bình Dương kiên trì
Trang 23thực hiện đường lối CNH, HĐH, đặc biệt là quá trình xây dựng và phát triểncác KCN để tạo điều kiện cho việc thu hút vốn đầu tư làm bước khởi đầu choquá trình CNH, HĐH của tỉnh Với lợi thế là một tỉnh nằm cạnh Thành phố
Hồ Chí Minh trung tâm công nghiệp, có cảng lớn, có sân bay quốc tế, hệthống giao thông thủy bộ thuận lợi là đầu mối quan trọng cho hàng hóa củacác KCN tỉnh Bình Dương lưu thông ra nước ngoài và các tỉnh thành phốkhác trong cả nước Bên cạnh đó, Bình Dương là địa bàn có điều kiện thổnhưỡng đất đai thuận lợi cho việc xây dựng các công trình kiến trúc, kết cấu
hạ tầng KCN Đảng bộ, Chính quyền các cấp và nhân dân tỉnh Bình Dươngquyết tâm triển khai phát triển các KCN, lấy đó làm cơ sở cho quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, rút ngắn quá trình CNH,HĐH trên địa bàn tỉnh so với các địa phương khác trong cả nước
Trên lĩnh vực kinh tế, trong 5 năm giai đoạn (2006 – 2010) tổng sản phẩm(GDP) tăng bình quân hàng năm 14% gấp đôi so với mức tăng bình quân cảnước, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng: năm 2010 côngnghiệp - dịch vụ - nông nghiệp tương ứng là 63% - 32,6% - 4,4% Nếu so vớithời điểm 2005, thì dịch vụ tăng 4,5%, công nghiệp giảm 0,5% và nông nghiệpgiảm 4,4% Thu nhập bình quân đầu người đạt 30,1 triệu đồng Hàng năm giá trịsản xuất công nghiệp tăng bình quân 20%; kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân22,9% /năm và đạt 8,5 tỉ USD (khu vực kinh tế trong nước chiếm 36%, khu vựckinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 64%) Tỉnh phát triển thêm 13 KCN,thành 28 khu, nâng tổng diện tích các KCN lên 8.751 ha, hiện có 24 khu đi vàohoạt động với trên 1.200 doanh nghiệp trong và ngoài nước đang sản xuất kinhdoanh Tổng thu ngân sách tăng bình quân 24,3%/năm Toàn tỉnh hiện có 1.922
dự án FDI với vốn hơn 13 tỉ USD, góp phần làm cho tỉnh đạt thứ hạng cao về chỉ
số năng lực cạnh tranh so với các tỉnh thành khác [24, tr.65]
Trang 24Cùng với những lợi thế mà Bình Dương có được so với các tỉnh thànhphố khác, việc phát triển các KCN ở Bình Dương còn gặp những khó khăn đó là:
Thứ nhất, Bình Dương chưa có được những kinh nghiệm trong việc
thành lập các KCN so với thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, bởi vậy công táckêu gọi đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài còn hạn chế
Thứ hai, Bình Dương không có thế mạnh về đội ngũ cán bộ khoa học kỹ
thuật, thiếu những công nhân lành nghề và có kỹ thuật cao, mà chủ yếu lànhững lao động xuất thân từ nông nghiệp, trình độ tay nghề thấp
Thứ ba, Bình Dương là một tỉnh có dân số thấp, việc cung ứng lao động
cho các KCN trong tỉnh gặp nhiều khó khăn
Thứ tư, nền kinh tế của Bình Dương nói chung và các KCN của tỉnh nói
riêng so với cả nước trong những năm qua chịu ảnh hưởng lớn từ cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu, vì vậy, quá trình phục hồi và phát triển cần có lộ trình
vụ - công nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa, đầu tư hợp lý để phát triển nôngnghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, xây dựng nông thôn mới Nâng caohiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp, thực hiện tốt cải cách hành chính,tạo môi trường thông thoáng để thu hút đầu tư Cải thiện và không ngừng nângcao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệmôi trường Giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng - an ninh, trật tự
Trang 25an toàn xã hội Đầu tư đồng bộ kết cấu hạ tầng KT-XH làm động lực cho pháttriển, sớm đưa Tỉnh thành đô thị văn minh, hiện đại” [24, tr.96, 97]
Với những điều kiện thuận lợi và khó khăn đó, vấn đề đặt ra cho BìnhDương là làm thế nào để đẩy nhanh tiến độ đầu tư phát triển và phát triển bềnvững KCN Đây là vấn đề mà Đảng bộ, chính quyền tỉnh Bình Dương luôn quantâm và trăn trở Phát triển bền vững KCN là một yêu cầu bức xúc trong tiến trìnhthực hiện CNH, HĐH của tỉnh Chính vì điều đó, trong nghị quyết của Đảng bộtỉnh, Nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh và chương trình công tác của UBND,luôn quán triệt nhất quán phương châm “trải chiếu hoa để mời gọi các nhà đầu tư,trải thảm đỏ để đón những nhà trí thức” Đây là cơ hội, là điều kiện cần thiết đểphát triển và phát triển bền vững các KCN ở Bình Dương trong thời gian tới
1.2.2 Đánh giá tính chất bền vững trong sự phát triển các KCN ở Bình Dương
* Đánh giá tính chất bền vững nội tại ở các KCN Bình Dương
Hiệu quả hoạt động của các DN trong KCN [Phụ lục 02].
Năm 1995, KCN Sóng Thần I đi vào hoạt động, là KCN đầu tiên củatỉnh Từ đó đến nay các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương không ngừng pháttriển cả về số lượng và chất lượng Bình Dương hiện có 24 KCN thuộc diệntỉnh quản lý ( KCN Việt Nam - Singapore 1,2 do Chính phủ trực tiếp quản lý).Các DN trong KCN đã đóng góp lớn vào quá trình phát triển và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của địa phương Theo thống kê của BQL các KCN Bình Dươngnăm 2010 các KCN Bình Dương có 1.086 dự án còn hiệu lực, bao gồm 746 dự
án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tư đăng ký 4,86 tỉ USD và 343 dự
án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 18.328 tỉ đồng [8, tr.2].Doanh thu của các DN trong KCN tăng rất nhanh, năm 2006 là 2,17 tỉ USD thìđến năm 2010 là 4,54 tỉ USD, dự kiến năm 2011 sẽ là 5 tỉ USD
Xuất khẩu của các DN trong KCN ngày một tăng, đỉnh cao nhất trong giatăng xuất khẩu là năm 2006 tăng 61,22 % so với năm 2005, đạt 138,8 % so với
Trang 26kế hoạch năm Theo đó, vào năm 2007 các DN trong KCN ở Bình Dương tiếptục khẳng định sức mạnh xuất khẩu, khi chính thức vượt mốc xuất khẩu trên 1 tỉUSD Mặc dù những năm gần đây, tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động,nhất là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới trong năm 2009, nhưng giá trị xuấtkhẩu của các DN trong KCN cũng đạt được 1,736 tỉ USD, một con số khá ấntượng và trở thành điểm sáng của quá trình tìm tòi giải pháp thoát khỏi khủnghoảng của các DN trong KCN tỉnh Bình Dương Năm 2010, giá trị xuất khẩuvượt mốc 2 tỉ USD, dự kiến năm 2011 xuất khẩu đạt 2,7 tỉ USD.
Bên cạnh doanh thu và xuất khẩu, các KCN cũng đã góp phần quan trọngtrong giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Qua thống kê cho thấytrung bình hằng năm các DN trong KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã thuhút thêm khoảng 15.000 lao động Dự kiến năm 2011 số lao động làm việc trongcác DN của KCN là 219.000 người Với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng hiện đại công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, thì phát triển KCN ởBình Dương là lời giải hiệu quả cho bài toán nói trên Giải quyết việc làm chonông dân bị thu hồi đất cho các dự án KCN, thu hút lao động ở ngoại tỉnh vàolàm việc trong các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương là một thành tựu lớn của
sự nghiệp phát triển các KCN Trong những năm gần đây, các DN trong cácKCN có mức doanh thu/lao động ở mức bình quân khá cao từ 15.812USD/người năm 2006 đến 21.726 USD/người Theo đó mức xuất khẩu /laođộng cũng đạt mức tương ứng là 7.008 USD/người năm 2006 và 9.066USD/người, dự kiến đạt 12032 USD/ người trong năm 2011 mức kỷ lục từ trướcđến nay
Tuy nhiên, điểm hạn chế trong các DN ở các KCN xét về mặt hiệu quảhoạt động, đó là vào năm 2009 doanh thu của các DN chỉ đạt 94% kế hoạchnăm Về mặt khách quan được giải thích đó là các DN trong các KCN tỉnhBình Dương chịu ảnh hưởng khá lớn của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
Trang 27cầu, song về mặt chủ quan cũng cho thấy khả năng cạnh tranh, tiết kiệm chiphí sản xuất, nâng cao chất lượng cạnh tranh các loại hàng hóa của các DNtrong KCN còn hạn chế Theo bảng thông kê ở phụ lục 02 cũng cho thấydoanh thu, xuất khẩu vẫn tăng, nhưng có xu hướng giảm, cụ thể tốc độ tăngdoanh thu của năm 2006 so với năm 2005 là 49,2 %, nhưng năm 2010 so vớinăm 2009 chỉ tăng 17%; tương ứng xuất khẩu năm 2006 so với năm 2005tăng 61,22% nhưng năm 2010 so với năm 2009 chỉ tăng 16%.
Từ khía cạnh KT- XH có thể thấy hoạt động của các KCN đã mang lại hiệuquả rõ rệt trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người laođộng Tuy nhiên, tốc độ tăng có xu hướng giảm dần, tỉ lệ nhập khẩu ngày càngtăng đang là những yếu tố về mặt kinh tế cho thấy hoạt động của các DN trongKCN thiếu tính bền vững Cán cân xuất nhập khẩu của các DN cũng chứng minhmột điều rằng: KCN chính là cái nôi của xuất khẩu, là nguồn xuất khẩu không chỉcủa các KCN, của tỉnh mà còn là của cả nước song ngay chính các DN trongKCN của tỉnh vẫn chưa làm tốt vai trò này Số liệu cho thấy năm 2010 xuất khẩu
là 2,020 tỉ USD, nhưng nhập khẩu đến 2,614 tỉ USD, dự kiến năm 2011 có khảquan hơn đó là xuất khẩu 2,7 tỉ USD và nhập khẩu 2,6 tỉ USD xem ra đã có dấuhiệu xuất siêu trong các DN thuộc KCN, nhưng đây vẫn chỉ là dự kiến Để bảođảm tính bền vững trong phát triển KCN, việc cần thiết là phải nâng cao giá trị sảnxuất trên một đơn vị diện tích KCN, cũng như giá trị xuất khẩu trên một lao động.Điều này đặt ra yêu cầu cần thiết phải có sự đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bịtrong sản xuất của các DN trong KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Trình độ công nghệ
Từ khi có sự phát triển của các KCN, đã có sự thay đổi rất lớn trongquá trình công nghiệp hóa nền kinh tế và gắn với nó là sự đổi mới côngnghệ sản xuất ở Việt Nam nói chung và Bình Dương nói riêng Đóng gópvào việc thay đổi công nghệ ở các KCN phải kể đến vai trò của các nhà đầu
Trang 28tư nước ngoài Lũy kế đến nay, các KCN trên toàn tỉnh Bình Dương có 746
dự án đầu tư nước ngoài đến từ nhiều quốc gia trên thế giới như: Mỹ, NhậtBản, Singapore, Úc, Đức, Trung Quốc, Đan Mạch, Thái Lan, Hong Kong,Đài Loan [ 8, tr.5] Với sự gia tăng các dự án đầu tư nước ngoài vào cácKCN trong những năm gần đây cho thấy, sự đóng góp tích cực của các nhàđầu tư trong quá trình đổi mới công nghệ, ứng dụng các công nghệ tiên tiếnhiện đại trên thế giới vào Bình Dương
Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy rằng, các nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư vào Bình Dương chủ yếu vẫn đến từ các nước Đông Á và Đông Nam Á.Các nhà đầu tư Hoa Kỳ, EU còn ít trong khi họ là những nhà đầu tư lớn củathế giới và có trình độ công nghệ cao, vì vậy các dự án đầu tư nước ngoài ởBình Dương tuy nhiều về số lượng, song các dự án có hàm lượng công nghệcao không nhiều đồng nghĩa với trình độ công nghệ chung của KCN cònkhiêm tốn Các dự án đầu tư FDI vào các KCN chủ yếu có quy mô vốn nhỏ,dưới 5 triệu USD/dự án, lĩnh vực đầu tư của khu vực này chủ yếu là cácngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động: Dệt, may, giày dép, lắp ráphàng điện tử các ngành sử dụng công nghệ cao còn rất ít Hiện tượng này,làm cho các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương những năm qua chỉ mới dừnglại là thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, chứ chưa thúc đẩy công cuộc hiệnđại hóa Mặc dù đã có một số DN đầu tư những công nghệ mới cho sản xuấtnhư các DN của Đài Loan, Hàn Quốc, nhưng các công nghệ này chỉ có thểđánh giá là công nghệ tiên tiến và trung bình chứ chưa phải là công nghệ cao
vì với nhiều DN chỉ là sự dịch chuyển công nghệ từ các nước khác, phục vụmột số quy trình đơn giản Một số ít các DN cũng đầu tư sử dụng công nghệcao nhưng số lượng còn rất khiêm tốn
Với các DN trong nước đầu tư trong các KCN, tính đến hết năm 2010 cácKCN Bình Dương đã thu hút được 343 dự án đầu tư trong nước với số vốn đăng ký
Trang 29ước đạt 18.328 tỉ 394 triệu đồng [8, tr.6] Nếu xét về qui mô vốn đầu tư có thể thấycác DN trong nước có quy mô vốn không hề nhỏ trong các KCN Bình Dương Tuynhiên, do kiến thức về công nghệ của đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật trong nướcnhìn chung còn hạn chế, nên công nghệ của các DN trong nước đa phần cũng chỉ ởmức trung bình Một số DN đầu tư công nghệ mới nhập khẩu từ EU, Mỹ nhưng sốlượng còn khá khiêm tốn và chủ yếu là công nghệ chắp vá, thiếu đồng bộ.
Với thực trạng công nghệ như phân tích ở trên, có thể thấy, ở thời điểm hiệntại yếu tố công nghệ chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển bền vững của các KCN
ở Bình Dương Tuy nhiên, cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước và quá trìnhphát triển của nền kinh tế Bình Dương, chắc chắn rằng chất lượng công nghệ trongcác KCN sẽ dần được cải thiện, theo kịp với sự phát triển công nghệ hiện nay
Thu nhập của người lao động
Nhìn chung, các DN trong các KCN đều tuân thủ các quy định của Nhànước về việc trả lương theo Luật lao động và Luật đầu tư nước ngoài (về quyđịnh lương tối thiểu) Ở Bình Dương, nhiều DN đặt ra các quy định khác nhau
để khuyến khích tăng thu nhập cho người lao động: chuyên cần, nâng cao taynghề, tiền xăng xe, tiền ăn trưa, tiền thưởng, lương tháng 13 Theo thống kêcủa Ban quản lý các KCN Bình Dương, mức thu nhập bình quân của ngườilao động tại các KCN năm 2007, 2008, 2009, 2010 tương ứng là: 1,1 triệuđồng; 1,390 triệu đồng; 1,455 triệu đồng; 2,0 triệu đồng Tuy nhiên, việc trảlương cho người lao động tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương nổi lêncác đặc điểm chú ý như: Có sự chênh lệch giữa người lao động làm việc ở DNnước ngoài và DN trong nước ở cùng một công việc; để có mức thu nhập bìnhquân như thống kê nói trên, công nhân phải tăng ca 2-3 giờ/ngày, thậm chí cóthời gian ở một số DN, công nhân phải làm việc 2 ca; giá cả tư liệu sinh hoạtleo thang, nhưng lương tối thiểu của người lao động trong các KCN khôngđược điều chỉnh kịp thời; thu nhập của người lao động thấp, làm việc thời
Trang 30gian kéo dài, môi trường sống thấp, ăn uống kham khổ, tỉ lệ tích lũy chỉ ởmức 10-20 % thu nhập Nhiều DN nợ lương 1-2 tháng đối với người lao độnghoặc áp dụng trừ phạt lương tùy tiện dẫn tới khiếu kiện, đình công, bãi côngdiễn ra ở các KCN, nhất là vào các thời điểm nhạy cảm cuối năm âm lịch.Tình trạng này, cũng gây nên những bất ổn về sản xuất của DN và xã hội.
Đối với nhiều ngành nghề có giá trị gia tăng thấp: dệt may, giày da mức thu nhập của công nhân ở mức khá thấp so với các ngành nghề khác Ởcác DN này tình trạng thuyên chuyển và mất công nhân diễn ra khá phổ biến
vì khi có cơ hội chuyển sang các ngành nghề khác có thu nhập cao hơn, họ sẽchuyển sang ngay mà không cần để ý đến chi phí và thời gian mà chủ DN đãđào tạo họ Điều này, dẫn tới sự mất ổn định trong hoạt động sản xuất của các
DN và tính bền vững về môi trường xã hội ở các KCN Bình Dương
Thu nhập thấp cộng với các dịch vụ xã hội như: nhà ở, khu vui chơi, giải trí,sinh hoạt giá cả leo thang nên đời sống người lao động thực sự khó khăn, các tệ nạn
xã hội vì thế mà có môi trường thuận lợi để phát triển Chính điều này trở thành ràocản của việc thu hút và giữ chân lao động ngoại tỉnh ở các KCN Bình Dương
Tỷ lệ lấp đầy KCN
Tỷ lệ lấp đầy KCN được đo bằng tỷ lệ diện tích KCN đã cho các DN vàdịch vụ thuê so với tổng diện tích KCN Tỷ lệ này, phản ánh hiệu quả kinhdoanh của các nhà đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, phụ thuộc vị trí địa lýcủa KCN, các chính sách thu hút đầu tư của địa phương, tiềm năng phát triểncủa địa phương và cả cơ cấu ngành nghề trong KCN Bình Dương hiện có 24KCN thuộc phạm vi quản lý của tỉnh với diện tích 6.859,6 ha; trong đó, có 22KCN đi vào hoạt động với tổng diện tích 6.157,21 ha, 02 KCN An Tây và ThớiHòa đang đền bù và xây dựng hạ tầng cơ sở [8, tr.3] Về tình hình cho thuê lạiđất, năm 2010 đã cho 17 DN thuê đất với tổng diện tích 216,49 ha, tăng 52 % so
Trang 31với cùng kỳ năm 2009 và đạt 142% kế hoạch năm 2010 Lũy kế đến nay cácKCN đã ký 945 hợp đồng thuê đất với diện tích 2.506,7 ha, đạt tỷ lệ lấp kín54,07% Nếu tính 22 KCN đang hoạt động thì tỉ lệ lấp kín đạt 60,17% [ 8, tr.5].
Từ số liệu tổng hợp ở phụ lục 05 cho thấy diện tích đất được lấp đầytrong các KCN ngày một tăng, riêng trường hợp năm 2008, tỉ lệ lấp đầy thấphơn năm 2007, là vì năm 2008 tăng thêm thành lập mới 01 KCN đang trongquá trình triển khai cơ sở hạ tầng Với tỉ lệ lấp đầy 60,17 %, Bình Dương làmột trong những tỉnh có KCN lấp đầy cao so với cả nước chỉ sau Bà Rịa-Vũng Tàu và Thành phố Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, vấn đề đáng chú ý là tại các KCN của Bình Dương, nhất lànhững KCN thành lập sau xuất hiện các công ty đầu cơ đất trong KCN, họsớm ký hợp đồng thuê đất nhưng không triển khai hoạt động sản xuất kinhdoanh mà tái cho thuê đất với giá cao hơn Điều này làm cho hiệu quả hoạtđộng thực sự của các KCN giảm, làm xấu đi môi trường đầu tư Đây cũng làtác nhân gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư của địa phương và
đe dọa sự phát triển bền vững của các KCN khi việc đầu cơ tăng cao
Về môi trường sinh thái
Môi trường là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định sự pháttriển bền vững của các KCN Thực trạng vấn đề môi trường ở các KCN trênđịa bàn tỉnh Bình Dương nổi bật mấy vấn đề sau:
Mức độ ô nhiễm nguồn nước: một thực tế cho thấy các KCN nằm trongvùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung và các KCN ở Bình Dương nóiriêng đều được qui hoạch và xây dựng ở gần các con sông Ở Bình Dương đó
là các con sông lớn như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, kênh Ba Bò…điềunày, “tiện lợi” cho việc xả nước thải của các KCN, mà ít tốn kém, dẫn tớinguồn nước cung cấp nước sinh hoạt bị ô nhiễm nặng nề
Trang 32Theo thống kê của BQL các KCN Bình Dương, tính đến tháng 10/
2010, trong các KCN Bình Dương có 15/22 KCN có trạm xử lý nước thảihoạt động với tổng công suất thiết kế là 42.800 m3/ngày, có 09 KCN đangxây dựng các trạm nước thải tập trung (có 03 KCN xây dựng giai đoạn 2 vàgiai đoạn 3) với công suất thiết kế là 28.600/ngày [8, tr.10] Như vậy đến thờiđiểm này tại các KCN ở Bình Dương vẫn còn có một số KCN chưa có trạm xử
lý nước thải vì vậy vẫn còn có những nhà máy xả thẳng nước thải ra các consông, kênh, rạch làm ô nhiễm môi trường Đây là tác nhân lớn gây nên ô nhiễmnguồn nước, cản trở sự phát triển bền vững của chính KCN và KT -XH tỉnh nhà
Mức độ ô nhiễm môi trường không khí: môi trường không khí cũng làmột vấn đề đáng quan tâm trong quá trình thành lập và hoạt động của các KCNtrên địa bàn tỉnh Bình Dương, theo BQL ở những dự án có khí thải độc hại, các
cơ sở sản xuất đều có đầu tư thiết bị xử lý ô nhiễm khí, qua nhiều đợt trắcnghiệm tại các KCN trong tỉnh thì tỉ lệ các chất SO2, NO2, CO đều thấp dướimức chuẩn cho phép Tuy nhiên, một điều dễ nhận thấy là tỉ lệ bụi lơ lửngtrong không khí đang ngày một tăng Trên các con đường vào KCN BìnhĐường, Nam Tân Uyên, Bàu Bàng… hệ thống cây xanh còn ít, hoặc là độ phủkín chưa đạt tiêu chuẩn cộng với các hoạt động xây lắp, vận tải diễn ra thườngxuyên cả ngày lẫn đêm vì vậy mức độ ô nhiễm khói bụi trong môi trườngkhông khí đang ngày một tăng lên Một số DN chế biến gỗ trong các KCN cólượng bụi vượt từ 2-4 lần tiêu chuẩn cho phép điều này ảnh hưởng đến sứckhỏe của người lao động và cư dân sinh sống trên địa bàn ngoài hàng rào KCN
Tình hình chất thải rắn: Ở các KCN, chất thải rắn rất đa dạng, chủyếu phát sinh từ các DN sản xuất giày dép, điện - điện tử, sản xuất accu,thuốc bảo vệ thực vật, sản xuất vật liệu xây dựng Các chất thải rắn chialàm 4 nhóm như sau:
Trang 33Nhóm 1: Bao gồm các chất thải kim loại hay có chứa các kim loại nặngnhư arsenic, cadmium, chì, thuỷ ngân, crôm… và các chất thải (nước thải,bùn thải) từ các công nghệ sản xuất kim loại như mạ, điện phân, tẩy rửa bềmặt kim loại, tinh chế kim loại, sản xuất accu và các chi tiết điện - điện tử,chất xúc tác đồng clorua và hợp chất xyanua thải, các thiết bị, chi tiết điện -điện tử chứa thuỷ ngân, thuỷ tinh, PCB…
Nhóm 2: Bao gồm các chất thải vô cơ nhưng có thể chứa kim loại hay vậtliệu hữu cơ như chất thải thuỷ tinh từ các đèn cathode và thuỷ tinh hoạt tính, hợpchất flo vô cơ, các chất xúc tác thải, amiang thải…
Nhóm 3: bao gồm chủ yếu các chất thải hữu cơ từ quá trình sản xuất nhựađường, dầu mỏ, các loại dầu khoáng thải, chất truyền nhiệt thải chứa PCBs, cácchất thải chứa Cr6+ hoặc các chất diệt sinh vật, các loại hoá chất như phenol,dung môi thải hữu cơ, các chất thải từ quá trình sản xuất, đóng gói và sử dụngnhựa, mủ chất hoá dẻo, keo và chất kết dính, cặn nhựa thải…
Nhóm 4: bao gồm các chất thải có lẫn các chất hữu cơ và vô cơ như cácchất thải y tế, chất thải dược phẩm, hoá chất bảo vệ thực vật, hoá chất bảoquản gỗ, các chất thải từ quá trình sản xuất và sử dụng mực, phẩm nhuộm,chất màu, sơn quang dầu, vecni… các chất thải có tính nổ, tính acid hoặckiềm thải, các hoá chất độc hại…
Trong các nhóm trên, có 20% thành phần đặc biệt nguy hại Tuy nhiên,hầu hết các KCN còn thu gom chất thải rắn đơn giản, chủ yếu gom như rác bìnhthường, sau đó bỏ vào những chỗ đất trống dưới dạng bãi rác hở do các công tykinh doanh rác hoặc đội vệ sinh thực hiện Một số KCN đang xây dựng nhà máy
xử lý rác, nhưng công suất thiết kế của chúng thấp hơn nhiều so với lượng ráccông nghiệp cần xử lý Đây là một trong những vấn đề cản trở việc phát triển cácKCN ở Bình Dương theo hướng bền vững
Tình hình môi trường lao động:
Trang 34Qua khảo sát ở các KCN trên địa bàn, có thể dễ dàng nhận thấy ở nhiềunơi môi trường lao động của công nhân không được đảm bảo: thiếu ánh sáng;tiếng ồn vượt mức tiêu chuẩn cho phép từ 5 – 18dBA (ở các xí nghiệp nén,dập, rèn, trạm động lực); nhiệt độ môi trường làm việc vượt 0,5 – 2 độ chophép; nồng độ bụi cao Điều này dẫn tới tỷ lệ bệnh nghề nghiệp của côngnhân cao, trong khi đó điều kiện dịch vụ y tế thấp, làm cho sức khoẻ của côngnhân bị giảm sút nhanh.
Trong thời gian vừa qua, vai trò quản lý nhà nước về môi trường trongcác KCN, BQL các KCN cuả tỉnh đã có những biện pháp hành chính tích cựcnhằm cải thiện môi trường KCN Thường xuyên phối hợp với Tổng cục môitrường, Sở tài nguyên và môi trường, Phòng tài nguyên và môi trường cáchuyện thị có các KCN để thanh kiểm tra và xử lý vi phạm, đình chỉ hoạtđộng… Nội dung kiểm tra bao gồm: nghiệm thu hệ thống xử lý môi trường,công tác bảo vệ môi trường để phê duyệt các đề án bảo vệ môi trường, côngtác bảo vệ môi trường đối với các DN nằm trong KCN đã bàn giao Từ nhữnghoạt động tích cực đó phần nào đã hạn chế được sự gia tăng ô nhiễm môitrường tại các KCN trong tỉnh
Từ các phân tích về môi trường kể trên có thể thấy chất lượng môi trường
ở các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương đang là vấn đề nổi cộm Mức độ ônhiễm đang diễn ra hàng ngày hàng giờ Trong đó, tình trạng ô nhiễm môitrường nước thải, môi trường lao động đã ở mức báo động Vấn đề ô nhiễm môitrường không khí, tiếng ồn và rác thải cũng đã ở mức cao, tuy chưa đến mức báođộng Hiện trạng môi trường hiện nay có thể đánh giá ở mức rất ô nhiễm, khôngnhững ảnh hưởng đến các xí nghiệp nằm trong các KCN, mà còn ảnh hưởng đếncuộc sống hàng trăm ngàn người ngoài KCN Điều này có ảnh hưởng tiêu cựcđến sự phát triển bền vững của các KCN trong tỉnh
* Đánh giá tác động lan toả các KCN ở tỉnh Bình Dương
Trang 35Sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh Bình Dương đặt dưới sự lãnh đạo củaTỉnh ủy và quá trình tổ chức thực hiện của các cơ quan ban ngành, nhân dânđịa phương trong tỉnh đã thu được nhiều thành tựu nổi bật Trong quá trìnhCNH, HĐH nhiều mô hình, biện pháp đã được triển khai, trong đó có sự pháttriển các KCN Dưới đây là tác động lan tỏa của các KCN ở Bình Dương
tư trong nước với tổng vốn đầu tư đang ký 18.328 tỷ 394 triệu đồng [8, tr.2], cácKCN đã góp phần đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH tỉnh Bình Dương Theotính toán gần 2.507 ha đất nông nghiệp hoặc vùng thị tứ kém phát triển trởthành các KCN có cơ sở hạ tầng hiện đại và các vùng đô thị khang trang(xung quanh các KCN), thu hút hàng nghìn doanh nghiệp trong và ngoàinước, đây là những hạt nhân quan trọng thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại
Đến hết năm 2010, các KCN ở Bình Dương đã thu hút 209.010 ngườilao động, hầu hết trong số họ xuất thân từ nông dân, người lao động phổthông ở những nơi thị tứ trở thành người công nhân Đây là nguồn lực để đưaBình Dương trở thành một tỉnh giàu lên từ KCN góp phần đưa nước ta từ mộtnước nông nghiệp phát triển ở trình độ thấp trở thành một nước công nghiệp ởthập niên thứ 2 của thế kỉ XXI
Trang 36Trong những năm qua, cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Dương có sự chuyểndịch mạnh theo hướng CNH, HĐH, nền kinh tế trong tỉnh đạt tốc độ tăngtrưởng cao bình quân 14%/năm giai đoạn 2006-2010 [24, tr.37] Cơ cấu kinh
tế của tỉnh hiện nay là công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp với tỷ trọngtương ứng là 63%, 32,6% và 4,4% [24, tr.37] Theo các số liệu thống kê chothấy giai đoạn 2006 - 2010 giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 20%năm, gấp 2,5 lần năm 2000; trong đó khu vực kinh tế trong nước chiếm 36%,khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 64% Công nghiệp tiếp tụcphát triển ổn định ở vùng phía Nam và từng bước chuyển dịch lên phía Bắctỉnh Các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển công nghiệp nhanh bềnvững đã tạo dược những chuyển biến tích cực về thu hút đầu tư, mở ra cácngành, sản phẩm mới, nâng cao trình độ công nghệ, tăng kim ngạch xuất khẩu
và tăng nguồn thu ngân sách
Tác động đến quá trình đô thị hóa của tỉnh:
Cơ sở hạ tầng của các vùng đất KCN và xung quanh KCN được nângcấp trở thành những đô thị kiểu mẫu với các hạ tầng kinh tế, xã hội hoànchỉnh: điện, nước, đường sá, các công trình phúc lợi hiện đại đạt tiêu chuẩnquốc tế như: Dĩ An, Thuận An, Mỹ Phước, Khu đô thị và dịch vụ BìnhDương, Mỹ Phước, EcoPark Ngoài việc ưu tiên đầu tư từ ngân sách, tỉnh đãvận dụng cơ chế thu hút các DN tham gia đầu tư nhiều công trình kết cấu hạtầng đáp ứng nhu cầu phát triển KT - XH khá nhanh của tỉnh Toàn tỉnh hiện có
112 dự án đầu tư khu dân cư, nhà ở thương mại với tổng diện tích là 6.253 ha;trong đó, có 28 dự án đã cơ bản hoàn chỉnh, 38 dự án đang xây dựng hạ tầng kỹthuật và 46 dự án đang dền bù giải tỏa Các DN, hộ gia đình đã xây dựng575.000 m2 nhà ở phục vự cho trên 143.000 công nhân Đến nay, diện tích nhà
ở đạt 17,32m2/người, tỉ lệ đô thị hóa toàn tỉnh ước đạt 45% [24, tr 46]
Trang 37Tác động đến quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách làm cho môitrường làm việc tại các KCN ngày càng được cải thiện theo hướng thuận lợihơn, tinh gọn hơn, nhanh chóng hơn.
Trên thực tế, các KCN là nơi thử nghiệm các cơ chế, chính sách mớitiên tiến như : Cơ chế quản lý “một cửa, tại chỗ” về thủ tục hành chính đốivới các nhà đầu tư Chính cơ chế này được nhân rộng không những áp dụngđối với các DN mà còn áp dụng cho các thủ tục hành chính có liên quan đếnđời sống người dân như: hộ khẩu, giấy tờ đất đai, giấy phép xây dựng
Mô hình BQL là đơn vị hành chính sự nghiệp có thu hay là cơ chế “tựđảm bảo tài chính” được áp dụng ở BQL các KCN Bình Dương, cơ chế này
có tác dụng lớn đó là: BQL các KCN có thêm ngồn thu để trang trải cáckhoản chi phí phục vụ DN như: xúc tiến đầu tư, thương mại, bỏ các chi phí đểthực hiện “đồng hành” cùng DN giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quátrình hoạt động đầu tư, tăng thu nhập cho cán bộ nhân viên, kích thích ngườicán bộ gắn bó toàn tâm toàn ý với công việc phục vụ DN, giảm sự nhũngnhiễu DN điều này làm cho môi trường đầu tư tại các KCN Bình Dươngthực sự hấp dẫn các DN trong và ngoài nước
Tác động thúc đẩy sự phát triển các loại hình dịch vụ:
Các KCN ở Bình Dương hình thành và phát triển cả về số lượng vàchất lượng là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của hàng loạt dịch vụ đikèm: dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ kho, logicstic, dịch vụ xây dựng vàcho thuê bất động sản, đào tạo và cung cấp lao động; dịch vụ cho thuê nhà ở;dịch vụ văn hóa xã hội Riêng hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh giai đoạn2006-2010 cho thấy tổng vốn huy động tăng bình quân 42,6 %, dư nợ tăng bìnhquân 30,4% Toàn tỉnh hiện có 35 ngân hàng thương mại cổ phần, và thương
Trang 38mại nhà nước, 4 ngân hàng liên doanh, 01 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 11quỹ tín dụng, 84 phòng giao dịch và 3 chi nhánh ngân hàng [24, tr.51].
Một số tác động tiêu cực trong phát triển các KCN ở Bình Dương:
Phát triển các KCN, thu hút lao động ngoại tỉnh dẫn tới hiện tượng tăng dân
số đột biến, ảnh hưởng tới an ninh trật tự xã hội Trong số 209.010 lao động làmviệc trong các KCN ở Bình Dương số lao động trong tỉnh chỉ chiếm chưa tới 10 %còn lại là lao động ngoại tỉnh Đa số người lao động đến từ các tỉnh nghèo củamiền Bắc, miền Trung và miền Tây Nam Bộ có trình độ thấp, một số tội phạmnúp bóng lý lịch người khác đến Bình Dương lao động, làm cho tình hình an ninhtrật tự xã hội thêm phức tạp, khó quản lý Việc người lao động di cư một cách ồ ạtcũng dẫn đến nhiều hậu quả không mong muốn như sự quá tải về hạ tầng xã hội:trường học, bệnh viện, đường sá, nhà ở cũng như các dịch vụ cho người laođộng và gia đình của họ ngoài hàng rào các KCN
Sự phát triển các KCN dẫn tới ô nhiễm môi trường Như đã phân tích ởtrên, việc thiếu vốn cộng với tiết kiệm chi phí đầu tư, thêm vào đó là sự quản
lý thiếu chặt chẽ, nên ở nhiều nơi trong tỉnh môi trường sống đang bị ô nhiễmnặng Một số KCN chưa có nhà máy xử lý nước thải hoặc chưa đấu nối vớinhà máy xử lý nước thải tập trung nên đã xả nước thải trực tiếp vào các dòngsông, làm ô nhiễm nặng, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của hàng vạnngười Hay các KCN Thuận An đã xả chất thải làm ô nhiễm nguồn nướcngầm và đất, hậu quả là hàng trăm ha cây ăn trái ở vùng Lái Thiêu có tuổihàng chục năm bị thối gốc và chết hàng loạt, nước sông Sài Gòn qua BìnhDương bị ô nhiễm nặng Nhiều nơi, dân phản đối, khiếu kiện vì môi trườngsống của họ gần KCN bị xuống cấp nặng nề
1.2.3 Những vấn đề đang đặt ra từ thực trạng phát triển các khu công nghiệp ở tỉnh Bình Dương
Trang 39Phân tích thực trạng phát triển các KCN ở tỉnh Bình Dương thời gian qua,nhiều vấn đề bức thiết đang đặt ra cần được nhận thức một cách đầy đủ nhằm tìmnhững giải pháp khả thi phát triển bền vững các KCN trên địa bàn tỉnh:
Một là, chưa có sự thống nhất nhận thức và nhất quán hành động của toàn thể Đảng bộ và Chính quyền các cấp trong quá trình quy hoạch, xây dựng bền vững các KCN trên địa bàn tỉnh
Nhận thức về sự phát triển bền vững là vấn đề không đơn giản, trongcác cấp lãnh đạo tỉnh và một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có ý kiến chorằng, chỉ cần mở rộng quy mô, thu hút thật nhiều đầu tư là tốt rồi, tỉnh đang cònnghèo lại phải cạnh tranh quyết liệt với các tỉnh, thành phố bạn không nên quácầu kỳ trong quy hoạch và phát triển các KCN Với quan điểm này, thì hệ quảtất yếu của quá trình phát triển các khu công nghiêp là mang tính tràn lankhông theo một trật tự thống nhất, lẽ đương nhiên hậu quả về kinh tế xã hội làkhôn lường Ngược lại, cũng có những quan điểm thận trọng và toàn diện hơncho rằng, quá trình phát triển các KCN phải có quy hoạch tổng thể và toàndiện, thì mới đạt được mục tiêu bền vững Đó là những biểu hiện của chưa sựthống nhất về nhận thức cũng như hành động thực tiễn của toàn Đảng bộ, cũngnhư Chính quyền các cấp trong quy hoạch và phát triển bền vững các KCN
Hai là, quá trình quy hoạch phát triển KCN chưa đồng bộ với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung, chưa huy động được tiềm năng và lợi thế của các địa phương trên toàn tỉnh
Một trong những tiêu chí đặt ra cho sự phát triển bền vững của cácKCN đó là, có sự hài hòa giữa phát triển các KCN với phát triển kinh tế-xãhội trên toàn tỉnh và các địa phương trong tỉnh Thực tế phát triển các KCN ởBình Dương cho thấy, tốc độ phát triển của một số KCN vượt xa khả năng
Trang 40đáp ứng về kinh tế- xã hội của tỉnh và các địa phương Chẳng hạn, quy hoạchphát triển các khu dân cư chưa theo kịp sự phát triển của các KCN, dẫn đếntình trạng hệ thống chợ, dịch vụ và trường học, trạm xá không đáp ứng nhucầu của cư dân khu công nghiệp, chưa kể lực lượng lao động luôn thiếu hụt và
hệ thống hạ tầng như, đường giao thông, điện nước chưa đáp ứng nhu cầu sảnxuất và đời sống của trong và ngoài KCN Đó là vấn đề thực tiễn đang đặt rahết sức nóng hổi cho phát triển bền vững các KCN trên địa bàn tỉnh BìnhDương cần được quan tâm đúng mức
Ba là, năng lực tài chính, kinh nghiệm hoạt động sản xuất, kinh doanh, của một số chủ đầu tư nội địa trong xây dựng kết cấu hạ tầng chưa cao
Việc đầu tư xây dựng hạ tầng phải đảm bảo đồng bộ, đúng quy hoạch,đảm bảo các điều kiện về môi trường, giao thông, điện, nước, thu gom xử lýnước thải,…phục vụ cho hoạt động của các DN Muốn thực hiện đồng bộ vànhanh chóng các yếu tố này, đòi hỏi các doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh vựcnày, phải có vốn lớn, có trình độ tổ chức quản lý tốt, nhất là các doanh nghiệpnội địa, quá trình khảo sát thực tế cho thấy, Các doanh nghiệp nội địa còn rấtkhiêm tốn về vốn và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh, do đó, nhiều côngtrình bỏ dở vì thiếu vốn, nhiều dự án treo gây lãng phí tài nguyên đất đai vàcác nguồn vốn đầu tư Điều này, làm ảnh hưởng lớn đến việc triển khai các dự
án tiếp theo trong các KCN Nhiều khi, các công trình bị bán đi, bán lại vàchất lượng công trình không đảm bảo làm giảm sức thu hút đầu tư hoặc tạo ranhững miếng mồi béo bở cho các nhà đầu tư nước ngoài Đây, cũng là vấn đềlớn đang đặt ra không những cho tỉnh Bình Dương, mà cho cả nước về ưu tiênlựa chọn nhà đầu tư và năng lực của các nhà đầu tư trong nước khi triển khai
dự án phát triển hạ tầng KCN