Luận văn : Tổng Cty chè VN
Trang 1Lời Mở đầu
Xuất phát từ tình hình đổi mới của nền kinh tế thế giới, cùng với chủ trơng của nhà nớc: phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa, đòi hỏi các doanh nghiệp Nhà nớc phải đối diện trực tiếp với thị trờng, phải thay đổi cách thức làm ăn mới có thể tồn tại và phát triển bền vững Do đó các doanh nghiệp…phải tự đổi mới về mọi mặt để tạo ra đợc hàng hoá có sức cạnh tranh
Là một doanh nghiệp nhà nớc,Tổng công ty chè Việt Nam cũng gặp phải những khó khăn lớn khi đối mặt với nền kinh tế thị trờng Tuy nhiên với những chính sách phát triển đúng đắn,Tổng công ty đã từng bớc thích nghi với cơ chế thị trờng để tăng trởng và phát triển Các sản phẩm của Tổng công ty đã đợc thị trờng trong nớc và thị trờng ngoài nớc chấp nhận, thị trờng sản phẩm trong và ngoài nớc
đợc củng cố và phát triển Với sự phát triển đó, vị trí của cây chè ngày càng đợc khẳng định trong tập đoàn các cây công nghiệp
Sau một thời gian thực tập tại Tổng công ty chè Vịêt Nam, tìm hiểu thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty Nội dung của báo cáo tổng hợp nhằm mục đích đa ra những vấn đề sau: thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh tại Tổng công ty thời gian qua, cùng với những giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh mà Tổng công ty chè Việt Nam đã đề ra
Với thời gian thực tế còn ít, kinh nghiệm công tác và sự tìm hiểu cha đầy
đủ, bài viết này khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, em mong nhận đợc sự góp ý của thầy cô và bạn bè
Qua đây em xin chân thành cảm ơn Cô Nguyễn Thị Hờng , Thầy Mai Thế Cờng cùng thầy cô trong khoa Kinh tế và kinh doanh quốc tế; Ban lãnh đạo,các phòng chức năng của Tổng công ty chè Việt Nam đã tận tình hớng dẫn và giúp đỡ
em hoàn thành báo cáo Tổng hợp này
Chơng I : Giới thiệu về Tổng công ty chè Việt Nam
1 Giới thiệu vài nét về cây chè Việt Nam
Trang 2Có nhiều quan điểm cha thống nhất về nguồn gốc, xuất xứ cây chè ở Việt Nam và có rất nhiều tài liệu đề cập đến cây chè Song có một sự thật hiển nhiên : cây chè là cây công nghiệp lâu năm đợc trồng phổ biến ở Việt Nam.
Cho tới nay, trên nhiều vùng rừng núi ở khắp cả nớc vẫn có nhiều cây chè hoang, điều đó chứng tỏ rằng trớc đây ông cha ta đã từng chế biến lá chè hoang để uống và sau rất nhiều biến đổi, lai tạo, chọn lọc mới có đợc cây chè ngày nay
Từ hàng ngàn năm trớc, chè đã đi vào cuộc sống của ngời dân Việt Nam, uống chè trở thành tập quán trong sinh hoạt hàng ngày
Hiện nay, khoa học đã chứng minh: với 200 chất có trong lá chè, chè không chỉ là đồ uống đơn thuần mà còn đợc dùng làm thuốc chữa nhiều căn bệnh khác nhau, rửa sạch các vết thơng, làm giảm lợng cholesteron, điều hoà huyết áp, tăng cờng mao dẫn, hạn chế béo phì và là một thứ thuốc lợi tiểu rất tốt
Không chỉ riêng ở Việt Nam mà hiện nay trên thế giới có khoảng trên 100 nớc sử dụng chè làm đồ uống Chỉ tính riêng 12 nớc nhập khẩu chè lớn nhất thế giới hàng năm đã nhập trên 1,5 triệu tấn trong khi chỉ có khoảng 30 nớc có điều kiện tự nhiên trồng chè, trong đó có Việt Nam
Tuy cây chè đợc nhân dân ta trồng từ rất lâu đời nhng vẫn cha đợc phát triển rộng rãi, nhất là khi Việt Nam phải trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Mãi cho đến khi miền Bắc đợc giải phóng, đất nớc thống nhất, cây chè mới đợc chú ý phát triển đầy đủ hơn
Giống chè của Việt Nam vô cùng phong phú: có giống chè từ xa xa nh chè Shan, chè Tuyết, chè trung du ; có giống thì mới đợc lai tạo nh chè PH1, chè
777 Từ đó ngời ta sản xuất ra các loại chè khác nhau nh chè đen , chè vàng, chè xanh, chè ớp hơng sen, hơng nhài
ở nớc ta, diện tích trồng chè đợc phân bổ tập trung chủ yếu ở vùng trung du
và miền núi phía Bắc, vùng khu 4 và Lâm Đồng Trong đó, vùng trung du và miền núi phía Bắc chiếm 60% diện tích và sản lợng chè búp khô của cả nớc
Ngày nay, chè đóng một vai trò quan trong trong nền kinh tế quốc dân Bởi vì:
Trang 3Thứ nhất, chè là một loại cây nhiệt đới thích hợp với điều kiện thổ nhỡng, khí hậu nớc ta Khả năng mở rộng diện tích đất trồng chè ỏ nớc ta còn nhiều Cả n-
ớc còn khoảng trên 14 vạn hecta đất trồng chè (gấp 2 lần diện tích đất trồng chè hiện có), trong đó chỉ riêng các Công ty thuộc Tổng công ty chè Việt Nam còn trên 6000 ha Trong khi đó các nớc xuất khẩu chè lớn trên thế giới nh ấn Độ, Srilanca, Trung Quốc, Nhật Bản không còn nhiều khả năng mở rộng thêm diện tích nữa
Thứ hai, cây chè dễ trồng, có tác dụng chống xói mòn, bảo vệ môi sinh, không tốn nhiều đất , lại cho thu hoạch nhiều năm, hiệu quả kinh tế do nó đem lại vào loại cao trong số các cây công nghiệp ở nớc ta hiện nay
Thứ ba, cây chè đợc phát triển sẽ tạo công ăn việc làm 20 vạn lao động, 10 vạn hộ gia đình
Thứ t, chè Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trờng của trên 30 nớc trên thế giới, gồm có Liên Xô cũ và Đông Âu, Trung Cận Đông, Bắc Phi và gần đây có thêm Tây Âu, Nhật Bản, Bắc Mỹ, Đài Loan Do đó, cây chè đã mang lại cho Việt Nam một nguồn thu ngoại tệ không nhỏ
Thứ năm, chè là một trong mời loại sản phẩm có giá ổn định trên thế giới Thứ sáu, cây chè có thể phát triển với nhiều mức độ, trang thiết bị, do đó có thể phù hợp với khả năng về đầu t vốn khác nhau, phù hợp với tình hình vốn ở nớc
• Giai đoạn 1975 - 1978
Trang 4Liên hiệp đợc thành lập theo quyết định số 95/CP ngày 19/4/1975 của Hội
Đồng chính phủ, lấy tên là liên hiệp các xí nghiệp chè thuộc "Bộ lơng thực và thực phẩm" quản lý với nhiệm vụ chính là thu mua và chế biến chè xuất khẩu
Các đơn vị sản xuất chế biến chè trong bộ lơng thực đợc tổ chức lại thành một ngành hàng sản xuất chế biến chè trong Bộ Quy mô hoạt động của liên hiệp lúc đó chỉ là nhà máy công nghiệp chế biến và sản xuất chè ở phía Bắc gồm có :+ 5 nhà máy sản xuất chè đen xuất khẩu và nội tiêu
+ 2 nhà máy sản xuất chè xanh xuất khẩu và nội tiêu
+ 2 nhà máy chế biến chè hơng xuất khẩu và nội tiêu
+ 1 nhà máy cơ khí chè làm nhiệm vụ sản xuất phụ tùng thay thế, lắp đặt và sửa chữa thiết bị chế biến chè
+ 1 trờng đào tạo công nhân kỹ thuật cơ khí và kỹ thuật chế biến chè
Liên hiệp chè là liên hiệp đợc thành lập đầu tiên ở nớc ta để thí đIểm mô hình quản lý theo ngành Tập trung chuyên môn hoá sản xuất, yêu cầu của việc tổ chức liên hiệp là nhằm đảm bảo chất lợng chè xuất khẩu dựa trên cơ sở chuyên môn hoá, phân công hợp tác lao động, tập trung quản lý nội bộ trong liên hiệp giúp bộ quản lý ngành, nhân và phân phối vốn, vật t , bảo đảm tăng khối lợng chè xuất khẩu và một phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc
• Giai đoạn 1979 - 1986
Năm 1979 đợc nhà nớc cho phép sát nhập liên hiệp các xí nghiệp chè ( thuộc Bộ lơng thực và thực phẩm) với Công ty chè Trung Ương ( thuộc Bộ nông nghiệp) thành lập liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam theo quyết định số 15/CP ngày 2/3/1979 của Hội Đồng Chính Phủ, đồng thời nhà nớc cũng cho phép sát nhập phần lớn những nông trờng chuyên trồng chè của địa ph-
ơng vào liên hiệp, nhằm gắn nông nghiệp với công nghiệp chế biến, gắn quốc doanh với tập thể để hợp tác, tơng trợ nhau trong xản xuất kinh doanh, thực hiện bớc thống nhất kinh doanh theo ngành kỹ thuật
Lúc này quy mô của Liên hiệp các xia nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam đợc mở rộng hơn, gồm 39 đơn vị thành viên:
Trang 5định và phát triển.
Năm 1987 đợc Nhà nớc đồng ý cho thành lập các ngành hàng khép kín từ sản xuất nông nghiệp, chế biến đến xuất khẩu Liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam đã tiếp nhận công ty xuất khẩu chè từ Vinalimex tổ chức thành công ty xuất nhập khẩu, đầu t phát triển chè (Vinatea) là đầu mối ký kết các hợp đồng kinh tế xuất khẩu chè với nớc ngoài và nhập khẩu vật t, hàng hoá thiếta
bị phục vụ cho việc sản xuất chè trong nớc, ký kết các chơng trình hợp tác liên doanh với nớc ngoài nhằm thúc đẩy ngành chè phát triển, tăng cá về khối lợng và chất lợng sản phẩm, qua đó giá bán cũng đợc nâng lên
Năm 1989 trung tâm KCS đợc thành lập nhằm hớng dẫn các đơn vị sản xuất
đảm bảo chất lợng sản phẩm và kiểm tra chất lựơng chè trớc khi xuất khẩu, chè không đủ tiêu chuẩn đều bị trả lại, hạn chế sự kêu ca của khách hàng về chất lợng chè Việt Nam
Toàn liên hiệp tổ chức thành mô hình công nông nghiệp chè khép kín, sát nhập nhà máy chế biến và nông trờng trồng chè thành một đơn vị sản xuất, thực hịên nghị định, quyết định của Chính phủ về việc bàn giao một số đơn vị nông
Trang 6nghiệp về địa phơng quản lý Đến cuối năm 1995 Liên hiệp đã bàn giao 7 xí nghiệp công nông nghiệp chè và 2 bệnh viện cho các địa phơng.
Lúc này các xí nghiệp liên hiệp chè Việt Nam còn lại một văn phòng liên hiệp
và các đơn vị sản xuát dịch vụ gồn 28 đơn vị nh sau:
+1 công ty xuất nhập khẩu và đầu t phát triển chè
+1 viện nghiên cứu chè
+4 bệnh viện và viện đIều dỡng
Ngòai 28 đơn vị trên , liên hiệp còn có 7 đơn vị liên doanh với nớc ngoài
Trong thời gian này liên hiệp đã chú trọng đến việc cải tổ, thay đổi sắp xếp lại
bộ máy quản lý của mình sao cho phù hợp với các mục tiêu đã đặt ra nhằm thích ứng với sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế Nhà nớc, bắt kịp với những biến đổi của môi trờng kinh tế xã hội và việc mô hình tổ chức quản lý nói trên của liên hiệp đợc đánh giá là " gọn nhẹ tạo đIều kiện thuận lợi cho việc quản lý của nhà nớc, giúp cho cơ sở kinh doanh có hiệu quả", nhứng bên cạnh đó thì bộ máy này cha phải là bộ máy kinh doanh mà còn mang nặng phong cách quản lý của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, cha phù hợp với cơ chế thị trờng
Mô hình quản lý của liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam đã không còn thích hợp nữa và cần thiết phải thành lập một tổ chức mới là
điều hiển nhiên
Mô hình sản xuất và kinh doanh mới đòi hỏi một mô hình tổ chức và quản lý mới, ngành chè cần có một tổ chức đầu ngành đủ mạnh để đề ra chiến lợc phát triển phối hợp quản lý, tiến hành các hoạt động tiếp thị và đối ngoại, nghiên cứu
Trang 7là Tổng công ty chè Việt Nam, đây là một mô hình hoàn toàn mới nó có tính kế thừa nhng không hoàn toàn là sự tiếp tục thay thế liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam.
Sau khi có quyết định số 90/TTg ngày 7/3/1994 của Thủ tờng Chính phủ căn
cứ thông báo số 5820/CP-ĐMDN ngày 13/10/1995 của Thủ tớng Chính phủ và thông báo số 10/NN - TCCB ngày 13/10/1995 của Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm về việc sắp xếp và tổ chức lại các Tổng công ty trong đó có tổng công ty chè Việt Nam
Sau khi xem xét khả năng và nhu cầu sản xuất kinh doanh, liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt nam đã xây dựng đề án thành lập Tổng công
ty chè Việt nam trình lên Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
Ngày 29/12/1995 Bộ trởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ra quyết
định số 394NN - TCCB/QĐ cho phép thành lập Tổng công ty chè Việt Nam.Tổng công ty chè Việt nam có tên giao dịch quốc tế là:
VIET NAM NATIONAL TEA CORPORATION
Tên viết tắt : VINATEA CORP
Trụ sở đặt tại : 46 Tăng Bạt Hổ - Quận Hai Bà Trng - Thành phố Hà Nội
Tài khoản VND số 36111104020 tại Ngân hàng NT Việt nam
Tài khoản ngoại tệ số 36211104020 tại Ngân hàng NT Việt nam
2.2 Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của Tổng công ty chè Việt Nam
Tổng công ty chè Việt Nam chịu trách nhiệm trớc Nhà nớc về quy hoạch,
kế hoạch, đầu t phát triển chè; tiếp nhận và cung ứng vốn cho tất cả các đơn vị sản xuất - chế biến và tiêu thụ chè trong toàn ngành
Ngoài ra, Tổng công ty chè Việt Nam còn là chủ đầu t của các dự án nghiên cứu cải tạo giống chè, trồng trọt, chế biến, tiêu thụ, xuất nhập khẩu sản phẩm chè, vật t thiết bị ngành chè
Mặt khác, Tổng công ty cùng với chính quyền địa phơng chăm lo phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng trồng chè, đặc biệt đối với các vùng dân tộc ít ngời, vùng kinh tế mới; xây dựng các mối quan hệ hợp tác đầu t, khuyến nông, khuyến
Trang 8lâm đối với các thành phần kinh tế để phát triển trồng chè tạo công ăn việc làm cho ngời nông dân, góp phần thực hiện xoá đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống,
đồi núi trọc và cải thiện môi trờng sinh thái
Tổng công ty là đầu mối chủ yếu trong việc khảo sát, khai thác và chiếm lĩnh các thị trờng, bao gồm thị trờng xuất khẩu chè, thị trờng nhập khẩu và thị tr-ờng vốn, nhằm giúp đỡ các đơn vị thành viên không có điều kiện làm hoặc làm kém hiệu quả Bên cạnh đó, Tổng công ty còn trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm và liên doanh liên kết với nớc ngoài bảo đảm cho việc thống nhất giá thành và chất lợng sản phẩm, gọi vốn nớc ngoài để đầu t vào các nhà máy sản xuất và chế biến chè nhằm phát triển sản xuất cho toàn ngành
Tổng công ty làm đầu mối chính chuyên nhập khẩu máy móc, thiết bị với dây chuyền công nghệ hiện đại nhất, vật t chuyên dùng cho các đơn vị thành viên với mục đích đa công nghệ chế biến chè ở Việt Nam tiến kịp trình độ thế giới với chi phí rẻ nhất Đồng thời, nghiên cứu tạo ra nhiều sản phẩm mới, đa dạng với bao bì đẹp đáp ứng thị hiếu của khách hàng trong và ngoài nớc
Tổng công ty luôn chú trọng đào tạo và bồi dỡng cán bộ quản lý và cán bộ
kỹ thuật để xuống các đơn vị sản xuất hớng dẫn kỹ thuật canh tác, thu hái, quy trình công nghệ chế biến và bảo quản sản phẩm nhằm nâng cao năng suất và chất lợng sản phẩm chè
Tổng công ty chè Việt Nam có nhiệm vụ kinh doanh chè bao gồm:
- Trồng trọt, sản xuất chè, chăn nuôi gia súc và các nông lâm sản khác
- Công nghiệp chế biến thực phẩm: các loại sản phẩm chè, sản phẩm các loại đồ uống, nớc giải khát
- Sản xuất gạch, ngói, vật liệu xây dựng, sản xuất phân bón các loại phục vụ vùng nguyên liệu
- Sản xuất bao bì các loại
- Chế biến các sản phẩm cơ khí, phụ tùng, thiết bị, máy móc phục vụ chuyên ngành chè và công cụ lao động
Trang 9- Xây dựng cơ bản và t vấn đầu t, xây lắp phát triển ngành chè.
- Dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng
- Bán buôn, bán lẻ, bán đại lý các sản phẩm của ngành nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm; vật t, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, phơng tiện vận tải, hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống
- Xuất khẩu trực tiếp các sản phẩm chè, các mặt hàng nông lâm sản
Nhập khẩu trực tiếp nguyên vật liệu, vật t máy móc, thiết bị, phơng tiện vận tải và hàng tiêu dùng
2.3 Đối tợng phục vụ của Tổng công ty chè Việt Nam
Ngày nay, gần nửa nhân dân thế giới dùng chè làm nớc uống hàng ngày Từ hàng ngàn năm nay, chè đã đi vào cuộc sống của ngời dân Việt Nam Uống chè đã trở thành tập quán trong sinh hoạt hàng ngày Đó không chỉ là niềm đam mê của các cụ già mà ngày càng đợc lớp trẻ a chuộng bởi vì chè có nhiều tác dụng đối với sức khoẻ của con ngời - đặc biệt là trong thời đại ngày nay con ngời phải đối mặt với bao căn bệnh nguy hiểm - khi uống chè sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm bệnh
Không chỉ riêng ở Việt Nam, uống chè còn là một truyền thống văn hoá của hầu hết các nớc Châu á nh Nhật Bản, Trung Quốc, ấn Độ Do vậy, có thể nói, tập hợp ngời tiêu dùng chè trên thị trờng thế giới là rất lớn Do đó, đối tợng phục
vụ của Tổng công ty chè Việt Nam là những khách hàng đang và sẽ uống chè Việt Nam
2.4 Phơng thức hoạt động của Tổng công ty chè Việt Nam
Năm 1987, Liên hiệp chè Việt Nam tiếp nhận Công ty chè từ VINALIMEX,
tổ chức thành Công ty XNK và Đầu t phát triển chè Việt Nam , có chức năng trực tiếp ký các hợp đồng kinh tế với các tổ chức nớc ngoài để đầu t hợp tác và xuất khẩu chè
Bớc sang tháng 6-1996, Liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam đã tổ chức thành Tổng công ty chè Việt Nam (VINATEA CORP.) ở giai
đoạn này, theo cơ chế thị trờng, Tổng công ty áp dụng cơ chế khoán trong quản lý sản xuất, đẩy mạnh liên kết giữa nông nghiệp với công nghiệp, tiến hành giao đất
và t liệu sản xuất cho ngời làm chè, chuyển từ mô hình quản lý kế hoạch hoá tập
Trang 10trung sang quản lý hạch toán kinh doanh thực hiện bằng các hợp đồng kinh tế - kỹ thuật, tập trung đầu t cho phát triển sản xuất, áp dụng các biện pháp, các thành tựu khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ quản lý kinh doanh.
Cho đến nay, Tổng công ty chè Việt Nam vẫn duy trì phơng thức hoạt động này với hai mục đích chính:
Thứ nhất, để có một lợng chè lớn đáp ứng đợc nhu cầu tiêu dùng trong nớc
và xuất khẩu, Tổng công ty chè Việt Nam hoạt động theo phơng thức nông lâm kết hợp, tạo vùng nguyên liệu, thu hái, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
Thứ hai, để tạo vùng nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế biến, Tổng công ty chè Việt Nam đã tổ chức giao khoán đất cho ngời trồng chè để nông dân chăm sóc chu đáo hơn, đạt hiệu quả hơn
Về vấn đề này, Liên hiệp chè Việt Nam đã chỉ đạo các Xí nghiệp công nông nghiệp dùng phơng thức khoán đất dể tạo cho ngời trồng chè có thu nhập cao hơn, chất lợng chè cũng đợc tốt hơn
Sau khi có sự chỉ đạo của Tổng công ty chè, các Xí nghiệp đã tổ chức thầu khoán, giám đốc các xí nghiệp đã chọn ra một số công nhân có trình độ quản lý nhận thầu khoán với xí nghiệp Tuy nhiên, xí nghiệp vẫn quản lý về mặt kỹ thuật theo quy trình thống nhất đối với ngời nhận thầu, đặc biệt là những khâu có tính chất thâm canh lâu dài, ai vi phạm quy trình sẽ bị phạt
Là một Doanh nghiệp Nhà nớc nên phơng thức hoạt động của Tổng công ty
đều theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nớc và phù hợp với quá trình đổi mới, với cơ chế quản lý kinh doanh Điều đó có nghĩa là Tổng công ty phải thực hiện vai trò chủ đạo trong ngành chè theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nớc và không quên tự thực hiện tổ chức quản lý, sản xuất, tiêu thụ, tự chịu trách nhiệm về kết quả thu đ-
ợc, tự quyết định tồn tại và phát triển doanh nghiệp
Để tiến hành công việc, Tổng công ty đã sắp xếp, tổ chức lại bộ máy quản
lý nhằm liên kết các khâu của quá trình sản xuất sản phẩm chè , giảm các đâu mối trung gian, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất Thực chất của việc sắp xếp này là thực hiện trên diện rộng sự liên kết nông-công nghiệp trong sản xuất chè Với cách
Trang 11liên kết này, sự phân công lao động trong từng vùng hợp lý hơn, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh buộc các doanh nghiệp chè phải phấn đấu để giữ vai trò chủ đạo.
Nh vậy , với vấn đề tổ chức lại sản xuất ngành chè đã đợc thực hiện trên các mặt : xác định lại cơ cấu sản phẩm để tạo điều kiện cho phân công lại sản xuất trong các đon vị thành viên của liên hợp chè; tổ chức lại sản xuất trên tiểu vùng và vùng(qua phân công sản xuất và liên kết kinh tế giữa quốc doanh - hợp tác xã - ng-
ời sản xuất chè gia đình) ; áp dụng các hình thức liên kết kinh tế (gia công sản phẩm, gia công trong khâu chăn nuôi , đầu t trớc, đầu t dới dạng góp vốn .)
Mặt khác , Tổng công ty đã và đang thực hiện cơ chế quản lý mới - quản lý kinh tế từ cơ sở - nhằm giải quyết mối quan hệ giữa xí nghiệp và ngời lao động về quyền lợi và trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích
Với phơng thức hoạt động nêu trên , Tổng công ty chè Việt Nam đã thu đợc nhiều kết quả khả quan trong sản xuất và kinh doanh , phát huy đợc vai trò là đầu mối xuất khẩu chè của toàn ngành chè Việt Nam Đặc biệt là với phơng thức tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất đã tạo điều kiện cho việc nâng cao chất l-ợng sản phẩm
3 Qúa trình phát triển của Tổng công ty chè Việt Nam
Từ năm 1995, sau những thay đổi lớn trong cơ chế quản lý, Tổng Công Ty
đã tìm đợc nhiều thị trờng mới có lợi nh Irắc, Nhật Bản, ấn Độ , nên đã khẳng…
định đợc vai trò của mình về cả diện tích và sản lợng Cụ thể là: mức tăng diện tích 1.200 ha, sản lợng tăng vợt 1.000 tấn
Đến năm 1996, lúc này Tổng Công Ty đang tìm hiểu và thay thế một số đồi chè lâu năm và đa một số giống chè phù hợp với khí hậu đất đai Diện tích chè tổng số lên tới 7.563 ha, chè tổng số đạt 8.545 tấn
Năm 1997 là năm thắng lợi toàn diện của Tổng Công Ty, các chỉ tiêu kinh
tế đều vợt so với năm 1996 và kế hoạch Bộ giao Chè tổng số sản xuất là 11.496 tấn tăng gần 35% so với năm 1996
Trong năm 1998, mặc dù chịu ảnh hởng của hiện tợng Elnino, hạn hán
Trang 12chung của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực nhng tổng số sản xuất chè vẫn đạt 15.250 tấn tăng trên 30% so với năm 1997
Bớc sang năm 1999 mặc dù 6 tháng đầu năm hạn hán diễn ra trên diện rộng, nhng sản lợng dù búp tơi tự sản xuất trên toàn Tổng Công Ty vẫn không giảm sút, chè tổng số sản xuất đạt 17.900 tấn bằng 117, 38% so với năm 1998 và
161, 26% so với kế hoạch Bộ giao
Sang năm 2000, sau 5 năm tổ chức lại mô hình Tổng Công Ty nhà nớc, Tổng Công Ty chè Việt Nam đã đạt đợc những bớc phát triển đáng kể so với những năm trớc đây Sản lợng chè sản xuất là 17.935 tấn so với năm trớc là 100,02%, lợng chè búp tơi tự sản xuất cũng tăng 14,1%
Nhờ thực hiện các biện pháp thâm canh tổng hợp nên năng suất chè đã đạt mức bình quân 6,79 tấn /ha Nhiều đơn vị có năng suất bình quân 10 tấn /ha nh : Mộc Châu, Trần Phú, Thanh Niên, Phú Sơn
Công nghiệp chế biến đã có những chuyển biến khá mạnh, hớng dẫn vào việc thoả mãn những nhu cầu ngày một cao của cả khách hàng trong nớc cũng nh khách hàng quốc tế Các thiết bị, công nghệ dần đợc đổi mới nhằm đẩy mạnh khâu chế biến thành phẩm, các mẫu mã, hình thức sản phẩm cũng đã có những bớc tiến
đáng kể cho phù hợp với nhu cầu thị trờng
Tổng công ty đã chủ động tìm đối tác liên doanh, thu hút vốn đầu t, lắp đặt các dây chuyền hiện đại, sản phẩm phù hợp và có thị trờng tiêu thụ thuận lợi Mặc
dù số lợng còn rất nhỏ so với toàn bộ nhu cầu đổi mới của toàn Tổng công ty, các liên doanh này đã giúp cho ngành chè Việt Nam từng bớc hội nhập với thị trờng thế giới
Tình hình kinh doanh của Tổng Công ty trong những năm vừa qua đã gặt hái đợc những thành công đáng kể, sản lợng xuất khẩu và kim ngạch đã có những bớc tăng trởng rõ rệt mang lại giá trị kinh tế lớn cho đất nớc
Trong những năm gần đây nhận thức đợc tầm quan trọng trong việc mở rộng
Trang 13Đài loan, , Anh, Đức, Mỹ do đó các năm 1999, 2000, bình quân xuất khẩu đợc
20 ngàn tấn tăng gấp đôi so với thời kỳ 91-96, chiếm 62 % so với tổng sản lợng xuất khẩu của cả nớc Qua các số liệu trên thì ta có thể khẳng định Tổng Công ty
là một trong những doanh nghiệp hàng đầu Việt nam về sản xuất và chế biến chè xuất khẩu
Chơng 2 : thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh ở Tổng công ty chè Việt Nam
1.Bộ máy tổ chức của Tổng công ty chè Việt Nam
Qua 6 năm hoạt động, Tổng công ty chè Việt Nam đã từng bớc đổi mới , củng cố và hoàn thiện bộ máy tổ chức và sản xuất kinh doanh.Tại thời điểm thành lập, Tổng công ty chè Việt Nam có 25 đơn vị thành viên hạch toán độc lập, 6 đơn vị hành chính sự nghiệp và 4 đơn vị tham gia liên doanh
Trong các năm 1997, 1998, Tổng công ty đã bàn giao 4 doanh nghiệp và 1 bệnh viện cho tỉnh Tuyên Quang quản lý và cũng tiếp nhận một số cơ sở sản xuất chè của tỉnh Thái Nguyên về Tổng công ty trực tiếp quản lý
Trong 6 năm qua, tổ chức Tổng công ty chè Việt Nam đã có một số thay đổi
đáng kể:
- Thực hiện cổ phần hoá 6 công ty
- Đa 6 công ty tham gia liên doanh Phú Bền và Phú Đa
- Tổ chức cho 2 Công ty chè Sông Cầu và Mộc Châu tham gia hợp tác sản xuất với Nhật Bản và Đài Loan
- Tổ chức lại 2 đầu mối là Chi nhánh Tổng công ty chè tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh thành các công ty hạch toán phụ thuộc
- Thành lập công ty chế biến chè và Nông sản thực phẩm Cổ Loa hạch toán phụ thuộc Tổng công ty
- Thành lập Xí nghiệp tinh chế chè Kim Anh hạch toán báo sổ Tổng công ty
Trang 14- Thành lập xởng cơ khí hạch toán báo sổ Tổng công ty
- Tổ chức lại Trung tâm KCS thành phòng kiểm tra chất lợng chè trực thuộc Tổng công ty
Tổng công ty chè Việt Nam đang hoàn tất các thủ tục để cổ phần hoá Công
ty chè Hà Tĩnh và thành lập một số công ty kinh doanh tổng hợp hạch toán phụ thuộc hoặc báo sổ trực thuộc Tổng công ty
Hiện nay, Tổng công ty chè Việt Nam đang trực tiếp quản lý các đơn vị trực thuộc sau:
- Các công ty sản xuất kinh doanh hạch toán độc lập: Mộc Châu, Sông Cầu, Long Phú, Hà Nội, Yên Bái, Thái Nguyên và Công ty xây lắp vật t kỹ thuật
- Các công ty và đơn vị hạch toán phụ thuộc: Hải Phòng, Hồ Chí Minh, Cổ Loa
- Ngoài ra, Tổng công ty đang quản lý 2 đơn vị hạch toán báo sổ: Viện nghiên cứu chè và Trung tâm phục hồi chức năng và điều trị bệnh nghề nghiệp Đồ Sơn
hình1: Mô hình tổ chức quản lý của Tổng công ty chè Việt Nam
Các công ty
cổ phần chè (7)
Các đơn
vị hạch toán sự nghiệp
Các công ty chè phụ thuộc
Trang 151.2 Bộ máy tổ chức văn phòng Tổng công ty chè Việt Nam
*Hội đồng quản trị (HĐQT):
Đứng đầu Tổng công ty là Hội đồng quản trị Đây là bộ phận chịu trách nhiệm cao nhất trớc Bộ trởng Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng nh trớc Thủ tớng Chính phủ về vốn và tài sản của Tổng công ty
Hiện nay, HĐQT của Tổng công ty bao gồm một chủ tịch, một trởng ban kiểm soát và bốn uỷ viên có nhiệm vụ chỉ đạo và giám sát trực tiếp mọi hoạt động của Ban Tổng Giám Đốc
Để thực hiện tốt chức năng của mình, HĐQT thành lập ra ban kiểm soát - giúp HĐQT nắm bắt kịp thời mọi sự điều hành của Ban Tổng Giám đốc
*Ban kiểm soát:
Ban kiểm soát có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của Tổng công ty, bộ máy giúp việc và các đơn vị thành viên Tổng công ty trong hoạt
động tài chính, chấp hành pháp luật, điều lệ của Tổng công ty, các nghị quyết của HĐQT
Ban Tổng Giám Đốc hiện nay có một Tổng Giám Đốc và ba Phó Tổng Giám Đốc Sau đó là các phòng ban đóng tại văn phòng Tổng công ty , có chức năng tham mu cho Ban Tổng Giám Đốc trong việc điều hành các hoạt động sản xuất kinh doanh trong toàn Tổng công ty
* Văn phòng Tổng công ty chè Việt Nam hiện nay có các phòng quản lý chức năng sau:
Trang 16- Phòng tài chính kế toán: Có nhiệm vụ thu thập, phân loại, xử lý và cung cấp thông tin về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, đề xuất các biện pháp cho Ban Tổng giám đốc nhằm đa ra đờng lối phát triển đúng đắn và
đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý xí nghiệp
- Phòng kinh doanh Xuất nhập khẩu: Tổ chức thực hiện hoạt động kinh doanh Xuất nhập khẩu, giới thiệu sản phẩm
- Phòng kế hoạch đầu t: Có chức năng tham mu cho Tổng giám đốc về các lĩnh vực chiến lợc phát triển: quy hoạch, kế hoạch đầu t phát triển sản xuất theo đúng định hớng của nhà nớc
- Phòng tổ chức lao động: Có chức năng tham mu giúp ban giám đốc xây dựng và tổ chức bộ máy sản xuất kinh doanh Thực hiện các chế độ chính sách của nhà nớc đối với cán bộ công nhân viên, chế độ tiền lơng
- Văn phòng Tổng công ty: Có chức năng tổ chức, thực hiện các cuộc hội thảo, triển lãm, gặp gỡ với các bạn hàng, đối tác, đón tiếp khách tới Tổng công ty
- Phòng kỹ thuật Công nghiệp và Nông nghiệp: Có chức năng giúp ban giám
đốc quản lý mọi hoạt động sản xuất của các đơn vị trực thuộc (công nghệ, chất lợng sản phẩm .) tạo điều kiện phát triển đúng hớng, hiệu quả
- Phòng xây dựng cơ bản: Chỉ đạo các đơn vị lập dự án, khảo sát thiết kế, đấu thầu triển khai các công trình xây dựng trong toàn Tổng công ty (trừ lĩnh vực nông nghiệp)
- Phòng hợp tác quốc tế: phụ trách theo dõi, quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị liên doanh, liên kết, cổ phần Có chức năng giao dịch, đối ngoại của Tổng công ty với các đối tác trong và ngoài nớc Tìm kiếm các đối tác đầu t liên doanh, liên kết Phối hợp cùng với các phòng chức năng xây dựng phơng án tìm kiếm thị trờng và phát triển thị trờng
Trang 17- Phòng pháp chế - thanh tra: Tham mu và giúp việc cho Tổng giám đốc về lĩnh vực pháp chế thanh tra của Tổng công ty.
- Phòng thông tin lu trữ: Thông tin các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các kinh nghiệm quản lý sản xuất kinh doanh cua các đơn vị trong Tổng công ty , quản lý, lu trữ tài liệu, thông báo các chủ trơng đờng lối của lãnh đạo Tổng công ty đến ngời làm chè
- Phòng sản phẩm - KCS: Có chức năng kiểm tra chất lợng , quản lý và xây dựng mẫu mã sản phẩm, xây dựng mẫu hàng, qủn lý mẫu, chỉ đạo kỹ thuật làm hàng xuất khẩu, quản lý chất lợng chè nội tiêu
Sự tồn tại của các phòng là hết sức cần thiết để thực hiện công tác quản lý
điều hành đối với các thành viên đợc tốt và có hiệu quả
Tổng công ty thực hiện hình thức phân chia bộ phận theo chức năng, một hình thức phân chia cơ bản và lôgic (Xem hình 2)
2 Tình hình lao động của Tổng công ty
Giai đoạn 1992-1995 là giai đoạn mà ngành chè Việt Nam đang phải vật lộn, tìm kiếm, xâm nhập các thị trờng mới Tuy nhiên do những biến động của thị tr-ờng nông sản quốc tế trong đó có chè và hậu quả của sự suy thoái, xuống cấp trầm trọng của một số vùng chè trong nớc từ các thập kỷ trớc do cơ sở hạ tầng yếu kém, thiếu vốn đầu t thâm canh và đổi mới thiết bị, đời sống ngời lao động khó khăn, thêm vào đó là sự trì trệ của một số khâu trong bộ máy quản lý Một số ngời trồng chè phải từ giã ngành chè để chuyển sang ngành sản xuất khác, công nhân làm chè không có tình thần lao động- sản xuất, cho đến cuối năm 1995 - sau khi thành lập Tổng công ty chè, các nhà máy quản lý đã tìm ra một lối thoát mới, ngày đêm
lo liệu tìm mọi cách tháo gỡ khó khăn, táo bạo hành động và nghiên cứu, chịu trách nhiệm đối với từng quyết định quản lý, tìm chiến lợc phát triển lâu dài và sách lợc phát triển cho từng giai đoạn
Tổng công ty luôn là động lực thúc đẩy, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, kỹ thuật chè nói riêng đối với ngành nông nghiệp - công nghiệp thực
Trang 18phẩm và kinh tế trung du miền núi nớc ta nói chung Vì vậy TCT đã tạo nên mối quan hệ mật thiết gắn bó giữa các đơn vị với TCT và giữa các đơn vị với nhau Nhờ đó mà đã thu hút đợc phần lớn ngời lao động, công nhân vào tham
Trang 20gia họat động sản xuất và chế biến chè.
Trong Bảng 1 ta thấy Tổng số lao động của TCT đã tăng đều trong 3 năm 1998-2000 chứng tỏ sự lớn mạnh của tổng công ty cả về quy mô cũng nh khối l-ợng sản xuất Tổng số lao động của TCT năm 1999 tăng 857 ngời so với năm 1998 tức tăng 6,9% Năm 2000 tăng 960 ngời so với năm 1999 tức là tăng 7,2%.Số lao
động trực tiếp cũng tăng lên Tuy nhiên sang đến năm 2001 và 2002 ,Tổng số lao
động của TCT bắt đầu giảm đi do thực hiện chế độ tinh giảm bộ máy quản lý cùng với một số thay đổi trong cơ cấu lao động của các đơn vị thành viên Tổng số lao
động năm 2001 giảm 897 ngời so với năm 2000 Năm 2002 tổng số lao động của TCT chỉ còn 13.230 tức là giảm 100 ngời so với năm 2001
Tổng công ty thực hiện đổi mới căn bản và cơng quyết bộ máy cán bộ quản lý -
đIều hành tăng cờng khâu đào tạo và nâng cấp học vấn để từng bớc trẻ hoá đội ngũ
từ TCT đến hầu hết các đơn vị thành viên đặc biệt là các doanh nghiệp có biểu hiện yếu kém trì trệ lâu dài hoặc ách tắc về trình độ quản lý gây ảnh hởng tiêu cực
đến sản xuất và tâm lý công nhân lao động
Cụ thể: số lao động có trình độ đại học và trên đại hoc tăng dần qua các năm Số lao động có trình độ Cao đẳng và trung cấp ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động Điều này thể hiện sự phát triển của TCT ngày càng đi vào hiện đại hoá cùng với việc ứng dụng các tiến bộ của KHKT vào dây chuyền sản xuất
Tóm lại lao động là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng có ý nghĩa quyết định đến năng lực sản xuất của xí nghiệp, các yếu tố khác chỉ là yếu tố vật chất đơn thuần mà hiệu quả của nó phụ thuộc vào hiệu quả làm việc của con ngời
Do vậy vấn đề quản lý và sử dụng lao động có hiệu quả là một vấn đề phức tạp và khó khăn vì TCT không chỉ thuê, phân công lao động và trả lơng cho công nhân viên mà còn phải tạo đIều kiện tốt cho họ phát triển khả năng, phục vụ tốt nhất cho công việc
Trang 21Bảng 1:Tình hình lao động của tổng công ty chè Việt Nam
Trang 223.Các sản phẩm chủ yếu của tổng công ty
Để phục vụ một lợng khách hàng lớn nh vậy, và để đáp ứng đợc nhu cầu thị trờng với mong muốn mở rộng thêm thị phần hiện nay, Tổng công ty chè Việt Nam đã sản xuất các mặt hàng sau: Chè đen, chè xanh, chè CTC …
Bảng 2 : Các sản phẩm của Tổng công ty chè Việt Nam
Nguồn: Báo cáo tổng hợp_Tổng công ty chè Việt nam
Cùng vói việc đa dạng hoá các sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nớc
và xuất khẩu , Tổng công ty chè Việt Nam cũng coi trọng thị hiếu ngời tiêu dùng
và cải tiến mẫu mã bao bì để hấp dẫn ngời tiêu dùng, để phù hợp đặc điểm của từng thị trờng
4.Diện tích, sản lợng chè của TCT(Nguồn nguyên liệu)
Trong một vài năm gần đây, cây chè đã phát triển rất mạnh ở trung du và miền núi phía Bắc Vì vậy trong hai kỳ kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 và 2001 -
2005 chè đã góp phần tăng thu nhập, tạo thêm công ăn việc làm, xoá đói giảm nghèo cho đồng bào miền núi
Từ năm 1995 khi mà quy luật kinh tế thị trờng tác động mạnh vào sản xuất và khi
đó kinh tế t nhân cũng khẳng định đợc chỗ đứng của mình thì cả diện tích, năng xuất và sản lợng cũng tăng vợt bậc
Tổng công ty đã nghiên cứu và thanh lý một số đồi chè lâu năm và đa vào trồng mới một số giống chè phù hợp và thích ứng với khí hậu đất đai Bên cạnh đó nhà nớc còn dùng nhiều chính sách để phát triển cây chè.Vì vậy qua biểu ta thấy diện tích chè tổng số tăng đều trong 4 năm Năm 2001, diện tích chè tổng số là 6.246 ha tăng lên 242 ha tức là tăng 4,03% so với năm 2000 Năm 2000 tăng 7,4% tức là tăng lên 414ha so với năm 1999 Năm1999 tăng 7,79% tức là tăng 104ha so với năm 1998
Trang 23Cùng với sự tăng lên của diện tích chè tổng số thì diện tích chè kinh doanh cũng tăng lên Năm 2001 diện tích chè kinh doanh là 5.553 ha tăng lên 1,01% so với năm 2000 Năm 2000 diện tích chè kinh doanh là 5468ha tăng lên 148ha so với năm 1999 Năm1999 đạt 5320 ha tăng so với năm 1998 7,3%.
Tuy nhiên trong năm 2002, diện tích chè tổng số của toàn TCT chỉ còn 5.792 ha giảm 7,27% so với năm 2001 Nhng không vì thế mà năng suất của các
đồi chè giảm qua bảng ta có thể thấy từ năm 1998 đến năm 2002, năng suất chè liên tục tăng Đó là do TCT luôn nhận thức đợc tầm quan trọng của nguyên liệu chè búp tơi đối với kết quả sản xuất kinh doanh của ngành chè và quan tâm sát sao trong công tác chỉ đạo điều hành khâu sản xuất nông nghiệp
Trong vụ chè năm 1998 đã phục hồi và thay thế hơn 300 ha chủ yếu là do các hộ gia đình công nhân trồng Diện tích chè kinh doanh đợc đặc biệt đầu t với phân bón cao hơn, tới đầy đủ hơn và áp dụng các biện pháp kỹ thuật khác làm cho cây chè tốt hơn Vụ chè năm 98 là một vụ bội thu năng suất bình quân tăng lên đến 6,7 tấn/ha (tăng 1,7tấn/ha so với vụ chè năm 97)
Và cho đến cuối vụ chè năm 1999 tất cả các vờn chè đã đợc đầu t chăm sóc qua đông đúng kỹ thuật Khâu đốn chè cũng đợc thực hiện đúng yêu cầu kỹ thụât Các vờn chè đã đợc phủ cỏ, ép xanh và phân bón hữu cơ tổng hợp để giữ ẩm và tăng độ mùn cho đất vì vậy đã làm cho năng suất và sản lợng chè tăng vợt bậc (năng suất chè năm 99 là 7,1tấn/ha tăng 5,97% so với năm 98)
Trong năm 2000, TCT đã hoàn thành đợc chơng trình 2 triệu hom giống chè, mặt khác thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp và nông thôn, TCT đã đa chơng trình đốn, hái máy thí đIểm vào 2 công ty (Mộc Châu và Sông Cầu), kết quả là: chè phát triển tốt, mặt tán đều đẹp Vì vậy những vờn chè hái bằng máy năng suất tăng
đáng kể Năm 2000 năng suất bình quân toàn TCT đạt 7,68 tấn/ha tăng 8,17% so với năm 1999
Sang năm 2001 phát huy tốt những mặt tích cực đã đạt đợc trong 3 năm trớc
đối với công tác chăm sóc cây chè cùng với sự phát triển của những giống chè mới năng suất chè tăng lên rất nhanh đạt 8,82 tấn/ha tức là tăng 1,14tấn/ha so với năm 2000
Trang 24Năm 2002 công tác thâm canh đã đợc chú ý, 21.245 tấn phân hữu cơ và
2010 tấn phân vi sinh đã đợc bón cho các đồi chè, 2113 ha chè đã đợc phủ cỏ ép xanh, lợng phân vô cơ sử dụng đã giảm 35% so với năm 2001 Nhiều đơn vị nh Mộc Châu, Long Phú, Phú Đa, Quân chu, Liên sơn, đã tổ chức tốt công tác bảo vệ thực vật, giảm thiểu việc sử dụng thuốc sâu Năng suất sản lợng chè búp tơi tại các
đơn vị thành viên đạt 10,10 tấn/ha tức là tăng 10% so với năm trớc(Xem bảng 3)
Bên cạnh những đIểm tích cực nh trên, còn nhiều điểm nảy sinh cha tốt trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến nguồn nguyên liệu còn kém chất lợng.Cụ thể là: phần lớn giống chè của ta vẫn là các giống PH1, Shan,Trung du không có chất lợng cao so với giống chè của thế giới, trồng chè hạt còn chiếm 30-40% diện tích, tình trạng chăm sóc, đốn, thu hái ở nhiều công ty còn cha đúng quy trình kỹ thuật, nhiều đồi chè bị suy thoái nghiêm trọng cha đợc khắc phục Một số đơn vị vẫn còn
sử dụng các loại thuăc trừ sâu bị hạn chế nh Basa, Sheol, Shẻha Công tác khuyến…nông ở các đơn vị Mộc châu, Sông cầu, Liên sơn, Quân chu đã làm tốt, những đơn
vị khác cha thực sự quan tâm đúng mức Nhiều đơn vị cha triển khai đầy đủ việc thực hiện quyết định 80 của Thủ tớng Chính phủ (chính sách khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng) Hơn thế, với sự bùng nổ của nhiều doanh nghiệp và hộ chế biến chè trong 3 năm gần đây phân bố không tơng xứng với quy mô sản xuất nông nghiệp gây ra sự cạnh tranh mua bán nguyên liệu Qua báo cáo của các đơn vị trong TCT cho thấy: TCT có sản lợng nguyên liệu tự sản xuất chiếm 49,7% mua ngoàI chiếm 50,3%, nh vậy nguồn nguyên liệu chủ động còn thấp Ngoài ra, giá thu mua nguyên liệu không phản ánh đúng chất lợng, th-ờng lẫn loại vợt từ 1-2 cấp làm cho chất lợng nguyên liệu đầu vào bị giảm sút ảnh hởng lớn đến chất lợng của sản phẩm chè
5.Tình hình sản xuất, chế biến, tiêu thụ chè của Tổng công ty
Trong nền kinh tế thị trờng thì chất lợng sản phẩm là vấn đề sống còn của mọi doanh nghiệp Điều đó lại thể hiện rõ nét khi tình hình giá cả thị trờng giảm sút Trong 2 năm qua, vấn đề chất lợng sản phẩm đợc đặt ra hàng đầu cho mỗi doanh nghiệp chè Ngay từ đầu năm, Tổng công ty đã thông báo cho
Trang 25mọi đơn vị thành viên đặt chỉ tiêu sản xuất sản phẩm chè cấp cao không dới 7%
Do vậy, các đơn vị đã tiến hành đồng bộ các giải pháp để nâng cao tỷ lệ mặt hàng chè cấp cao Phần lớn máy móc thiết bị chế biến đợc cải tiến để đáp ứng
nhu cầu nâng cao chất lợng sản phẩm, công nhân chế biến đợc hớng dẫn lại quy trình công nghệ để nâng cao chất lợng chè thành phẩm Những nhà máy
mới đa vào sản xuất, công nhân cha có kinh nghiệm, thì Tổng công ty đã cử
chuyên gia đến hớng dẫn cụ thể, giúp đơn vị tìm các giải pháp tối u trong mọi công đoạn chế biến Trong khâu thu mua nguyên liệu cho chế biến, các đơn vị đã rất chú ý đến tình hình thuốc sâu, kiên quyết không mua chè tơi bị nghi có thuốc cấm nhằm giảm thiểu d lợng thuốc trừ sâu trong sản phẩm Do vậy, chất lợng sản phẩm chè đã đợc nâng lên
Cụ thể
Về chế biến chè: Cả nớc có khoảng 75 cơ sở chế biến công nghiệp, với tổng
công suất 1.191 tấn tơi/ ngày ( Chế biến trên 60% sản lợng búp tơi hiện có ) và chủ yếu là chế biến chè xuất khẩu ( 858 tấn/ ngày) Trong số các cơ sở chế biến trên thì tổng công ty chè quản lý 28 cơ sở với tổng công suất 598 tấn tơi/ ngày Hiện nay Tổng công ty tập trung chỉ đạo tu sửa hoàn chỉnh thiết bị do đó sản lợng sản phẩm tăng đáng kể Tuy nhiên chất lợng sản phẩm vẫn cha cao do chất lợng nguyên liệu xấu, mặt khác do thiết bị công nghệ Đây là mặt yếu cần phải có chiến lợc, giải pháp và biện pháp cấp bách kiên quyết nhằm nâng cao chất lợng để giữ vững thị trờng tiêu thụ
* Chế biến chè đen xuất khẩu:
Chế biến theo công nghệ Orthodox và CTC, thiết bị orthodox nhập từ Liên Xô cũ vào những năm 1957- 1977 đến nay đều đã cũ, sửa chữa và thay thế bằng các phụ tùng trong nớc nhiều lần, tuy vẫn đang hoạt động song đã bộc lộ những nhợc điểm
ở các khâu; lên men, sấy, hút bụi phòng sàng nên đã ảnh h… ởng Những năm
1980 nhập của ấn độ gồm 6 dây chuyền thiết bị chế biến chè đen theo công nghệ CTC nhng nhìn chung sản xuất vẫn không đạt hiệu quả cao
Trang 26B¶ng 3 : DiÖn tÝch, n¨ng suÊt vµ s¶n lîng chÌ bóp t¬i
Trang 27thiết bị nhập thiếu đồng bộ nên tiêu hao nguyên liệu và năng lợng Năm 1996 nhập
2 dây chuyền công nghệ song đôi của ấn Độ khá hiện đại nhng mới chỉ có dây chuyền ở Long phú là hoạt động Năm1997 liên doanh chè Phú bền nhập 3 dây chuyền CTC của ấn Độ ở Phú thọ với tổng công suất 60 tấn/ngày và năm 1998 nhập thêm dây chuyền ở Hạ Hoà với tổng công suất 30 tấn/ngày, Những dây chuyền này đồng bộ đều hoạt động tốt
* Chế biến chè xanh:
Chè xanh nội tiêu chủ yếu đợc chế biến theo phơng pháp cổ truyền và một phần theo công nghệ Đài loan, Trung quốc Các cơ sở sản xuất chè xanh nội tiêu chủ yếu đợc trang bị thiết bị Trung Quốc quy mô 8 tấn tơi/ngày trở xuống và nhiều nhỏ nhất là các cơ sở chế biến thủ công của các hộ gia đình đã đáp ứng
Bảng 4: Các nhà máy chế biến chè Công nghiệp
Stt Nhà máy chè
Công suất thiết kế
Nớc chế tạo thiết bị chính
Nhu cầu nguyên liệu (tấn tơi/ngày)
Năng lực chế biến(tấn sản phẩm/nă
m)
Loại sản phẩm: xuất khẩu/ nội tiêu
10 Nhà máy Kim
12 Nhà máy Sài Gòn 12 Anh,LX,T
Nguồn : Hiệp hội chè Việt Nam
đợc về mặt số lợng tiêu dùng của nhân dân, nhng nhìn chung là chất lợng không cao
Mấy năm gần đây bằng các liên doanh hợp tác với nớc ngoài Tổng công ty
Trang 28chè Việt nam đã có đợc các dây chuyền thiết bị công nghệ chế biến chè xanh của Nhật bản( Tại công ty chè Sông Cầu, Mộc châu), của Đài loan( công ty chè Mộc châu) chủ yếu xuất sang các thị trờng này Qua thời gian sử dụng cho thấy loại thiết bị này có công suất loại vừa, công nghệ hiện đại, sản lợng đạt chất lợng khá tốt, giá bán khá cao, sản phẩm vừa để xuất khẩu vừa để tiêu thụ nội địa, đặc biệt là công nghệ chế biến chè xanh Đài loan đã cho sản phẩm bán với giá 80.000đ/kg đ-
ợc ngời tiêu dùng trong nớc chấp nhận
Sang năm 2002 mặc dù cuộc cạnh tranh nguyên liệu diễn ra gay gắt có nới,
có lúc, có nhà máy phải hoạt động cầm chừng vì thiếu nguyên liệu song nhìn chung các đơn vị trong toàn Tổng công ty đã có nhiều cố gắng tổ chức tốt công tác thu mua nguyên liệu của bà con nông dân tự sản xuất Nhờ vậy, tổng sản lợng chè chế biến đạt 29.462 tấn tăng 100,5% so với năm 2001
Ngoài ra hàng năm Tổng công ty còn tiêu thụ đợc một khối lợng chè nội tiêu nhằm giải quyết một số vấn đề trong kinh doanh nh: đồng tiền thanh toán tại chỗ, trang trải các chi phí tại chỗ.Năm 2001 lợng chè nội tiêu đợc tiêu thụ là 1.094 tấn , sang đến năm 2002 chỉ còn 1.011 tấn tức là bằng 92,32% so với năm 2001
Tuy nhiên, so với nhu cầu tiêu thụ của ngời Việt nam (ớc tính khoảng hơn mời nghìn tấn chè) Thì lợng chè tiêu thụ hàng năm của TCT cha phản ánh đúng
về thị hiếu uống chè hiện nay của ngời Việt Nam Sở dĩ có tình trạng trên là vì thị trờng chè nội tiêu cha đợc các doanh nghiệp chè của ta quan tâm đúng mức, sản phẩm phục vụ ngời tiêu dùng vẫn còn đơn đIệu, chất lợng không ổn định, bao bì mẫu mã cha đẹp, việc xây dựng kênh phân phối, quảng cáo và giới thiệu sản phẩm cha đợc đầu t đúng mức
Nh vậy, nhờ có đà phát triển và cự chỉ đạo tập trung, quyết đoán bám sát thị trờng, đIều chỉnh linh hoạt các quyết định sản xuất, quản lý, đIều tiết giá cả Vì vậy trong nhừng năm gần đây vẫn đạt tốc độ tăng trởng cao, sản phẩm chè các loại tăng Mặt khác TCT chỉ đạo đến từng đơn vị hạn chế thu mua các loại chè kém chất lợng, hạn chế các đơn vị mua chè đen sơ chế của các xởng chế biến thiết bị
Trang 29pháp tiết kiệm các chi phí trong quản lý và xuất nhập khẩu để tạo đIều kiện cho các đơn vị giứ giá thu mua chè không giảm mặc dù giá xuất khẩu giảm.
6.Tình hình xuất khẩu của Tổng Công ty
6.1 Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu
Tình hình kinh doanh của Tổng Công ty trong những năm vừa qua đã gặt hái đợc những thành công đáng kể, sản lợng xuất khẩu và kim ngạch đã có những bớc tăng trởng rõ rệt mang lại giá trị kinh tế lớn cho đất nớc
Bảng 5: Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu 1991-2002
Năm Sản lợng ( 1000 tấn) Kim ngạch ( Triệu USD)
Nguồn: Báo cáo tổng hợp - Tổng Công ty chè Việt Nam
Qua bảng trên thì những năm 1991 –1996 thì sản lợng xuất khẩu tơng đối thấp chỉ đạt khoảng 10 ngàn tấn nguyên nhân chủ yếu là do Liên xô và các nớc
Đông Âu tan rã, làm cho Tổng Công ty đã mất đi phần lớn thị trờng này Tuy nhiên sản lợng xuất khẩu của Tổng Công ty chiếm 50,4 sản lợng xuất khẩu của toàn ngành chè Việt Nam, kim ngạch đạt trên 15 triệu USD chiếm 53% của cả n-
ớc Trong những năm gần đây nhận thức đợc tầm quan trọng trong việc mở rộng thị trờng tiêu thụ thì Tổng Công ty đã có thêm một số thị trờng mới đó là : Nhật,
Trang 30Đài Loan, Libri, Anh, Đức, Mỹ do đó các năm 1999, 2000, 2001 bình quân xuất khẩu đợc 20 ngàn tấn tăng gấp đôi so với thời kỳ 91-96, chiếm 62 % so với tổng sản lợng xuất khẩu của cả nớc.
Năm 2002 do dự báo đợc trớc những khó khăn của thị trờng Irắc vì vậy TCT đã chủ động chỉ đạo tìm kiếm khách hàng mở rộng thị trờng sang các nớc khác, nhờ vậy mặc dù thị trờng Irắc giảm 8000 tấn so với năm 2001, song tổng sản lợng chè xuất khẩu vẫn đạt 28,6 tấn đạt kim ngạch 43,72 triệu USD Năm 2002 cả nớc có 163 đơn vị xuất khẩu chè song TCT vẫn là đơn vị chủ lực chiếm hơn 40 % tổng sản lợng chè xuất khẩu của cả nớc, đóng góp quan trọng và sự ổn định và phát triển của ngành chè Việt Nam
6.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
Trong những năm qua, Tổng Công ty rất chú ý tới cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chè vào các thị trờng Tình hình cơ cấu các loại hình chè xuất khẩu vào các khu vực thị trờng đợc thể hiện qua bảng
Bảng 6: Cơ cấu chủng loại xuất khẩu chè của Tổng Công ty chè Việt Nam (%)
Nguồn : Tổng Công ty chè Việt Nam
Trong cơ cấu xuất khẩu chè, chè đen chiếm một tỷ trọng quan trọng: 60% (1991), 68,93% (1992), 65% (1993), 81,79% (1994), 67,87% (1995), 63,30%
Trang 31nhu cầu tiêu thụ chè đen là rất lớn, mặt khác mặt hàng này là rất phù hợp với thị hiếu của ngời Châu Âu và Trung Cận Đông mà đây là các thị trờng có bạn hàng lớn của Tổng Công ty Chè CTC có cơ cấu xuất khẩu tơng đối bé trung bình là 3,32% Còn đối với chè xanh, cơ cấu xuất khẩu chiếm tỷ trọng trung bình 11,9% Chúng ta biết rằng, chỉ ngời Châu á thích uống chè xanh, nhng chè xanh lại có nhiều ở Châu á, do vậy mà lợng chè xuất khẩu của Tổng Công ty bị hạn chế Chè thành phẩm, từ chế biến hai tấn (1991), 11,316 tấn (1993) đã tăng vọt lên 1709,1 tấn (1995), 3060,21 tấn (1999), và 3282,75 tấn (2000) Chè sơ chế giảm từ 0,52% vào năm 1996 xuống còn 0,4% năm 2001
Bảng 7 : Tỷ lệ loại chè đen xuất khẩu (%) 1998-2002
Nguồn : Tổng Công ty chè Việt Nam
Các loại chè cao cấp có xu hớng tăng nhẹ, giao động từ 55,7% đến 63% Trong khi đó các loại chè cấp thấp hơn nh PS có xu hớng tăng mạnh trong giai
đoạn 1990-1995, nhng trong giai đoạn 1998-2002 có xu hớng giảm nhẹ Chè BPS giảm đáng kể
Sở dĩ có những biến động trên là do nhu cầu tiêu thụ chè cấp thấp trên thị ờng thế giới hiện nay có xu hớng giảm nhờng chỗ cho loại chè cấp cao Chè CTC sản xuất bằng công nghệ ấn Độ chi phí cao, lại khó khăn trong tiêu thụ nên xu h-ớng sản xuất thấp, biến động bấp bênh
Trang 32tr-Chè Xô trớc đây chủ yếu xuất cho Trung Quốc, mấy năm gần đây không có thị trờng (hoặc là xuất qua đờng tiểu ngạch) Xu hớng tăng lên của tỷ trọng chè thành phẩm trong cơ cấu xuất khẩu là một xu hớng lành mạnh phù hợp với đòi hỏi của ngời tiêu dùng, lại bán đợc với giá cao dù phải đầu t phức tạp hơn.
6.3 Giá cả.
Qua bảng dới đây ta thấy năm 1998 thế giới 1975 USD/tấn thì Tổng Công
ty 1.490 USD/tấn bằng 75,3% Năm 2001 vừa qua thì Tổng Công ty đã xuất khẩu chè đạt mức kỷ lục 1725 USD /tấn bằng 89 % giá chè thế giới
Tuy vậy, một số cơ sở liên doanh liên kết với nớc ngoài cũng đã xuất đợc chè với giá khá cao, ngang với mặt bằng giá quốc tế: chè xanh Nhật 2,2 - 4,5 USD/
kg, chè xanh Đài Loan 1,8 - 2,0 USD/kg nhng số lợng còn ít
Bảng 8 : Giá chè xuất khẩu bình quân của Tổng Công ty.
Nguồn: Tổng hợp tình hình xuất khẩu - Tổng Công ty chè Việt Nam
Giá chè xuất khẩu của ta thấp hơn giá quốc tế chủ yếu bởi các nguyên nhân:
Thứ nhất, chè Việt Nam nói chung và của Tổng Công ty nói riêng chất lợng còn
Trang 33diện rộng sẽ đòi hỏi chi phí rất nhiều thời gian và tiền bạc Hơn nữa, máy móc thiết bị để chế biến hiện nay còn lạc hậu, chủ yếu là các máy móc do Liên Xô trang bị từ những năm 60, 70.
Thứ hai, quy mô các nhà máy chè của Tổng Công ty còn nhỏ dẫn đến chất lợng
chè xuất khẩu không đồng đều Nhiều khi khách hàng lầm tởng chúng ta trộn chè phẩm cấp thấp để xuất khẩu
Thứ ba, chúng ta còn thiếu hụt các thông tin về thị trờng, lại mới tham gia vào thị
trờng thế giới không lâu, khối lợng xuất khẩu không nhiều, kinh nghiệm sản xuất chế biến và kinh doanh xuất khẩu còn nhiều yếu kém nên thờng bị thua thệt, chèn
ép giá trên thị trờng xuất khẩu
Thứ t, sản phẩm Tổng Công ty xuất đi chủ yếu dới dạng nguyên liệu nên hiệu quả
kinh tế thấp
Bảng 9: Giá chè xuất khẩu sang một số thị trờng trong thời gian gần đây
Nguồn : Tổng Công ty chè Việt Nam
Mặc dầu còn có một khoảng cách khá xa giữa giá chè xuất khẩu của Tổng Công ty với giá chè thế giới, nhng nhìn nhận trong mấy năm gần đây, ta nhận thấy khoảng cách này đang ngày một thu hẹp, đây thật là một tín hiệu đáng mừng Trong tơng lai nếu ta nâng cao đợc chất lợng chè xuất khẩu thì hoàn toàn có thể bán ngang với giá quốc tế
6.4 Thị trờng
Thị trờng xuất khẩu của Tổng Công ty chè Việt Nam trớc năm 1991 chủ yếu gồm Liên Xô và các nớc Đông Âu Một số khu vực khác và các nớc t bản thờng bấp
Trang 34bênh, quy mô nhỏ chỉ chiếm khoảng 2 - 2,5% thị phần Từ năm 1992 đến nay, Tổng Công ty đã có quan hệ giao thơng với 100 tổ chức kinh doanh thế giới ở 40 nớc và khu vực Bên cạnh các bạn hàng truyền thống nh Nga, Ba Lan, iraq Tổng Công ty hiện đã xuất khẩu đợc chè sang các thị trờng mới giàu tiềm năng nh Iraq,
Đài Loan, Nhật, Anh, Mỹ, Pakistan, Singapore
Qua bảng 10 ta có thể thấy trong 5 năm qua Irắc là thị trờng lớn nhất của Tổng công ty với kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng trong các năm 1998-2001, có đợc kết quả này là do Tổng công ty đã chỉ đạo và điều hành khá tốt khâu xuất nhập khẩu, chớp cơ hội để thắng thầu các hợp đồng xuất khẩu lớn của Chính phủ( trong chơng trình đổi dầu lấy lơng thực của Liên hợp quốc) Nhng sang năm 2002, do tình hình chính trị tại Irắc không ổn định nguy cơ xảy ra chiến tranh ngày càng lớn làm cho xuất khẩu sang thị trờng này giảm 8000tấn tơng đơng trị giá14.326.000USD Tuy nhiên xuất khẩu sang các thị trờng khác nh: Pakistan, Anh, Nga, ấn Độ, Đức đã tăng khá nhiều Do đã có hớng chủ động thị trờng, giao hàng nhanh, tiền hàng đợc thanh toán kịp thời, vì vâhy mặc dù thị trờng Irắc gặp khó khăn nhng kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng côgn ty vẫn ổn định
Bảng 10 : kim ngạch xuất khẩu chè sang một số thị trờng.
Nguồn: Báo cáo tổng hợp - Tổng Công ty chè Việt Nam
7.Tình hình vốn của Tổng công ty chè Việt Nam
Trang 35Là một doanh nghiệp Nhà nớc, có quy mô họat động sản xuất lớn, do vậy cũng nh bất kỳ doanh nghiệp nhà nớc nào khác, Tổng công ty chè Việt Nam cũng
đợc Nhà nứoc cấp ngân sách để hoạt động Ngoài ra, để đảm bảo và phát triển họat
động sản xuất kinh doanh, Tổng công ty còn tự bổ sung vốn cho mình
Tháng 6/1996 Tổng công ty chè Việt nam đã đi vào hoạt động với quy mô ban
+Vốnphát triển sản xuất: 846,7 triệu đồng
Trong quá trình phát triển để bổ sung nguồn vốn , Tổng công ty đẫ thực hiện chính sách thu hút nguồn vốn từ bên ngoàI, vay ngân hàng, liên doanh…
Kể từ năm 1991 đến nay, thông qua các hiệp ớc song phơng bằng các dự án để phát triển ngành chè Vịêt Nam, Tổng công ty đã bớc đầu thu hút đợc một số vốn cho mình từ ngân hàng thế giới, ngân hàng phát triển của FAO, của ấN độ
NgoàI ra, Tổng công ty còn thu hút đợc nguồn vốn liên doanh cho việc xây dựng các nhà máy mới với công nghệ hiện đại ( liên doanh với ĐàI Loan, Nhật Bản , Bỉ)
Bảng 11: Cơ cấu vốn đầu t XDCB của Tổng công ty chè Việt Nam
Nguồn: Báo cáo Tổng hợp qua các năm của VINATEA
Trong cơ cấu nguồn vốn của mình, để có đợc một nguồn vốn đầu t cho xây dựng cơ bản, Tổng công ty đã phải huy động bằng nhiều cách nh vay vốn ODA, vay vốn tín dụng và tự huy động vốn bân cạnh vốn do ngân sách Nhà nớc cấp Từ