Facebook @Dethivaonganhang www facebook com/dethivaonganhang www ThiNganHang com S Á C H – T À I L I Ệ U T H I T U Y Ể N Trang 1 Lời mở đầu Thế kỉ XX đã qua với những dấu ấn kinh tế đầy ấn tượng của q[.]
Trang 1Lời mở đầu
Thế kỉ XX đã qua với những dấu ấn kinh tế đầy ấn tượng của quá trình toàn cầu hoá lực lượng sản xuất ,quá trình này được biểu hiện rõ nét ở sự sát nhập của những công ty xuyên quốc gia hàng đầu thế giới như Boing ,Mecedess,Nissan…và dặc biệt ở sự xuất hiện của các tổ chức kinh tế và thương mại mang tính khu vực,và toàn cầu như WTO,APEC,ASEAN,…Dưới sức ép của toàn cầu hoá,nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng có sự biến chuyển mạnh mẽ và nhanh chóng.Quá trình này mở ra những triển vọng to lớn của việc thúc đẩy tăng trưởng ở mỗi quốc gia ,nhưng đồng thời trên phương diện quản lý,cũng đặt ra những thách thức to lớn đối với các chính phủ
Với tiến trình hội nhập AFTA ,APEC và WTO vào nền kinh tế thế giới hoàn toàn là quá trình cải cách thể chế toàn bộ nền kinh tế ,xuất phát từ đòi hỏi của bản thân nền kinh tế nội địa Cuộc cải cách này sẽ giúp cho Việt Nam huy động được các nguồn lực nội sinh, tăng cường sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên chính thị trường nội địa,tạo tiền đề cho cạnh tranh quốc tế.Hội nhập vừa là cơ hội cũng vừa là thách thức ,những trở ngại nảy sinh do bản thân tiến trình cải cách,cùng với sức ép của khủng hoản kinh
tế và tài chính khu vực ,đang có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng và đặt ra trách nhiệm nặng nề cho bộ máy quản Nhà Nước cũng như cho toàn thể chế xã hội .Do vậy,có thể nói rằng hiện nay Việt Nam thực sự đang ở trong thời điểm bước ngoặt của việc đánh giá lại toàn bộ các nguồn lực phát triển ,và nhất là các quan điểm và định hướng phát triển dất nước sao cho phù hợp với sự phát triển chung của thế giới ,mà trong đó hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam là yếu tố quan trọng để thúc đẩy kinh tế phát triển
Trang 2Nội dung
I Sự cần thiết hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
1 Những xu thế lớn trong sự vận động của nền kinh tế thế giới
1.1 Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tiếp tục phát triển ở trình độ cao
Nhân loại đang bước vào giai đoạn sôi động của một cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ,một cuộc cách mạng mà sự tác động của nó làm biến đổi sâu sắc trên cả các mặt lực lượng sản xuất ,quan hệ sản xuất ,chính trị và xã hội trong hầu hết các nhóm nước trên thế giới đưa tới sự đột biến trong tăng trưởng kinh tế ,gây ra sự biến đổi sâu sắc về cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia,và đưa xã hội loài người bước sang một một nền văn minh mới –nền văn minh trí tuệ.Khác với các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trước đây,cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ngày nay đặc trưng bởi những phát minh khoa học làm thay đổi về chất caqchs thức sản xuất chứ không chỉ đơn thuần về mặt công cụ sản xuất Nền văn minh mới vừa tạo ra cơ sở mới cho phát triển ,vừa đặt ra thách thức mới cho các quốc gia chậm phát triển Hệ quả của xu thế này là nó đặt ra con đường phát triển mới cho mỗi quốc gia và đưa tới quan niệm mới về yếu tố và nguồn lực của sự phát triển ;đó không phải là khoáng sản,đất đai hay tài nguyên rừng,biển…mà là chất xám nằm trong bộ não của con người Điều này quyết định sự lựa chọn chiến lược và chính sách phát triển mới cho mỗi quốc gia
1.2 Quá trình quốc tế hoá tiếp tục diễn ra với quy mô ngày càng lớn
Trong thời đại ngày nay,mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế đã và đang là một trong những vấn đề thời sự đối với hầu hết các nước.Nó diễn ra với tốc độ
Trang 3ngày càng cao trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế thế giới như buôn bán,tổ chức sản xuất ,văn hoá,lối sống…Điều đó làm cho nền kinh tế thế giới trở trở thành một chỉnh thể thống nhất,trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận,giữa chúng có sự phụ thuộc lẫn nhau.Quá trình quốc tế hoá nàdiễn ra ở những cấp độ khác nhau với những xu hướng toàn cầu hoá đi đôi với xu hướng khu vực hoá.Xu thế khu vực hoá thể hiện ở việc hình thành các liên kết kinh tế khu vực với các hình thức đa dạng : EU,NAFTA,APEC…xu thế quốc
tế hoá đặt ra một yêu cầu tất yếu: Môĩ quốc gia phải mở cửa ra thị trưởng thế giới và chủ động tham gia vào phân công lao động quốc tế ,tham gia vào các
tổ chức quốc tế và khu vực để có được các khuôn khổ phù hợp cho sự phát triển
1.3 Thế giới chuyển tử đối đẩu sang đối thoại,từ biệt lập sang hợp tác
Các quốc gia ngày càng ưu tiên cho sự phát triển kinh tế với sự gia tăng các hình thức hợp tác quốc tế như trao đổi thương mại,hợp tác đầu tư…Sự dung hoà lợi ích ,sự vận dụng các biện phấp kinh tế để giả quyết các tranh chấp ,hợp tác với nhau để có lợi nhiều hơn là phương châm phổ biến trong giải quyết các vấn đề quốc tế Tuy nhiên sự cạnh tranh kinh tế cũng phát triển
cả về chiều rộng và chiều xâu,hình thành khái niệm “chiến tranh kinh tế”.chiến tranh kinh tế có nhiều mục đích khác nhau,nhiều phương thức khác nhau với sự đan xen về không gian thời gian.Các quyền lợi ở lãnh hải,các quần đảo ,thềm lục địa sẽ trở thành đối tượng tranh giành chủ yếu trong tương lai.Mâu thuẫn giữa các cường quốc,các trung tâm kinh tế ,các tập đoàn xuyên quốc gia ngày càng trỏ nên gay gắt
2 Vị trí và lợi thế so sánh của nền kinh tế Việt Nam
2.1 Vị trí của nền kinh tế Việt Nam
Trang 4Nước Việt Nam đã trải qua 4000 năm lịch sử,sau cuộc chiến chống Mỹ cứu nước,Việt Nam được thống nhất và bước vào thời kỳ xây dựng kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Tuy nhiên phải đến tháng 12/1986 với nghị quyết đại Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thú VI về việc thực hiện đường lối đổi mới kinh tế và chính sách mở cửa ,nền kinh tế Việt Nam mới thực sự được khởi sắc và bước đầu đạt được những thành tựu kinh tế quan trọng Tuy vậy
do những nguyên nhân lịch sử để lại,đến nay quy mô của nền kinh tế Việt Nam còn rất nhỏ bé cả về chỉ tiêu GDP cũng như kim ngạch xuất nhập khẩu
sô với nền kinh tế thế giới Cơ cấu kinh tế vẫn mang tính chất lạc hậu ,trình độ công nghệ thấp ,vẫn là một nền kinh tế đang ở giai đoạn khai thác tài nguyên
và sức lao động là chính,hàm lượng KH-CN và vốn trong sp còn thấp ,hệ thống cơ sở hạ tần yếu kém gây khó khăn cho việc phân công lao động quốc
tế và thương mại quốc tế
Hiện nay Việt Nam đang tiếp tục thực hiện quá trình đổi mới ,nhưng để đạt được một cơ sở phát triển lâu dài và bền vững còn phải giải quyết những vấn đề kinh tế phức tạp,thực hiện công nghiệp hoá,hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân,chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng năng động và có hiệu quả.Việt Nam có khả năng mở rộng quan hệ buôn bán và hợp tác kinh tế với những thị trường lớn và những cường quốc về kinh tế cũng như công nghệ trên thế giới;đa phương hoá quan hệ thị trường và đối tượng hợp tác,phát triển lĩnh vực kinh tế đối ngoại với tốc độ cao
2.2 Lợi thế so sánh của nền kinh tế Việt Nam
Nguồn nhân lực và con người Việt Nam : Đến năm 1999 dân số nước ta
có trên 76 triệu người với gần 40 triệu người trong độ tuổi lao động ,trong đó còn hàng triệu người chưa có việc làm.Cơ cấu dân số Việt Nam tương đối trẻ nên tỷ trọng người trong độ tuổi lao động cao.Người Việt Nam có mặt amnhj
Trang 5là thông minh sáng tạo,có khả năng nắm bắt nhanh chóng KHCN mới,có khả năng thích ứng được với những tình huống phức tạp.Người Việt Nam vốn có truyền thống cần cù,một nền văn hoá lâu đời và một nền phổ cập giáo dục rộng rãi.Giá nhân công thấp cũng là một lợi thế trong phân công lao động quốc tế Nhưng người Việt Nam cũng có những mặt hạn chế như tác phong công nghiệp còn kém,tính tự do,thể lực,kiến thức,kinh nghiệm quản lý …
Xét vấn đề trên quan điểm toàn diện,nguồn nhân lực và con người Việt Nam là nguồn lực quan trọng nhất và lợi thế lớn nhất của nước ta trong sự trao đổi và phân công lao động quốc tế Nhưng để khai thác hết tiểm năng đó thì phải phát huy những mặt mạnh đồng thời khắc phục những mặt yếu thì nguồn nhân lực và yếu tố con người mới trở thành thế mạnh trong kinh tế đối ngoại.Đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất và gia công hàng xuất khẩu,sự phát triển các sản phẩm công nghệ cao và các dịch vụ là những lĩnh vực đòi hỏi hàm lượng trí tuệ cao thì càng cần thiết phải phát triển sự hợp tác kinh tế và KHCN với nước ngoài
-Tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng
Thiên nhiên cho đát nước ta những tài nguyên đa dạng và phong phú(đất đai,rừng,biển…)tạo cho nước ta một lợi thế khách quan trong các mối quan hệ kinh tế –thương mại quốc tế Đó là những tài nguyên vô giá ,có ý nghĩa quan trọng không những về kinh tế mà còn về văn hoá ,chính trị,mang lại một nguồn ngoại tệ đáng kể,đồng thời góp phần củng cố quan hệ giữa nhân dân ta với nhân dân các nước
-Vị trí địa lý thuận lợi
Việt Nam nằm ở trung tâm Đông Nam á ,trong khu vực châu á thái bình dương ,một khu vực có nền kinh tế phát triển với tôc sđộ cao trong những
Trang 6năm vừa qua.Nằm ở ven bờ biển Thái Bình Dương,với 3200 Km bờ biển,trải dài tren 15 vĩ tuyến với những cảng quốc tế trên những tuyến hàng hải quan trọng.Nằm chắn ngang đường hàng không từ tây sang đông,từ nam sang bắc,với những sân bay quốc tế quan trọng đã tạo thuận lợi cho Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế ,thu hút đầu tư nước ngoài.Tuy nhiên bên cạnh những mặt thuận lợi còn co những khó khăn về nguồn lực để xác định rõ những điều kiện cần có khi sử dụng và khai thác
3 Toàn cầu hoá : xu thế phát triển chủ yếu của nền kinh tế thế giới trong thời đại mới
Công cuộc đổi mới kinh tế ,công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước của Việt Nam diễn ra trong lúc toàn cầu hoá và khu vực hoá đã trỏ thành một trong những xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế Khu vực hoá và toàn cầu hoá có tác dụng hỗ trợ cho nhau,trong đó các quốc gia trêm thế giới đều đang tích cực đan xen và phối hợp các chính sách kinh tế theo hướng mở cửa và tiến tới xoá bỏ hàng rào thuế quan nhằm tạo thuận lợi và tiến tới tự do hoá thương mại Trước đây nền kinh tế các nước tuy có liên hệ
và giao lưu nhưng chưa hội thành một chỉnh thể toàn cầu Trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX việc quốc tế hoá đời sống kinh tế đã bước vào một giai đoạn mới.Nền kinh tế các nước không chỉ giao lưu liên hệ với nhau nó chung
mà còn đan dệt vào nhau để hình thành một nền kinh tế toàn cầu trên cơ sở sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật và vai trò then chốt trong các hoạt động kinh tế quốc tế của các công ty xuyên quốc gia (TNC).Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật nửa cuối thế kỷ
XX đã làm cho khoa học trỏ thành lực lượng sản xuất trực tiếp Cơ sở vật chất
kỹ thuật của các quốc gia ,đặc biệt là các quốc gia công nghịêp phát triển đã
Trang 7có sự thay đổi về chất ,nền sản xuất đẵ đạt được năng suất lao động cao chưa từng thấy và tạo ra một khối lượng của cải khổng lồ với hàm lượng tri thức cao.Khoa học kỹ thuật đã đóng góp tới 50-60% vào tăng trưởng kinh tế ,trong
đó 5/5 là tăng năng suất lao động trên cơ sở những thành tựu của khoa học kỹ thuật Nó góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế các nước theo xu hướng tăng tỷ trọng dịch vụ và công nghiệp.Tỷ trọng của các ngành công nghệ cao lấy công nghệ thông tin là chính – trong các nền kinh tế đang tăng lên nhanh chóng,góp phần đưa nền kinh tế thế giới chuyển sang nền kinh tế tri thức làm thay đổi cơ cấu ngành nghề cơ cấu việc làm tri thức hoá lực lượng lao động Trình độ quản lý kinh tế vĩ mô và vi mô cũng dần được cải thiện
Hoạt động kinh tế quốc tế đương đại về cơ bản là do các TNC tiến hành,đang
là động lực chính của qúa trình phát triển kinh tế và toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới Hiện nay,thương mại bên trong các TNC và giũa các TNC với nhau chiếm khoản 2/3 thương mại quốc tế ,thị truờng lao động hầu như bị các TNC khống chế;4/5 đầu tư trực tiếp ra nước ngoài trên thế giới là do các TNC tiến hành.Đièu đó dẫ thúc đẩy nền sản xuất và thương mại thế giới phát triển Hiện nay kim ngạch xuất khẩu chiếm khoản 1/3 tổng sản phẩm của thế giới Cơ cấu hàng hoá thương mại thế giới đã chuyển dẩn từ công nghiệp truyền thống,sơ chế sang những sản phẩm kỹ thuật cao,giá trị trao đổi vô hình ngày càng tăng.Để thúc dẩy sự tăng truởng của thương mại thế giới ,hiện đã hình thành hơn 60 tổ chức kinh tế khu vực và nhiều tổ chức kinh tế toàn cầu.Trong đó phi
kể đến tổ chức thương mại thế giới WTO với 134 thành viên ,chiếm hơn 90% giá trị thương mại thế giới ,đang là tổ chức thúc đẩy các quốc gia phối hợp các chính sách kinh tế ,thực hiện tự do hoá thương mại ,dịch vụ,đầu tư tài chính tiền tệ để tăng cường thương mại quốc tế ,tăng cường các quan hệ kinh tế quốc tế
Trang 84.Xu huớng toàn cầu hoá và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta thời gian qua
Trong bối cảnh toàn cầu hoá đang tăng lên,các quốc gia tren thế giới ở mức độ này hay mức độ khác đều phụ thuộc lẫn nhau,có quan hệ qua lại với nhau.Vì thế nước nào đóng cửa với thế giới là đi ngược lại với xu thế của thời đạivà khó tránh khỏ lạc hậu.Trái lại,mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế ,tuy phải trả giá ở mức nhất định sông đó là yêu cầu tất yếu hướng tới sự phát triển của mỗi đất nước.Nhận thức được điều đó,tại Đại Hội VI của Đảng (12-1986)
đã quyết định tieens hành đổi mới chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Phải trải qua gẩn năm năm đổi mới , kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước
ta mới bắt đầu vận hành có hiệu quả và đến Đại Hội VII của Đảng(6-1991) tiến hành thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế rộng rãi và cho đến nay đã không ngừng được mở rộng,bước đầu đưa lại những lợi ích đáng kể cho đát nước
4.1 Thông qua các hiệp ước song phương và đa phương,nứoc ta đã có quan hệ thương mại với các nước ở khắp các châu lục
Kim ngạch xuất khẩu của nước ta đã tăng từ 677,8 RUP/USD năm 1986 lên 14,3 tỷ USD năm 2000.Trong cùng thời gian,kim ngạch nhập khẩu cũng tăng tương ững từ 1,83 tỷ RUP/USD lên 15,2 tỷ USD.Từ chỗ nhập siêu tương đối lón vào cuối những năm 80 đến nay cán cân xuất nhập khẩu gần đặt cân bằng.Từ chỗ có rắt ít mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 100 triệu USD đén cuối những năm 90 ,nước ta đã có những mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD như dầu thô,hàng dệt may,giày dép …Nhìn về tương lai,nếu chúng ta thực hiện đày đủ các cam kết của AFTA ,tức là giảm thuế nhập khẩu xuống 0-5% vào năm 2006 ,thì lúc đó hàng hoá của Việt Nam cũng có thể tiêu thụ
Trang 9khắp thị trường ASEAN với dân số khoảng 500 tr ngườivà GDP trên 700 tỷ USD.Từ năm 2010,hàn rào thuế quan của các nước phát triển thuộc APEC (hiện có 21 thành viên chiếm 60% GDP và 45% thương mại quốc tế )sẽ bãi bỏ,nước ta cũng có thể mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá Việt Nam tại các nước đó.Đối với các nước EU cũng vậy,tiềm năng mở rộng thị trường tại các nước đó rát lớn.Nhưng chúng ta có bán được hàng hoá ra bên ngoài hay không còn phụ thuộc vào chát lượng,giá cả…tức là sức cạnh tranh ra sao
4.2 Đi đôi với mở rộng thị trường ra thế giới ,Việt Nam đã tăng khả năng thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài
Kể từ khi luật đầu tư nước ngoài được chính thức ban hành năm 1998,đén cuối năm 2000 đã có trên 700 công ty thuộc 62 nước đã đẩu tư trực tiếp vào Việt Nam với hơn 3000 dự án và tổng số vốn đăng ký trên 36 tỷ USD,trong
đó vốn đã đi vào thực hiện là khoảng 17 tỷ USD.Mặc dù trong những năm gần đay,do ảnh hưởng của cuộc khủng hoản tài chính tiền tệ và cũng do chúng ta chậm tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách,số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giảm mạnh so với giữa những năm 90,song sự đóng góp của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam vẫn có xu hướng gia tăng:tỷ trọng của khu vực này trong GDP đã lần lượt tăng lên từ 6,3% năm 1995;7,4% năm 1996 ;9,1% năm 1997;9,8% năm 1998;10% năm 1999 và trên 10% năm 2000.Ngoài việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ,tăng thêm kim ngạch xuất khẩu ,các dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn tạo ra trên 35 vạn việc làm trực tiếp và hàng chục vạn việc làm gián tiếp
Cùng với các dòng vốn đầu tư trực tiếp,nhiều tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ mới cũng được đưa vào nước ta.Trong những dự án liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài ,các công nghệ được chuyển giao là tương
Trang 10đối hiện đại.Ngoài việc thu hút vốn đầu tự trực tiếp vốn của nước ngoài để tạo
cơ hội tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới,Việt Nam vẫn có thể dùng ngoại tệ có được nhờ xuất khẩu để nhập công nghệ mới về phục vụ cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh.Song vì chúng ta còn nghèo,dự trữ ngoại
tệ còn hạn hẹp,kinh nghiệm tiếp cận thị trường bên ngoài chưa nhiều,trình độ thẩm định công nghệ lại kếm và khả năng quản lý sản xuất kinh doanh với công nghệ cao còn yếu,nên con đường thích hợp hơn với nước ta hiện nay là tiếp tục đổi mới cơ chế và chính sách,tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn để lấy lại nhịp độ gia tăng thu hút vốn đầu tư trực tiếp như những năm trước,qua đó
mà tiếp nhận chuyển giao và sử dụng công nghệ tiên tiến có hiệu quả hơn
5 Những thành tựu về hợp tác kinh tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực Đông Nam A
Sau khi Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ,Việt Nam bị Mỹ cấm vận kinh tế ,đất nước lâm vào tình trạng khó khăn :mất nguồn viện trợ từ các nước XHCN,mất hẳn thị trường xuất khẩu truyền thống.Chính sách mở cửa và hợp tác với bên ngoài,tập trung vào hợp tác trong khu vực gần kề về địa lý(Đông Nam á,Bắc á) để tận dụng lợi thế địa lý – kinh tế (khu vực đã tăng trưởng và có tốc độ tăng trưởng cao nhất và năng động nhất thế giới ) đã làm cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam hồi phục và nhanh chóng có những chuyển biến tích cực
5.1 Do mở rộng hợp tác kinh tế ,dòng FDI từ Đông Nam A và ASEAN đổ vào Việt Nam rất nhanh
Trên thực tế là tăng nhanh nhát và đóng vai trò là nguồn chủ đạo cùng với dồng ODA Vốn đầu tư là nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ,tăng sản lượng của các ngành công nghiệp và tăng kim ngạch xuất khẩu Nhiều nhà phân tích kinh tế cho rằng:nếu không có FDI tốc độ tăng