1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BTN luật dân sự Việt Nam 2 EHOU

15 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sưu Tầm 01 Bản Án Về Hợp Đồng Mua Bán Tài Sản Đã Được Tòa Án Nhân Dân Có Thẩm Quyền Giải Quyết
Người hướng dẫn PTS. Phạm Hùng Cường, ThS Nguyễn Thanh Vân
Trường học Viện Đại Học Mở Hà Nội
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Báo cáo nhóm môn học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 639,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI BÁO CÁO NHÓM BÀI TẬP NHÓM MÔN HỌC LUẬT DÂN SỰ 2 Lớp CHỦ ĐỀ SƯU TẦM 01 BẢN ÁN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN ĐÃ ĐƯỢC TÒA ÁN NHÂN DÂN CÓ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT Giảng viên ThS Phạm Hù.

Trang 1

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

BÁO CÁO NHÓM BÀI TẬP NHÓM MÔN HỌC:

LUẬT DÂN SỰ 2

Lớp:

CHỦ ĐỀ: SƯU TẦM 01 BẢN ÁN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN ĐÃ ĐƯỢC TÒA ÁN NHÂN DÂN CÓ

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT.

Giảng viên: ThS Phạm Hùng Cường ThS Nguyễn Thanh Vân

Danh sách các thành viên trong nhóm:

Tháng 9/ 2021

Trang 2

MỤC LỤC

I.LỜI MỞ ĐẦU……… 1

II NỘI DUNG 2

1 Tóm tắt nội dung bản án số 16/2021 DS – ST, tranh chấp hợp đồng vay tài sản, TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định 2

2 Những vấn đề pháp lý đã được toà án giải quyết 4

3 Quan điểm có nhóm về nội dung giải quyết của tòa án 7

3.1 Trình tự thủ tục……… 8

3.2 Nội dung……… ,9

III.KẾT LUẬN……….10

IV PHỤ LỤC……… 10

Trang 3

I LỜI MỞ ĐẦU

Trang 4

Quyển về sở hữu tài sản là một quyền mang tính hiến định, theo đó khoản 1 Điều 32 Hiến pháp 2013 quy định: Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Việc quy định quyền sở hữu và được bảo vệ tài sản sở hữu là một trong chế định phù hợp với quyền con người và thực tiễn phát triển xã hội Theo Điều 158 BLHS 2015 quy định như sau : “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật”, trong đó : Quyền định đoạt theo Điều 192 BLDS 2015 quy định “Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản” Trong đó quyền định đoạt có thể thực hiện bằng hai cách: quyết định số phận về mặt thực tế hoặc quyết định số phận về mặt pháp lý của tài sản Đây là một trong những quyền làm căn cứ phát sinh các giao dịch dân sự, bởi từ thực tiễn lao động sản xuấ t con người cần có tư liệu sản xuất, vì vậy việc vay, mượn tài sản là một hình thức phổ biến trong xã hội với rất nhiều lợi ích đầu tiên giúp người cho vay có thể sử dụng tài sản của mình để sinh lợi thông qua lãi suất, người vay có thể sử dụng tài sản vay được

để phát triển kinh tế, phục vụ sinh hoạt trong một giai đoạn nhất định Tuy nhiên thực tiễn cho thấy hoạt giao dịch vay tài sản là giao dịch rất dễ xảy ra tranh chấp mặc dù đã có giao dịch từ trước Với vai trò của mình nhà nước không chỉ tiến hành thực hiện hoạt động quy định nhằm bảo vệ quyền lợi mà còn thông qua cơ quan tòa án trực tiếp tiến hành phân xử các tranh chấp trong quan hệ vay, mượn tài sản

Để có thể làm rõ việc giải quyết của tòa án đối một vụ việc tranh chấp cụ thể trong bài tiểu luận này sẽ tập trung làm rõ bản án số 16/2021 DS – ST, tranh chấp hợp đồng vay tài sản, TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định

Trang 5

II NỘI DUNG

1 Tóm tắt nội dung bản án số 16/2021 DS – ST, tranh chấp hợp đồng vay tài sản, TAND huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

Bà L là dì ruột của anh Lê Minh L2, chị Lê Thị Mỹ L1 là vợ cũ của anh L2 và cũng là cháu dâu của bà Bà có cửa hàng bán thức ăn gia súc, trong thời

kỳ hôn nhân L1 - L2 có nuôi heo và mua thức ăn gia súc tại cửa hàng của bà Tính đến tháng 6/2017 còn nợ bà tiền mua thức ăn gia súc (cám heo) là 63.901.000đ Trong đó nợ cũ đến năm 2015 là 42.500.000đ, L1 đã trả cho bà được 20.000.000đ còn nợ lại 22.500.000đ Từ đầu năm 2016 đến tháng 6/2017 L1 - L2 mua thêm cám heo với số tiền nợ là 41.401.000đ, chị L1 trực tiếp hỏi mua thức ăn gia súc, ghi sổ nợ, anh L2 nhiều lần đến chở thức ăn gia súc về, cả trong thời điểm từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2017 anh L2 đều có đến chở thức ăn gia súc về nhà Như vậy, tổng cộng chị L1, anh L2 nợ bà 63.901.000đ (chị L1 có xác nhận số nợ trong sổ theo dõi của bà), đến nay chưa trả mặc dù bà đã đòi nhiều lần Nay bà yêu cầu chị L1, anh L2 thanh toán cho bà số tiền 63.901.000đ dứt điểm một lần và không yêu cầu tính lãi Anh Lê Minh L1 trình bày trong thời kỳ hôn nhân anh và chị L1 có chăn nuôi heo và mua thức ăn gia súc (cám heo) của dì Phạm Thị L nhưng mua trả tiền không nợ gì bà L Từ tháng 10/2016 anh và chị L1 cắt đứt quan hệ phần

ai nấy sống, trong thời gian này chị L1 nuôi heo mua cám heo bà L và nợ tiền bà L anh không biết Nay bà L yêu cầu anh và chị L1 thanh toán số tiền

nợ cám heo 63.901.000đ thì anh không đồng ý, khoản nợ này là nợ riêng của chị L1, chị L1 phải tự trả

Trang 6

Chị Lê Thị Mỹ L1 trình bày: Chị thống nhất như lời trình bày và yêu cầu của bà Phạm Thị L Vì bà L là dì ruột của anh Lê Minh L2 chồng cũ của chị, chị chăn nuôi heo và mua cám heo ở của hàng của bà L và tổng nợ đến tháng 6/2017 với số tiền là 63.901.000đ Bà L có ghi sổ theo dõi, chị có biết và xác nhận số nợ này Khoản nợ này là tiền nợ trong thời kỳ hôn nhân nên chị và anh L2 có nghĩa vụ trả cho bà L số tiền trên Tuy nhiên, do hoàn cảnh khó khăn nên chị xin được trả dần hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ bắt đầu từ tháng 3/2021 cho đén khi hết nợ Trong quá trình trả nợ nếu vi phạm nghĩa vụ tháng nào thì bà L có quyền yêu cầu thanh toán dứt điểm một lần số tiền còn lại

Dựa trên hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, Tòa án Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L; tuyên xử: Buộc anh Lê Minh L2, chị

Lê Thị Mỹ L1 mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị L với tiền là 31.905.500đ (Ba mươi mốt triệu chín trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng) về khoản nợ chung trong việc mua thức ăn gia súc chưa thanh toán Về tiền lãi:

Bà L không yêu cầu nên miễn xét Kể từ ngày bên có quyền thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Bác yêu cầu của chị Lê Thị Mỹ L1 chỉ chấp nhận trả nợ dần hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ vì bà L không đồng ý, không phù hợp với quy định của pháp luật Bác yêu cầu của anh Lê Minh L2 về việc không chấp nhận khoản

nợ trên là nợ chung, không đồng ý trả nợ cho bà L vì chị L1, bà L2 không đồng ý, không phù hợp với thực tế và quy định của pháp luật

Trang 7

Bà Phạm Thị L không phải chịu án phí và được hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.598.000đ (Một triệu năm trăm chín mươi tám nghìn đồng) theo biên lai số 0004436 ngày 25/02/2021 do Chi cục thi hành án dân

sự huyện Tây Sơn thu Anh Lê Minh L2, chị Lê Thị Mỹ L1 mỗi người phải nộp án phí với số tiền là 1.597.525đ (Một triệu năm trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm hai mươi lăm đồng)

2 Những vấn đề pháp lý đã được toà án giải quyết

Hoạt động tố tụng dân sự nhằm giải quyết các yêu cầu, tranh chấp của công dân, theo đó trong việc giải quyết yêu cầu tranh chấp vay, mượn tài sản cần giải quyết các vấn đề cụ thể như: xác định có quan hệ giao dịch trên thực

tế hay không, quyền và nghĩa vụ cụ thể của các bên trong giao dịch như thế nào, cuối cùng là xác định trách nhiệm, nghĩa vụ pháp lý cụ thể của nguyên đơn và bị đơn

Đầu tiên trong vụ án này tòa án đã xác minh được có quan hệ vay mượn tài sản Cụ thể bà L là dì ruột của anh Lê Minh L2, chị Lê Thị Mỹ L1 là vợ cũ của anh L2 và cũng là cháu dâu của bà Bà có cửa hàng bán thức ăn gia súc, trong thời kỳ hôn nhân L1 - L2 có nuôi heo và mua thức ăn gia súc tại cửa hàng của bà Tính đến tháng 6/2017 còn nợ bà tiền mua thức ăn gia súc (cám heo) là 63.901.000đ Điều này cũng được chị Lê Thị Mỹ L1 là vợ cũ của anh L2 và cũng là cháu dâu của bà xác nhận: “Bà L có ghi sổ theo dõi, chị có biết

và xác nhận số nợ này” Đồng thời L1 cũng không có ý kiến phản đối với quan hệ đã xác lập trên là sai sự thật Đồng thời trường hợp cho vay tài sản giữ bà L và L1, L2 không đượ c lập và kí kết bằng văn bản tuy nhiên giao dịch này vẫn có giá trị pháp lý Cụ thể Điều 401 Bộ luật dân sự 2015 quy định

về hình thức của hợp đồng dân sự như sau:

Trang 8

“1 Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không qui định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định

2 Trong trường hợp pháp luật có qui định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các qui định đó

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác”

Như vậy trường hợp giao dịch giữa bà L và L1, L2 vẫn có hiệu lực bởi nó là hợp đồng được giao kết bằng lời nói, theo đó ghi nhận việc giao tài sản của bà

L cho L1, L2 Trường hợp cho vay tài sản này có không nằm trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản, công chứng, chứng thực

Thứ hai, tòa án xác định yêu cầu khởi kiện của bà L là hợp pháp Vì Tính đến tháng 6/2017 còn nợ bà tiền mua thức ăn gia súc (cám heo) là 63.901.000đ Trong đó nợ cũ đến năm 2015 là 42.500.000đ, L1 đã trả cho bà được 20.000.000đ còn nợ lại 22.500.000đ Từ đầu năm 2016 đến tháng 6/2017 L1 -L2 mua thêm cám heo với số tiền nợ là 41.401.000đ, chị L1 trực tiếp hỏi mua thức ăn gia súc, ghi sổ nợ, anh L2 nhiều lần đến chở thức ăn gia súc về, cả trong thời điểm từ tháng 01/2017 đến tháng 06/2017 anh L2 đều có đến chở thức ăn gia súc về nhà Như vậy, tổng cộng chị L1, anh L2 nợ bà 63.901.000đ (chị L1 có xác nhận số nợ trong sổ theo dõi của bà), đến nay chưa trả mặc dù

bà đã đòi nhiều lần

Trang 9

Vì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình yêu cầu khởi kiện của bà L là

có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật về bảo vệ quyền tài sản Yêu cầu khởi kiện của bà L là hợp pháp, Tòa án ra quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà L

Thứ ba, tòa án xác định nghĩa vụ trả nợ của vợ chồng L1, L2: : Anh Lê Minh L2 và chị Lê Thị Mỹ L1 đã ly hôn theo bản án dân sự sơ thẩm số 01/2019/HNGĐ-ST ngày 01/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn nhưng phần tài sản chung chưa giải quyết Chị L1 khai hai bên ly thân từ đầu năm 2017 nhưng hai con chung vẫn sống với chị L1, do chị L1 nuôi dưỡng, anh L2 thừa nhận trong thời kỳ hôn nhân có nuôi heo, có mua thức ăn gia súc của bà L Đến 01/01/2019 anh L2 và chị L1 mới chính thức ly hôn, trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 06/2017 (khoảng thời gian phát sinh

nợ mới 41.401.000đ) vẫn là trong thời kỳ hôn nhân, chị L1 lại còn đang nuôi hai con nhỏ nên áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có căn cứ xác định đây là khoản nợ chung của chị L1 và anh L2 trong thời kỳ hôn nhân Cụ thể Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

“Điều 37 Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng, vợ chồng có các nghĩa vụ chung về tài sản sau đây:

1 Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do vợ chồng cùng thỏa thuận xác lập, nghĩa

vụ bồi thường thiệt hại mà theo quy định của pháp luật vợ chồng cùng phải chịu trách nhiệm;

2 Nghĩa vụ do vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình;

3 Nghĩa vụ phát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;

Trang 10

4 Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình…” Cụ thể trong trường hợp trên việc L1, L2 mua cám của bà L nhằm đáp ứng hoạt động chăn nuôi, phục vụ phát triển kinh tế chung của gia đình Như vậy trường hợp nghĩa vụ thanh toán tiền cám do vợ chồng L1, L2 thực hiện là nghĩa vụ chung Theo đó tòa án uộc anh Lê Minh L2, chị Lê Thị Mỹ L1 mỗi người phải có

nghĩa vụ trả cho bà Phạm Thị L với tiền là 31.905.500đ (Ba mươi mốt triệu

chín trăm lẻ năm nghìn năm trăm đồng) về khoản nợ chung trong việc mua

thức ăn gia súc chưa thanh toán L1, L2 không phải chịu tiền lãi do bà L không yêu cầu

3 Quan điểm có nhóm về nội dung giải quyết của tòa án

3.1 Trình tự, thủ tục:

Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã căn cứ đầy đủ theo quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng Dân sự: Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định Trường hợp bị đơn đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ các quy định tại Điều 227,

228 BLTTDS Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt

vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau: Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật; Vì vậy trong trường hợp này Tòa án tiến hành xét xử khi vắng mặt nguyên đơn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, quy định tại “Điều 228 Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên tòa

Trang 11

Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:

1 Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt

2 Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng có người đại diện tham gia phiên tòa

3 Các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d và đ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật này.”

3.2 Về nội dung:

Trang 12

Việc tòa án căn cứ theo quy định ghị HĐXX căn cứ các Điều 147, 227, 228

và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; áp dụng các Điều 357, 430, 433, 440 và

468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L: buộc anh Lê Minh L2 và chị Lê Thị Mỹ L1 có nghĩa vụ trả cho bà

Phạm Thị L 63.901.000đ (Sáu mươi ba triệu chín trăm lẻ một nghìn đồng) về

khoản nợ mua thức ăn gia súc chưa thanh toán; theo đó, anh L2 và chị L1 mỗi người phải trả cho bà L: 31.950.500đ Không chấp nhận yêu cầu của chị L1 về việc chấp nhận khoản nợ nhưng xin được trả dần hàng tháng mỗi tháng 1.000.000đ, vì

bà L không đồng ý và không phù hợp với quy định pháp luật Không chấp nhận yêu cầu của anh L2 về việc không công nhận khoản nợ 63.901.000đ nói trên là nợ chung, không đồng ý trả nợ vì không phù hợp với thực tế và quy định pháp luật Bởi căn cứ vào việc giao kết hợp đồng bằng lời nói khi mua hàng cám giữa chị L

và L1, L2 có thể xác định việc bà L giao cám dựa trên sự tin tưởng của bà về hoạt động thanh toán nợ của L1, L2 đối với mình Đồng thời dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ của bên vay Theo đó bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.Trường hợp bên vay không thể trả vật thì

có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý

Ngày đăng: 20/02/2023, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w