phạm thị tuyết Bộ môn Kinh tế xây dựng Khoa Vận tải - Kinh tế Trường Đại học GTVT Tóm tắt: Thông qua việc phân tích đánh giá hiện trạng quản lý hoạt động đầu tư xây dựng các công trình
Trang 1hiện trạng quản lý đầu tư xây dựng
các công trình giao thông ở nước ta
vμ những tồn tại cần nghiên cứu
để nâng cao hiệu quả đầu tư
KS phạm thị tuyết
Bộ môn Kinh tế xây dựng Khoa Vận tải - Kinh tế Trường Đại học GTVT
Tóm tắt: Thông qua việc phân tích đánh giá hiện trạng quản lý hoạt động đầu tư xây dựng
các công trình giao thông ở nước ta những năm gần đây, tác giả đưa ra những tồn tại cần khắc
phục để nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng của ngμnh trong tương lai
Summary: By analysing and assessing actual managemen of construction of and
investment in road works in our country in recent years, the author puts forward shortcomings
that need overcoming to enhance the transport sector’s construction - investment effectiveness
in the future
KT-ML
i thực trạng đầu tư các công trình giao thông những năm gần đây
Trong năm năm gần đây, với phương châm: Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng xã hội đủ mạnh
làm tiền đề cho chương trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nhà nước ta đã đặc biệt
quan tâm đến việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng GTVT
Tính từ năm 1999 đến năm 2004, với tổng vốn đầu tư XDCB của toàn ngành là: 63.860,83
tỷ đồng, bình quân hàng năm khoảng: 10.650,47 tỷ đồng, chiếm khoảng 17 - 18% tổng vốn đầu
tư xây dựng cơ bản, trong đó: vốn ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 44%, vốn tín dụng đầu tư
chiếm 12%, vốn nước ngoài chiếm 44% Chi tiết nguồn vốn đầu tư toàn ngành những năm gần
đây được thể hiện trong biểu 1
Biểu 1 Vốn đầu tư toμn ngμnh GTVT
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 1999 2000 2001 2002 2003 2004
Tổng số 6.334,23 7.566,1 12.178,4 9.068,5 13.897,6 14.816
Vốn trong nước 1.998 3.010,9 5.193,2 3.546 6.154 8.040
Vốn nước ngoài 3.379,67 3.601,6 5.419,4 3.529,7 5.648,8 6.303
Vốn TDĐT 955,57 953,6 1.565,8 1.992,8 1.496,6 473
Riêng ngành đường bộ, từ năm 1999 đến năm 2004 với tổng vốn đầu tư: 42.148,15 tỷ đồng
chiếm tỷ trọng khoảng 66% trong tổng vốn đầu tư của toàn ngành Tốc độ tăng vốn đầu tư hàng
Trang 2năm của ngành đường bộ khoảng 15%
Trong 5 năm qua ngành đường bộ đã đầu tư nâng cấp cải tạo được 4.840km đường quốc
lộ, xây dựng mới được 3.039km đường tỉnh và đường huyện, xây dựng lại được 53.617 mét dài cầu; Xây dựng mới 15.767km đường GTNT, nâng cấp 54.407 km đường GTNT theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật, xây dựng mới và xây dựng lại được 215.733 mét dài cầu trên đường GTNT
Ngoài ra việc xây dựng các bến xe, bãi đỗ ở các thành phố, thị xã, thị trấn cũng dần được hoàn thiện Kết quả đầu tư xây dựng của ngành đường bộ được thể hiện trong biểu 2
Bảng 2 Kết quả đầu tư xây dựng ngμnh đường bộ
Kinh phí (tỷ đồng) 4.993,62 8.037,74 5.985,21 9.12,41 9.778,56
Xây dựng mới
Đường (km) 3.554 4.050 451,37 2.672 3.039
Nâng cấp, cải tạo
Đường (km) 1.650 2.500 2.660 2.180
Cầu (m) 14.670 15.000 19.447 19.500
GTNT
Nâng cấp (km) 26.750 3.000 25.383 2.274
Kết quả hoạt động đầu tư xây dựng toàn ngành GTVT đã góp phần đáng kể cho phát triển các ngành kinh tế và nhu cầu đi lại, cải thiện đời sống của nhân dân Tính từ năm 1999 đến nay, tốc độ tăng trưởng bình quân về vận chuyển và luân chuyển hàng hoá gần 12%/năm, tăng trưởng khối lượng vận chuyển hành khách khoảng 6%, luân chuyển hành khách tăng bình quân khoảng 13%/ năm
KT-ML
Riêng ngành đường bộ, tốc độ tăng trưởng về khối lượng vận chuyển hàng hoá khoảng 11%/năm, luân chuyển hàng hoá tăng khoảng 12%/năm Khối lượng vận chuyển và luân chuyển hành khách tăng bình quân 7%/năm Hiện tượng ùn tắc xe trên đường giảm đáng kể
ii đánh giá thực trạng quản lý hoạt động đầu tư xây dựng các công trình giao thông
Nhìn chung hoạt động đầu tư xây dựng các công trình giao thông bao gồm cả nguồn vốn ODA và các nguồn vốn khác được thực hiện theo đúng qui hoạch, có sự sắp xếp thứ tự ưu tiên,
bố trí cơ cấu hợp lí giữa các ngành, các vùng, các dự án thực hiện vượt kế hoạch, chất lượng ngày càng được nâng cao, đặc biệt đối với những dự án trọng điểm Nhiều công trình đã phát huy hiệu quả cao như: dự án QL5, QL 51, QL 14 đoạn Ban Mê Thuột - Chơn Thành, QL 1 đoạn
Hà Nội - Vinh, Thành phố Hồ Chí Minh - Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh - Nha Trang, v.v
Để đánh giá hoạt động đầu tư của ngành, chúng ta cần tiến hành đánh giá hoạt động từng giai đoạn của quá trình đầu tư, từ đó tìm ra những mặt tồn tại cần khắc phục
1 Công tác lập và triển khai quy hoạch
Cơ sở hình thành lên các dự án là các qui hoạch phát triển GTVT vùng và chuyên ngành
Trang 3đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt Nghị định số 08/2005/NĐ-CP ngày 824/1/2005 và Luật
Xây dựng 2003 đã có các qui định về quản lý qui hoạch Song công tác lập qui hoạch phát triển
GTVT vẫn còn những tồn tại:
Những tồn tại chủ yếu:
- Công tác xây dựng qui hoạch còn chậm và tầm nhìn chưa xa
Tính đến cuối năm 2004, cả nước chỉ có 34/64 tỉnh, thành phố đã có quy hoạch phát triển
GTVT trên địa bàn được phê duyệt, các tỉnh còn lại hầu như không có quy hoạch phát triển
GTVT Các địa phương tuy có quy hoạch nhưng đa số tầm nhìn của quy hoạch (mốc quy hoạch)
chỉ tính đến năm 2010
Đối với Thủ đô Hà Nội do qui hoạch tầm nhìn chưa xa cùng với các nguyên nhân chủ quan
khác nên việc đầu tư CSHT GTVT quá chậm so với sự tăng trưởng nhu cầu đi lại dẫn đến tình
trạng ùn tắc giao thông thường xuyên và tình trạng tai nạn giao thông xảy ra trầm trọng hiện
nay
- Các phương án quy hoạch còn lạc hậu, thiếu sự thống nhất từ Trung ương đến địa
phương, chậm được điều chỉnh
Sự phối hợp của các ngành các cấp trong xây dựng quy hoạch còn yếu Các quy hoạch
của trung ương chưa được phổ biến đến các địa phương và lấy ý kiến địa phương, dẫn đến tình
trạng có dự án của địa phương khi triển khai thực hiện không phù hợp với quy hoạch chung nên
phải điều chỉnh
Các quy hoạch chưa được điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với những thay đổi về phát triển
kinh tế xã hội và hoàn cảnh mới nên giải pháp quy hoạch mất tính thời sự không đáp ứng được
nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
KT-ML
- Quy hoạch lập ra nhưng thiếu tính khả thi (Quy hoạch treo)
Nội dung của quy hoạch không đầy đủ, ít chú trọng đến các giải pháp để thực hiện qui
hoạch dẫn đến tình trạng qui hoạch lập ra không thể thực hiện được Ví dụ trong Qui hoạch
Giao thông của thành phố Hà Nội đến năm 2010 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo
quyết định số 108/1998/QĐ - TTg ngày 20/6/1998, đã qui hoạch hệ thống ba đường vành đai 1,
2, 3 của Hà Nội song đến nay đường vành đai 1 vẫn chưa được thực thi vì chưa có giải pháp cho
việc đền bù, di dân do kinh phí quá lớn
- Công tác quản lý thực hiện quy hoạch kém, kế hoạch đầu tư không gắn với quy hoạch
được duyệt
Đối với các địa phương tuy có quy hoạch được duyệt, song trong quá trình thực hiện, việc
lập kế hoạch đầu tư không gắn với các phương án được phê duyệt trong quy hoạch Ví dụ: Quy
hoạch phát triển Không gian Đô thị Thủ đô Hà Nội đã khẳng định khu vực hạn chế phát triển từ
vành đai 2 vào trong và dân số trong khu vực này đến 2010 sẽ giảm so với hiện nay nhưng
trong thực tế dân số của khu vực này vẫn tăng và nhiều khu trung cư cao tầng vẫn được phép
xây dựng trong khu vực này Thậm chí ngay trong vùng quy hoạch xây dựng vành đai 1 trong
khi công tác đền bù di dân đang gặp rất nhiều nhiều khó khăn chưa có giải pháp thực thi thì vẫn
có những ngôi nhà vĩnh cửu cao tầng tiếp tục được xây dựng
Trang 42 Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư
Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ban hành ngày 08 - 07 - 1999 và Nghị định số: 16/2005/ NĐ - CP ban hành ngày 07/02/2005, Luật Xây dựng năm 2003 đã có quy định về trình tự, nội dung lập dự
án đầu tư xây dựng công trình và nội dung chủ yếu của báo cáo đầu tư xây dựng công trình, song quá trình thực hiện vẫn còn các tồn tại sau:
- Nội dung lập dự án đầu tư sơ sài, chưa đầy đủ:
+ Đối với dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách Nhà nước:
Không ít dự án đầu tư được lập chỉ mang tính hình thức, thủ tục là chủ yếu, vì vậy nội dung của hồ sơ dự án chủ yếu tập trung vào phân tích kỹ thuật, tương tự như hồ sơ thiết kế sơ bộ trước đây, các nghiên cứu dự báo nhu cầu vận tải, phân tích kinh tế, đánh giá tác động môi trường tự nhiên và xã hội được tiến hành sơ sài
+ Đối với các dự án sử dụng các nguồn vốn vay, nguồn vốn BOT trong nước, Ngoài những thiếu sót như đã nêu trên, phần phân tích tài chính cũng sơ sài, số liệu phân tích thiếu chính xác, đầy đủ Chủ đầu tư lập dự án sao cho đạt được mục đích để có được Giấy phép đầu tư
+ Đối với các dự án đầu tư có vốn đầu tư nước ngoài: Nội dung lập dự án tương đối tốt (vì có sự tham gia của tư vấn nước ngoài) song số liệu dự báo để phân tích kinh tế - xã hội thiếu
độ tin cậy, phân tích kinh tế xã hội, môi trường còn nhiều thiếu sót
- Mức độ tin cậy của các số liệu dự báo dùng để tính toán trong dự án thấp:
Nhìn chung các dự án được lập, các số liệu dự báo kinh tế, dự báo lưu lượng xe thông qua trong tương lai có mức độ tin cậy rất thấp
KT-ML
Đa số các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước có số liệu dự báo lưu lượng xe thông qua thấp hơn thực tế Điều này dẫn đến quy mô công trình đầu tư thấp hơn so với nhu cầu, vì vậy sau khi dự án hoàn thành không bao lâu đã xảy ra hiện tượng ùn tắc xe phải tiến hành nâng cấp Ví dụ như các dự án nằm trên quốc lộ 1 đoạn từ thành phố Hồ chí Minh đi Cần thơ
Các dự án BOT thì ngược lại, các số liệu dự báo để phục vụ phân tích kinh tế xã hội lại quá cao so với thực tế, điều này làm tăng tính khả thi của dự án để dễ dàng được thẩm duyệt Thí dụ như số liệu thu nhập bình quân đầu người, số liệu dự báo tăng trưởng kinh tế v.v
- Sự hợp lý của các giải pháp kỹ thuật đề cập trong dự án thấp
Có những dự án đề xuất các giải pháp kỹ thuật chưa khả thi gây tốn kém không cần thiết
Đặc biệt đối với các giải pháp công nghệ xây dựng, nhiều dự án đưa ra giải pháp sử dụng vật liệu ở vị trí xa hơn thực tế để làm tăng chi phí vận chuyển hoặc đưa ra giải pháp kỹ thuật công nghệ phức tạp hơn so với thực tế để làm tăng tổng mức đầu tư, có dự án lại đưa ra các giải pháp thiết kế không phù hợp với tình hình khai thác gây lãng phí vốn đầu tư
- Tính khả thi của các giải pháp kinh tế - xã hội, môi trường thấp Hiện nay, trong nội dung của các dự án đầu tư đã đề cập đến đánh giá tác động của dự án
đến đời sống xã hội và môi trường sinh thái, song không ít dự án chỉ phân tích một cách đại khái nên khi triển khai thực hiện phải thay đổi thiết kế hoặc phải bổ sung một số hạng mục để hạn
Trang 5chế tác động xấu của dự án đến xã hội, môi trường
- Công tác thẩm định dự án còn mang tính thủ tục
Có những dự án không khả thi nhưng vẫn được duyệt, khi thực hiện phải ngừng lại vì nhiều
lý do khác nhau Theo kết quả thẩm định dự án một số năm gần đây chưa có một dự án nào
khẳng định là dự án không khả thi Điều đó cho thấy nghiên cứu của tư vấn nhiều khi không
khách quan mà chỉ là minh hoạ cho ý kiến chủ quan của Chủ đầu tư Vì vậy năm 2003 có 33 dự
án (chiếm 7,8%), năm 2004 có 24 dự án (chiếm 5,8%),%) phải ngừng triển khai vì các nguyên
nhân khác nhau
Nguyên nhân tồn tại
Các nguyên nhân chủ yếu gây ra những tồn tại nêu trên có thể chia thành 3 nhóm chính:
Thể chế quản lý còn có những bất cập, trình độ quản lý còn yếu, vận dụng các công cụ QLDA
hữu hiệu còn nhiều hạn chế
Thể chế:
- Hiệu lực pháp lý của các văn bản pháp lý yếu nên có một số dự án không tuân thủ các qui
định về trình tự, nội dung lập, thẩm tra, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, về sự phù hợp với
chiến lược, qui hoạch trong việc ra quyết định đầu tư
- Chỉ đạo của Trung ương đối với các địa phương về công tác quản lý đầu tư CSHTGTVT
còn yếu kém: Mặc dù đã có sự phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương về quản lý đầu
tư cơ sở hạ tầng giao thông vận tải cũng như xây dựng qui hoạch Song qui hoạch GTVT giữa
Trung ương và địa phương nhiều khi không thống nhất,
KT-ML
- Các thủ tục quan liêu lμm chậm quá trình ra quyết định, phê duyệt:
Trình độ quản lý
- Tầm nhìn chiến lược của Bộ GTVT còn hạn chế: Đây chính là nguyên nhân của tình trạng
chiến lược phát triển GTVT có những điểm chưa đáp ứng được chiến lược phát triển kinh tế xã
hội, trong khi đó yêu cầu phát triển CSHTGTVT là phải đi trước một bước
- Năng lực của các Cục quản lý chuyên ngμnh về hoạt động đầu tư xây dựng CSHT còn
yếu kém, nên gặp khó khăn khi đứng ra quản lý các dự án đầu tư của ngành mình với tư cách là
Chủ đầu tư
- Năng lực của các tổ chức, của đội ngũ cán bộ lập vμ quản lý qui hoạch còn yếu nhất là ở
các cục chuyên ngành và ở các địa phương Năng lực của tư vấn còn yếu, khả năng ứng dụng
công nghệ mới chưa cao
- Kỹ thuật và công cụ quản lý dự án còn nhiều hạn chế, vận dụng các kĩ thuật và công cụ
QLDA hữu hiệu còn hạn chế
Đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ sơ hạ tầng GTVT, việc ứng dụng khung lôgíc như một
công cụ quản lý dự án là rất tốt song hiện nay nó chưa được sử dụng trong quản lý các dự án
đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GTVT do Việt Nam thực hiện
3 Hoạt động giai đoạn thực hiện đầu tư
Giai đoạn thực hiện đầu tư chiếm tỷ trọng chi phí lớn (khoảng 85 - 90%) trong toàn bộ chi
Trang 6phí của dự án, đồng thời kết quả của giai đoạn này quyết định đến chất lượng khai thác của công trình trong tương lai Tuy nhiên trong thời gian qua, ngành GTVT còn nhiều tồn tại trong quản lý hoạt động ở giai đoạn này
Các tồn tại chủ yếu:
- Công tác quản lý khảo sát thiết kế:
Chất lượng tài liệu khảo sát thiết kế có tính quyết định đến hiệu quả của công trình đầu tư nói chung và chất lượng khai thác sử dụng công trình nói riêng Vì vậy phải hết sức coi trọng công tác quản lý hoạt động khảo sát thiết kế công trình xây dựng Nhìn chung các công trình xây dựng do các đơn vị KSTK của Bộ GTVT thực hiện thiết kế đạt chất lượng tốt, các công trình còn lại của địa phương do các tổ chức tư vấn địa phương hoặc của tư nhân chất lượng kém dẫn
đến sự cố khi thi công phải thay đổi thiết kế hoặc bổ sung hạng mục công việc
Thẩm định thiết kế:
Hiện tượng chất lượng hồ sơ thiết kế kỹ thuật không đảm bảo vẫn được phê duyệt, khi thi công mới phát hiện sai sót và phải sửa đổi làm kéo dài thời gian thực hiện dự án, làm tăng tổng mức đầu tư
- Công tác chọn thầu xây dựng
Về mặt hình thức: cơ chế đấu thầu đã tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu Thông qua đấu thầu, Chủ đầu tư chọn được nhà thầu có đủ năng lực để triển khai thực hiện đầu tư xây dựng công trình Nhưng trên thực tế thực hiện, ở một số nơi, vẫn xảy ra hiện tượng đấu thầu chỉ mang tính hình thức pháp lý Hiện tượng dàn xếp hoặc thông đồng vẫn còn phổ biến nên nhiều nhà thầu không đủ năng lực vẫn trúng thầu dẫn đến chất lượng xây dựng công trình không đảm bảo
KT-ML
- Hoạt động thi công vμ giám sát chất lượng xây dựng
Nhìn chung, hoạt động này trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ, song vẫn còn một số tồn tại sau:
+ Đa số các dự án tiến độ thi công của các nhà thầu chậm so với kế hoạch của Chủ
đầu tư đề ra, hiệu quả thi công kém, không tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về kế hoạch bảo vệ môi trường và an toàn giao thông trong quá trình thi công
+ Phối hợp không đồng bộ giữa các bên tham gia dự án: Sự phối hợp không đồng bộ giữa Chủ đầu tư, các Nhà tư vấn và các bên có liên quan khác vẫn thường xuyên xảy ra, nhất là trong thực hiện các thủ tục phê duyệt, khâu cấp vốn, giải phóng mặt bằng, giải quyết những thay đổi thiết kế, …
+ Cơ chế kiểm tra, giám sát kém hiệu quả: Kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ rất quan trọng quyết định sự thành công của dự án, song các qui định pháp lý không đầy đủ để hình thành một cơ chế kiểm tra hiệu quả trong giai đoạn xây dựng Năng lực của tư vấn giám sát rất yếu bỏ qua nhiều lỗi thi công hiện trường có dự án gây hậu quả nghiệm trọng
- Công tác nghiệm thu bμn giao cho đơn vị quản lý khai thác
Nhìn chung công tác nghiệm thu bàn giao diễn ra đúng theo quy định, song một số nơi
Trang 7công tác này còn mang tính hình thức, nhất là đối với các công trình do địa phương quản lý
Nguyên nhân
Có thể xem chia nguyên nhân của các tồn tại trên theo 3 nhóm chính:
- Nguyên nhân về thể chế:
+ Hiệu lực pháp lý của hệ thống các văn bản pháp lý qui định nhiệm vụ, trách nhiệm
của các tổ chức tham gia quản lý đầu tư xây dựng CSHT GTVT rất yếu
+ Chưa có được cơ chế phối hợp hiệu quả giữa các bên tham gia dự án như Chủ đầu
tư, tư vấn, nhà thầu, chính quyền địa phương, cơ quan thẩm định, phê duyệt dự án…
Giám đốc điều hành dự án chưa chú trọng đến việc xây dựng một cơ chế phối hợp hiệu quả
giữa các bộ phận khác nhau, giữa các bộ phận bên trong và bên ngoài dự án, thiếu các qui định
pháp lý có tính hiệu lực cao cũng như cơ chế hoà nhập hiệu quả để quản lý các hoạt động này
+ Thiếu sự cạnh tranh để phát triển: Các công ty tư vấn và công ty xây dựng trong
ngành GTVT chủ yếu là các doanh nghiệp Nhà nước vì vậy vẫn được ưu tiên và phân chia công
việc để thực hiện, các thành phần kinh tế khác rất nhỏ yếu vì vậy tính cạnh tranh lành mạnh để
phát triển tiến tới hội nhập rất kém Tiến trình cổ phần hoá các công ty tư vấn và xây dựng đang
được thực hiện song tiến triển rất chậm
- Nguyên nhân về năng lực quản lý
+ Năng lực của một số Ban Điều hành dự án trong việc quản lý dự án còn hạn chế
+ Ban Quản lý dự án đóng vai trò của một chủ đầu tư hơn là của một cơ quan quản lý
điều hành dự án Chưa thể hiện được vai trò của Giám đốc điều hành dự án là quản lý, điều phối
các bộ phận khác nhau của dự án để đảm bảo cho dự án đạt được các mục tiêu và thoả mãn
các giới hạn về thời gian và chi phí; thiếu trực tiếp kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện dự án về
tiến độ, tài chính, chất lượng, quản lý sự thay đổi, giải quyết các xung đột, quản lý môi trường
của dự án và quản lý rủi ro của dự án… mà chỉ như một cơ quan kiểm tra giám sát các nhà
thầu Trong khi đó một Ban Quản lý dự án đồng thời còn quản lý nhiều dự án khác nhau,
KT-ML
+ Năng lực của nhà thầu yếu về tài chính, thiết bị, phòng thí nghiệm hiện trường và
thiếu cán bộ đầu đàn trong tổ chức quản lý theo qui trình công nghệ mới
- Năng lực của tư vấn giám sát rất yếu, chưa có tổ chức tư vấn giám sát riêng
- Đối với các dự án đầu tư xây dựng CSHT GTVT việc lập kế hoạch thực hiện dự án
còn mang tính hình thức: kế hoạch thực hiện từng gói thầu do các nhà thầu lập Hầu hết các nhà
thầu lập kế hoach bằng cách ước tính đơn giản dựa vào các định mức hoặc kinh nghiệm nên
thiếu chính xác và tính khả thi
4 Hoạt động giai đoạn kết thúc dự án, đưa công trình vào sử dụng
Những tồn tại:
- Hồ sơ quá phức tạp ở mức độ không cần thiết, lưu trữ khó khăn;
- Khâu nghiệm thu sản phẩm xây dựng còn chưa chặt chẽ nhiều công trình không đảm bảo
đúng như hợp đồng vẫn được nghiệm thu
Trang 8- Không chú trọng vào việc phân tích đánh giá toàn bộ dự án trên quan điểm mức độ thoả mãn các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của dự án mà chỉ nặng về nghiệm thu khối lượng công việc thực hiện
- Công tác thanh quyết toán, bàn giao đưa công trình vào khai thác chưa được chú trọng
đúng mức và giải quyết kịp thời Nhiều dự án đã được đưa vào khai thác vẫn chưa được quyết toán
- Công tác phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế sau dự án chưa được thực hiện
Hiện nay chưa có các tổng kết (hoặc nghiên cứu) nào nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động
đầu tư xây dựng CSHT GTVT để rút ra bài học kinh nghiệm chung cho công tác QLDA đầu tư xây dựng CSHT GTVT
Nguyên nhân
Các nguyên nhân của các tồn tại trong giai đoạn này cũng tập trung vào các nguyên nhân
về thể chế, năng lực quản lý và trình độ chuyên môn, việc thiếu vận dụng các kỹ thuật và công
cụ quản lý dự án tiến tiến
- Hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng CSHT GTVT tập trung nên sinh ra
tệ nạn quan liêu cửa quyền là nguyên nhân gây ra sự chậm trễ trong thanh quyết toán, và trong việc nghiệm thu sản phẩm không đúng chất lượng, khối lượng không chính xác
- Hệ thống các văn bản pháp lý tương đối đầy đủ làm cơ sở cho QLDA giai đoạn kết thúc
dự án song hiệu lực pháp lý rất yếu
KT-ML
- Thiếu cơ sở pháp lý cho việc hình thành cơ chế kiểm tra giám sát, đánh giá tổng kết công tác đầu tư xây dựng CSHT GTVT một cách thường xuyên, các qui định về trách nhiệm không rõ ràng làm cho công tác báo cáo thực hiện giám sát đầu tư còn mang tính hình thức
- Thiếu qui định bắt buộc về phân tích hiệu quả kinh tế sau dự án nên không thể đánh giá
được các dự án sau khi kết thúc đầu tư đưa vào sử dụng một thời gian thì mức độ đạt mục tiêu
đề ra có đúng với dự kiến hay không Đồng thời cũng không thể có các đánh giá, phân tích, tổng kết thực tế và rút ra bài học cho công tác QLDA đầu tư xây dựng CSHT GTVT
III Kết luận
Trên đây là một số tồn tại trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng các công trình giao thông trong thời gian qua Chúng ta cần nghiên cứu tìm những biện pháp khắc phục hữu hiệu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả đầu tư xây dựng để ngành giao thông vận tải thực sự góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước
Tài liệu tham khảo
[1] Các báo cáo tổng kết công tác hμng năm của Bộ GTVT (từ năm 1999 - 2004)♦