1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Buổi 11 tây tiến (đoạn 3)

12 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi 11 Tây Tiến (đoạn 3)
Trường học Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Bài thuyết trình
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 415,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Tài liệu khóa học 2K4 – LUYỆN VIẾT CHUYÊN SÂU (Cô Trần Thùy Dương)   Lưu hành nội bộ | Trang 1  Khóa học 2K4 – LUYỆN VIẾT CHUYÊN SÂU Giai đoạn 2 – PHÂN TÍCH TÁC PHẨM ( tháng 9 2021 – tháng 2 2022[.]

Trang 1

Khóa học 2K4 – LUYỆN VIẾT CHUYÊN SÂU Giai đoạn 2 – PHÂN TÍCH TÁC PHẨM ( tháng 9.2021 – tháng 2.2022)

Livestream lúc 21 giờ 00, thứ 3 & thứ 6, hằng tuần

——————————

Buổi 11 Bài thơ TÂY TIẾN (Tiết 4).

4 câu thơ đầu:

Bức chân dung về binh đoàn Tây Tiến

2 câu thơ đầu: Dáng vẻ bên ngoài của người lính

Tây Tiến

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

- Dáng vẻ bên ngoài được miêu tả một cách hết sức

ấn tượng: “không mọc tóc”, “quân xanh màu lá”

+ Cho thấy sự chủ động, chối bỏ hiện thực nghiệt

ngã, không màng đến sự tác động của môi trường

bên ngoài

+ Cách nói đảo: “Tây Tiến đoành binh” cho thấy

sự mạnh mẽ, nghe có cảm giác “đặc chủng đặc

tuyển” hơn; tạo nên dấu ấn đặc riêng của người

lính Tây Tiến

hiện thực chung của thời đại, mà còn gợi được cái

nhìn hết sức tài tử, lãng mạn của người lính; Nó

tạo nên cái chất riêng: rất ngang tàn, rất kiêu

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

tinh thần rất hào hũng, được viết với một tâm hồn lãng mạn Quang Dũng

đã không né tránh sự thật, không né tránh sự đau đớn ấy, không né tránh

sự mất mất đày bi thương ấy Thế nhưng, vượt lên cái bi thương ấy là một tinh thần bi tráng, hay nói cách

4 thơ sau:

Nói về sự hi sinh của người lính Tây Tiến một cách đầy bi tráng

- Câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, Câu thơ

có 7 chữ, mà cả 7 chữ đều hiển hiện sự mất mát, chữ nào cũng nói đến sự hư vô, chia cắt

+ Chữ “mồ” nghe rất thê lương, rất đâu xót, nghe

vô cùng lạnh lẽo; nó côi cút, nó nhỏ bé, nghe nó thật tội nghiệp Có cái gì đó rất hư vô

+ “Viễn xứ” gợi sự xa xôi, hẻo lánh + “Rải rác” gợi cảm giác rất xót xa, nhưng người lính nằm xuống cứ như những cột cây số nằm dài suốt con đường hành quân

- Câu thơ: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, cũng nói về cái chết, nhưng được nói với giọng điệu mạnh mẽ và đầy kiêu hãnh

+ “Chẳng tiếc”: là cách nói phủ định, thực ra rất tiếc Đời xanh mỗi người chỉ một làm sao không

Trang 2

hãnh, rất dũng cảm của người lính, họ ốm những

không yếu, ngược lại rất kiêu hùng

khác bi mà không lụy Đó là một khúc tráng ca về sức mạnh và ý chí của đoàn quân Tây Tiến, của hồn thơ Quang Dũng

tiếc? Nhưng “chẳng tiếc” bởi đó là lựa chọn, bởi chết

vì lý tưởng con đẹp thì cần chi phải tiếc

thực nghiệt ngã và với lựa chọn hào hùng

- Câu thơ “Áo bào thay chiếu anh về đất”

+ Hình ảnh “áo bào” là một hình ảnh ước lệ quen thuộc Một hình ảnh thơ nói lên một hiện thực nghiệt ngã nói về sự hi sinh của những người lính Tây Tiến

+ Họ nằm xuống trong sự thiếu thốn không có nổi một manh chiếu, không có nổi một quách quan tài Sống như thế nào thì ngã xuống cũng như thế, cũng vẫn là bộ quân trang bạc sờn vai áo

+ Cách nói trang trọng hóa, khi gọi tấm áo nằm xuống ấy là áo bào Không phải ai khi nằm xuống cũng được mặc áo bào trở về với đất mẹ

+ “Về đất”, chứ không phải chết hay hi sinh Gợi sự

ra đi rất thanh thản, nhẹ nhõm, lặng lẽ và bình yên

- Câu thơ: “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”, gợi

sự đau đớn tiễn đưa của thiên nhiên

+ Hình ảnh “Sông Mã” xuất hiện hai lần, mở đầu cho nỗi nhớ chơi vơi và kết lại cho một cảm giác hụt hẫng, và tự đây tất cả cũng sẽ chơi vơi

+ Từ “gầm” vừa thể hiện sự dữ dội của thiên nhiên, vừa thể hiện được một nỗi đau “lẻ bạn” thiên nhiên,

2 câu thơ sau: Vẻ đẹp tâm hồn của những người

lính Tây Tiến

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

- Đó là một giấc “mộng” công danh đầy mạnh mẽ,

đầy kiêu hùng

+ “Mắt trừng” là một ánh mắt đầy quyết tâm, là

đôi mắt của ý chí, của nghị lực, là đôi mắt sẵn sàng

xả thân vì Tổ quốc

- Đó là một giấc “mơ” mang vẻ đẹp đầy lãng mạn

của người lính Tây Tiến khi xếp bút nghiên lên

đường ra mặt trận

+ “Dáng kiều thơm” là là một hình ảnh thơ rất

thực, đong đầy tình người đã nuôi dưỡng sự dũng

cảm và cái hào hùng của người lính

+ Chính giấc mơ về “dáng kiều thơm” đã cho thấy

tâm hồn của những người lính dù bom đạn chiến

trường khốc liệt cũng không hề bị chai sạn, mà vẫn

rung động, vẫn rất tình tứ, rất xao xuyến, rất đời

nhưng cũng rất tình

Trang 3

của dòng sông MÃ, cũng vừa thể hiện được cái chất hùng cả của rừng già

+ “Khúc độc hành” là khúc “tiến quân ca” của thiên nhiên dành riêng cho những người lính; của người

ở lại gửi người ra đi, và cũng là của người ra đi tiếp bước người ở lại

hiện thực và vẻ đẹp bi tráng của những người lính Tây Tiến Con người ra đi rất thanh thản, còn thiên nhiên thì đau đớn; hiện thực thì nghiệt ngã, mà con người thì rạng ngời

PHÂN TÍCH CHI TIẾT PHÂN TÍCH THÀNH VĂN

4 câu thơ đầu: Bức chân dung về

binh đoàn Tây Tiến

- Hai câu thơ nói về dáng vẻ bên

ngoài của người lính Tây Tiến

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

+ Dáng vẻ bên ngoài được miêu ta

một cách hết sức ấn tượng với “không

mọc tóc”, “dữ oai hùm”

+ Đây là cách nói cho thấy sự chủ

động, chối bỏ hiện thực nghiệt ngã,

Ta thường nói về Quang Dũng với những lời ngợi ca hết sức “bay bổng”, bay bổng như chính tâm hồn ông vậy Bởi ngoài làm thơ, Quang Dũng là con người hết sức đa tài, ông vẽ tranh, soạn nhạc và viết cả văn Thế nên, không thể không thừa nhận rằng: Thơ Quang Dũng cũng đậm sắc màu hội họa, cũng giàu âm điệu như nhạc được Đến với bài thơ Tây Tiến, sau khi đã khơi dậy lòng người bằng nỗi nhớ chơi vơi, Quang Dũng không khắc họa luôn vẻ đẹp người lính Tây Tiến, mặc dù chỉ cần nghe tên bài thơ cũng biết hình ảnh thơ Quang Dũng muốn thể hiện ở đây là hình ảnh người lính Hình tượng trung tâm của bài đến tận khổ 3 mới được xuất hiện Có lẽ, phải xây một phông nền thật dữ dội, phải đẩy cái hùng vĩ của mảnh đất Tây Bắc lên cao thì mới thấy được hết những gì thuộc về vẻ đẹp của người lính,

có lẽ phải khắc họa như thế ta mới thấy được những con người gắn mình ở mảnh đất “lam sơn chướng khí” này mới kiên cường làm sao, kiêu hùng đến mức nào

Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tafihoa, Quang Dũng đã khắc họa thnahf công hình tượng người lính Tây Tiến trên cái nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội và mĩ lệ Hình ảnh người lính mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng được thể hiện trước hết, qua bức chân dung ở bốn câu thơ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Trang 4

không màng đến sự tác động của yếu

tố bên ngoài

+ Cách nói đảo ngữ: “Tây Tiến đoàn

bình”, cho thấy dấu ấn riêng, đặc

trưng riêng của người lính thuộc về

binh đoàn Tây Tiến

chỉ cho thấy hiện thực chung của

thời đại, mà còn gợi được cái nhìn

hết sức tài tử, lãng mạn của người

lính; Nó tạo nên cái chất riêng: rất

ngang tàn, rất kiêu hãnh, rất dũng

cảm của người lính, họ ốm những

không yếu, ngược lại rất kiêu hùng

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nói về Quang Dũng rằng: “Một người chiến sĩ trẻ, tài hoa trong đoàn quân Tây Tiến ngày đó, sau này là nhà thơ Quang Dũng” Lời khẳng định đầy yêu thương ấy, đã một lần nữa cho thấy, để có được những tiếng thơ đầy hiện thực như thế, Quang Dũng đã phải thấm lắm cái hiện thực gian khổ này của mảnh đất Tây Bắc cũng như chính đồng đội của ông Không phải ngẫu nhiên, Quang Dũng lại có thể viết viết được hai câu thơ miêu

tả dáng vẻ bên ngoài của người lính Tây Tiến một cách chân thực được như thế

Trước khi đi sâu vào vẻ về ngoài đầy ấn tượng kia, chúng ta thấy rõ một tín hiệu nghệ thuật vô cùng đặc biệt nằm ở

“Tây Tiến đoàn binh” Ta thắc mắc rằng, tại sao không phải là “đoàn binh Tây Tiến” hay “Tây Tiến đoàn quân” hoặc

“đoàn quân Tây Tiến”? Có lẽ, khi dùng “binh đoàn” thì nghe mạnh mẽ hơn, nghe có cảm giác “đặc chủng đặc tuyển” hơn Bởi văn học giai đoạn này là tập trung khắc họa những con người của thời đại, anh dũng nhất, quả cảm nhất

“Đoàn quân” sẽ mang nghĩa số đông, còn đây “đoàn binh” là những con người đặc tuyển nhất của đoàn quân ấy Hơn thế, khi danh từ “Tây Tiến” được đẩy lên đầu, tạo nên một giọng điệu hết sức riêng biệt, một phong cách riêng chỉ có

ở lính đoàn binh Tây Tiến, chỉ những con người gắn mình với mảnh đất này mới có những nét đặc trưng ấy

Nếu ai đã từng yêu sao hình ảnh người lính sốt đến mức vàng da trong bài thơ “Cá nước” của Tố Hữu:

Giọt giọt mồ hôi rơi Trên má anh vàng nghệ Anh vệ quốc quân ơi Sao mà yêu anh thế!

Thì có lẽ cũng rất ám ảnh về hiện thực nghiệt ngã đó, căn bệnh sốt rét rừng Đât là căn bệnh rất đáng sợ trong thời

kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Nó phổ biến đến mức, người ta còn ví von thế này, “phi bất rét bất thành bộ đội” Nghĩa là không sốt rét không phải là bộ đội, chưa sốt rét chưa phải là bộ đội Và khi đã bị sốt rét rừng, thì chắc chắn sẽ mất máu đến mức rụng tóc và xanh vàng da Và đã có rất nhiều bài thơ, viết về căn bệnh quái ác này Trong thơ Chính Hữu với “Đồng chí” cũng đã từng nhắc:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”

Hay trong bài thơ “Những tháng năm ở rừng”, Nguyễn Anh Nông cũng có nói:

“Những tháng năm ở rừng

Trang 5

Sốt rét tái màu da Đồng đội mấy người gục ngã Hồn thiêng gửi lại lá cây rừng”

Và Quang Dũng cũng nói về cái hiện thực tàn nhẫn ấy với hai câu thơ rất hay theo cách riêng của mình:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Cách nói của Quang Dũng thú vị ở chỗ, ông viết một cách hết sức phiêu bạt “không mọc tóc” Nếu nói “Tây Tiến đoàn binh bị rụng tóc”, thì câu thơ sẽ mang một màu sắc khác Nói “bị rụng tóc” sẽ mang chiều hướng bị sự bị sự tác động của yếu tố bên ngoài, nhưng nói rằng “không mọc tóc” thì nó cho ta thấy, đó là một sự chủ động Chủ động không mọc tóc, chứ không phải vì hiện thực mà rụng mất tóc Chủ động để tóc không mọc, tức là chối bỏ hiện thực tàn nhẫn của thiên nhiên Chủ động tạo nên một nét riêng biệt, một dáng vẻ thú vị như thế Cũng như vậy, với cách nói “quân xanh màu lá” cũng không còn ở góc độ hiện thực nữa, mà được nhìn với một cách nhìn hết sức tài tử, hết sức lãng mạn Với hình ảnh thơ này, ta có thể hiểu rằng, những người lính Tây Tiến vì thiếu thốn, đói khát, vì sốt rét rừng mà da mặt xanh ngắt giống như trong “Lên Cấm Sơn”, Thôi Hữu viết:

Cuộc đời gió bụi pha xương máu Đói rét bao lần xé thịt da

Khuôn mặt đã lên màu tật bệnh Đâu còn tươi nữa những ngày hoa!

Thế nhưng, chúng ta sẽ thấy rằng, ở những vần thơ của Quang Dũng nó không chỉ là cái màu của bệnh tật, màu của sốt rét rừng, mà nó còn tạo nên được cái tướng mạo riêng, cái tinh thần tiêng của những người lính Tây Tiến, đó là

vẻ “oai hùm” Đó là sự lựa chọn của những người lính Tây Tiến để tạc nên cái chất ngang tàn, kiêu dũng, kiên cường Chính cách nói ấy đã cho thấy lính Tây Tiến ốm mà không hề yếu, bệnh tật nhưng vẫn rất đỗi kiêu hùng, đầy khí phách

Như vậy, với hai câu thơ tả dáng vẻ bên ngoài của người lính Tây Tiến, ta như thấy được cái hiện thực chung của thời đại, của cuộc sống kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ, nhưng đồng thời, nhà thơ Quang Dũng cũng rất khéo léo thể hiện được cái nhìn riêng của mình về cái hiện thực ấy Một hiện thực, mà như chính nhà thơ Quang Dũng đã chia sẻ: “Hồi ấy, trong đoàn chúng tôi có rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu Trong điều kiện gian khổ, thiếu thốn nên

bộ đội không những đau ốm mà còn chết vì sốt rét cũng nhiều” Thế nên, tâm lý đối diện với hiện thực của những

Trang 6

người lính đã cho chúng ta hiểu hơn rằng: Đôi khi, hiện thực không phải là thứ hiện thực mà chúng ta nhìn thấy một cách đơn thuần, mà hiện thực phải cảm nhận được, phải nhận thức được về nó mới là hiện thực của văn học của thơ

ca Bởi thế, thơ mới là thơ, “thơ mới chính là cánh cửa mở ra một cái gì đó mà thường được phong kín dưới bức tường của cuộc sống” Và bức tường về cuộc sống được phong kín qua cảm nhận của những người lính Tây tiến, qua sự nhận thức của các anh về hiện thực gian khổ kia đã cho người đọc thấy một vẻ đẹp rất đỗi hào hùng

2 câu thơ sau: Vẻ đẹp tâm hồn của

những người lính Tây Tiến

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

- Đó là một giấc “mộng” công danh

đầy mạnh mẽ, đầy kiêu hùng

+ “Mắt trừng” là một ánh mắt đầy

quyết tâm, là đôi mắt của ý chí, của

nghị lực, là đôi mắt sẵn sàng xả thân

vì Tổ quốc

- Đó là một giấc “mơ” mang vẻ đẹp

đầy lãng mạn của người lính Tây

Tiến khi xếp bút nghiên lên đường ra

mặt trận

+ “Dáng kiều thơm” là là một hình

ảnh thơ rất thực, đong đầy tình

người đã nuôi dưỡng sự dũng cảm và

cái hào hùng của người lính

+ Chính giấc mơ về “dáng kiều

thơm” đã cho thấy tâm hồn của

những người lính dù bom đạn chiến

trường khốc liệt cũng không hề bị

chai sạn, mà vẫn rung động, vẫn rất

Nhà thơ Vũ Nho từng nhận xét sự thành công của bài thơ Tây tiến rằng: “Bài thơ thành công nhwof kết hợp hài hòa giữa bút pháp lãng mạn và hiện thực Nếu chỉ có hiện thực trần trịu, chắc Tây tiến không thể có sức cuốn hút mạnh

mẽ Tuy nhiên, nếu chỉ có chất lãng mạn thì Tây Tiến cũng khó mà được đón nhận rỗng tài đến thế” Quả đúng như vậy, nếu cứ viết về hiện thực trần truị như thế, liệu ta có đủ thức vượt qua những đau thương mất mát trong chiến tranh hay không? Thế nên, có lẽ những gam màu lãng mạn đã tủng hòa bức tranh về hình ảnh người lính Thế nên, ngay sau hai câu thơ viết hiện thực gian khổ thiếu thốn kia, là hai câu viết về vẻ đẹp tâm hồn của những chàng trai Tây Tiến nồng nàn, tình tứ mà vô cùng ấm áp, đầy mộng đầy thơ, đầy nhạc, đầy mơ:

“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Câu thơ nhắc đến một giấc “mộng”, mộng lập công danh của những người lính trẻ xuất thân từ mảnh đất Hà thành Những chàng trai đã từng làm nên một “60 ngày đêm” thần thánh Những chàng trai đã xếp bút nghiên lên đường đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc Và họ đã ra đi trong một miền kí ức:

Nhớ đêm ra đi, đất trời bốc lửa

Cả kinh thành nghi ngút cháy sau lưng Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng Hồn mười phương phất phơ cờ đỏ thắm Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm

Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa Vậy thì đây vẫn có được coi mà một giấc mộng công danh, giấc mộng của những con người quyết theo đuổi cái lý tưởng lập công danh, và nó cũng rất phù hợp với những chàng trai mới mười tám, đôi mươi Giấc mộng công danh ấy được thể hiện qua đôi “mắt trừng” đầy ý chí quyết tâm, đầy nghị lực “Mắt trừng” ở đây là đôi mắt thể hiện niềm tin,

là đôi mắt với sắc thái quyết tâm xả thân vì Tổ quốc Như vậy, kho nói “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới” là Quang

Trang 7

tình tứ, rất xao xuyến, rất đời nhưng

cũng rất tình

Dũng đã không chỉ nhìn thấy mà còn nhìn thấu được vào bên tỏng tâm hồn của những người lính trẻ Những chàng trai “chưa trắng nợ anh hùng” với giấc mộng lập công đầy quyết tâm

Nhà thơ Chế Lan Viên từng viết những câu thơ sâu lắng về vẻ đẹp tâm hồn “lộng gió bốn phương” của những người lính khi ra chiến trường thế này:

Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”

Tình từ “nung nấu” đã thể hiện tất cả ý chí, nghị lực, thể hiện trọn vẹn khát vọng lập công dnah của những người lính Họ ra đi với một tinh thần “nung nấu” giấc mộng lập công, giấc mộng “cho đàn em thơ vui cắp sách tới trường”, cho dân tộc, cho đất nước một ngày sạch bóng quân thù Thế nhưng, ngay cả những đêm dài hành quân nung nấu cũng được đốt cháy bởi một nguồn cảm xúc thật nồng nàn, “bỗng chồn bồn nhớ mắt người yêu” Cảm xúc “bồn chồn nhớ mắt người yêu” trong thơ Chế Lan Viên lại làm ta yêu sao cái giấc mơ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” trong thơ Quang Dũng quá! Nhưng, vì giấc mơ này, mà đã có một thời bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng bị coi là “mộng rớt tiểu tư sản” Vì giấc mơ này, mà có một thời bài thơ Tây Tiến đã bị quy là truyền bá tư tưởng yếu đuối, làm mền đi, làm yếu đuổi khi cái tinh thần chiến đấu của người lính nói chung và người lính Tây Tiến nói riêng Và cũng vì giấc

mơ này, mà một thời gian dài bài thơ Tây Tiến không được xếp bài những bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ ca kháng chiến Thế nhưng, ta cũng hoàn toàn cso thể cảm thông được bởi giữa lúc thanh niên trai tráng lên đường, giữa lúc nhiệm vụ cấp bách như thế, giữa lúc nhiệm vụ cổ vũ tinh thần chiến đấu được đặt lên hàng đầu thì cũng không thể tránh khỏi những điều nhạy cảm

Còn đối với ý thơ của Quang Dũng, chúng ta có thể hiểu, “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” là một nếp gấp trong tâm hồn lãng mạn của những người lính Tây Tiến Ta cũng có thể cho rằng, “dáng kiều thơm” là dáng hình người yêu, cũng có thể là dáng hình người thương, người thân Nhưng đó là dáng hình hiện lên trong nỗi nhớ như nỗi nhớ về

“giếng nước gốc đa, nhớ người ra lính” như trong thơ của Chính Hữu Hơn thế, nỗi nhớ ấy chỉ càng chứng mình rằng, chưa bao giờ tâm hồn người lính bị chai sạn, một giấc mơ về “dáng kiều thơm” chỉ càng chứng tỏ rằng những trái tim kia vẫn luôn đập những nhịp đập của một tâm hồn xao xuyến, đầy rung động, rất tình tứ và rất đời Phải một trái tim khỏe chắc vì lý tưởng, một tâm hồn giàu cảm xúc như thế thì họ mới có thể chiến đấu dũng cảm được như vậy Hoặc

có thể hiểu “dáng kiều thơm” là một dáng hình mỏng manh, một giấc mơ sách mở mà thôi Có cứ phải dáng hình sẽ là dáng người yêu đâu! Đây chỉ là một giấc mơ sách mở của những chàng trai “chưa trắng nợ anh hùng” đã phải xếp bút nghiên lên đường xếp ại những giấc mộng ước hoa niên để đến với chiến trường Thế nhưng, những giấc mơ ấy chưa bao giờ lụi tàn, nnos trởi đi trở lại trong tâm hồn những người lính trong nhưng đêm hành quân Chính những giấc

Trang 8

mơ ấy đã tưới mát tâm hồn những người lính, để các anh vững tâm đứng chờ giặc tới Thêm một lần nữa, Quang Dũng

đã cho chúng ta thấy cái chất hào hùng đan cài với chất hào hoa Thêm một lần nữa chúng ta thấy chất hiện thực và lãng mạn đã làm bài thơ có gian khổ, có mất mát, có hi sinh nhưng cũng tràn đầy niệm lạc quan, khỏe khoắn Giọng thơ chân vừa chân thành vừa bi tráng, hào hùng, phản ánh hài khía và chất lãng mạn một thời gắn với lịch sử kháng chiến anh dũng của dân tộc” (Vũ Nho)

4 thơ sau: Nói về sự hi sinh của người

lính Tây Tiến một cách đầy bi tráng

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

- Câu thơ: “Rải rác biên cương mồ

viễn xứ”, Câu thơ có 7 chữ, mà cả 7

chữ đều hiển hiện sự mất mát, chữ

nào cũng nói đến sự hư vô, chia cắt

+ Chữ “mồ” nghe rất thê lương, rất

đâu xót, nghe vô cùng lạnh lẽo; nó côi

cút, nó nhỏ bé, nghe nó thật tội

nghiệp Có cái gì đó rất hư vô

+ “Viễn xứ” gợi sự xa xôi, hẻo lánh

+ “Rải rác” gợi cảm giác rất xót xa,

nhưng người lính nằm xuống cứ như

những cột cây số nằm dài suốt con

đường hành quân

Nếu bốn câu thơ đầu là bức chân dung về người lính thì bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến đã được thể hiện với một cảm xúc đầy bi tráng ở bốn câu thơ sau khi Quang Dũng tập trung nói về sự hi sinh của các anh

Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành Nói đến chiến tranh, hi sinh là điều không thể tránh khỏi Thế nên, hi sinh là một đề tài rất quen thuộc của thơ văn kháng chiến Trong một cuộc kháng chiến trường kì như vậy, có biết bao anh hùng đã “gục trên súng mõ bỏ quên đời”,

dù không muốn nhưng chúng ta cũng không thể né tránh được, dù rất muốn xóa nhưng ta không thể chối bỏ được khi nói đến hi sinh Nhưng nếu nói về hi sinh một cách thẳng thừng như vậy, liệu có quá đau xót hay không? Câu hỏi đó, chính những người trực tiếp cầm súng, cầm bút giữa những tháng ngày bom đạn này cũng đã rất trăn trở Thế nên,

họ đã viết về cái chết, viết về sự hi sinh một cách rất đặc biệt Họ đã nâng sự hi sinh lên thành một yếu tố thẩm mỹ Chúng ta không thể quên được bài thơ “Dáng đứng Việt Nam” của Lê Anh Xuân khi nói về sự hi sinh đầy quả cảm, đầy yếu tố thẩm mĩ thế này:

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất Nhưng Anh gượng đứng lên tì súng trên xác trực thăng

Và Anh chết trong khi đang đứng bắn Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng

Chúng ta se thấy rằng, cái chết của người giải phóng quân trên đường bay Tân Sơn Nhất đã được miêu tả một cách đầy kiêu hãnh, thậm chí có yếu tố phóng đại với hình ảnh “Máu Anh phun theo lửa đạn cầu vồng” Thế nhưng sau cái chết ấy là sự tái sinh của cả một dân tộc Không một dáng hình, không một dòng địa chỉ:

Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường Chỉ để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:

Trang 9

- Câu thơ: “Chiến trường đi chẳng

tiếc đời xanh”, cũng nói về cái chết,

nhưng được nói với giọng điệu mạnh

mẽ và đầy kiêu hãnh

…Từ dáng đứng của Anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt

Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân Dáng hình của các anh đã tác vào “vẻ đẹp Việt Nam” ngàn thế kỉ Hay trong “Đất nước hình tia chớp” của Trần Mạnh Hảo cũng nói về sự hi sinh đầy nuối tiếc nhưng cũng rất hiên ngang, rất đẹp thế này:

Thế hệ chúng con đi như gió thôi Quân phục xanh đồng sắc với chân trời Chưa kịp yêu một người con gái

Lúc ngã vào lòng đấy vẫn con trai”

Và Quang Dũng cũng thế! Ông cũng nâng sự hi sinh lên thành yếu tố thẩm mĩ, thành biểu tượng của cái đẹp Rất kiêu hãng, rất hào hùng, rất sử thi nhưng cũng vẫn lãng mạn, rất đẹp Đúng như lời lời nhà thơ Vân Long nhận định: “Bài thơ Tây Tiến hội tụ cả cái bi, cái tráng của thời đại Cái buồn lãng mạn của người tiểu tư sản, tiểu trí thức

do biết mình được đón nhận một chân lý lớn nhưng cũng đồng thời đón nhận một gian nan lớn”

Ta đến với câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, câu câu thơ có 7 chữ nhưng cả 7 chữ cùng nói về sự mất mất,

sự mất mát lặng mình đến hư vô bởi chữ nào cũng nói đến sự xa xôi, xa cách Những người lính sống thì “heo hút cồn mây”, chết thì “mồ viễn xứ” Chữ “mồ” nghe thật thê lương, ngeh sao thật lạnh lẽo Người ta thường nói, không có

gì cay đắng bằng chết nơi đất khách quê người, cũng không có gì đau đớn bằng cái tha hương Ấy vậy mà những người lính nằm xuống “rải rác biên cương”, lại còn “mồ viễn xứ” Vậy làm sao ta có thể lên để thấp cho các anh một ném hương, hay dâng đến các anh được một bó hoa bây giờ? Không những thế, từ láy “rải rác” mang đậm sắc màu Hán Việt lại càng gợi sự heo hút hơn, khi những nấm mồ kia trải dài đường biên của con đường hành quân như những cột cây số trên đường biên ải Cứ thế từng người ngã xuống lại một nấm mồ hiện lên “Mồ” chứ không phải

“mộ”, nếu là “mộ” nghe còn trang trọng, còn có cái gì thật gầm gũi Còn chữ “mồ” nghe sao côi cút quá, nghe sao nhỏ

bé mà tội nghiệp quá! Trong toàn bộ bài thơ Tây Tiến, Quang Dũng đã rất nhiều lần dùng hình ảnh gợi sự ám ảnh, thế nhưng từ “chơi vơi” và từ “mồ” có có sự ám ảnh rất riêng của nó “Chơi vơi” thì quay quăt, “mồ viễn xứ” thì hư danh, lẻ loi, thê lương mà thương xót lạ lùng

Thế nhưng, ngay sau câu thơ gợi ra biết bao xót xa ấy, lại là một câu thơ đầy mãnh mẽ và kiêu hùng: “Chiến trường

đi chẳng tiếc đời xanh” Từ “chẳng tiếc” là một cách nói phủ định đầy quả quyết “Đời xanh” là tuổi thanh xuân, là tuổi trẻ Nghĩa là chúng tôi đã lên đường, chúng tôi đã ra chiến tường mà chẳng tiếc đời xanh, chẳng tiếc tuổi trẻ của mình để thực hiện lý tưởng đời trai, Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Và những người lính Tây Tiến đã nói và đã

Trang 10

+ “Chẳng tiếc”: là cách nói phủ định,

thực ra rất tiếc Đời xanh mỗi người

chỉ một làm sao không tiếc? Nhưng

“chẳng tiếc” bởi đó là lựa chọn, bởi

chết vì lý tưởng con đẹp thì cần chi

phải tiếc

phản giữa hiện thực nghiệt ngã và

với lựa chọn hào hùng

- Câu thơ:

“Áo bào thay chiếu anh về đất”

+ Hình ảnh “áo bào” là một hình

ảnh ước lệ quen thuộc Một hình ảnh

sống đúng như thế Nhưng tại sao, không nói “không tiếc đời xanh”? Nếu nói “Chiến trường đi không tiếc đời xanh”, thì câu thơ dường như có sự chối bỏ mạnh mẽ hơn rất nhiều, câu thơ quả quyết không có gì để tiếc nuối quyết liệt hơn nhiều Nhưng “chẳng tiếc” thì ta không chỉ thấy trong đó có một sự bất cần, nhưng cũng có một sự gồng mình lên đầy nuối tiếc Có lẽ, từ hay nhất trong câu thơ này là từ “chẳng tiếc”, bởi như nhà thơ Thanh Thảo đã có những vần thơ rất hay nói về sự nuối tiếc ấy rằng:

Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?

Nhà thơ Thanh Thảo đã thay cả thế hệ của mình để nhìn thẳng vào góc khuất trong tâm hồn kia và nói ra một lời tâm sự chân thành rằng: Chúng tôi có tiếc! Đời xanh mỗi người chỉ có một, ai mà chẳng tiếc Đời xanh với “cơm lên khói”, với “thơm nếp xôi”, đời xanh với “hồn lau nẻo bến bờ”, với “dáng người trên độc mộc” làm sao mà không tiếc? Đời xanh với giấc mộng công danh còn dang dở, với giấc mơ thuở hoa niên còn vương vấn làm sao mà không tiếc? Vậy nên, Thanh Thảo mới nói rất quả quyết “không tiếc đời mình”, rồi mượn thêm lời giải thích “Những tuổi hai mươi làm sao không tiếc” Nhưng Quang Dũng lại không cần đến dấu ngoặc kép giải thích ấy, chỉ cần nói “chẳng tiếc” là đã đủ Thế nhưng, đời xanh được hi sinh cho một lý tưởng cao đẹp hơn với một lựa chọn đầy kiêu hùng:

Dù phải chết, chết một đời trai trẻ Liệm thân tàn bằng một mảnh chiếu con Rồi chôn xương rục thối dưới chân cồn Hay phơi xác cho một đàn quạ rỉa?

Tôi chẳng tiếc, chỉ cười trong mai mỉa Bao nhiêu hình ảnh đó vẽ quanh tôi

Tiếc làm chi? Thế cũng đã sống rồi

(Trích “Trăng trối” – Tố Hữu)

Ý thơ có sự tương phản giữa các hình ảnh thơ, tương phản giữa hiện thực nghiệt ngã và một sự lựa chọn đầy kiêu hùng Nhưng chính sự lựa chọn ấy đã tạo nên một khúc tráng ca ngân vang mãi mãi

Hình ảnh “Áo bào thay chiếu anh về đất” là một hình ảnh ước lệ quen thuộc, vừa làm sang trongjc ái chết của người lính, vừa an ủi nhưng người ở lại Nhưng dù an ủi đến độ nào, thì cũng không thể phủ định đây là một hiện thực nghiệt ngã đến xé lòng Một hiện thực trần trịu về sự hi sinh của người lính Tây Tiến Các anh đã chiến đâu với một tinh thần quả cảm nhất, thế nhưng khi nằm xuống không có nổi một quách quan tài Cũng làm sao trách được, khi

Ngày đăng: 16/02/2023, 13:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w