Do vậy, phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, là yêu cầu cấp thiết đối với mọi nền kinh tế và mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được nhận những nhận xét, góp ý bổ sung của quý Thầy Cô
Hà Nội, ngày 31 tháng 8 năm 2015
Tác giả
Trần Thị Dung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Tính cấp thiết của đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc của luận văn 10
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÔNG THÔN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 11
1.1 Khái niệm nông thôn và đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng 11
1.1.1 Khái niệm nông thôn 11
1.1.2 Đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng 16
1.2 Phát triển bền vững và phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam 25
1.2.1 Phát triển bền vững: Khái niệm và nội dung 25
1.2.2 Phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam 34
Kết luận Chương 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG HIỆN NAY 43
2.1 Thành tựu trong phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 43
2.1.1 Thành tựu trong phát triển bền vững về kinh tế nông thôn 43
2.1.2 Thành tựu trong phát triển bền vững về văn hoá - xã hội nông thôn 54
2.1.3 Thành tựu trong phát triển bền vững về môi trường nông thôn 62
2.2 Những biểu hiện kém bền vững trong phát triển nông thôn ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 68
Trang 52.2.1 Những biểu hiện kém bền vững trong phát triển kinh tế nông thôn 68
2.2.2 Những biểu hiện kém bền vững trong phát triển văn hoá - xã hội nông thôn 72
2.2.3 Những biểu hiện kém bền vững trong khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên 79
2.3 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông Hồng hiện nay 92
2.3.1 Giải pháp về xây dựng hoàn thiện luật pháp, thực hiện chính sách có hiệu quả đối với nông thôn đồng bằng sông Hồng 92
2.3.2 Giải pháp về phát triển kinh tế nông thôn đồng bằng sông Hồng 94
2.3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ ở nông thôn đồng bằng sông Hồng 97
2.3.4 Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện an sinh xã hội ở nông thôn đồng bằng sông Hồng 99
2.3.5 Giải pháp khắc phục ô nhiễm và bảo vệ môi trường nông thôn đồng bằng sông Hồng 101
Kết luận Chương 2 103
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: GDP bình quân đầu người (USD) 44
Bảng 2.2: Cơ cấu ngành trong GDP các tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng sông Hồng 45
Bảng 2.3: Số trang trại phân theo địa phương 50
Bảng 2.4: Số trang trại phân theo lĩnh vực sản xuất và phân theo địa phương 51
Bảng 2.5: Tỷ lệ hộ nghèo qua các năm (1998-2013) 55
Bảng 2.6: Số xã có trạm y tế, số trạm y tế được xây dựng kiên cố,bán kiên cố chia theo vùng kinh tế - xã hội 57
Bảng 2.7: Chỉ số phát triển con người 2008 58
Bảng 2.8: Phát triển giới 59
Bảng 2.8: Hiện trạng cấp nước hợp vệ sinh nông thôn giai đoạn 2005-2010 66
Bảng 2.9: Tỷ số giới tính của trẻ em phân theo vùng 76
Bảng 2.10: Ô nhiễm asen ở đồng bằng sông Hồng 84
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người dựa vào
tự nhiên để sinh tồn, đã và đang khai thác giới tự nhiên để đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của mình Đó là cả một quá trình khai thác, sử dụng tự nhiên một cách thô sơ đến khai thác tài nguyên thiên nhiên triệt để Nhưng sự phát triển của xã hội và của con người ngày càng lớn, trình độ khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng cao thì càng tỷ lệ thuận với sự khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách cạn kiệt, từ đó đã dẫn đến những hậu quả mà con người không thể lường trước được Loài người phải đối mặt với những vấn đề xã hội, vấn
đề về môi trường mà không một quốc gia nào có thể giải quyết được như: đói nghèo, bệnh tật, ô nhiễm môi trường và nhất là biến đổi khí hậu Mặc dù con người đã có những biện pháp khai thác và tái sử dụng tài nguyên hợp lý hơn nhưng hậu quả đã và đang để lại là rất lớn Nhìn lại sự phát triển của mình, con người nhận thấy rằng sự phát triển kinh tế chỉ dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, và mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế đã làm cho sự phát triển kinh tế, sự phát triển xã hội và môi trường không như ý muốn của chúng ta mà luôn chứa đựng những yếu tố tiềm ẩn, và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu như: khủng hoảng và suy thoái kinh tế, mặt xã hội của đời sống con người không được đảm bảo, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt và môi trường ô nhiễm nặng hay đó chính là sự phát triển không bền vững
Sự phát triển mạnh mẽ của tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho năng suất lao động ngày càng cao, nền kinh tế thế giới phát triển nhưng lại luôn tiềm ẩn những nguy cơ như khủng hoảng kinh tế, suy thoái kinh tế khu vực và toàn cầu Sản xuất cung vượt cầu nhưng nạn đói vẫn xảy ra ở nhiều nơi, một bộ phận người ngày càng giàu lên nhưng bộ phận nghèo khổ vẫn không ngừng gia tăng Điều này cho thấy sự phát triển của con người còn chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý và không bền vững
Trang 8Ngày nay, cùng với sự phát triển của mình con người đã và đang khai thác thế giới tự nhiên sâu rộng hơn để đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống của mình Bằng sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật và công nghệ con người bắt đầu
có những biện pháp, cách thức khai thác thế giới tự nhiên một cách hợp lý
hơn, nhưng điều đó cũng chưa giải quyết được những vấn đề mà con người
gặp phải Từ những khó khăn thách thức mà mình đang phải đối mặt, con
người phải nhận thức lại và cùng nhau đưa ra một hướng phát triển mới để giải quyết được những vấn đề mà mình đang gặp phải
Do vậy, phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, là yêu cầu cấp thiết đối với mọi nền kinh tế và mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những lĩnh vực sản xuất vật chất, sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, liên quan đến bảo vệ môi trường
Nhận thức được tầm quan trọng và bức thiết của vấn đề phát triển bền
vững, ngay sau Tuyên bố Rio năm 1992, Nhà nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ
môi trường năm 1993 Sau đó đã hình thành một hệ thống các văn bản quy phạm
pháp luật và hệ thống quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Đến nay, phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm, giải pháp của Đảng và Nhà nước ta
Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã thông qua Chiến lược phát triển phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010 của nước ta khẳng định: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hành tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [16, tr 162] và “Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học” [16, tr.163] Tại Đại hội Đảng lần thứ XI, quan điểm này cũng được tái khẳng định trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đó là: “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến
Trang 9lược” [17, tr 98] Trong đó, nội dung phát triển bền vững nông nghiệp,
nông thôn là một nội dung quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội ở Việt Nam
Nước ta đang trên đường đổi mới và xây dựng đất nước với mục tiêu năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp Với xuất phát điểm là một nền nông nghiệp lúa nước cho nên hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn Nông thôn có một vai trò cực kỳ quan trọng, gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của nhân dân ta Lịch sử phát triển kinh tế xã hội nước ta cho thấy sự phát triển, tiến bộ, phồn vinh của đất nước không thể bỏ qua, tách rời sự phát triển của khu vực nông thôn Vì vậy, phát triển nông thôn giàu mạnh và bền vững luôn được Đảng và Nhà nước ta đặt ở vị trí trọng tâm trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay, dưới tác động như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, xu thế hội nhập quốc tế, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đi đôi với nó là quá trình đô thị hoá Các vùng nông thôn hiện nay đang phải đối mặt với việc sử dụng lãng phí, kém hiệu quả các nguồn lực tự nhiên, xã hội, tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ảnh hưởng tiêu cực đến
sự phát triển, phồn thịnh ở nông thôn làm mất ổn định xã hội Bởi ở nông thôn tính bền vững về sinh thái và kinh tế cũng quan trọng như tính bền vững về xã hội trong quá trình phát triển Do đó, sự phát triển bền vững nông thôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững ở nước ta hiện nay
Đồng bằng sông Hồng nằm ở vị trí trung tâm của cả nước, có điều kiện thuận lợi để phát triển Vùng nông thôn đồng bằng sông Hồng sau 30 năm đổi mới đã có một diện mạo phát triển hết sức mới mẻ Đời sống người dân nông thôn của vùng được nâng cao và cao hơn các vùng khác trong cả nước Song trong sự phát triển nông thôn đồng bằng sông Hồng còn nhiều biểu hiện phát triển kém bền vững như chuyển đổi cơ cấu kinh tế kéo theo một bộ phận lao động thiếu việc làm, cuộc sống không ổn định, phát triển kinh tế còn gây ô
Trang 10nhiễm môi trường; các vấn đề xã hội được quan tâm nhưng có nhiều nơi giải quyết thực hiện chưa hiệu quả, một số tệ nạn diễn biến ngày càng phức tạp; môi trường nông thôn ngày càng gia tăng ô nhiễm, số vụ vi phạm pháp luật ngày càng nhiều và tính chất ngày càng nghiêm trọng
Như vậy, việc nghiên cứu về phát triển bền vững và phát triển bền vững nông thôn Việt Nam hiện nay là một yêu cầu cấp thiết Vì vậy, tôi chọn vấn đề
“Phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông Hồng hiện nay” làm đề tài
luận văn thạc sĩ cho chuyên ngành chủ nghĩa xã hội khoa học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nông thôn nói chung và phát triển bền vững nông thôn nói riêng là đối tượng quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội và môi trường hiệu quả và bền vững nhất Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về phát triển bền vững nông thôn như:
- Cuốn “Góp phần phát triển bền vững nông thôn Việt Nam”, của tác
giả Nguyễn Xuân Thảo (2004), Nxb Chính trị quốc gia Cuốn sách trình bày các giải pháp cho những bức xúc của nông dân trong quá trình sản xuất, trong kinh tế, xã hội nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đô thị hóa nông thôn, phát triển bền vững nông - lâm - ngư nghiệp và đưa ra một
số cơ chế và dự án xóa đói giảm nghèo
- Cuốn “Phát triển nông thôn bền vững: Những vấn đề lý luận và kinh
nghiệm thế giới”, của tác giả Trần Ngọc Ngoạn (2008) Nxb Khoa học xã hội
Cuốn sách tổng hợp những vấn đề lý luận, những lý thuyết làm cơ sở để phát triển nông thôn bền vững Giới thiệu một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc ứng dụng các phương pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn
- Cuốn “Hệ thống trong phát triển nông nghiệp bền vững”, của tác giả
Trần Danh Thìn (2008), Nxb Nông nghiệp Cuốn sách đã đề cập đến khái niệm
Trang 11chung về hệ thống và hệ thống nông nghiệp, các thành phần trong hệ thống phát triển nông nghiệp bền vững và các phương pháp nghiên cứu phát triển bền vững
- Cuốn “Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam”, của tác giả
Vũ Văn Nâm (2009), Nxb Thời đại Cuốn sách trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững Thực trạng, phương hướng và các giải pháp để phát triển nền nông nghiệp theo xu hướng bền vững ở Việt Nam
- Cuốn “Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng
đồng bằng Bắc Bộ trong qúa trình xây dựng, phát triển các khu dân cư”, của
tác giả Đỗ Đức Tuấn (2010), Nxb Chính trị quốc gia Cuốn sách nghiên cứu
lý luận chung về phát triển bền vững, phát triển bền vững nông thôn, khu công nghiệp để đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ
- Cuốn “Phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
trong điều kiện hiện nay”, của tác giả Ngô Thị Tuyết Mai (2011), Nxb Chính
trị quốc gia Cuốn sách cung cấp nhiều nội dung liên quan đến phát triển bền vững như: tổng quan về lý thuyết phát triển bền vững, những vấn đề lý luận
và thực tiễn, sự cần thiết phải phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu, kinh nghiệm của một số nước trong khu vực cũng như đánh giá thực trạng chung về phát triển hàng nông sản xuất khẩu của nước ta hiện nay và trên cơ
sở đó cuốn sách cũng đưa ra những dự báo và những quan điểm và giải pháp nhằm phát triển bền vững hàng nông sản xuất khẩu
Ngoài ra còn có các bài báo, bài nghiên cứu trên Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Lý luận, … liên quan đến vấn đề tác giả đang nghiên cứu
Những công trình trên đã nghiên cứu một cách cơ bản về phát triển bền vững, phát triển bền vững nông thôn và đưa ra những bài học kinh nghiệm, giải pháp góp phần phát triển bền vững nông thôn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trang 12Trên cơ sở lý luận về phát triển bền vững và phát triển bền vững nông thôn, luận văn nghiên cứu thực trạng phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông Hồng, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông Hồng
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Trình bày khái niệm nông thôn, đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng
- Trình bày khái niệm phát triển bền vững, phát triển bền vững nông thôn
- Phân tích những thành tựu và những biểu hiện kém bền vững trong phát triển nông thôn ở đồng bằng sông Hồng hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông Hồng hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu phát triển bền vững nông thôn
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu phát triển bền vững nông thôn ở đồng bằng sông Hồng giai đoạn từ năm 2001 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận:
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và phát triển bền vững
Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp luận trong nghiên cứu lịch sử triết học như phương pháp logic - lịch sử và phương pháp lịch sử - cụ thể Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng phương pháp đa ngành, liên ngành như phân tích và tổng hợp tài liệu, xã hội học
và thống kê
Trang 136 Đóng góp của luận văn
Luận văn trình bày một cách khái quát nhất về thành tựu và những biểu hiện phát triển kém bền vững trong phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, môi trường ở nông thôn đồng bằng sông Hồng hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 02 chương và 5 tiết
Trang 14Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NÔNG THÔN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM 1.1 Khái niệm nông thôn và đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng
1.1.1 Khái niệm nông thôn
Trong tiến trình phát triển của mình, các quốc gia trên thế giới đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là thành thị và nông thôn Khi nghiên cứu về nông thôn và thành thị các nhà xã hội học đã đưa ra một số tiêu chí phân biệt khu vực nông thôn và khu vực thành thị như: thành phần xã hội của dân số, các di sản văn hóa, sự phồn thịnh, sự phân hóa xã hội của dân
cư, mức độ phức tạp của cấu trúc và đời sống xã hội, cường độ và sự đa dạng của mối liên hệ xã hội Trong lý thuyết của xã hội học nông thôn - đô thị,
sự khác nhau căn bản giữa nông thôn và thành thị được thể hiện qua các tiêu chí như sau: “Sự khác nhau về nghề nghiệp, về môi trường, về quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di
cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong từng vùng” [10, tr 8]
Hiện nay, trên thế giới chưa đưa ra được một định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, bởi mỗi nhà nghiên cứu, học giả lại đưa ra những quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ
sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường thấp hơn so với đô thị Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và
số lượng dân trong vùng để xác định, nên theo quan điểm này vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị Một quan điểm khác cho rằng vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức
Trang 15là nguồn sống, thu nhập của cư dân trong vùng chủ yếu là từ hoạt động sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc và trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế cho từng nền kinh tế
Hiện nay, đối với những nước đang thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, nông thôn đang chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ được xây dựng rải rác ở khắp các vùng nông thôn Do đó, quan điểm về nông thôn có những đổi khác so với trước đây Có thể hiểu, nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, cùng hỗ trợ nhau phát triển
Ở Việt Nam do đặc thù đất chật, người đông; theo Nghị định số 42/2009/NĐ-CP ngày 7/5/2009 của Chính phủ về “Việc phân loại đô thị”, quy định nước ta có 6 loại đô thị như sau:
- “Đô thị loại đặc biệt: Quy mô dân số toàn đô thị từ 5 triệu người trở
lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động
- Đô thị loại I: Đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên; đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị
từ 500 nghìn người trở lên; mật độ dân số bình quân khu vực nội thành đô thị
Trang 16thuộc tỉnh từ 8.000 người/km2 trở lên, trường hợp đô thị trực thuộc Trung
trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động
- Đô thị loại III: Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên;
động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng
số lao động
- Đô thị loại IV: Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên;
động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng
số lao động
- Đô thị loại V: Quy mô dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên; mật
trở lên; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động” [7, tr 3.4.5.6]
Từ căn cứ đó, nông thôn được xác định là những khu vực nằm ngoài các tiêu chí quy định như trên Vì vậy, có thể coi nông thôn Việt Nam bao gồm các địa bàn dân cư có số lượng dân tập trung dưới 4.000 người; mật độ
; tỷ lệ lao động nông nghiệp từ 35% trở lên trong tổng số lao động
Việc phân biệt giữa nông thôn và thành thị chỉ có tính chất tương đối bởi trên thực tế vẫn còn sự xen lẫn về đất đai, địa bàn dân cư và các hoạt động kinh tế - xã hội, đặc biệt ở các đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn Mặt khác, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam hiện nay
đã dẫn đến hiện tượng nông thôn hoá đô thị nhanh chóng
Ở Việt Nam hiện nay nông thôn được hiểu là vùng sinh sống của tập hợp dân cư với nhiều thành phần kinh tế khác nhau, không chỉ đơn thuần là
Trang 17nông dân nhưng nông dân vẫn chiếm đa số Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác Quá trình đổi mới đất nước, đặc biệt là quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá được đẩy mạnh đã
và đang làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam
Theo Quy định tại Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/8/2009 của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, xét về không gian địa lý, theo địa bàn cư trú: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Uỷ ban nhân dân xã” Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nghề nông” [75, tr 985]
Theo tác giả nông thôn hiện nay là địa bàn cư trú, sinh sống của dân cư
gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau, nhưng nông dân vẫn chiếm đa số và chủ yếu làm nghề nông
Một số đặc điểm nông thôn Việt Nam hiện nay
Nông thôn Việt Nam thể hiện tính đa dạng về tự nhiên và môi trường sinh thái bởi nông thôn trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên Do vậy, hoạt động sản xuất mỗi vùng lại có những cách thức, đặc trưng riêng tạo nên bản sắc văn hoá cho mỗi vùng miền
Cư dân sinh sống ở nông thôn có mối quan hệ dòng họ, họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc, gia đình và làng
xã Các gia đình trong một dòng họ sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi, khăng khít lâu đời, cùng với những người ngoài dòng họ chung sống, góp sức phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu bền Cung cách ứng xử xã hội ở nông thôn thường nặng
về tục lệ hơn là pháp lý Nông thôn có một lối sống đặc thù là lối sống cộng đồng xã hội được hình thành chủ yếu trên cơ sở của hoạt động lao động sản
Trang 18xuất nông nghiệp Hiện nay, nông thôn là nơi lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hóa của quốc gia như phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp, ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hóa, các danh lam thắng cảnh Cùng với sự phát triển xã hội, nông thôn cũng ngày càng đa dạng về điều kiện kinh tế - xã hội, đa dạng về trình độ tổ chức, quản
lý, đa dạng về quy mô và mức độ phát triển
Ở nông thôn, cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông do vậy đây
là địa bàn sản xuất chủ yếu của các hoạt động nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp Trong các làng xã truyền thống hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận người nông dân Cùng với sự phát triển
và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này cũng có sự thay đổi Vùng nông thôn hiện tại dân cư trú không chỉ phần lớn là nông dân làm nông nghiệp mà thay vào đó là dân cư trú tiến hành nhiều hoạt động sản xuất khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ Theo đó, tỷ trọng lao động của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng công nghiệp và dịch vụ
Nông thôn thường gắn với một nghề lao động xã hội truyền thống đặc trưng và nổi bật là hoạt động sản xuất nông nghiệp với tư liệu sản xuất chủ yếu ở nông thôn là đất đai Do đó, nó tạo ra sự gắn kết nghề nghiệp của người nông thôn với nơi chôn rau cắt rốn của mình Nông thôn hiện nay cùng với xu thế xây dựng và phát triển của đất nước nhưng nhìn chung vẫn là vùng có kết cấu hạ tầng chậm phát triển, mức độ hưởng phúc lợi xã hội thấp, trình độ sản xuất hàng hoá và tiếp cận thị trường thấp Vì vậy, nông thôn chịu sức hút của
đô thị về nhiều mặt như dân cư nông thôn thường di chuyển tự do ra các đô thị để kiếm việc làm và tìm cơ hội sống tốt hơn Đồng thời, khu vực nông thôn là nơi có thu nhập thấp và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, khoa học công nghệ thấp hơn đô thị
Trang 19Hiện nay ở nông thôn có những biểu hiện của môi trường văn hoá bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, có những biểu hiện trái với thuần phong
mỹ tục, các tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức nhất là trong thanh thiếu niên ở nông thôn
Nước ta có ¾ diện tích là đồi núi, diện tích đồng bằng quan trọng nhất
là đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long Trong đó, đồng bằng sông Hồng là vùng tiêu biểu điển hình cho nông thôn Việt Nam Bởi nông thôn Việt Nam truyền thống được hiểu là những nếp sinh hoạt cộng đồng có tính chất cổ truyền, gồm những đặc trưng như: cộng đồng về kinh tế; cộng đồng về sinh hoạt văn hoá; cộng đồng về ngôn ngữ, phong tục, tập quán Trên cơ sở đó với một cách rất tự nhiên cư dân nông thôn đã tạo thành tinh thần đoàn kết trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, phòng chống thiên tai, lũ lụt Cũng từ đó hình thành không gian sinh hoạt văn hoá; kinh tế; phong tục, tập quán Điều này được thể hiện rất rõ nét trong các mặt đời sống của cư dân đồng bằng sông Hồng
1.1.2 Đặc điểm nông thôn đồng bằng sông Hồng
1.1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
Đồng bằng sông Hồng có lịch sử lâu đời trong công cuộc dựng nước và giữ nước, là cội nguồn văn hoá lúa nước của dân cư người Việt, có vị trí góp phần đảm bảo an ninh lương thực và nông sản xuất khẩu, đứng thứ 2 trong cả nước Nghề trồng lúa nước truyền thống, trồng rau, hoa, quả, cây cảnh, chế biến nông, thuỷ hải sản thu hút trên 70% dân số của vùng
Vùng có lịch sử, truyền thống cách mạng, văn hoá lâu đời, nơi cội nguồn của dân tộc, có vị trí chiến lược về phát triển đất nước và hợp tác quốc
tế của Việt Nam, có đường hàng hải quốc tế Đồng bằng sông Hồng là vùng
có tiềm năng to lớn để phát triển mạnh và toàn diện kinh tế, văn hoá, xã hội, giao lưu quốc tế và khu vực Đồng bằng sông Hồng vừa có đồng bằng châu
Trang 20thổ hình thành vựa lúa lớn thứ hai của nước ta vừa có vùng đất trung du địa hình cao dọc theo phần lớn tuyến đường 18, 21
Đồng bằng sông Hồng bao gồm 11 tỉnh, thành phố là: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc Đây là trung tâm kinh tế năng động và là một đầu tàu kinh tế quan trọng của miền Bắc và của cả nước Do đó, khu vực nông thôn ở đồng bằng sông Hồng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển
Vùng có lịch sử phát triển và bề dày tiêu biểu cho truyền thống văn hoá
- xã hội và phong tục tập quán của người Việt, là cái nôi của nền văn hoá lúa nước Việt Nam Vùng có Thủ đô Thăng Long - Hà Nội hơn 1000 năm tuổi, là trung tâm đầu não về chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, hàng đầu về kỹ thuật công nghệ và kinh tế của cả nước Thủ đô Hà Nội là đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không trong quan trọng nước và quốc tế Khu vực biển Hải Phòng là hành lang kinh tế ven biển có cụm cảng cửa ngõ
ra biển lớn nhất miền Bắc Địa bàn vùng cũng là nơi tập trung hầu hết các cơ
sở công nghiệp, dịch vụ quan trọng của khu vực phía Bắc với hệ thống đô thị phát triển rộng khắp Đây cũng là vùng hạt nhân, địa bàn động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đô thị hoá và công nghiệp hoá khu vực đồng bằng sông Hồng, khu vực Trung du Miền núi phía Bắc, khu vực Bắc Trung Bộ và
có ảnh hưởng lan toả mạnh mẽ đến quá trình phát triển trên phạm vi cả nước
Tài nguyên đất:
Khu vực trung tâm của đồng bằng sông Hồng rất bằng phẳng, cao 12m
so với mực nước biển, với 56% độ cao dưới 5m Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất so với các vùng khác, bình quân đất nông
nghiệp và có xu hướng ngày càng thu hẹp do quá trình đô thị hoá
Trang 21Đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên cơ bản của vùng do phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp Đồng bằng sông Hồng hiện có trên 103 triệu ha đất đã được sử dụng, chiếm 83,5% diện tích tự nhiên của vùng và 4,7% diện tích đang sử dụng của cả nước Như vậy, mức sử dụng đất của vùng cao nhất so với các vùng trong cả nước Đất nông nghiệp chiếm 52% diện tích của vùng, diện tích đất nông nghiệp của vùng khoảng 760.000
ha, trong đó 70% là đất phù sa màu mỡ có giá trị lớn về nông nghiệp (tập trung chủ yếu ở vựa lúa, lương thực thực phẩm của vùng là Thái Bình) Đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 4,7% diện tích đang sử dụng của cả nước nhưng lại có diện tích trồng cây lương thực đứng thứ 2 trong các vùng của cả nước là 1.199,2 nghìn ha Đất đai của vùng thích hợp với việc thâm canh lúa nước, trồng hoa màu và các công công nghiệp ngắn ngày như: đay, đậu tương, mía
Khả năng mở rộng diện tích của vùng vẫn còn nhưng không nhiều (khoảng 137 nghìn ha) do vùng đã được khai phá từ lâu đời, và hiện nay do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Quá trình mở rộng diện tích của vùng gắn với việc chinh phục biển thông qua sự bồi tụ và khai phá biển vì hàng năm vùng biển từ Đồ Sơn, Hải Phòng đến Kim Sơn, Ninh Bình thường xuyên quai
đê lấn biển theo phương thức lúa lấn cói, cói lấn sú vẹt, sú vẹt lấn biển Một phần diện tích ven biển của vùng bị xâm nhập mặn vào mùa khô, nước mặn từ biển xâm nhập sâu vào đất liền ảnh hưởng lớn đến nước sông và các hoạt động sản xuất nuôi trồng thuỷ hải sản vùng ven biển
Sông ngòi:
Đồng bằng sông Hồng nằm trong hệ thống sông Hồng và sông Thái
lượng nước phân bố không đều Về mùa khô lưu lượng nước giảm chỉ còn
Trang 22
Hệ thống sông ngòi của vùng tương đối phát triển Nhưng về mùa mưa lưu lượng dòng chảy quá lớn có thể gây ra lũ lụt, nhất là ở các vùng cửa sông khi nước lũ và triều lên gặp nhau gây ra hiện tượng dồn ứ nước trên sông Về mùa khô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), dòng nước trên sông chỉ còn 20-30% lượng nước cả năm gây ra hiện tượng thiếu nước Bởi vậy, để ổn định việc phát triển sản xuất, đặc biệt trong nông nghiệp thì phải xây dựng hệ thống thủy nông đảm bảo chủ động tưới tiêu và phải xây dựng hệ thống đê điều chống lũ và ngăn mặn
Do lượng cát bùn trong nước sông lớn nên nhiều cửa sông bị bồi lắng nghiêm trọng như cửa Cấm, cửa Nam Triệu, cửa Thái Bình Hàng năm, phải nạo vét một khối lượng lớn cát bùn để đảm bảo cho tàu thuyền ra vào
Địa hình tương đối bằng phẳng với hệ thống sông ngòi dày đặc đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển hệ thống giao thông thủy bộ và cơ sở hạ tầng của vùng
Một trong những trở ngại chính về khí hậu là sự quá dư thừa nước về mùa mưa và thiếu nước trong mùa khô Do vậy, để ổn định phát triển sản xuất, đặc biệt là trong nông nghiệp yêu cầu phải có hệ thống thuỷ lợi phát triển để chủ động tưới tiêu
Khoáng sản:
Tài nguyên khoáng sản của vùng không nhiều về chủng loại, chỉ có trữ lượng vừa và nhỏ Vì vậy, việc phát triển công nghiệp của vùng phụ thuộc
Trang 23vào nguồn nguyên liệu từ bên ngoài Tiềm năng khoáng sản lớn nhất là than tập trung nhiều nhất cả nước tại Quảng Ninh và than nâu, đứng vị trí thứ hai
cả nước, trữ lượng ước tính hàng chục tỷ tấn nhưng ở độ sâu 200m đến 2.000m nên hiện chưa có điều kiện khai thác Ngoài ra, trong vùng còn có tiềm năng về khí đốt, khí thiên nhiên được thăm dò và khai thác ở Tiền Hải, Thái Bình Khoáng sản làm vật liệu như đá vôi khá phong phú, phân bố chủ yếu tại các dãy núi đá vôi ở Thuỷ Nguyên (Hải Phòng); Chí Linh (Hải Dương) và Ninh Bình phục vụ cho phát triển ngành công nghiệp vật liệu xây dựng Tài nguyên đất sét, đặc biệt là đất sét trắng ở Hải Dương phục vụ cho sản xuất các sản phẩm sành sứ
Tài nguyên rừng, biển và đa dạng sinh học:
Tài nguyên rừng của vùng khá phong phú, bao gồm cả rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Một số khu vực tự nhiên rất có giá trị kinh tế sinh thái, đa dạng sinh học cao như: Vườn quốc gia Ba Vì, khu rừng Chùa Hương (Hà Nội); Vườn quốc gia Cát Bà (Hải Phòng); Vườn quốc gia Tam Đảo (Vĩnh Phúc); vùng núi Chí Linh (Hải Dương), quần thể danh thắng Tràng
An (Ninh Bình); Vườn quốc gia Xuân Thuỷ (Nam Định); Vườn quốc gia Bái
Tử Long (Quảng Ninh)
Đồng bằng sông Hồng có một vùng biển rộng lớn với bờ biển kéo dài
từ Móng Cái (Quảng Ninh) đến Kim Sơn (Ninh Bình), bờ biển có bãi triều rộng và phù sa dày là cơ sở nuôi trồng thủy hải sản, nuôi rong câu Vùng có nguồn lợi thuỷ sản phong phú có thể phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến thuỷ hải sản Việc khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên và đa dạng sinh học trong vùng là điều kiện quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững toàn vùng
Ngoài khơi biển thuộc Vịnh Bắc Bộ, con nước theo chế độ nhật triều mỗi ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống Chính yếu tố thuỷ triều này tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử
Trang 24cũng như sinh hoạt cộng đồng của dân cư trong khu vực tạo nên văn minh lúa nước khu vực, vừa có cái chung, vừa có cái riêng độc đáo của mình
Với những lợi thế như vậy, đồng bằng sông Hồng có tiềm năng lớn về du lịch, phía Đông vùng giáp Vịnh Bắc Bộ tổng chiều dài bờ biển là 400km, có tài nguyên du lịch biển đa dạng và đặc sắc như vịnh Hạ Long, Cát Bà; chùa Hương, quần thể danh thắng Tràng An…tạo ra khả năng phát triển du lịch sinh thái và hấp dẫn
1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội
Năm 2012, dân số toàn vùng trên 19.8 triệu người, gần 70% dân cư sinh sống ở nông thôn Cư dân trong vùng chủ yếu là người Kinh với kinh nghiệm và truyền thống thâm canh lúa nước, xen canh gối vụ các loại hoa màu và các làng nghề thủ công mỹ nghệ hoạt động vào thời gian nông nhàn Vùng có tỷ lệ dân tộc ít người thấp nhất cả nước, chỉ chiếm 1,5% dân số tập trung ở khu vực Thạch Thất, Ba Vì, Quốc Oai, các xã cũ thuộc huyện Lương Sơn, Hoà Bình (Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung) nay thuộc Hà
Nội; Nho Quan (Ninh Bình) và Quảng Ninh
Nông thôn đồng bằng sông Hồng là vùng có lịch sử khai phá từ lâu đời đặc trưng cho làng xã Việt Nam, tiêu biểu cho truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước, truyền thống cần cù lao động của nhân dân Việt Nam Cấu trúc làng xã, cách quản lý xã hội của các vùng trên đất nước Việt Nam đều bắt nguồn từ đồng bằng sông Hồng Nông thôn vùng có hai xu hướng hình thức quần cư chính là theo kiểu làng xã tập trung thành những điểm ở các dải đất cao xen kẽ trong vùng và kiểu phân bố dọc theo hai bờ của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Đây là hai xu hướng chính do hình thức canh tác trong sản xuất nông nghiệp, trồng lúa nước và sự tiện lợi trong sản xuất ở ven sông
Vùng tập trung nhiều lễ hội nhất cả nước với nhiều hoạt động vừa có ý nghĩa vừa thú vị và sôi nổi Lễ hội của vùng cũng tương đối đa dạng cả về loại hình Có những lễ hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp, có những lễ
Trang 25hội liên quan đến các danh nhân và di tích lịch sử (Hội Gióng, Hội Lý Bát Đế), lại có những lễ hội gắn với sinh hoạt văn hoá của người dân (Hội Lim)
và những lễ hội gắn với tâm linh, tín ngưỡng: hội chùa Phật Tích, chùa Dâu Nét văn hoá bản sắc của người nông thôn, vùng trồng lúa nước lên các lễ hội chủ yếu phản ánh qua các lễ hội nông nghiệp
Đồng bằng sông Hồng có một kho báu văn hoá dân gian truyền từ đời
nọ sang đời kia Đó là kho tàng di sản văn hoá phi vật thể đa dạng và phong phú, là nguồn ca dao, tục ngữ, huyền thoại, là những lễ hội truyền thống lâu đời đặc sắc, là cái nôi của ca nhạc dân gian, trò diễn Các thể loại sân khấu dân gian cũng khá đa dạng và mang sắc thái vùng đậm nét: bao gồm hát chèo, hát chầu văn, hát ca trù, quan họ, múa rối…
Đối với cư dân nông thôn sinh sống tại đồng bằng sông Hồng, tín ngưỡng là một nhân tố văn hoá không thể thiếu trong đời sống tinh thần Trong đời sống văn hoá của cư dân trong vùng cho ta thấy được tính đa dạng, phong phú trong đời sống tín ngưỡng của người dân và chứa nhiều nội dung như: tín ngưỡng thờ cũng tổ tiên; tín ngưỡng phồn thực; tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng; tín ngưỡng thờ ông tổ nghề; tín ngưỡng thờ tứ pháp; tín ngưỡng thờ mẫu
Nông nghiệp lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu, vừa tạo ra cơ sở cho định cư lâu dài, vừa tạo ra thứ lương thực cần thiết hàng ngày của người dân ở đây Cư dân ở nông thôn đồng bằng sông Hồng là cư dân sống với nghề trồng luá nước và làm nông nghiệp một cách thuần tuý Người dân đắp đê, lấn biển, trồng lúa, làm muối và đánh cá ở ven biển Nhưng người nông thôn trong vùng không có việc đánh cá được tổ chức một cách quy mô lớn, không có những đội tàu thuyền lớn, nghề khai thác hải sản không mấy phát triển Các làng ven biển thực ra chỉ là các làng làm nông nghiệp, có đánh cá và làm muối Đồng bằng sông Hồng là một châu thổ có nhiều sông ngòi, mương
Trang 26máng, nên người dân chài trọng việc khai thác hải sản Tận dụng ao, hồ, đầm
để khai thác hải sản là một cách người dân chú trọng Và nghề nông, việc trồng rau, trồng cây ăn quả, trồng dâu nuôi tằm, nuôi gà, nuôi lợn, chó, trâu
bò cũng rất phát triển
Diện tích đất của vùng nhỏ, cư dân lại đông để tận dụng thời gian nhàn rỗi, người dân làm nghề thủ công Trước đây có hàng trăm nghề thủ công, có những làng phát triển chuyên nghiệp với những người có thợ tay nghề cao Một số nghề đã rất phát triển, có lịch sử phát triển lâu đời như nghề gốm, nghề dệt, luyện kim, đúc đồng ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu con người
Đồng bằng sông Hồng có lịch sử phát triển các làng nghề, phường, hội
và hình thành đô thị sớm nhất nước ta Các làng nghề truyền thống sản xuất tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ này phát triển khá sớm và có sự lan toả sang các vùng khác Cũng vì vậy mà đồng bằng sông Hồng có thế mạnh hơn cả về nguồn nhân lực và khả năng nghiên cứu, triển khai khoa học, công nghệ, giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ so với các vùng khác trong cả nước
Vùng gồm nhiều lễ hội truyền thống và nhiều làng nghề đã hình thành nhiều làng nghề như Hành Thiện (Xuân Thuỷ, Nam Định), Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình), Bắc Ninh, đặc biệt là ở Hà Đông, Bát Tràng và mảnh đất trăm nghề tại các huyện thuộc ngoại thành Hà Nội Đây là cơ sở quan trọng
để hình thành những làng nghề sản xuất chuyên môn hoá của vùng, cũng như liên hệ với các vùng khác trong cả nước Đồng bằng sông Hồng có hai trung tâm kinh tế - xã hội vào loại lớn nhất cả nước và được coi như hai cực phát triển là Hà Nội và Hải Phòng: Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hoá - khoa học, kỹ thuật và kinh tế của cả nước; Hải Phòng là Thành phố Cảng quan trọng nhất miền Bắc, là
vị trí tiếp nhận và trao đổi hàng hoá, nguyên liệu của vùng
Trang 27Dân cư đồng bằng sông Hồng có trình độ học vấn và dân trí cao hơn so với các vùng khác trong cả nước Đồng bằng sông Hồng có số người chưa biết chữ trong độ tuổi lao động ít nhất cả nước với tỷ lệ 3,4% (cả nước là 6,5%), tỷ lệ lao động tốt nghiệp tiểu học trở lên là 70,8% (cả nước là 66,7%),
tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên là 19,4% (cả nước là 13,3%)
Đồng bằng sông Hồng là vùng có mật độ dân cư cao nhất cả nước
đông như vậy nên có tiềm năng về lao động rất lớn Phân bố dân cư trong vùng với mật độ dày đặc, thường tập trung ở các khu vực thường gắn với sản xuất thủ công nghiệp (Bát Tràng, Gia Lâm, Hữu Bằng, Thạch Thất), ở vùng trồng cây ăn quả (Thuận Vi, Vũ Thư, Thái Bình), hoạt động ngư nghiệp (dải Xuân Thuỷ, Thuỵ Hải, Thái Thuỵ) Và mật độ dân cư dưới mức trung bình
chủ yếu ở vùng bán sơn địa và ô trũng Hiện nay, gia tăng dân số hàng năm bình quân của vùng ở mức thấp với 1,04% Trừ tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Thủ đô Hà Nội, các tỉnh còn lại đều có tốc độ gia tăng dân số khá cao
Hiện nay, nông thôn đồng bằng sông Hồng đang chuyển dịch từ cơ cấu ngành nghề từ thuần nông sang làm nông nghiệp theo mô hình mới, áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất như kinh tế trang trại, chuyển đổi từ mô hình sản xuất manh mún, nhỏ lẻ sang mô hình sản xuất sản phẩm nông nghiệp theo hướng hàng hoá (thực phẩm, rau, quả) Các nghề thủ công, làng nghề được khôi phục và phát triển, mở rộng thị trường trong nước và thế giới
Trang 28Nông thôn là địa bàn cho các dự án kinh tế, các khu công nghiệp, khu sinh thái, quá trình đô thị hoá phát triển Bên cạnh sự phát triển tích cực đang mang lại diện mạo mới cho nông thôn theo hướng văn minh và hiện đại hơn Song vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố chưa ổn định trong đời sống cư dân nông thôn như: thiếu việc làm, tệ nạn xã hội, môi trường văn hoá nảy sinh nhiều yếu tố trái với thuần phong mỹ tục
Nội dung quan trọng nhất ở nông thôn hiện nay nói chung và nông thôn
ở đồng bằng sông Hồng nói riêng là thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới Với 19 tiêu chí cụ thể cho vùng được thể hiện trên các mặt của đời sống kinh tế, xã hội và môi trường, đã là một đường lối đúng đắn để xây dựng
và phát triển bền vững nông thôn Đặc biệt là việc dồn điền đổi thửa tuy không là một trong những tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới song lại có vai trò quan trọng đối với người nông dân Dồn điền đổi thửa hiện nay ở đồng bằng sông Hồng đã góp phần giải quyết tình trạng sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, không để đất lãng phí do bị bỏ hoang khi người nông dân lên thành phố kiếm việc làm từ đó hình thành sản xuất hàng hoá, người dân áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đưa công nghệ vào sản xuất, đóng gói và chế biến sản phẩm để nhằm gia tăng giá trị sản phẩm góp phần tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nông dân
1.2 Phát triển bền vững và phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam
1.2.1 Phát triển bền vững: Khái niệm và nội dung
1.2.1.1 Khái niệm phát triển bền vững
Từ cuối thế kỷ XIX, đến ngày nay khi mà cuộc cách khoa học kỹ thuật
- công nghệ đã bùng nổ trên toàn cầu góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của xã hội loài người được một cách rõ rệt Các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và những phát minh, sáng chế của các nhà khoa học tìm ra nhiều nguồn nguyên liệu mới, phát minh trong mọi lĩnh vực ngày càng tạo ra
Trang 29nhiều của cải vật chất cho xã hội Nền kinh tế thế giới những năm 50-60 của thế kỷ XX, tăng trưởng nhanh với mức trung bình 5,9%/năm Sau một thời kỳ tăng trưởng dài đến những năm 70 của thế kỷ XX bắt đầu xuất hiện các cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới như dầu lửa, sự dưa thừa hàng hoá mà còn hay gọi là khủng hoảng thừa Song một bộ phận lớn người dân vẫn sống trong nghèo đói, bệnh tật, thiếu hàng hoá, khan hiếm lương thực, thực phẩm Đồng thời nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên
Nền kinh tế thế giới phát triển, khoa học công nghệ đạt được nhiều thành tựu làm cho chất lượng cuộc sống của con người ngày càng cao hơn Nhưng con người cũng đứng trước những vấn đề trong sự phát triển của mình như: sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên; ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu trái đất; chênh lệch giàu nghèo giữa một số đông những người trong
xã hội này càng giàu lên nhưng cũng gia tăng số người nghèo đói trên thế giới; các cuộc suy thoái kinh tế để lại hậu quả nặng nền cho đời sống kinh tế thế giới, của mỗi quốc gia và mỗi cá nhân; sự gia tăng dân số; tệ nạn xã hội và nhất là vấn đề môi trường, thảm hoạ của thiên nhiên mà con người không thể tránh khỏi Đứng trước vấn đề trên con người bắt đầu có những hành động, giải pháp giảm thiểu sự ảnh hưởng của thảm hoạ tự nhiên, suy thoái kinh tế bằng cách lựa chọn sống hoà hợp với tự nhiên hơn là tàn phá tự nhiên
Loài người đang phải đối mặt trực tiếp những khắc nghiệt của tự nhiên, thảm hoạ thiên nhiên, bệnh dịch họ không còn lựa chọn nào khác là phải xem xét lại những hành vi ứng xử của mình với thiên nhiên, cách thức phát triển kinh tế - xã hội và tiến trình phát triển của mình Vấn đề cấp bách đặt ra là con người phải tìm ra một con đường phát triển mà trong đó các vấn đề kinh
tế, xã hội, tài nguyên và môi trường được xem xét một cách tổng thể, nhằm hạn chế những tác động cản trở đến sự phát triển của mỗi quốc gia Cách lựa
Trang 30chọn duy nhất đó là con đường phát triển có sự kết hợp cả về kinh tế, văn hóa-
xã hội và bảo vệ môi trường Đây chính là con đường đảm bảo tái sản xuất xã hội bền vững, hay nói cách khác đó chính là sự phát triển bền vững
Năm 1980, Hiệp hội Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã đưa ra
Chiến lược bảo toàn thế giới, với mục đích tổng thể là: đạt được sự phát triển
bền vững bằng cách bảo vệ tài nguyên sống Đây là lần đầu tiên thuật ngữ phát triển bền vững được sử dụng trong bản Chiến lược bảo toàn thế giới Tuy
nhiên thuật ngữ này mới chỉ được hiểu với nội dung là nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa bảo vệ môi trường vào phát triển Khái niệm phát triển bền vững mới chỉ đề cập một nội dung mang tính bền vững về mặt tài nguyên sinh thái nhằm kêu gọi bảo tồn các tài nguyên sinh vật
Năm 1987, Ủy ban quốc tế về Phát triển và Môi trường (WIECD) của
Liên Hợp Quốc đã công bố bản báo cáo của Uỷ ban Brundland Tương lai của
chúng ta Trong bản báo cáo này, lần đầu tiên định nghĩa về phát triển bền
vững được đưa ra như sau: “Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay
đổi, trong đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển của công nghệ và kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của con người” [52, tr 15] Hay phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn thương đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thoả mãn nhu cầu của họ Điều này có nghĩa là: quan niệm nhu cầu, đặc biệt
là nhu cầu thiết yếu của người nghèo trên thế giới nên được coi là ưu tiên hàng đầu; và quan niệm về giới hạn được đáp áp đặt bởi thực trạng công nghệ
và tổ chức xã hội lên khả năng của môi trường để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai
Năm 1992, tại Rio de Janeiro, các đại biểu tham gia Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc đã xác nhận khái niệm trên và đưa ra
Trang 31một khái niệm vắn tắt về phát triển bền vững và được sử dụng một cách chính thức trên quy mô quốc tế: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại mà không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu
của thế hệ mai sau” [52 , tr.16] Hay đó là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế,
văn hóa, xã hội, môi trường ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất
lượng cuộc sống của con người Đây là nỗ lực đầu tiên nhằm thao tác hoá
khái niệm phát triển bền vững của Uỷ ban Quốc tế về Phát triển và Môi trường Qua Hội nghị, khái niệm phát triển đã được giải thích và sự giải thích này tập trung vào khía cạnh môi trường Tại Hội nghị hơn 130 quốc gia đã ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu, Công ước Đa dạng sinh học, Công ước Chống sa mạc hoá của Liên Hợp Quốc, và đạt được thoả thuận về Chương trình nghị sự 21 - kế hoạch hành động cho việc phát triển
hành tinh bền vững trong thế kỷ 21
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững được
tổ chức tại Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) đã đánh giá tổng kết lại 10 năm
thực hiện Chương trình nghị sự phát triển bền vững toàn cầu, bổ sung và
hoàn chỉnh khái niệm phát triển bền vững như sau: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hoà giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường
Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc một xã hội bền vững sẽ không sử dụng các nguồn tài nguyên có thể tái tạo (như đất, nước, sinh vật…) nhanh hơn khả năng tự tái tạo của chúng; sẽ không sử dụng những nguồn tự nhiên không thể tái tạo (như khoáng sản, nhiên liệu) nhanh hơn quá trình tìm ra những loại thay thế chúng và không thải ra môi trường những chất độc hại nhanh hơn quá trình trái đất hấp thụ và đồng hóa chúng Như vậy, phát triển
Trang 32bền vững được hiểu là sự phát triển lành mạnh, tồn tại lâu dài, vừa đáp ứng được nhu cầu hiện tại, vừa không xâm phạm đến lợi ích của thế hệ tương lai
Mục đích của phát triển bền vững chỉ đạt được khi các quyết định đưa
ra cần tính đến cả ba khía cạnh: công bằng mặt xã hội, hiệu quả kinh tế, bảo
vệ môi trường - đây là sự phát triển mang tính tích hợp Năm 1883 trong bản
Báo cáo Tương lai của chúng ta nội hàm của phát triển bền vững nhấn mạnh
đến mối quan hệ kinh tế và môi trường Đến năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh
về trái đất năm 1992 nội hàm khái niệm phát triển bền vững tập trung sâu vào khía cạnh môi trường Cho tới năm 2002, nội hàm của khái niệm phát triển
bền vững được thể hiện toàn diện trong Kế hoạch thực hiện của Hội nghị
thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững nhấn mạnh 3 thành tố hay còn gọi
là 3 trụ cột của phát triển bền vững đó là: phát triển kinh tế, phát triển xã hội
và bảo vệ môi trường Qua đó, kế hoạch thực hiện của Hội nghị nhấn mạnh tới các vấn đề trọng tâm là: Xóa đói giảm nghèo; thay đổi mô hình sản xuất và tiêu thụ không bền vững; bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên
Như vậy, phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt
chẽ, hài hoà giữa phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường nhằm đảm bảo lợi ích không chỉ hiện tại mà cả các thế hệ tương lai của con người
Đây là một thuật ngữ, khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa: một xã hội con người muốn duy trì các điều kiện vật chất vì nó đáp ứng được những nhu cầu của họ, có sự bình đẳng chia sẻ công bằng các lợi ích và gánh nặng giữa thế hệ hiện tại và tương lai và giữa các thế hệ với nhau, đồng thời
hệ sinh thái được cân bằng duy trì sự sống và mang tính đa dạng Phát triển bền vững hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ lựa chọn con đường phát triển phù hợp nhất tùy theo đặc thù địa lý, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
Trang 331.2.1.2 Nội dung phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển hài hòa cả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, trong đó sự phát triển kinh tế là nguồn gốc, là động lực, sự phát triển xã hội là mục tiêu và sự phát triển môi trường là điều kiện của phát triển bền vững Để hiểu rõ hơn về nội dung phát triển bền vững, tác giả đi vào
phân tích ba nội dung phát triển bền vững như sau:
Thứ nhất, bền vững về kinh tế
Phát triển bền vững về kinh tế là “phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch, phát minh
ra những nguyên liệu mới” [52, tr.17]
Tăng trưởng bền vững về kinh tế là điều kiện rất quan trọng để đời sống vật chất của con người từng bước khá giả, sung túc và giàu có Tăng trưởng kinh tế sẽ mở rộng không gian phát triển kinh tế và tạo thêm nhiều cơ hội phát triển toàn diện của người dân Đồng thời phát triển văn hoá, xã hội, y
tế và giáo dục cũng không thể thiếu được để con người sống khoẻ mạnh, sáng tạo, đồng thuận, cởi mở, vui vẻ và hạnh phúc
Tăng trưởng kinh tế là cần thiết nhưng chúng ta không thể chấp nhận
và kéo dài một sự tăng trưởng kinh tế dựa trên hao phí nhiều tài nguyên thiên nhiên và nguồn lực phát triển của đất nước với năng suất, chất lượng và hiệu quả thấp, chi phí đầu vào cao, sức cạnh tranh sản phẩm kém, công nghệ lạc hậu làm ô nhiễm và huỷ hoại môi trường
Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực có hạn của xã hội cho phát triển bền vững kinh tế cũng sẽ là điều kiện để người dân có cơ hội được hưởng nhiều hơn các dịch vụ y tế, giáo dục và văn hoá với chất lượng cao hơn và chi phí phải chi trả ít hơn
Trang 34Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế lấy năng suất, chất lượng hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của từng doanh nghiệp, từng sản phẩm theo tín hiệu của thị trường và sự phát triển bức phá mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân trong môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát thấp, thân thiện và bảo vệ môi trường sinh thái cần được xem là trọng tâm để tăng trưởng kinh tế bền vững vì mục tiêu phát triển con người
Phát triển bền vững đòi hỏi việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng, cơ hội tiếp xúc với nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách thuận lợi Sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ ngành kinh doanh, sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc cơ bản Trong phát triển kinh tế yếu tố được chú trọng là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người Có nhiều con đường, cách thức để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế Nhưng không phải con đường nào cũng có được sự tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và bền vững Do
đó, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế cần thực hiện:
- Tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Chỉ có dựa trên chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ thì mới đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và vững chắc Nếu tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, bán sản phẩm thô đồng thời không tạo ra giá trị gia tăng của sản phẩm thì không thể có tăng trưởng kinh tế bền vững
- Tăng trưởng kinh tế dựa vào năng lực nội sinh là chủ yếu và phải làm gia tăng năng lực nội sinh Năng lực nội sinh là năng lực bên trong của một quốc gia được thể hiện ở chất lượng nguồn nhân lực; năng lực sáng tạo khoa học công nghệ; mức độ tích luỹ của nền kinh tế; mức độ hiện đại của kết cấu
Trang 35hạ tầng Nên tăng trưởng kinh tế dựa vào năng lực nội sinh thì mới bền vững Nếu nền kinh tế tăng trưởng chủ yếu dựa vào nguồn lực bên ngoài (vốn, công nghệ, nguyên liệu) thì nền kinh tế luôn bị phụ thuộc và để lại gánh nặng nợ nần cho thế hệ con cháu Tăng trưởng kinh tế còn phải làm gia tăng năng lực nội sinh thì mới đảm bảo chắc chắn nền tảng cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai của quốc gia
Để đạt được phát triển bền vững về xã hội cần thực hiện:
- Gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm cho người lao động Nếu tăng trưởng kinh tế không đi đôi với giải quyết việc làm, để tình trạng thất nghiệp gia tăng thì vừa gây lãng phí nguồn nhân lực mà còn tiềm ẩn nhiều vấn đề xã hội tiêu cực, đe doạ an sinh xã hội
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xoá đói giảm nghèo Xoá đói, giảm nghèo sẽ tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nó làm tăng năng lực sản xuất cho người nghèo Xoá đói giảm nghèo tạo ra mặt bằng xã hội phát triển tương đối đồng đều
- Tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư Ổn định xã hội là điều kiện cơ bản, tiên quyết của tăng trưởng kinh tế, đồng thời nó cũng chịu tác động rất lớn của tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế phải nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng
Trang 36đồng dân cư thì mới ổn định được xã hội và thực hiện phát triển bền vững Nếu tăng trưởng kinh tế chỉ mang lại lợi ích cho một số người, một số vùng thì tăng trưởng kinh tế là khoét sâu chênh lệch nghèo, chênh lệch vùng, miền thì tăng trưởng kinh tế không bền vững
Thứ ba, bền vững về tài nguyên môi trường
Phát triển bền vững về tài nguyên môi trường là “các dạng tài nguyên tái tạo phải được sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục được cả về số lượng và chất lượng; các dạng tài nguyên không tái tạo được sử dụng tiết kiệm và hợp lý nhất Môi trường tự nhiên (không khí, đất, nước, cảnh quan thiên nhiên…), môi trường xã hội (dân số, chất lượng dân số, sức khỏe, môi trường sống, lao động và học tập của con người…) về cơ bản không bị các hoạt động của con người làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại Các nguồn phế thải từ công nghiệp và sinh hoạt được xử lý, tái chế kịp thời, vệ sinh môi trường được bảo đảm, con người được sống trong môi trường trong sạch” [52, tr.17]
Phát triển bền vững về môi trường đó chính là quá trình phát triển trong việc đạt được tăng trưởng kinh tế cao, ổn định luôn gắn với khai thác hợp lý,
sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, không làm suy thoái, huỷ hoại môi trường mà còn nuôi dưỡng cải thiện chất lượng môi trường
Để đạt được phát triển bền vững về môi trường cần thực hiện:
- Tăng trưởng kinh tế phải dựa trên cơ sở khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Có nghĩa là phải có kế hoạch cân nhắc, lựa chọn khi ra quyết định khai thác tài nguyên xét cả về hiệu quả kinh
tế, xã hội và môi trường
- Tăng trưởng kinh tế không làm ô nhiễm, suy thoái, huỷ hoại môi trường Nếu tăng trưởng kinh tế nhưng lại làm ô nhiễm, suy thoái, huỷ hoại môi trường thì sẽ đe doạ trực tiếp đến cuộc sống của thế hệ hiện tại cũng như thế hệ tương lai và sẽ không thể thực hiện được phát triển bền vững
Trang 37Tóm lại, phát triển bền vững đòi hỏi sử dụng tài nguyên nguồn lực một cách hợp lý để vừa đảm nảo được mục tiêu phát triển kinh tế, vừa đảm bảo được mục tiêu phát triển xã hội và bảo toàn được các nhân tố của môi trường sinh thái
1.2.2 Phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam
1.2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam
Phát triển bền vững nông thôn có vai trò và vị trí quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Đối với nước ta nói chung và đồng bằng sông Hồng nói riêng thì sự phát triển bền vững nông thôn càng có một vị trí đặc biệt bởi nền tảng của kinh tế nước ta là sản xuất nông nghiệp cho nên sự đóng góp của nông thôn vào sự phát triển chung của đất nước, của vùng càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Nông thôn là địa bàn sản xuất và cung cấp lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng của xã hội Người nông dân ở nông thôn sản xuất lương thực, thực phẩm để nuôi sống bản thân họ và cung cấp cho nhân dân cả nước Là vùng
có mật độ dân số cao cộng với sự gia tăng dân số nhanh, đây là sức ép lớn đối với sản xuất nông nghiệp trong việc cung ứng đủ lương thực, thực phẩm cho dân cư Do vậy, phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia
Ở nông thôn cư dân sống ở nông thôn chiếm tới 70% dân số, đây chính
là nguồn nhân lực dồi dào cho việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị Nếu không có sự tham gia của lao động nông thôn tại thành thị, khu vực ven đô mà chỉ dựa vào sự gia tăng dân số tự nhiên ở thành thị thì không đủ lao động để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển
Nông thôn là địa bàn phân bố và chiếm đa số nguồn tài nguyên đất đai, khoáng sản, động thực vật, biển vì vậy sự phát triển bền vững nông thôn có ảnh hưởng to lớn đến việc bảo vệ môi trường sinh thái; việc khai thác và sử
Trang 38dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên ở nông thôn đảm bảo cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước
Phát triển nông thôn còn thể hiện trong việc giữ gìn môi trường sinh thái, môi trường sống của con người tạo sự gắn bó hài hoà giữa con người với
tự nhiên và hình thành nơi nghỉ ngơi trong lành, giải trí phong phú, vùng du lịch sinh thái đa dạng và thanh bình, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho con người
Trong sự phát triển chung của đất nước, nông thôn đã đạt được những thành tựu nhất định song nông thôn vẫn còn là một xã hội nông nghiệp, mang đậm tính chất tiểu nông khép kín do vậy ít sự hấp dẫn, thu hút các nguồn lực trong xã hội cho phát triển Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất nông nghiệp và các ngành thủ công nghiệp tại địa phương còn thấp dẫn đến thu nhập của người dân chưa cao Nông dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhưng lại thiếu đất để sản xuất do đất nông nghiệp giảm do dân số tăng nhanh
và tác động của quá trình đô thị hoá; lực lượng lao động ở nông thôn lớn nhưng lại thiếu việc làm, thất nghiệp vẫn xảy ra; thiếu các phương tiện và điều kiện thuận lợi cho giáo dục; hàng tiêu dùng có nơi còn khan hiếm, giá cả cao, người dân nông thôn khó có thể mua những thứ cần thiết phù hợp với nhu cầu của họ Về cơ bản nông thôn vẫn còn là địa bàn hay khu vực lạc hậu trên hầu hết các mặt của đời sống xã hội Môi trường sinh thái nông thôn đang
có nguy cơ suy thoái, suy giảm cả về mặt lượng (không gian, sinh cảnh, diện tích, tài nguyên) cả về mặt chất (chất lượng các thành phần môi trường đất, nước, đa dạng sinh học) dưới tác động của cả quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá và biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, nước biển dâng)
Như vậy, nông thôn là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của người dân; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu; cung cấp hàng hoá cho xuất khẩu; cung cấp lao động cho công nghiệp và
Trang 39thành thị; là thị trường rộng lớn tiêu thụ nhiều sản phẩm của công nghiệp và dịch vụ; phát triển nông thôn tạo điều kiện ổn định về mặt kinh tế - chính trị -
xã hội Với những vai trò quan trọng nêu trên, phát triển bền vững nông thôn
là yếu tố cơ bản và là đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển quốc gia Từ đó yêu cầu phát triển bền vững nông thôn là xu thế khách quan và phát triển tất yếu của tiến trình phát triển
Để giải quyết bài toán trên cho khu vực nông thôn thì phát triển bền vững nông thôn là một phạm trù mới và được nhận thức rộng với nhiều quan điểm khác nhau Cụ thể có ba quan điểm nổi bật như sau:
Quan điểm thứ nhất: Phát triển bền vững nông thôn là chiến lược nhằm
cải tạo các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người, cụ thể là những người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất sống
ở nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển (Quan điểm này tập trung vào người nghèo, đặc biệt là nhóm người nghèo ở nông thôn để họ có thể cải tạo cuộc sống của mình về mặt kinh tế và xã hội, nhưng quan điểm này chưa chưa đề cập đến việc bảo vệ môi trường sinh thái nói chung cũng như môi trường sống của toàn xã hội và nhóm người nghèo đa phần sinh sống tại nông thôn nói riêng)
Quan điểm thứ hai: Phát triển bền vững nông thôn là hoạt động nhằm
nâng cao vị thế kinh tế và xã hội cho người dân nông thôn thông qua việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực của địa phương bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực (Quan điểm này tập trung vào người dân sống ở nông thôn sử dụng các nguồn lực của địa phương hiệu quả nhằm cải thiện và nâng cao vị thế của mình)
Quan điểm thứ ba: Đây là quan điểm tác giả lấy làm căn cứ để triển
khai những nội dung liên quan đến phát triển bền vững nông thôn Phát triển bền vững nông thôn dựa trên cơ sở những nguyên tắc phát triển bền vững
Trang 40được thông qua tại Hội nghị về Môi trường và phát triển năm 1992 tại Rio de
Janeiro Những nguyên tắc này nhấn mạnh vào cách nhìn về xã hội con người
và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên Theo quan niệm này, phát triển bền vững nông thôn có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, “Phát triển bền vững nông thôn có tác động theo nhiều chiều cạnh khác nhau Đây là một quá trình thu hút mọi người dân tham gia vào các chương trình phát triển, nhằm mục tiêu cải thiện chất lượng cuộc sống của các cư dân nông thôn Đồng thời phát triển bền vững nông thôn là quá trình thực hiện hiện đại hoá nền văn hóa nông thôn nhưng vẫn bảo tồn được những giá trị truyền thống thông qua việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật và công nghệ” [52, tr.21]
Thứ hai, “phát triển bền vững nông thôn mang tính toàn diện và đa phương Bao gồm phát triển các hoạt động nông nghiệp và các hoạt động
có tính chất liên kết phục vụ nông nghiệp, công nghiệp quy mô vừa và nhỏ, các ngành nghề truyền thống, cở sở hạ tầng kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực nông thôn, xây dựng tăng cường các dịch vụ và phương tiện phục vụ cộng đồng nông thôn Và phát triển bền vững nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi trường” [52, tr.22]
Từ đó, có thể hiểu phát triển bền vững nông thôn ở Việt Nam là sự phát triển
nông thôn bảo đảm bền vững về kinh tế, xã hội - văn hóa và môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn, đồng thời không gây trở ngại cho sự phát triển của các thế hệ sau
Hiện nay, tốc độ phát triển nông nghiệp của nước ta khá cao và ổn định theo hướng sản xuất hàng hoá, góp phần ổn định an ninh lương thực quốc gia
“Giá trị sản xuất ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản luôn đạt mức cao, bình quân 5 năm tăng 4,85% Hệ thống giao thông, điện, kết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn có bước phát triển nhanh về số lượng Đến năm 2010 có tới 96% số
xã và 93,3% số hộ có điện lưới quốc gia, hơn 60% cư dân nông thôn có nước