Hình ảnh “Dáng kiều thơm” trong câu thơ của tácgiả Quang Dũng đem đến cho người đọc rất nhiều thú vị: ngôn từ vốn có trong bài đầy thơ lãng mạn thời “tiền chiến” nhưng dưới ngòi bútcủa n
Trang 1Phân tích khổ 3 Tây Tiến (mẫu 1)
Tác phẩm Tây Tiến là bài thơ hay nhất của Quang Dũng cũng làmột trong những bài thơ tuyệt bút về anh bộ đội Cụ Hồ trong khángchiến chống Pháp cứu nước Quang Dũng là nhà thơ, là chiến sĩ, vừacầm súng đánh giặc, vừa làm thơ Ông viết về những người đồng đội,
về binh đoàn Tây Tiến thân yêu của mình Thơ của Quang Dũng luônnóng bỏng hào khí chiến trường
Sau thời gian xa đơn vị và đồng đội, ông viết bài thơ “Tây Tiến”này vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh là một địa điểm bên bờ sôngĐáy hiền hòa Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ, niềm tự hàođối với đoàn binh Tây Tiến, đối với con sông Mã, núi rừng miền Tây
xa xôi Đó là nỗi nhớ “chơi vơi” bao kỉ niệm đẹp và cảm động củamột thời trận mạc đầy gian khổ, hi sinh Là đoạn thơ thứ 3 trong bài
“Tây Tiến” đã khắc họa khí phách anh hùng với tâm hồn lãng mạncủa người chiến sĩ trong máu lửa:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,
Quân xanh màu lá dữ oai hùm”
Cái hình hài không lấy gì là đẹp: “quân xanh màu lá”, “khôngmọc tóc” tương phản với “dữ oai hùm” một nét chạm khắc tài tìnhlàm nổi bật chí khí hiên ngang, tinh thần quả cảm xung trận của chiếnbinh Tây Tiến từng làm cho quân giặc phải khiếp sợ “Dữ oai hùm” làmột hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí của người lính mang tính kế thừasáng tạo của Quang Dũng Những chiến binh “Sát Thát” đời Trần:
“Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu” (Phạm Ngũ Lão); “Tỳ hổ ba quân,
Trang 2giáo gươm chói sáng” (Trương Hán Siêu) Nghĩa quân Lam Sơn xungtrận với khí thế “bình Ngô”: “Sĩ tốt kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốtnanh” (Bình Ngô đại cáo) – Một dân tộc anh hùng trên trận tuyếnđánh giặc, thời đại nào cũng có những chiến sĩ “tì hổ” và “dữ oaihùm” thế đó! Với niềm tự hào, Quang Dũng viết nên một câu thơ rấthay: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”, lấy cái “thô”, cái “mộc” để tôđậm nên cái đẹp, cái dũng khí ẩn chứa trong tâm hồn của người chiếnsĩ.
Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn và bệnh tật… muôn lần khó khăn, thửthách nhưng học vẫn có giấc “mơ”, giấc “mộng” rất đẹp:
“Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”
Mộng mơ gửi về hai phía chân trời: biên giới và Hà Nội, nơi cònđầy những bóng giặc “Mắt trừng” – hình ảnh gợi tả nét dữ dội, oaiphong lẫm liệt, tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của con người lính trongkhói lửa ác liệt “Mộng qua biên giới” – mộng tiêu diệt quân địch, bảo
vệ biên cương, lập nên bao chiến công nêu cao truyền thống anh hùngđoàn binh Tây Tiến Lại có giấc mơ đẹp Chiến sĩ Tây Tiến vốn lànhững học sinh, sinh viên và những chàng trai Hà thành “xếp bútnghiên theo việc đao, cung” và giàu lòng yêu nước và phong độ hàohoa: “Từ thuở mang gươm đi giữ nước Nghìn năm thương nhớ đất ởThăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ) Sống giữa cái núi rừng miền Tây,gian khổ, ác liệt, cái chết bủa vây và lửa đạn mịt mù Nhưng các anhvẫn mơ về Hà Nội lãng mạn Quên sao được hàng me, hàng sấu,những phố cũ, trường xưa, “Những phố dài xao xác hơi may”? Quênsao được tà áo trắng, những thiếu nữ thương yêu, những “dáng kiềuthơm” từng hò hẹn Hình ảnh “Dáng kiều thơm” trong câu thơ của tácgiả Quang Dũng đem đến cho người đọc rất nhiều thú vị: ngôn từ vốn
có trong bài đầy thơ lãng mạn thời “tiền chiến” nhưng dưới ngòi bútcủa nhà thơ chiến sĩ nó trở nên có hồn, đặc tả chất lính hào hoa, trẻtrung và lãng mạn của người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến trong trậnmạc
Nếu người nông dân mặc áo lính trong thơ của Chính Hữu mangtheo nỗi nhớ “giếng nước gốc đa”, nhớ mái nhà gianh, nhớ ruộngnương…; trong thơ của Hồng Nguyên nỗi nhớ “người vợ trẻ – Mòn
Trang 3chân bên cối gạo canh khuya”,… thì người lính trong thơ QuangDũng, nỗi nhớ gắn liền với “mộng” và “mơ” Mộng lập những chiếncông, mơ “dáng kiều thơm” Hữu Loan trong bài thơ “Màu tím hoasim” cũng viết rất hay về những nỗi nhớ của người lính chống Pháp:
“Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến tranh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê…”
Viết về “mộng”, “mơ” của người chiến binh Tây Tiến, QuangDũng ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời của đồng đội Đó là một nétkhám phá bất tận của nhà thơ khi vẽ chân dung “anh bộ đội Cụ Hồ”xuất thân từ một tầng lớp tiểu tư sản trong chín năm kháng chiếnchống Pháp
Bốn câu thơ tiếp theo là những nét vẽ bổ trợ, tô đậm chân dungngười lính:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ,
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất,
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”
Trong gian khổ chiến trận, bao đồng đội đã ngã xuống trên nơichiến trường miền Tây Họ nằm ở lại nơi chân đèo góc núi Nấm mồcủa người chiến sĩ “rải rác biên cương” Câu thơ để lại trong lòng tanhiều thương cảm, tự hào: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” Nếu táchcâu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì nó sẽ tựa như bức tranh xám lạnh, ảmđạm và hiu hắt và đem đến nhiều xót thương Nhưng nằm trong hoàncảnh, đoạn mạch và câu thơ tiếp theo: “Chiến trường đi chẳng tiếc đờixanh”, đã nâng cao chí khí tầm vóc người lính Các anh đã ra trận vì
lý tưởng rất đẹp “Đời xanh” là đời trai trẻ, tuổi thanh xuân của
“Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…”, những học sinh, sinhviên ở Hà Nội Họ lên đường hành quân vì nghĩa lớn của chí khí làmtrai Họ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” câu thơ “Chiến trường đichẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời nói thiêng liêng, cao cả.Các anh quyết đem xương máu để bảo vệ độc lập và tự do cho Tổ
Trang 4quốc Anh bộ đội như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến, quyết tâmsắt đá: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mấtnước, nhất định là không chịu làm nô lệ” Quang Dũng đã ghi lại cảnhtượng bi tráng giữa chiến trường miền Tây khi ấy:
“Áo bào thay chiếu anh về đất
Mã “gầm lên” giữa rừng núi miền Tây như tiếng kèn trong bài “Chiêuhồn liệt sĩ” tống tiễn linh hồn liệt sĩ về an giấc ngàn thu Câu “Sông
mã gầm lên khúc độc hành” là một câu thơ hay gợi tả được không khíthiêng liêng, đồng thời tạo nên âm điệu trầm hùng, thương tiếc.Phong cách ngôn ngữ của Quang Dũng rất đặc sắc, bên cạnh từ ngữbình dị đời lính như: gục, không mọc tóc, dữu, trừng, về đất, chiếu,gầm lên… lại có một số từ Hán Việt như là: mộng, mơ, biên giới,dáng kiều, viễn xứ, áo bào và khúc độc hành nhờ đó mà cái bình dịlàm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường tô đậm anh hùng,
vĩ đại Chất bi tráng màu sắc lãng mạn từ vần thơ tỏa rộng trongkhông gian chiều dài lịch sử
Đoạn thơ đã viết về chân dung người lính trong bài thơ “TâyTiến” là đoạn thơ độc đáo nhất Khuynh hướng sử thi cảm hứng lãngmạn được nhà thơ kết hợp vận dụng sáng tạo trong miêu tả biểu lộcảm xúc, tạo nên những câu thơ “có hồn” Người lính đã sống anhdũng và chết oanh liệt Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến mãi mãi làtượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc
“Anh Vệ quốc quân ơi
Sao mà yêu anh thế!”
Trang 5(Cá nước năm 1947, Tố Hữu).
Trang 6Đất Nước
Nhà văn Tô Hoài đã tuyên ngôn :”Mỗi trang văn đều soi bóng thờiđại mà nó ra đời “ Và bàn về bài đất nước nhà thơ Nguyễn Khoa Điềmcũng viết :” Chúng tôi ngồi trong hầm và viết Cảm xúc được cổnghưởng bởi tiếng khói bom và mưa rừng Tôi viết rất nhanh như cảmxúc được dồn nén một cách mãnh liệt giờ chỉ tuân chảy ra thôi “ Bàithơ đất nc đã ra đời trong bối cảnh hùng tráng ấy Đất nước đc sáng tác
1971 in trong “trường ca mặt đường khác vọng “(1974) đoạn tríchchương 5 thể hiện tư tưởng đất nước của nhân dân Nỗi bật trong đoạntrích là suy tưởng về đất nước và tìm hiểu cuội nguồn đất nc có từ baoh?
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” mẹ thườnghay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó ”
Ngay từ những câu thơ đầu đoạn trích, Nguyễn Khoa Điềm đã trầmngâm, suy tư về cội nguồn, quá trình hình thành của Đất Nước bằnggiọng tâm tình, dịu ngọt như lời kể chuyện cổ tích:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” mẹ thườnghay kể
Mở đầu đoạn thơ như một lời khẳng định “Khi ta lớn lên Đất Nước
đã có rồi”, Đất Nước đã có từ rất lâu, có trước khi ta sinh ra vì khi lớnlên nó đã có rồi Đó cũng là một lời khẳng định chắc nịch về sự trườngtồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.Cụm từ “ngày xửa ngày xưa” chỉ thời gian huyền hồ, hư ảo là nhịp thờigian cổ xưa xa thẳm để mở đầu những câu chuyện cổ Với NguyễnKhoa Điềm, Đất Nước có từ rất xa xưa, trong sâu thẳm thời gian, trong
kí ức tuổi thơ hồn nhiên trong sáng của mỗi cuộc đời Câu chuyện của
Trang 7Nguyễn Khoa Điềm đã đánh thức trong người đọc những hoài niệm đẹp
đẽ của một thời đại Đó cũng chính là đất nước được cảm nhận trongchiều sâu tâm hồn nhân dân, văn hóa và lịch sử:
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Đó là miếng trầu gợi lên sự tích vào loại cổ nhất người Việt “Sự tíchtrầu cau” từ đời vua Hùng dựng nước xa xưa, ngợi ca tình nghĩa vợchồng, anh em đằm thắm, sắt son đồng thời đánh thức dậy hình ảnhmiếng trầu đã trở thành biểu tượng của tình yêu, lòng thủy chung, miếngtrầu là đầu câu chuyện Đó còn là truyền thuyết Thánh Gióng nhổ tređuổi giặc Ân, gợi lên vẻ đẹp khỏe khoắn của tuổi trẻ Việt Nam kiêncường, bất khuất Vẻ đẹp ấy song hành với hình ảnh cây tre Việt Nam.Cây tre hiền hậu trên mỗi làng quê Hình ảnh tre như những phẩm chấttrong cốt cách con người Việt Nam: thật thà chất phác, thuỷ chung, yêuhoà bình, kiên cường bất khuất trong những cuộc chiến tranh Với cáinhìn độc đáo của Nguyễn Khoa Điềm, Đất Nước đã nằm sâu trong tiềmthức mỗi chúng ta, trong đời sống tâm hồn của người dân từ thế hệ nàysang thế hệ khác
Tác giả còn nhắc đến thuần phong mỹ tục của người Việt, câu cadao “Tay bưng chén muối đĩa gừng/Gừng cay muối mặn xin đừng quênnhau” như đã nhập hồn vào câu thơ Nguyễn Khoa Điềm:
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Đất Nước còn là phong tục búi tóc thành cuộn sau gáy rất quenthuộc của người phụ nữ Việt Nam từ bao đời nay Đó là vẻ đẹp giản dịnhưng mang một nét đẹp riêng biệt không thể lẫn lộn với những nền vănhóa khác Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục gắn dòng suy tưởng đến conngười ngàn đời cư trú, lao động, chiến đấu trên mảnh đất Việt để giữ gìntôn tạo mảnh đất thân yêu Ở đó đạo lí ân nghĩa thủy chung đã trở thànhtruyền thống ngàn đời của dân tộc: “Cha mẹ thương nhau bằng gừngcay muối mặn” Người ta vẫn thường hay nói gừng càng già càng cay,muối càng lâu năm càng mặn nghĩa là con người sống với nhau càng lâuthì tình nghĩa càng đong đầy
Đất nước gắn bó, thân thiết như người ruột thịt và bao công việc laođộng khác:
Trang 8Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Cha ông ta xưa gắn liền với những miền quê thuần phác của nềnnông nghiệp thóc gạo với mái lá nhà tranh nên thường coi việc đặt têncho con cũng chỉ bằng cái tên nôm na, dân dã, có khi lấy những bộ phậncủa ngôi nhà tre gỗ chính mình đang ở “cái kèo”, “cái cột” Với ngườiViệt Nam vốn gắn bó lâu đời với nền văn minh lúa nước, hạt gạo trởthành gia bảo vô cùng cần thiết cho cuộc sống Cho nên ngay khi còn làđứa trẻ mới lớn, cảm nhận về vật chất đầu tiên phải là hạt gạo trải quamột quá trình lam lũ, kết tinh từ mồ hôi nước mắt của người lao động,
“một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” phải suốt ngày bán mặt chođất bán lưng cho trời, dầm mưa dãi nắng nhân dân ta mới làm ra đượchạt ngọc quý giá ấy Thấm vào trong hạt gạo bé nhỏ ấy là vị mặn mồ hôinhọc nhằn của người nông dân Chính vì thế khi ăn hạt cơm dẻo, thơmphải nhớ đến người làm ra nó
Câu cuối cùng khép lại một câu khẳng định với niềm tự hào: “ĐấtNước có từ ngày đó ” “Ngày đó” là ngày nào ta không rõ nhưng chắcchắn “ngày đó” là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, cóvăn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước
Trong đoạn thơ Nguyễn khoa Điềm đã thành công trong việc sửdụng chất liệu văn hóa văn học dân gian , giọng thơ triết lí suy tưởngmang theo sự dồn nén của cảm xúc suy tư Đặc biệt là cách dùng điệp
từ kết hợp vs các biện pháp tu từ đầy sáng tạo vs 2 từ đất nước viết hoathật thiêng liêng thành kính Hình ảnh thơ hàm xúc có sức lắng đọngsâu sắc để tạo nên 1 thế giới nghệ thuật vừa gần gũi quen thuộc vừa sâu
xa kì diệu Hình ảnh thơ đã lắng kết tư tưởng đất nước của nhân dân tưtưởng của người đọc của trang thơ đã thấm nhuần từ quan điểm đếncảm xúc Từ hình tượng đến chi tiết của tác phẩm
Qua việc cảm nhận đoạn thơ bằng phong cách nghệ thuật độc đáomang đậm chất liệu văn hóa văn học dân gian, ta đã cảm nhận đc 1 đấtnước có từ lâu đời gắn kết bình dị gần gũi thân thuộc Những hình ảnhthơ hàm xúc đã thể hiện tinh thần yêu nước của nhà thơ Đoạn trích đấtnước ns riêng và tình ca mặt đường nói chung đã thể hiện 1 tư tưởngquan niệm tiến bộ mới mẻ của Nguyễn khoa Điềm Đó là tư tưởng nccủa nhân dân tư tưởng ấy sẽ trường tồn mãi đến muôn đời s như nhà thơ
Trang 9Chế Lan Viên sau này cũng khẳng định :”Nước Việt Nam 4 nghìn nămĐinh , Lý , Trần, Lê,
Trang 10Tây Tiến
Đỗ Kim Hồi đã từng nhận định :”Tây Tiến là đóa hoa thơ trong loàihoa đẹp nhất của thơ ca những năm kháng chiến chống thực dânPháp”.Tây Tiến là thứ quả trái mùa một “lệch chuẩn “ tài hoa Với cảmhứng lãng mạn và ngòi bút lãng mạn Quang Dũng đã khắc họa thànhcông hình tượng người lính tây Tiến trên nền thiên nhiên núi rừng miềnTây dữ dội và mĩ lệ kết hợp vs các màu sắc vừa hiện thực vừa lãng mạnđậm chất bi tráng sĩ Còn có sức cuốn hút lâu dài với người đọc Ngayđoạn đầu khổ thơ phần mô tả vẻ đẹp của họ thiên nhiên và con ngườiđan xen hòa quyện tạo nên 1 bức ảnh hoành tráng trong thời kì khángchiến đấu đầy gian khổ, sự hy sinh anh dũng cùng vẻ đẹp hào hoa hàohùng của người lính tây tiến.(trích thơ 14 câu đầu)
Cảm nhận sâu sắc về bút pháp tài hoa của Quang Dũng , ta thấyđược bức tranh nền trời Tây Bắc Nổi bật là thiên nhiên hùng vĩ , dừ dộinhưng đặc biệt là sự khắc nghiệt đã làm cho cho bước đường hành quânngười lính tây tiến gặp nhiều gian khổ nhưng vẫn đậm chất lí tưởng yêunước , tinh thần đấu tranh đậm chất bi tráng Nỗi nhớ trở thành cảm xúcchủ đạo trong lòng Quang Dũng bao dồn nén đã được bật lên qua 2 câuthơ:
Sông mã xa rồi tây tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Nỗi nhớ về Tây Tiến là âm hưởng, kí ức hoài niệm trầm buồn, sâulắng Tất cả được bắt đầu từ cách nói “xa rồi” kết hợp với nghệ thuậtnhân hóa như nỗi lòng tâm sự của nhà thơ gợi bao cảm xúc lưu luyến,bâng khuâng trước dòng sông Mã với những năm kháng chiến hàohùng “Tây Tiến” được dùng cách viết hoa để gọi tên trong lòng mìnhbằng niềm cảm phục, tự hào người lính kháng chiến thời chống Pháptiếp tục được tái hiện qua ngòi bút của Quang Dũng Vận dụng cáchgieo vần ơi có lẽ người đọc sẽ cảm nhận được bao nổi nhớ “chơi vơi”, lànhững cảm xúc dạt dào kỉ niệm đang từng bước hiện hữu Thiên nhiênTây Bắc là cơ sở đầu tiên tạo nên bức chân dung người lính Tây Tiếntrong kháng chiến Điệp từ “nhớ” càng sâu đậm, hồi ức một thời khángchiến khắc nghiệt, hùng vĩ, gian khổ, mất mát, hy sinh, đầy niềm tự hào
và tinh thần lạc quan, đậm chất lính
Trang 11Hoài niệm từng bước được lật ra như một trang sách, hình ảnh bướcđường hành quân của người lính Tây Tiến là cảm xúc đầu tiên giữa núirừng Tây Bắc hùng vĩ, dữ dội, hoang sơ, thơ mộng trữ tình, đầy bútpháp lãng mạn theo mạch cảm xúc:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời”
Ấn tượng sâu đậm về núi rừng hùng vĩ, dữ dội của miền Tây là cácđịa danh gợi lên vẻ đẹp khí phách người lính Tây Tiến “Sài Khao,Mường Lát” Hai địa danh nhà thơ đã sử dụng hai bút pháp hiện thực vàlãng mạn để nói về vùng đất khắc nghiệt với hình ảnh sương dày vàđêm hơi Kết hợp với nhịp thơ 4/3 là dụ ý để biểu tượng cho con đườnghành quân đầy gian khổ Tác giả bắt đầu từ “lấp” và kết thúc từ “mỏi”,liên kết với hình ảnh lãng mạn “hoa về” Con đường hành quân dù giankhổ nhưng lí tưởng lòng yêu nước đã xua tan tất cả chỉ còn lại tiến lên
để bảo vệ đường biên giới Việt – Lào Con đường hành quân tác giả đã
sử dụng từ láy kết hợp tượng hình “khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút”.Không gian hiểm trở, heo hút, hoang vắng, rợn ngợp, mù mịt, cheo leotạo nên một con đường đầy khó khăn, bí ẩn của núi cao, vực sâu Nỗinhớ của Quang Dũng như để chứng tỏ thiên nhiên đang thách thức sứcchiến đấu của người lính Tây Tiến Vẻ đẹp người lính với nghệ thuậtnhân hóa “súng ngửi trời”, hình ảnh đưa đến cảm nhận súng đã chạmđến trời xanh như để làm rõ vẻ tinh nghịch, lãng mạn pha chút hóm hĩnhđậm chất lính Mục tiêu của Quang Dũng là ca ngợi để nâng lên vẻ đẹp,tầm kì vĩ của người lính
Chất bi tráng đã làm nên hình tượng người lính Tây Tiến Tinh thầnyêu nước đứng lên đấu tranh là lí tưởng cao đẹp được bật ra bằng nhữngcâu thơ trong một niềm cảm xúc:
“Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông xa mưa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời”
Một lần nữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, kết hợp điệp ngữ, đốilập, thanh điệu bằng và trắc làm nổi bật con đường hành quân trải dài
Trang 12mênh mông vô tận, trùng trùng điệp điệp gập ghềnh hiểm trở, nhiều nổinguy hiểm, không biết đâu là giới hạn Con đường lên xuống như đangchiến đấu song hành để chứng minh bản lĩnh, chất lính, lòng căm thù,tinh thần yêu nước Hình ảnh “nhà ai” kết hợp một câu thơ toàn thanhbằng, họ đã vượt qua bằng ý chí, nghị lực Chiến tranh hiện thực là điềukhông thể nào tránh khỏi Bao gian khổ, thiếu thốn, hiểm trở họ đã vượtqua “không bước nữa”, “bỏ quên đời” giảm bớt đau thương bằng cách
né tránh nhưng trong sự hi sinh vẫn tỏa lên khí phách hiên ngang “bỏquên đời” Đây là chất lính để cho Quang Dũng khắc sâu vào lòng và đểlại cho người đọc bằng niềm vui và tự hào
Tình dân quân là tình cảm xuyên suốt quá trình kháng chiến Nhưng
ở Tây Bắc thấm đậm tình người, tăng tinh thần chiến đấu vượt qua mọikhó khăn, rình rập, đe dọa Nhà thơ đã viết lên bằng những câu thơ giàuchất gợi hình và gợi cảm:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Cái chết của người lính Tây Tiến không phải là mối đe dọa vìnhững mối đe dọa tiếp theo “thác gầm thét, cọp trêu người”.Tinh thầnkhí phách là điểm tựa để làm rõ bản chất kiên cường, kiêu hùng tronggian khổ mọi khó khăn Bút pháp nhân hóa dùng để tả và gợi hiện thựchoang vu ẩn chứa nhiều mối nguy hiểm trải dài cả không gian và thờigian Địa danh Mai Châu thấm đậm tình dân quân, tinh thần lạc quan
“cơm lên khói, thơm nếp xôi” Kỉ niệm Tây Tiến vẫn đọng lại kí ức đẹp
ấm lòng người chiến sĩ nơi chiến trường Tinh thần đồng đội, đồng bào,tình dân quân đã làm nên sức mạnh trải dài bước hành quân để một lầnnữa khép lại khúc ca hùng tráng người lính thời chống Pháp của QuangDũng Nhìn rõ chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc TâyTiến của Quang Dũng là đỉnh cao của thơ ca chống Pháp, gắn bó sâusắc với vận mệnh chung của đất nước Tinh thần yêu nước, ý chí mãnhliệt, khí phách hiên ngang, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, trong đauthương không bi lụy, trong lạc quan tăng tính dũng cảm Người lính TâyTiến của Quang Dũng lên đường theo tiếng gọi của tổ quốc, nỗi nhớ đểcảm phục ngòi bút tài hoa, hồn thơ lãng mạn, phóng khoáng Đó là
Trang 13khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn khi gọi tên đoàn quân TâyTiến.
Trong đoạn thơ Quang Dũng đã khắc thành công hình tượng nglính tây tiến trên cái nền tn núi rừng miền tây hùng vĩ , dữ dội và mĩ lệ Hình tượng người lính tây tiến mang vẻ đẹp lãng mạn đậm chất bitráng Đoạn thơ đó vào sự thành công của bài thơ tạo nên sự trường tồncủa tên tuổi tác giả như nhà thơ giọng nam đã viết :
“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói
Quân đi lớp lớp động cây rừng “
Và bài thơ ấy con ng ấy sống mãi muôn đời với núi sông