Từ trước đến nay đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ Nhật Bản, trong đó đặc biệt ngữ pháp, trợ từ, chữ Hán đều được chú trọng và cũng có một vài cuốn từ điển ra đờ
Trang 1VAN HOA - GIAO DUC
TU VUNG TRONG TIENG NHAT
hững năm gần đây, ngôn
ngữ Nhật Bản không còn
xa lạ với chúng ta nữa
Việc học tiếng Nhật đã và đang trở
thành phong trào của giới trẻ Ở nước
ta ngoài những trường đại học chuyên
ngữ có bộ môn tiếng Nhật như trường
Đại học Ngoại ngữ, trường Đại học
Ngoại thương, Đại học Sư phạm
Ngoại ngữ (thuộc Đại học quốc gia)
Nhiều trung tâm tiếng Nhật đã ra đời
để đáp ứng nhu cầu học tập tiếng
Nhật trong cả nước Từ trước đến nay
đã có những công trình nghiên cứu
liên quan đến ngôn ngữ Nhật Bản,
trong đó đặc biệt ngữ pháp, trợ từ,
chữ Hán đều được chú trọng và cũng
có một vài cuốn từ điển ra đời như:
Từ điển mẫu câu, Từ điển Nhật-
Việt Để góp thêm một phần bổ
sung vào những kiến thức chung liên
quan đến giảng dạy và học tập tiếng
Nhật, bài viết dưới đây sẽ trình bày
một vài đặc tính của tiếng Nhật thông
qua từ vựng, một bộ phận quan trọng
không thể thiếu được trong cấu trúc
câu và nghĩa của tiếng Nhật
Như chúng ta đã biết, tiếng Nhật
là một ngôn ngữ khó và phức tạp
Ngoài bộ phận những ký hiệu phiên
âm gọi la chit kana con cé rất nhiều
chữ Hán với nhiều cách phiên âm
khác nhau và phần ngữ pháp phức tạp
bởi các trợ từ và các trật tự câu
Riêng phần từ vựng cũng vậy, chúng
TS HO HOANG HOA Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản
có những đặc tính riêng độc đáo do người Nhật tạo ra mà chúng ta cũng
nên tìm hiểu
Trước hết nói về số lượng và hệ
thống từ vựng Trong tiếng Nhật, tiếng Anh, tiếng Việt.hay bất kỳ một
thứ tiếng nào khác, ngôn ngữ là tập
hợp các từ, những từ đó tập hợp lại tạo thành từ vựng Nói chung, tuỳ đặc
điểm của từng loại ngôn ngữ mà số
lượng từ vựng nhiều hay ít Vậy ngôn ngữ Nhật Bản thì như thế nào?
Khi dé cập đến vấn đề này cũng có người cho rằng trong tiếng Nhật từ vựng có ít Thế nhưng nếu phân tích
kỹ thì hiện nay tiếng Nhật ngoài các
từ yưmafo (tiếng Nhật gốc) người
Nhật còn sử dụng rất nhiều từ được
du nhập từ ngoài vào như từ Hán gốc Trung Quốc và từ ngoại lai (gốc tiếng
Anh) Ví đụ: cũng là từ nhà âm thuần Nhật doc 1a uchi, 4m Han-Nhat doc
là katei va 4m Anh-Nhat doc là homu; hay tt tin tic âm Nhật là Shirase 4m Han-Nhat đọc là hodo và
âm Anh-Nhật đọc là m/⁄s và nếu tính tất cả những từ đó đều là tiếng Nhật thì số từ vựng trong tiếng Nhật rất nhiều
Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã
tiến hành nghiên cứu so sánh ngôn
ngữ của một số nước trên thế giới để tìm hiểu xem người ta biết bao nhiêu
từ của một ngôn ngữ nào đó thì hiểu
được khi giao tiếp với nhau Những
NGHIÊN Cứu NHẬT BảN Vũ ĐÔNG BắC A, SỐ 1(37) 7-2002 37
Trang 2chỉ số đưa ra từ cuốn sách “Tiếng
Nhật hiện đại” cho thấy trường hợp
tiếng Pháp nếu biết được 1000 từ thì
khi hội thoại hiểu được 83,5%
Nhưng ở tiếng Nhật nếu biết được
1000 từ thì khi hội thoại chỉ hiểu
được 60% Cũng như vậy so sánh với
tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha,
người ta đã kết luận rằng ngôn ngữ
Nhật Bản là thứ tiếng phải biết nhiều
từ nhất thì mới có thể giao tiếp được
Cụ thể là tiếng Pháp nếu biết 5000 từ
thì hiểu được 96%, tiếng Anh và Tây
Ban Nha cũng tương tự như vậy, còn
tiếng Nhật để hiểu được 96% phải
biết 22.000 từ Ngoài ra tiếng Nhật
còn một đặc điểm nữa là có rất nhiều
từ xuất hiện trong thơ ca, tiểu thuyết
nhưng những từ đó lại không có
trong từ điển lớn
Về cấu tạo từ của tiếng Nhật, như
trên đã nói, tiếng Nhật Bản có rất
nhiều từ Ví dụ trong cuốn “Đại từ
điển” của nhà xuất bản Heibonsha,
một cuốn từ điển được cho là lớn
nhất, trong đó có khoảng 720.000 từ
Vì sao tiếng Nhật lại có nhiều từ như
vậy? Lấy một ví dụ: từ xe, âm Hán-
Nhat doc 18 shya, tir nay nếu ghép với
từ khác sé cé hatshya nghia 1a “xe
khởi hành”; /joshyz là “lên xe”;
feishya là “dùng xe”; kushya - “xe
không” Những từ ghép như vậy
trong tiếng Anh không có Chẳng hạn
từ hafshya - “xe khởi hành”, tiếng
Anh 1A starting nhung starting không
chỉ giới hạn cho xe cộ Từ kushya -
“xe không”, tiếng Anh là ơn empty
car hay tit taikoshya - “xe ngược
hướng”, tiếng Anh là a car on the
opposite lane pha: thé hiện bằng một
câu dài mới có nghĩa
Từ những ví di như vậy cho thấy
không chỉ với riêng các từ âm Hán-
Nhật mà ngay cả từ gốc Nhật
Ti vung trong tiếng Nhát
(yamato) cũng thấy rằng ngôn ngữ
Nhật Bản là một loại ngôn ngữ có khả năng tạo ra rất nhiều từ mới Các từ
nhu wakaba (14 non), aoba (lá xanh), harusame (mưa phùn)v.v Dù phát âm
theo cách nào thì cũng đều là một từ
Nhưng trong tiếng Anh thì wakaba (14 non) sé 1a young leaves, aoba (lá xanh) sé 1a green leaves, harusame (mưa phùn) sé 14 spring rain Tat ca
đều chia thành hai từ Điều này cho thấy vì số lượng từ nhiều cho nên biểu hiện của tiếng Nhật rất phong
phú, đây là một thuận lợi cho các nhà văn, nhà thơ Nhật Bản
Trong tiếng Nhật có rất nhiều từ thể hiện thiên nhiên, cuộc sống ăn, mặc, ở cũng như làm việc và nghỉ
ngơi theo kiểu suy nghĩ của người Nhật Sau đây chúng ta hãy xem xét từng lĩnh vực
Trước hết nói về những từ vựng biểu hiện thiên nhiên Ở Nhật Bản thiên nhiên biến đổi rất phong phú và
đa đạng, một lý do nữa là người Nhật
rất yêu mến và gần gũi với thiên
nhiên cho nên đặc biệt quan tâm
nhiều đến nó Trong số các từ vựng
nói về thiên nhiên, từ vựng liên quan đến mưa, gió, trăng sao, thời tiết khá nhiều Lấy chữ œme (mưa) làm ví dụ
Từ chữ “mưa” có từ harwsư”e (mưa phiin), samidare (mua tháng năm), yudachi (mua rao), shigure (mua
dâm) Ngoài ra còn có một số cụm
từ nói về mưa thuộc âm Hán-Nhật khác Trong số những từ trên, từ
harusame có nghĩa là mưa phùn, mưa
xuân còn từ sưzare thì cách đùng chữ Hán rất khó, trường hop shigure cũng vậy Cả hai từ trên tuy là chữ Hán nhưng giải thích lại không phù hợp với chữ Hán Ngoài những ví dụ
trên còn nhiều ví dụ nói về từ vựng
lên quan đến mưa khác như
38 NGHIÊN CứU NHAT BAN VA DONG BAC 4, $6 1(37) 2-2002
Trang 3Từ vựng trong tiếng Nhái
amayadori (trú mưa), amakumori
(mưa đám mây), tất cả đều là từ Hán-
Nhật Nếu đem so sánh với tiếng Anh
người ta thấy trong tiếng Anh không
có những từ riêng rẽ như vậy Lấy từ
amayadori làm ví dụ, khi từ này thể
hiện bằng tiếng Anh sẽ là /aking
shelter from the rain Ngoài ra còn
có những từ đặc biệt khác có lẽ chỉ
trong tiếng Nhật mới có Ví dụ:
ameotoko (người đàn ông mưa),
ameonna (người đàn bà mưa) Đây là
hai từ thể hiện sự may mắn hay
không may mắn Từ zrmeotoko hay từ
ameonna nghĩa là khi đi cùng với
người ấy nhất định sẽ gặp mưa Có lẽ
những từ này không có trong ngôn
ngữ các nước khác, mà ngay trong
cuốn Đại từ điển Nhật-Anh cũng
không có Nghe nói thời Minh Trị có
hai nhà thơ nổi tiếng là những người
như vậy Chuyện kể rằng một hôm có
một toà báo mời hai người đến giảng
và đặt kế hoạch cho họ thuyết trình
Tất cả đều cho rằng sự kiện này sẽ
gây nên mưa to Thế nhưng ngoài suy
đoán của mọi người trời lại rất đẹp
Lập tức một bài ký sự nói về sự kiện
này được đăng lên báo và cho rằng có
lẽ “âm gặp âm thành dương” Đây tuy
là một câu chuyện tiếu lâm nhưng
liên quan đến từ vựng, có nghĩa là
những từ như vậy nếu không phải là
người Nhật thì không sao hiểu được
Lại nói về mưa, như trên đã trình
bày, những từ nhu samidare (mua
tháng năm), /s⁄yw (mùa mưa) có
những chỗ cần lưu ý Tuy cả hai đều
nói đến mưa nhưng từ sơưmidare có cả
hai nghĩa có thể là tháng năm mưa
hoặc không mưa Ngược lại với từ
này thì từ /sưyu được sử dụng với
nghĩa là vào mùa mưa hoặc bắt đầu
mùa mưa Tất cả những từ đó đều liên
quan đến nông nghiệp trồng lúa ở
Nhật Bản và cách đặt tên cho mưa trong tiếng Nhật có quan hệ mật thiết với thời tiết mùa màng
Ngoài tên của các loại mưa, tiếng
Nhật còn có các từ biểu hiện các kiểu
mưa rơi khác nhau như mưa xuân lất phất, mưa hè rào rào và từ mùa thu cho đến mùa dong thi mua roi rd rích Nếu tra từ mua roi rd rich trong
từ điển thì có sự giải thích là từ mùa
thu cho đến mùa đông thời tiết lúc mưa, lúc tạnh Khi nghe từ này ngoài nghĩa mưa còn gây cho người ta một
cảm giác lạnh vào đa thị và liên
tưởng tới cảnh lá cây trên núi đổi màu Có thể nói ngoài tên gọi các loại mưa những từ thể hiện thiên
nhiên trong tiếng Nhật vô cùng phong
phú, nhờ đó một thể loại thơ ngắn độc đáo của Nhật ra đời, đó là thơ
Haiku Thơ Haiku chủ yếu miêu tả sự
biến đổi đa dạng của thiên nhiên, đề
tài của nó xoay quanh bốn mùa Xuân,
Hạ, Thu, Đông cùng với cảnh gió
trăng, thời tiết
Ngoài những từ vựng kể trên,
trong tiếng Nhật còn có những từ
vựng liên quan đến nông nghiệp Ở
Nhật Bản, tên của cây lúa được phân
biệt khác với các thực vật khác vì nó
là một loại ngũ cốc quan trọng và là lương thực chủ yếu có tên gọi là meshi hoặc gohan (cơm) Ở' Trung
Quốc hay Việt Nam gạo cũng là lương thực quan trọng cho nên cũng
có sự phân biệt như vậy
Những câu chuyện về chi dé phan biệt từ cơm hay gợo thường xảy ra ở
Nhật Ví dụ khi đến hiệu ăn có người gọi: “Cho cơm (gohan) nhé”, lập tức
người phục vụ hỏi lại: “Có phải rưisu
(rice) khéng a?”, khi này người
khách lại cố gắng nhấn mạnh:
“Không, là cơm (gohan) cơ” Người phục vụ nghe vậy rất ngạc nhiên và
NGHIÊN Cứu NHậT BảN Và ĐÔNG BAC 4, SỐ 137) 2-2002 3
Trang 4vội vàng bưng mâm đi Có nghĩa là
người phục vụ cho rằng rice và gohan
là hai thứ khác nhau chứ không phải
cùng nghĩa là cơm
Ngoài ra, lúa gạo còn được cho là
thứ lương thực quan trọng gắn liên
với đồng ruộng cho nên ở Nhật chữ /a
(ruộng) thường được sử dụng cho
việc đặt tên người Ví dụ: Tanaka,
Tamura, Yoshida, Ueda » Maeda,
Yamada
Một lĩnh vực từ vựng khác cũng
cần xem xét, đó là những từ liên quan
đến ăn, mặc, ở Trước hết nói về ăn
(shyoku) Trong các món ăn của Nhật
Bản thì các món nấu là nhiều nhất
Để phân biệt từng loại chúng ta có
nếu là cơm thì phải dùng từ rhổi
(taku), canh thì phải nấu (niru), rứng
thì phải /zộc (yuderu) và nước nóng
thì phải đưn sói (wakasu) Vì sao lại
có sự khác nhau trong cách nói như
vậy Đó là vì mỗi từ có một nghĩa
riêng phải phù hợp với đối tượng của
nó Ví dụ như chữ luộc (yuderu) và
chữ nấu (niru) Nghĩa của chữ luộc là
sau khi /zóc thì nước đó đổ đi không
dùng nữa, còn sấu thì phần nước
không đổ đi mà lại ăn Còn trong
trường hợp tiếng Anh tất cả chỉ dùng
một từ là bø¿/ mà không phân biệt gì
cả Nhưng ngược lại đối với từ nướng
(yaku) trong khi tiếng Nhật dùng
một cách đại khái thì tiếng Anh lại có
sự phân biệt cụ thể, chẳng hạn như
những tir roast va boil, bake va toast
Tit bake néi vé qué trinh 1am bénh,
còn toast thi bé vao 1d nướng làm cho
bánh giòn Vẻ sự phân biệt này
người Nhật rất đại khái Có những
mon nhu ghiuniku no sukiyaki (du
bò) hoặc sazưe no tsuboyaki (ốc biển
nướng) nhưng thực sự có nướng hay
không cũng không rõ rằng, còn tiếng
Từ vựng trong tiếng Nhát
Anh trong cả hai trường hợp trên đều
goi 1a boil
Về mặc, người Nhật có một đặc
điểm là phân chia thân thể thành hai
phần nửa trên và nửa dưới, do đó
những từ liên quan đến nó cũng có sự phân biệt như vậy Tất cả mọi từ liên
quan đến nửa phần trên được phân biệt rất cụ thể Ví dụ mũ và cái che mặt ngày xưa gọi 1a kabuto déu ding
từ đội (kaburu), còn kính và mặt nạ thi deo (kakeru), do kimono hoac dé
Au là mặc (kiru), còn các loại như
gdng tay va nhân thi deo (hameru)
do choàng và mạng che lại phải khoác (matou) Nói tóm lại phần trên
phân biệt rất phức tạp, còn nửa phần
thân dưới lại hết sức đơn giản Chẳng
hạn như quần thụng truyền thống, vấy, tất, giầy, guốc, tất cả đều sử
dụng thống nhất một từ là xổ (haku)
Điểu này cho thấy có lẽ người Nhật quan niệm phần dưới thân thể không sạch sẽ bằng phẩn trên cho nên không muốn nhắc đến nhiều
Trong đời sống của người Nhật Ban có một vấn đề được quan tâm
nhiều đó là sự khác nhau giữa sang
trọng, lịch sự và bình dân, nghèo Những ngôn từ mà nhà văn hoá nhân
chủng học nổi tiếng của Nhật
Yanaghida Kunio đã dùng những từ như hare và ke để biểu thị điều này
Hưre là từ chỉ những thứ sang trọng
va lich su, con ke 1a tit chi những thứ
bình thường Sự khác nhau rõ rệt này
thể hiện trong tất cả các lĩnh vực ăn, mặc, ở trong đời sống của người
Nhật
Về ăn, những thứ thuộc từ hare JA
Sekihan (xôi đỏ) và omocbi (bánh nếp) Mặc thì có monphut (áo hoa) va
hakama (áo choàng) 6 thì có từ
yashiki (phòng trải thâm) hoặc
kyakuma (phòng khách) Những sự
40
NGHIÊN CỨt NHẬT BđN Và ĐÔNG Bắc á, số 1(37) 2-2002
Trang 5Tit vung trong tiếng Nhật
phân biệt này cũng giống với các
biểu hiện kết thúc câu ở dạng đa,
desu, gozaimasu là cách nói lịch sự
khác với cách nói bình thường
Sự phân biệt giữa từ /ờm việc
(hataraku) và chơi (asobu)
Một đặc điểm nổi bật của người
Nhật là tính thần lao động, Trong
cuốn sách “Mười điều luận bàn về
tính nhân dân” của tiến sĩ Hagaya
Ichi, những từ như “tỉnh thần trung
quân ái quốc” hoặc “thanh khiết” hay
được nhắc đến nhưng những từ nói về
người lao động lại không thay dé cập
tới Có thể tiến sĩ Hagaya cho rằng
việc người Nhật tích cực làm việc
như ngày hôm nay là điều đương
nhiên không cần phải bàn tới chăng?
Nhưng dù sao ở đây cũng thể hiện
tỉnh thần yêu lao động của người
Nhật
Sau chiến tranh, tính nhân dân của
người Nhật Bản được bàn tới nhiều và
cũng đã có người phê phán người
Nhật thế này, thế nọ nhưng có một
điểu ai cũng phải công nhận đó là
người Nhật rất cần cù và tính cần cù
đó đã được thể hiện thông qua tiếng
Nhat Có thé lay từ làm việc
(hataraku) làm ví dụ Trong tiếng
Nhat tir /am việc ngược lại với từ chơi
(asobu) Và từ hataraku cha tiếng
Nhật khác với từ work của tiếng Anh
Ví dụ như chữ học tiếng Anh cũng
gọi là work, nhưng người Nhật lại có
một cách nói khác Chẳng hạn có
người than phiên rằng con gói tôi chỉ
biết học mà không làm gì cả ờ đây
học cũng là làm việc nhưng người
Nhật lại không cho như vậy bởi vì từ
hataraku trong tiếng Nhật có sự
nghiêm khắc, chặt chẽ hon tit work
của tiếng Anh và vì là tiếng Nhật do
người Nhật tạo ra cho nên nó mang
phong cách Nhật
Về từ chơi (asobu) Từ này khác
với từ plzy trong tiếng Anh Play 1a
làm gì đó (nani wo suru) nhưng
asobu lại không làm gì cả (nanni mo sinai) cho nên về mặt nào đó nó có nghĩa xấu Sở đĩ từ asobw trong tiếng
Nhật có nghĩa xấu vì theo cách nghĩ của người Nhật asobu (choi) 1a lam những việc vô bổ (mudana koto wo shiteiru) Có một từ nữa cũng liên
quan dén tit haturaku đó là từ isomu (chăm chỉ) Nếu tra từ điển thì từ tsomu được giải thích là tương đương với từ haghemu = endeavor Nhưng haghemu va isomu là hai từ có ý nghĩa khác nhau, bên haghemu 1a lao động miệt mài (cố gắng) còn bên
isomu lại vừa lao động, vừa thấy niềm vui trong công việc Nhưng dù nói cách nào thì cả hai từ đều thể hiện tính cách của người Nhật, đé là
tỉnh thần yêu lao động
Tóm lại, dù là các từ thể hiện thiên nhiên, thể hiện sinh hoạt hàng ngày hay thể hiện công việc cũng như thể hiện vui chơi, tất cả đều nói lên đức tính cần cù, yêu lao động, yêu thiên nhiên và sự tỉnh tế trong tính cách của người Nhật
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ikuko Sakairi Nihongo wo osieru (Day tiếng Nhật) Baberu bureku Tokyo Sutsubansho, 1996
2 Kendai Ichi Haruhako Nihongono Honsitsui Nihon Hoso Sutsuban Kyokai, 1981
3 Akutsu Satoru
Gitaigo Kabusiki Kaisha
1994
4 Matsui Yoshikazu Nihonju no
Kagaikata Kokusaikor
Giongo Aruku,
NGHIÊN Cứu NHậT BẢN Vả ĐÔNG BắC á, SỐ 137) 2-2002 41