thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồithường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối vớitoàn bộ rủi ro, đền bù những thi
Trang 1CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM VÀ KINH TẾ BẢO HIỂM
1.1 Những vấn đề chung về bảo hiểm
1.1.1 Sự cần thiết khách quan và bản chất của bảo hiểm
1.1.1.1 Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm
- Rủi ro và hậu quả của rủi ro (tổn thất)
Tổn thất là sự thiệt hại của một đối tượng nào đó phát sinh từ một biến cố
bất ngờ ngoài ý muốn của chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu sử dụng
Rủi ro là sự không chắc chắn, khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớnthiệt hại
Trong sản xuất con người luôn có nguy cơ gặp phải rủi ro vì những nguyênnhân khác nhau, như: bão lụt, hạn hán, ốm đau, bệnh tật, tai nạn Mặt khác trongcuộc sống con người cũng phải đối mặt với rủi ro như: bệnh tật, tai nạn … Mỗi khigặp phải rủi ro thường gây nên những hậu quả khó lường làm ảnh hưởng đến đờisống, sản xuất và đến sức khoẻ của con người Bởi vậy, ngay từ khi xã hội loàingười xuất hiện thì nhu cầu an toàn đối với con người cũng xuất hiện và nó là mộttrong những nhu cầu vĩnh cửu Lúc nào con người cũng tìm cách bảo vệ chính bảnthân mình và tài sản của mình trước những rủi ro trong cuộc sống cũng như trongsản xuất Phương pháp bảo vệ lúc đầu là rất đơn giản và đôi khi là mù quáng, bằngcách họ luôn luôn cầu xin các đấng thần linh và chúa trời phù hộ để được yêu ổn,
an toàn Và chẳng bao lâu con người đã tìm ra cách thức bảo vệ một cách có tổchức
- Các biện pháp đối phó với rủi ro (phương thức xử lý rủi ro)
Trong cuộc sống và sản xuất ngày càng phát triển thì nhu cầu an toàn cũngđược con người ngày càng quan tâm nhiều hơn Đặc biệt là khi khoa học, kỹ thuật
và công nghệ phát triển, một mặt đã làm tăng năng xuất lao động và tạo điều kiệnthuận lợi cho cuộc sống của con người, nhưng mặt khác nguy cơ gặp rủi ro của
Trang 2con người cũng ngày càng nghiêm trọng Để đối phó với rủi ro và khắc phục hậuquả tổn thất, lúc này con người đã tìm ra nhiều cách thức khác nhau để phòng vệ.Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, những cách thức này thể hiện chủ yếu
ở hai nhóm biện pháp là kiểm soát rủi ro và tài trợ rủi ro
* Nhóm các biện pháp kiểm soát rủi ro bao gồm biện pháp tránh né rủi ro,ngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu tổn thất
+ Tránh né rủi ro là biện pháp được sử dụng phổ biến trong cuộc sống Mỗi
cá nhân, mỗi tổ chức đều có thể lựa chọn những biện pháp thích hợp để né tránhrủi ro có thể xảy ra nhằm loại nguy cơ dẫn đến bị tổn thất Chẳng hạn, để né tránhtai nạn giao thông người ta đã hạn chế việc đi lại, hay để phòng tránh tai nạn laođộng, người ta sẽ chọn những ngành nghề ít nguy hiểm hơn … Tuy vậy, trongcuộc sống mà nhất là cuộc sống hiện đại như ngày nay biện pháp này rất khó thựchiện và thậm chí là không thể thực hiện được
+ Ngăn ngừa tổn thất Đây là biện pháp khá chủ động cách thực hiện cáchành vi và hành động cụ thể mà các cá nhân và tổ chức đưa ra nhằm giảm mức độthiệt hại khi gặp rủi ro Chẳng hạn, để giảm bớt TNLĐ người ta đã tổ chức cáckhoá học cho người lao động về an toàn, vệ sinh lao động Hay để phòng chốnghoả hoạn, người ta đã thực hiện tốt công tác phòng cháy chữa cháy …
+ Giảm thiểu tổn thất Cho dù khi đã gặp phải rủi ro, người ta vẫn có thể cócác biện pháp làm giảm thiểu tổn thất Ví dụ, khi hoả hoạn xảy ra, để giảm thiểutổn thất người ta đã sử dụng biện pháp cứu hoả Hay khi bị tai nạn, dể giảm thiểucác thiệt hại về người, người ta đã đưa những người bị thương đi cấp cứu kịp thời
và điều trị …
* Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm chấp nhận rủi ro và bảo hiểm.+ Chấp nhận rủi ro Đây là biện pháp mà con người tự chấp nhận tổn thấtkhi gặp phải rủi ro, điều đó cũng có nghĩa là họ tự bảo hiểm Chẳng hạn, người ta
có thể tự lập ra quỹ dự trữ, dự phòng và quỹ này chỉ được sử dụng để bù đắp tổn
Trang 3thất khi gặp phải rủi ro Hoặc khi rủi ro xảy ra, người ta có thể đi vay mượn tiềnbạc để khắc phục hậu quả.
+ Bảo hiểm Đây là biện pháp chuyển giao rủi ro rất có hiệu quả Có nghĩa
là, nhiều người cùng có khả năng gặp phải rủi ro đóng góp tiền bạc để hình thànhquỹ bảo hiểm và quỹ này được dùng chủ yếu vào mục đích bồi thường hoặc chi trảkhi một hay một số người tham gia đóng góp gặp phải rủi ro tổn thất
Theo đà phát triển của lịch sử và của các hình thái kinh tế xã hội cho thấy,trong số tất cả các biện pháp thuộc hai nhóm biện pháp nêu trên, biện pháp bảohiểm mà con người áp dụng là phổ biến và có hiệu quả nhất Bởi lẽ, hậu quả củarủi ro thông qua bảo hiểm sẽ được phân tán cho nhiều người cùng gánh chịu Bảohiểm là hình thức chuyển giao rủi ro hữu hiệu nhất Hơn nữa, bảo hiểm không chỉthuần tuý là sự chuyển giao, sự chia sẻ rủi ro, mà nó còn là sự giảm thiểu rủi ro,giảm thiểu tổn thất, thông qua các chương trình quản lý rủi ro được phối hợp giữacác cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội với các tổ chức bảo hiểm
- Mặt khác, trong điều kiện phát triển nền KTTT có sự quản lí vĩ mô củaNhà nước cũng đòi hỏi phải có quĩ dự trữ bảo hiểm Để tạo ra hành lang môitrường thuận lợi, đặc biệt giữ cho nền tài chính, tiền tệ, giá cả, chính trị xã hội ổnđịnh tất yếu Nhà nước phải có lực lượng dự trữ vật tư, tài chính đủ mạnh để canthiệp vào nền kinh tế mỗi khi có những biến động kinh tế xã hội làm ảnh hưởngtới việc thực hiện kế hoạch Nhà nước đã hoạch định
* Bản chất của bảo hiểm
- Khái niệm cơ bản về bảo hiểm
+ Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: “Bảo hiểm là một hoạt độngdịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất mát không mong đợi”
+ Dưới góc độ pháp lý, giáo sư Hemard đưa ra khái niệm: “Bảo hiểm làmột nghiệp vụ, qua đó, một bên là người được bảo hiểm chấp nhận trả một khoảntiền (phí bảo hiểm hay đóng góp bảo hiểm) cho chính mình hoặc cho một người
Trang 4thứ ba khác để trong trường hợp rủi ro xảy ra, sẽ được trả một khoản tiền bồithường từ một bên khác là người được bảo hiểm, người chịu trách nhiệm đối vớitoàn bộ rủi ro, đền bù những thiệt hại theo phương pháp của thống kê”.
+ Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các công ty, các tập đoàn bảo hiểmthương mại trên thế giới: “Bảo hiểm là một có chế, theo cơ chế này một người,một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi roc ho công ty bảo hiểm,công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảohiẻm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những được bảo hiểm” …
+ Khái niệm mang tính chung nhất của bảo hiểm: “Bảo hiểm là những quan
hệ kinh tế gắn với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm nhằm
xử lý các rủi ro các biến cố bảo hiểm, bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đờisống của xã hội diễn ra bình thường”
- Bản chất của bảo hiểm
+ Là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm quốc nội giữa những ngườitham gia bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu về tài chính phát sinh khi rủi ro hay sựkiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Quá trình phân phối này là phânphối lại (diễn ra ngoài lĩnh vực sản xuất) và không đều giữa những người tham giabảo hiểm (có người đóng góp ít, người đóng góp nhiều), không mang tính hoàn trảtrực tiếp (chỉ khi đối tượng bảo hiểm gặp rủi ro thì mới được bồi thường)
+ Rủi ro và sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc của bảo hiểm vì bảo hiểm rađời là để phân tán chia sẻ rủi ro
+ Cơ chế chuyển giao trong bảo hiểm được thực hiện giữa bên tham gia bảohiểm và bên bảo hiểm thông qua các cam kết bảo hiểm Theo cơ chế này bên thamgia bảo hiểm phải nộp phí bảo hiểm và bên bảo hiểm cam kết bồi thường hay chitrả tiền bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm hay người được bảo hiểm gặp phải rủi rohay sự kiện bảo hiểm Tất nhiên rủi ro hay sự kiện bảo hiểm phải là ngẫu nhiên,khách quan mà hai bên đã thỏa thuận
Trang 5+ Phí bảo hiểm mà bên tham gia nộp cho bên bảo hiểm phải được thực hiệntrước khi rủi ro hay sự kiện bảo hiểm xảy ra Ngược lại, khoản tiền mà bên bảohiểm trả cho bên tham gia bảo hiểm hay cho người thứ 3 chỉ được thực hiện saukhi sự kiện bảo hiểm hay rủi ro xảy ra gây tổn thất.
+ Việc san sẻ rủi ro, bù trừ tổn thất trong bảo hiểm được bên bảo hiểm tínhtoán và quản lý dựa vào số liệu thống kê rủi ro và tình hình tổn thất, cũng như quỹbảo hiểm mà họ thiết lập được dựa vào nguyên tắc số đông bù số ít
+ Bảo hiểm thương mại là một hoạt động dịch vụ tài chính chứ không phải
là hoạt động sản xuất Chính vì vậy, lợi ích của các bên phải được luật hóa rất cụthể và vai trò quản lý Nhà nước trong lĩnh vực này rất quan trọng và không thểthiếu được đối với mỗi quốc gia
1.1.2.Đặc điểm và nguyên tắc chung của bảo hiểm
* Nguyên tắc chung của bảo hiểm
-Nguyên tắc lấy số đông bù số ít
Dựa trên cơ sở nghiên cứu về qui luật số lớn, người ta có thể xác định đượcmức độ thiệt hại bình quân cho những khoảng thời gian nhất định Để bù đắpnhững thiệt hại dự kiến đó, người ta phải phân tán rủi ro cho nhiều người gánhchịu dưới hình thức bảo hiểm phí mà không ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và đờisống của người tham gia bảo hiểm Số người tham gia bảo hiểm càng đông thìkhả năng bù đắp càng lớn, độ an toàn rủi ro càng cao Ngược lại, khi chỉ có số ítngười tham gia bảo hiểm thì không thể duy trì sự hoạt động của các tổ chức bảohiểm được Vì vậy, trong bất kì loại hình bảo hiểm nào nguyên tắc này cũng được
đề cao
-Các đối tượng tham gia bảo hiểm phải tham gia đóng bảo hiểm phí trướckhi xảy ra rủi ro
-Rủi ro được bảo hiểm là rủi ro khách quan
Những tổn thất do chủ quan, không thực hiện đúng qui định của pháp luậtthì không được đền bù
Trang 6* Đặc điểm chung của bảo hiểm
- Phân phối của quĩ bảo hiểm không phải là sự phân phối đồng đều bình quântheo mức đóng góp
Khi tham gia bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm có quyền nhận phân phối từquĩ bảo hiểm nhưng không phải ai cũng nhận được phân phối và được nhận nhưnhau Sở dĩ có hiện tượng đó là vì không phải ai tham gia bảo hiểm cũng đều gặpphải rủi ro và ngay cả khi gặp phải rủi ro thì mức độ thiệt hại cũng không giốngnhau
- Việc phân phối, sử dụng quĩ bảo hiểm không xác định trước được về qui
mô, thời gian diễn ra
Tổ chức bảo hiểm chỉ tiến hành trợ giúp, bồi thường khi rủi ro đã xảy ra vàmức độ bồi thường trợ giúp được xác định dựa trên cơ sở những thiệt hại mất mátthực tế hoặc do luật định Đây là đặc điểm riêng của bảo hiểm, khác với các khâukhác trong hệ thống tài chính Ví dụ, trong quan hệ đi vay và cho vay của tín dụngthì qui mô tín dụng thời gian hoàn trả, lãi suất, đã được xác định trước khi diễn
ra hoạt động này
- Bảo hiểm là một hình thức dự trữ tài chính nhằm bù đắp và khắc phụcnhững tổn thất thiệt hại đối với sản xuất kinh doanh và đời sống con người khinhững biến cố bất lợi xảy ra
Cũng như các quĩ tiền tệ khác quĩ bảo hiểm được tạo lập thông qua quátrình phân phối của cải xã hội, việc tạo lập quĩ bảo hiểm có thể tự nguyện hoặc bắtbuộc nhưng đều xuất phát từ nhu cầu cần được đảm bảo an toàn trong sản xuấtkinh doanh và đời sống của con người, việc phân phối sử dụng quĩ chỉ được thựchện khi các biến cố bất lợi xảy ra đối với các đối tượng được bảo hiểm; khi cácbiến cố bất lợi không xảy ra thì người tham gia bảo hiểm không được bồi hoàn sốtiền đã đóng bảo hiểm phí Như vậy hoạt động bảo hiểm vừa mang tính chất bồihoàn vừa mang tính chất không bồi hoàn, chính đặc điểm này giúp chúng ta phânbiệt quĩ bảo hiểm với các quĩ tiền tệ khác như: ngân sách Nhà nước, quĩ tín dụng
Trang 7Việc nghiên cứu đặc điểm của bảo hiểm rủi ro có ý nghĩa thiết thực trong việc tổ chức quản lí quá trình tạo lập, phân phối sử dụng quĩ bảo hiểm 1.1.3 Các yếu tố cấu thành bảo hiểm
Ví dụ: Một sinh viên A tham gia bảo hiểm học sinh toàn diện tại công tyBảo hiểm HN Số tiền bảo hiểm là 10.000.0000 Hợp đồng có hiệu lực từ ngày15/8/2006 Phí bảo hiểm đã trả đầy đủ
Ngày 20/10/2006, sinh viên đó bị tai nạn giao thông hậu quả bị vỡ xươngphải vào viện phẫu thuật Đã bó bột 30 ngày, khi tháo bột phát hiện xương bị lệnhphải bó lại Thời gian điều trị 20 ngày tại bệnh viện
1.1.3.1 Người bảo hiểm
Là người chấp nhận yêu cầu bảo hiểm bằng việc giao kết hợp đồng bảohiểm, cấp cho bên mua bảo hiểm hợp đồng bảo hiểm hoặc bằng chứng về hợpđồng bảo hiểm và ví thế có những quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận của hợpđồng bảo hiểm
Theo ví dụ trên, doanh nghiệp bảo hiểm là công ty bảo hiểm Hà Nội, ký kếthợp đồng bảo hiểm học sinh toàn diện với sinh viên A Công ty bảo hiểm Hà Nội
có quyền nhận phí bảo hiểm và bồi thường bảo hiểm khi sinh viên A gặp tai nạn
1.1.3.2 Người tham gia bảo hiểm
Là các tổ chức, cá nhân đứng ra yêu cầu bảo hiểm và giao kết hợp đồng bảohiểm với doanh nghiệp bảo hiểm Để có thể giao kết được hợp đồng bảo hiểmngười tham gia bảo hiểm phải đảm bảo các yêu cầu về nănng lực hành vi dân sựnăng lực pháp luật dân sự
Theo ví dụ trên sinh viên A (trên 18 tuổi) đủ năng lực hành vi dân sự nênđược phép giao kết hợp đồng bảo hiểm và bảo hiểm cho chính mình Sinh viên A
là người tham gia bảo hiểm
1.1.3.3 Người được bảo hiểm
Là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm, tính mạng, sức khỏe, khả nănglao động, tuổi thọ là đối tượng được bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm
Trang 8Thông thường người được bảo hiểm là người tham gia bảo hiểm Tuynhiên, những trường hợp người tham gia bảo hiểm khác người được bảo hiểm.
Trong ví dụ trên sinh viên A vừa là người tham gia bảo hiểm vừa là ngườiđược bảo hiểm (theo chế độ bảo hiểm sinh viên toàn diện)
Trong nhiều trường hợp người tham gia bảo hiểm là con cái mua bảo hiểmnhân thọ cho bố mẹ (người tham gia bảo hiểm là con cái và người được bảo hiểm
là bố mẹ), bố mẹ mua bảo hiểm cho con cái (đối tượng tham gia bảo hiểm là bố
mẹ và người được bảo hiểm là con cái)
1.1.3.4 Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm
Là người được bồi thường hoặc nhận tiền trả bảo hiểm của hợp đồng bảohiểm Thông thường quyền lợi bảo hiểm thuộc về người được bảo hiểm Tuynhiên, cũng có những trường hợp người được hưởng quyền lợi lại là người khác
Trong ví dụ trên: sinh viên A vừa là người tham gia bảo hiểm vừa là ngườiđược bảo hiểm vừa là người nhận quyền lợi bảo hiểm (khi có tai nạn xảy ra ảnhhưởng đến sức khỏe, tính mạng của sinh viên A)
Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm có thể là bố mẹ cúa sinh viên A nếusinh viên A bị tai nạn dẫn đến tử vong và được quy định rõ trong hợp đồng bảohiểm
1.1.3.5 Đối tượng bảo hiểm
Là những cái gì mà người tham gia bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm hoặc dopháp luật qui định bắt buộc phải bảo hiểm Đối tượng bảo hiểm nói chung là tàisản, những lợi ích có liên quan đến tài sản hoặc trách nhiệm dân sự hoặc tínhmạng, sức khỏe, khả năng lao động và tuổi thọ của con người
Trong ví dụ trên đối tượng bảo hiểm là tính mạng, sức khỏe của sinh viênA
1.1.3.6 Rủi ro bảo hiểm
Là mức độ hay khả năng xảy ra sự cố bảo hiểm, tức là một hoặc nhiều sự cố
dự tính trong các điều kiện bảo hiểm mà khi những sự cố này xảy ra thì người bảo
Trang 9hiểm bắt buộc phải tiến hành trả tiền bồi thường tổn thất cho người tham gia bảohiểm
1.1.3.7 Tai nạn bảo hiểm
Là sự cố bảo hiểm đã xảy ra kéo theo trách nhiệm của người bảo hiểm phảibồi thường tổn thất cho người tham gia bảo hiểm
Trong ví dụ trên tai nạn bảo hiểm là tai nạn giao thông của sinh viên A, dotai nạn nên sinh viên A phải vào bệnh viện bó bột Tai nạn bảo hiểm là sự cốxương bị lệch sau khi bó bột Tất cả các tai nạn này đều làm phát sinh trách nhiệmcủa người bảo hiểm là công ty bảo hiểm Hà Nội Công ty bảo hỉểm Hàn Nội phảitrả mọi khoản chi phí hợp lý phát sinh
1.1.3.8 Giá trị bảo hiểm (GTBH)
Là giá trị bằng tiền của tài sản tại ngày ký hợp đồng bảo hiểm
Ví dụ: Một lô hàng xuất khẩu có tổng giá trị bảo hiểm (giá CIF) là 200.000USD Trong đó của:
+ Chủ hàng A: 120.000 USD
+ Chủ hàng B: 80.000 USD
Con tàu tham gia bảo hiểm ngang giá trị với số tiền là 300.000 USD
Như vậy toàn bộ giá trị bảo hiểm trong chuyến hành trình của con tàu là:giá trị hàng + giá trị tàu = 500.000 USD
1.1.3.9 Số tiền bảo hiểm (STBH)
Là số tiền tính cho từng loại tài sản được bảo hiểm mà trong giới hạn đóngười bảo hiểm phải tiến hành trả tiền bồi thường tổn thất khi tai nạn bảo hiểmxảy ra đối với bảo hiểm tài sản, hoặc là số tiền phải trả cho đời sống và sức khoẻđối với bảo hiểm thân thể Hay nói cách khác, số tiền bảo hiểm là số tiền tối đangười bảo hiểm phải trả cho người tham gia bảo hiểm
Giữa STBH và GTBH có mối quan hệ
+ Khi STBH bằng GTBH thì bảo hiểm này gọi là bảo hiểm đúng giá
Trang 10Trong ví dụ trên (bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu) chủ tàu tham gia bảohiểm hàng hóa xuất nhập khẩu theo đúng giá trị tứclà STBH = GTBH = 500.000USD.
+ Khi STBH < GTBH thì bảo hiểm này gọi là bảo hiểm dưới giá trị
+ Khi STBH > GTBH thì bảo hiểm này gọi là bảo hiểm trên giá trị
+ Khi tài sản được bảo hiểm bởi nhiều hợp đồng bảo hiểm cho cùng mộtloại rủi ro với những doanh nghiệp bảo hiểm khác nhau, những hợp đồng bảohiểm này có điều kiện bảo hiểm giống nhau, thời hạn bảo hiểm trùng nhau và tổng
số tiền bảo hiểm trên các hợp đồng đó lớn hơn nhiều lần so với giá trị bảo hiểm thìđây là bảo hiểm trùng Thông thường bảo hiểm trùng liên quan đến sự gian lận củangười tham gia bảo hiểm nhằm trục lợi bảo hiểm Do đó, về nguyên tắc, doanhnghiệp bảo hiểm có thể hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm nếu phát hiện thấy hợp đồngbảo hiểm có sự gian lận Nếu các doanh nghiệp chấp nhận bồi thường thì lúc này,trách nhiệm của mỗi công ty đối với tổn thất sẽ được phân chia theo tỷ lệ tráchnhiệm mà họ đảm nhận Cụ thể
1.1.3.10 Bồi thường bảo hiểm
Là khoản tiền mà nhà bảo hiểm phải trả cho người được bảo hiểm (hoặcngười thụ hưởng hợp pháp trên hợp đồng) khi rủi ro, tổn thất hoặc các trường hợpbảo hiểm khác xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm
Tùy thuộc vào loại hình bảo hiểm mà người ta sử dụng các từ ngữ khácnhau “số tiền bồi thường” cho các loại hình bảo hiểm thiệt hại (tài sản, tráchnhiệm dân sự), “tiền bảo hiểm” cho các loại hình bảo hiểm con người
Trong ví dụ về bảo hiểm học sinh toàn diện bồi thường bảo hiểm là số tiền
mà công ty bảo hiểm Hà Nội phải chi trả cho sinh viên A
1.1.3.11 Phí bảo hiểm
Trang 11Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho bên bảohiểm Thời hạn đóng phí bảo hiểm theo thỏa thuận hoặc theo quy định của phápluật Phí bảo hiểm có thể đóng một lần hoặc theo định kỳ.
Phí bảo hiểm phụ thuộc vào các yếu tố; giá trị của rủi ro, giá phí cho sựquản lý của người bảo hiểm, dự phòng cho tổn thất lớn hơn
Phí bảo hiểm là giá cả của dịch vụ bảo hiểm Do đó, quy mô hưởng quyềnlợi bảo hiểm phụ thuộc vào mức phí mà bên mua bảo hiểm đóng cho doanh nghiệpbảo hiểm
Đối với bảo hiểm tự nguyện, mức phí bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm
và bên mua bảo hiểm thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm
Đối với bảo hiểm bắt buộc, pháp luật quy định mức đóng phí bảo hiểm tốithiểu nên về nguyên tắc mức phí bảo hiểm do các bên thoả thuận không được thấphơn mức tối thiểu
1.1.3.12.Tỷ lệ phí bảo hiểm:
Là mức bảo hiểm phí tính trên một đơn vị của số tiền bảo hiểm cho mộtthời kỳ bảo hiểm nhất định (thường là một năm), nó được tính theo tỷ lệ % so với
số tiền bảo hiểm hoặc là một số tiền tuyệt đối
1.1.3.13 Thanh toán bảo hiểm
Là việc nộp số tiền bảo hiểm phí theo từng đối tượng được bảo hiểm đúngvới thời hạn đã được quy định trong hợp đồng bảo hiểm
1.1.3.13 Phạm vi bảo hiểm
Là số lượng tối đa các rủi ro có thể được bảo hiểm
Có nhiều rủi ro xảy ra với đối tượng bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm Tuynhiên chỉ có những rủi ro xảy ra do nguyên nhân khách quan, ngẫu nhiên, khinhững rủi ro trên xảy ra có thể lượng hóa được mức thiệt hại về mặt tài chính đồngthời việc thiết lập quan hệ bảo hiểm không trái pháp luật và lợi ích công cộng lànhững rủi ro được bảo hiểm Những rủi ro khác không được bảo hiểm (rủi ro loạitrừ) Đây là một trong những điều khoản cơ bản nhất của hợp đồng bảo hiểm
Trang 12Trong ví dụ về bảo hiểm học sinh toàn diện đối với sinh viên A, phạm vibảo hiểm được xác định: bị chết trong mọi trường hợp, bị tai nạn thương tật, ốmđau bệnh tật phải nằm viện điều trị và phẫu thuật.
1.1.3.14 Các chế độ bảo hiểm
- Chế độ bồi bảo hiểm theo mức miễn thường
Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm đối với những tổn thất mà giátrị thiệt hại thực tế vượt quá một mức đã thỏa thuận
Có hai loại miễn thường: miễn thường không khấu trừ và miễn thườngmiễn thường có khấu trừ Chế độ bảo hiểm miễn thường không khấu trừ bảo đảmchi trả cho những thiệt hại thực tế vượt quá mức miễn thường nhưng số tiền bảohiểm không bị khấu trừ theo mức miễn thường
STBH = Giá trị thiệt hại thực tế
Trong chế độ bảo hiểm miễn thường có khấu trừ, thiệt hại thực tế phải lớnhơn mức miễn thường quy định mới được bồi thường nhưng STBH sẽ bị khấu trừtheo mức miễn thường này
STBH = Giá trị thiệt hại thực tế- Mức miễn thường
-Chế độ bảo hiểm theo tỷ lệ
Có hai loại tỷ lệ được áp dụng:
+ Tỷ lệ số tiền bảo hiểm (STBH) /Giá trị bảo hiểm (STBH)
Tỷ lệ này được áp dụng để tính ra số tiền bồi thương trong trường hợp bảohiểm dưới giá trị
GTBH
+ Tỷ lệ số phí đã nộp/Số phí lẽ ra phải nộp
Tỷ lệ này được áp dụng trong các trường hợp khai báo không chính xác rủi
ro Bên bảo hiểm thường áp dụng tỷ lệ này để thanh toán nếu chấp nhận bồithường
STBT = Giá trị thiệt hại thực X Phí bảo hiểm đã nộp
Phí bảo hiểm lẽ ra phải nộp
Trang 13- Chế độ bảo hiểm theo rủi ro đầu tiên
Theo chế độ bồi thường này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả STBT theo mộtgiới hạn đã thỏa thuận Các tổn thất của người được bảo hiểm nằm trong giới hạnnày được gọi là tổn thất thuộc rủi ro đầu tiên hoặc tổn thất đầu tiên các lần rủi rotiếp theo cơ quan bảo hiểm không trả tiền cho người tham gia bảo hiểm nữa
Ví dụ: Có số liệu về một hợp đồng bảo hiểm như sau:
- Giá trị bảo hiểm: 500.000.000 đvtt
- Số tiền bảo hiểm: 420.000.000 đvtt
- (Số tiền bảo hiểm được khôi phục sau mỗi lần bồi thường của bảo hiểm(bảo hiểm theo tỷ lệ))
- Mức miễn thường 2.000.000 đvtt (Mức khấu trừ được tính sau khi áp dụngđiều khoản bồi thường theo tỷ lệ)
Trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng đã phát sinh các sự cố được bảo hiểmvới giá trị thiệt hai như sau:
Ngày tháng
xảy ra Trị giá thiệt hại
Giá trị thực tế của đối tượng bải hiểm trướcthời điểm xảy ra sự cố (đvtt)
Trang 14Số tiền bồi thường
1.1.4 Các hình thức bảo hiểm trong nền kinh tế
1.1.4.1 Căn cứ vào mục đích hoạt động của các tổ chức quản lý quỹ bảo hiểm
a Bảo hiểm có mục đích kinh doanh (BH thương mại)
Là hoạt động của các công ty bảo hiểm trong lĩnh vực bảo hiểm kinh doanh(BHKD) Người bảo hiểm tìm kiếm lợi ích kinh tế trên cơ sở của hợp đồng bảohiểm mà qua đó, đổi lấy phí bảo hiểm Người bảo hiểm cam kết thực hiện bồithường hoặc trả tiền bảo hiểm cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảohiểm
b Hoạt động bảo hiểm không vì mục đích kinh doanh
Mục đích hoạt động của loại hình bảo hiểm này là nhằm mục đích tương hỗgiữa các thành viên tham gia Với tư cách là tổ chức quản lý quỹ xã hội, quỹ tàichính tập trung, bảo hiểm xã hội (BHXH) hoạt động không vì mục đích lợi nhuận
mà phục vụ cho chính sách xã hội, vì mục đích và quyền lợi của người lao động cótham gia bảo hiểm xã hội
1.1.4.2 Theo chủ thể quản lý quỹ bảo hiểm
a Phương thức chuyển giao phân tán rủi ro
Theo cơ chế này, người tham gia bảo hiểm sẽ chuyển giao, phân tán các rủi
ro cho các tổ chức bảo hiểm mà bản thân không muốn hoặc không thể gánh chịuđược bằng việc trích nộp một phần thu nhập của mình cho các tổ chức bảo hiểmdưới dạng phí bảo hiểm
Trang 15b Phương thức tự bảo hiểm
Thay vì việc chuyển giao rủi ro cho các tổ chức chuyên môn hóa trong hoạtđộng bảo hiểm, tự bảo hiểm là việc các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp thànhlập các quỹ dự trữ riêng để bù đắp các tổn thất có thể xảy ra đối với quá trình sảnxuất và đời sống của mình
1.1.4.3 Theo đối tượng bảo hiểm
a Bảo hiểm tài sản
Đối tượng bảo hiểm là tài sản của tập thể hay cá nhân bao gồm: vật có thực:
ô tô, xe máy, tàu thủy… tiền, giấy tờ có giá Thiệt hại được bồi thường trong loạihình bảo hiểm này mang tính vật chất
b Bảo hiểm trách nhiệm dân sự
Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm trước pháp luật của một tổ chức (có tưcách pháp nhân) hay một cá nhân (có tư cách thể nhân) đối với bên thứ ba khi tổchức hay cá nhân này gây ra lỗi cho bên thứ ba
c Bảo hiểm con người
Đối tượng bảo hiểm là con người hay các bộ phận của cơ thể con người haycác vấn đề có liên quan như tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe, tai nạn…
1.1.5 Vai trò của bảo hiểm trong nền kinh tế
1.1.5.1 Vai trò kinh tế
Bảo hiểm nói chung và các loại hình bảo hiểm nói riêng đều mang lại lợiích kinh tê- xã hội thiết thực Xét về mặt kinh tế bảo hiểm có những vai trò to lớnsau đây:
+ Góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư:
Từ khi các loại hình bảo hiểm ra đời cho đến nay đã chứng minh bảo hiểmgóp phần rất to lớn trong việc ổn định tài chính cho các cá nhân và các tổ chứctham gia bảo hiểm Có thể là ổn định về thu nhập nếu tham gia bảo hiểm xã hộihay bảo hiểm thất nghiệp Cũng có thể là ổn định về tài chính nếu tham gia bảohiểm bảo hiểm y tế hay bảo hiểm thương mại Bởi lẽ, khi rủi ro hay các sự kiệnbảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm, nếu bị tổn thất, các cơ quan hay doanh
Trang 16nghiệp bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịp thời để người tham gia nhanhchóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống và sản xuất, làm cho sản xuất, kinhdoanh phát triển bình thường Vai trò này đáp ứng được mục tiêu kinh tế củangười tham gia nên đối tượng tham gia bảo hiểm ngày càng đông đảo
Trong các nền kinh tế hiện đại, bảo hiểm đã trực tiếp đảm bảo các khoảnđầu tư Hầu hết các dự án đầu tư hiện nay đã đòi hổi phải có bảo hiểm Không có
sự đảm bảo của bảo hiểm thì các chủ đầu tư mà nhất là các ngân hàng liên quan sẽkhông dám mạo hiểm đầu tư vốn cho dự án
+ Kênh huy động vốn hữu hiệu để đầu tư phát triển kinh tế
Các cơ quan và doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro và
sự kiện bảo hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm Điều đó cho phép họ có một sốtiền rất lớn và cần phải quản lý chặt chẽ để đảm bảo quyền lợi cho người tham giabảo hiểm Ngoài ra, giữa thời điểm xảy ra rủi ro do tổn thất và thời điểm chi trảhoặc bồi thường luôn có một khoảng cách nhất định Khoảng thời gian này có thểkéo dài nhiều năm, nhất là trong bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm xã hội Bởi vậy,
số phí thu được phải dựa vào dự trữ, dự phòng và phải đem đầu tư để thu lãi
Thêm vào đó, các loại hình bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm xã hội lại ngàycàng phát triển nhanh chóng và số phí được tồn tích lại ngày càng lớn Điều đócàng khẳng định thêm vài trò huy động vốn để đầu tư của toàn ngành bảo hiểm là
vô cùng quan trọng đối với các nền kinh tế
+ Bảo hiểm góp phần ổn định và tăng thu cho ngân sách đồng thời thúc đẩyphát triển quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước
Với các loại quỹ bảo hiểm ngày càng tăng do người tham gia bảo hiểmđóng góp, các cơ quan, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trợ cấp hoặc bồi thường kịpthời cho họ để ổn định đời sống và sản xuất nếu như đối tượng bảo hiểm gặp phảirủi ro hay sự kiện bảo hiểm Vì vậy, ngân sách Nhà nước không phải chi tiền đểtrợ cấp cho các thành viên, các doanh nghiệp khi gặp rủi ro
Mặt khác hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại còn cótrách nhiệm đóng góp vào ngân sách thông qua các loại thuế mà các doanh nghiệp
Trang 17bảo hiểm phải nộp Và cũng trong hoạt động này, mối quan hệ giữa các doanhnghiệp bảo hiểm thông qua tái bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm để phân tán rủi ro.Điều đó cho thấy vai trò ổn định và tăng thu cho ngân sách, đồng thời phát triểncác mối quan hệ quốc tế của hoạt động bảo hiểm là rất đáng kể trong điều kiện thếgiới ngày nay.
+ Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, tạo nếp sống tiết kiệmtrên phạm vi toàn xã hội
Tiết kiệm trong bảo hiểm thường là tiết kiệm một cách có kế hoạch từ nội
bộ mỗi gia đình, mỗi cơ quan, doanh nghiệp Với những khoản tiền rất nhỏ, các cánhân, các hộ gia đình vẫn có thể tiết kiệm được thông qua các loại hình bảo hiểmnhân thọ Hay trong bảo hiểm xã hội, thì tiết kiệm hôm nay là để đảm bảo cuộcsống cho ngày mai khi người lao động về hưu…
Có thể nói, vài trò xã hội của bảo hiểm đã góp phần làm giảm tình trạngthất nghiệp cho người lao động và tạo dựng nếp sống đẹp trên phạm vi toàn xã hội
+ Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người dân, mọi tổ chức kinh tế- xãhội
Trang 18Thật vậy, chỉ với một mức phí bảo hiểm rất khiêm tốn mà các cơ quan, cácdoanh nghiệp bảo hiểm thu được, họ vẫn có thể giúp đỡ cho các cá nhân, các giađình, các cơ quan, doanh nghiệp khắc phục hậu quả rủi ro cho dù đó là những rủi
ro khôn lường trong cuộc sống và sản xuất Đó cũng là chỗ dựa để họ yên tâm hơn
và tin tưởng vào cuộc sống trong tương lai
1.2 Thị trường bảo hiểm
1.2.1 Khái niệm, các chủ thể tham gia trên thị trường bảo hiểm
1.2.1.1 Khái niệm
Thị trường bảo hiểm là nơi diễn ra các giao dịch mua bán các loại sản phẩmbảo hiểm, dó chính là nơi gặp gỡ của cung và cầu sản phẩm bảo hiểm, là nơi mà cảngười bán và người mua bảo hiểm tìm các loại ích kinh tế
1.2.1.2 Chủ thể tham gia trên thị trường bảo hiểm
a.Doanh nghiệp bảo hiểm
Doanh nghiệp BH là tổ chức cung cấp các dịch vụ BH
Ở Việt Nam có các loại hình doanh nghiệp BH sau:
- Doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước
Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốnđiều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chi phối bao gồm:
+ Công ty bảo hiểm Nhà nước
Đây là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổchức quản lý, đăng ký hoạt động kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệpNhà nước
+ Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà nước
Là công ty cổ phần mà toàn bộ cổ đông là các công ty Nhà nước hoặc tổchức được Nhà nước ủy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo Luậtdoanh nghiệp
Trang 19+ Công ty trách nhiêm hữu hạn Nhà nước một thành viên
Là công ty trách nhiệm hữu hạn do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ,được tổ chức quản lý và đăng ký hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước có hai thành viên trở lên
Là công ty trách nhiệm hữu hạn trong đó tất cả các thành viên đều là cáccông ty Nhà nước, hoặc có thành viên là công ty Nhà nước và thành viên khác làtổ chức được Nhà nước ủy quyền góp vốn, được tổ chức và hoạt động theo quyđịnh của Luật doanh nghiệp
+ Doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp chi phối của nhà nước
Là doanh nghiệp mà cổ phần hoặc vốn góp của Nhà nước chiếm trên 50%vốn điều lệ và Nhà nước giữ quyền chi phối đối với doanh nghiệp đó Quyền chiphối đối với doanh nghiệp là quyền định đoạt đối với điều lệ hoạt động, việc bổnhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt, việc tổ chức quản
lý và các quyết định quản lý quan trọng khác của doanh nghiệp
- Công ty cổ phần bảo hiểm
Công ty cổ phần bảo hiểm là loại hình doanh nghiệp trong đó vốn điều lệđươc chia thành nhiều cổ phần, do các cổ đông tham gia đóng góp thông qua hìnhthức phát hành cổ phiếu
- Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh
Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh là doanh nghiệp bảo hiểm do hai bên(bên Việt Nam và bên nước ngoài) hoặc nhiều bên hợp tác thành lập và kinhdoanh tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh và Hiệp định ký kết giữaChính phủ Việt Nam và Chính phủ nước ngoài
- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài
Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp bảohiểm bảo hiểm do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn và được thành lập tạiViệt Nam Nhà đầu tư nước ngoài tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quảkinh doanh
b.Tổ chức bảo hiểm tương hỗ
Trang 20Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là loại tổ chức bảo hiểm do một số thành viêncùng nhau thành lập để bảo hiểm cho chính họ Số lượng thành viên của tổ chứcbảo hiểm tương hỗ đòi hỏi rất lớn, chẳng hạn ở Pháp quy định tối thiểu là 500 Ýtưởng thành lậo tổ chức bảo hiểm tương hỗ bắt nguồn từ quan niệm về “hợp tácxã” Theo đó, các cá nhân cùng nhau đóng góp nguồn lực để được cung cấp dịch
vụ bảo hiểm với mức phí bảo hiểm rẻ nhờ vào số lượng lớn các thành viên thamgia
c.Trung gian bảo hiểm
Trung gian bảo hiểm là người được ủy quyền của một bởi một bên (bênmua bảo hiểm hoặc bên bán bảo hiểm), gọi là thân chủ để đưa thân chủ đó vào mốiquan hệ hợp đồng với bên kia (bên bảo hiểm hoặc bên mua bảo hiểm), gọi là bênthứ ba
d Môi giới bảo hiểm
Môi giới bảo hiểm là người đại diện của bên mua bảo hiểm (đối với bảohiểm gốc) hoặc doanh nghiệp nhượng tái bảo hiểm (đối với tái bảo hiểm) trongquan hệ hợp đồng bảo hiểm
đ Đại lý bảo hiểm
Đại lý bảo hiểm đại diện cho doanh nghiệp bảo hiểm trong các hoạt độngthuộc phạm vi ủy quyền của hợp đồng đại lý bảo hiểm
e Hiệp hội bảo hiểm (thêm chức năng của hiệp hội)
Các doanh nghiệp bảo hiểm đã tập hợp nhau lại trong một tổ chức, đó làHiệp hội bảo hiểm
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường bảo hiểm
1.2.2.1 Các nhân tố kinh tế
Các nhân tố kinh tế có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường bảohiểm, mà cụ thể là ảnh hưởng trực tiếp đến cung và cầu về sản phẩm bảo hiểm,đến dung lượng và cơ cấu của thị trường Xu hướng phát triển kinh tế gắn liền vớinhu cầu bảo hiểm Xu hướng phát triển kinh tế gắn liền với nhu cầu bảo hiểm Sức
Trang 21mua đối với sản phẩm bảo hiểm phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế,mức thu nhập hiện tại, chiều hướng của giá cả hoặc lạm phát, vấn đề tiết kiệm haytiêu dùng của cá nhân hay hộ gia đình, … Sự suy thoái kinh tế, tỷ lệ thất nghiệpcao, lãi suất tín dụng tăng, … đều ảnh hưởng đến sức mua sản phẩm bảo hiểm.1.2.2.2 Các nhân tố chính trị, pháp lý
Đây là những nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường bảo hiểm, quyđịnh kiểm soát các quá trình, các hoạt động và các mối quan hệ trên thị trường;đồng thời, có tác động hạn chế hoặc khuyến khích, tạo ra những thuận lợi cho thịtrường bảo hiểm phát triển Để nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước, cũng nhưbảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm, ngày càng có nhiều văn bản pháp luậtđiều chỉnh hoạt động thị trường bảo hiểm được ban hành và khuôn khổ luật pháp
đó có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường bảo hiểm
1.2.2.3 Các nhân tố xã hội, nhân khẩu
Các nhân tố nảy ảnh hưởng đến sự hình thành cầu trên thị trường bảo hiểm.Giống như các thị trường khác, thị trường bảo hiểm là do các chủ thể người mua
và người bán hợp lại Do vậy, sự phát triển dân số và mật độ dân cư là nhân tốđầu tiên ảnh hưởng trực tiếp đến cầu về sản phẩm bảo hiểm Rõ rang là nơi nàodân cư đông đúc, tốc độ tăng dân số nhanh sẽ làm tăng nhu càu tiêu dùng sảnphẩm bảo hiểm, tức là cầu trên thị trường bảo hiểm lớn, có thể phát triển thịtrường và ngược lại Cơ cấu dân cư theo độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, gia đình
… cũng ảnh hưởng đến sự đa dạng, phong phú của cầu trên thị trường và làm phânhoá thị trường bảo hiểm theo các đặc tính đó
1.2.2.4 Các nhân tố tự nhiên và các nhân tố khác
Các nhân tố tự nhiên như thời tiết, khí hậu, môi trường sinh thái, dịch bệnh
… có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xảy ra rủi ro tác động đến đối tượng bảohiểm, làm tăng hoặc giảm nhu cầu về bảo hiểm Ngoài ra, thị trường bảo hiểm cònchịu tác động của các nhân tố khác như biến động về tâm lý, xu hướng đầu tư, …
Trang 221.3 Nội dung cơ bản của kinh tế bảo hiểm
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của kinh tế bảo hiểm
Đối tượng nghiên cứu của BH là các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữangười tham gia BH với người bảo hiểm và các cá nhân và tổ chức kinh tế xã hộikhác có liên quan cũng như MQH giữa những người BH với nhau
- Đặc trưng của các mối quan hệ trong KTBH
+ Các mối quan hệ kinh tế - xã hội đề cập đến ở đây liên quan đến nhiều cánhân, tổ chức trong và ngoài lĩnh vực BH
Tính xã hội phản ánh tính cộng đồng sâu rộng và tính nhân đạo của BH
BH hoạt động theo nguyên tắc số đông bù số ít, do đó lĩnh vực này phải thu hút sốđông người tham gia
+ Người tham gia BH có thể là các cá nhân, các tổ chức kinh tế - xã hội cónhu cầu bảo hiểm
Do bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ, hơn nữa, hình thức bảo hiểm có thể
là bắt buộc hoặc tự nguyện cho nên người tham gia BH ngày càng đông đảo…
+ Người BH có thể là các tổ chức BHXH, BHYT, BHTN hoặc cũng có thể
là các tổng công ty, các công ty BHTM…
+ Mối quan hệ kinh tế giữa các cá nhân, tổ chức kinh tế -xã hội khác có liênquan ( cơ sở y tế, môi giới, đậi lỹ BH, các tổ chức ngân hàng, công ty chứngkhoán…) với người tham gia BH, người BH biểu hiện rất đa dạng ở tất cả cáckhâu: giám định sức khỏe, tư vấn, thu phí BH…
+ Hoạt động BH không chỉ dừng lại ở những mối quan hệ giữa người thamgia với người BH mà nó còn phát triển trong mối quan hệ giữa nhứng người BHvới nhau Mối quan hệ này được thể hiện rất rõ trong hoạt động nhận và nhượngtái BH
+ Mối quan hệ giữa người tham gia với người BH và giữa người BH vớinhau được thể hiện qua các hợp đồng BH, đơn BH, giấy chứng nhận BH…
1.4 Hợp đồng bảo hiểm
Trang 231.4.1 Khái niệm hợp đồng bảo hiểm
Theo Điều 12, mục 1, chương II, Luật Kinh doanh bảo hiểm CHXHCNViệt Nam “hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanhnghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanhnghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảohiểm”
Hợp đồng bảo hiểm được cấu thàn từ nhiều bộ phận, tùy thuộc vào từngnghiệp vụ bảo hiểm (thậm chí là từng dịch vụ bảo hiểm), các hợp đồng bảo hiểm
có nhiều loại dưới các tên gọi khác nhau như là: giấy yêu cầu bảo hiểm, quy tắcbảo hiểm, đơn bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bổ sung, phụ lục hợpđồng, giấy chứng nhận bảo hiểm
1.4.2 Các điều khoản cơ bản của hợp đồng bảo hiểm
Về cơ bản, các yếu tố cấu thành bảo hiểm là các điều khoản (hay nội dung)của hợp đồng bảo hiểm Tuy nhiên, các yếu tố này được xếp thành nhóm các điềukhoản chung, nhóm các điều khoản bổ sung và nhóm các điều khoản riêng
-Nhóm các điều khoản chung: Đây là nhóm các điều khoản có nội dunggiống nhau ở hầu hết các hợp đồng bảo hiểm có cùng một nghiệp vụ bảo hiểm chomột đối tượng bảo hiểm Vì thế, các điều khoản chung này thường được các doanhnghiệp bảo hiểm soạn thảo và in sẵn trong các tài liệu dưới những tên gọi như: quytắc bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, đơn bảo hiểm Các điều khoản chung của hợpđồng bảo hiểm: phạm vi bảo hiểm (rủi ro được bảo hiểm, và rủi ro loại trừ), nghĩa
vụ của các bên
- Nhóm các điều khoản riêng: Đây là những điều khoản tạo nên tính đặc thùcho mỗi hợp đồng bảo hiểm và do đó chỉ được in trước một phần Những thông tinnày chỉ được hoàn tất khi các bên đã thỏa thuận xong về hợp đồng bảo hiểm Cácđiều khoản riêng: đối tượng bảo hiểm, người được bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm,phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm…
- Nhóm các điều khoản bổ sung: áp dụng chung cho mọi hợp đồng bảohiểm cùng loại nghiệp vụ được giao kết theo kiểu đồng loạt
Trang 24CHƯƠNG 2: BẢO HIỂM HÀNG HểA VẬN CHUYỂN
2.1 Khái niợ̀m và vai trò của bảo hiểm hàng hóa vọ̃n chuyển
2.1.1 Khái niợ̀m và đụ́i tượng của bảo hiểm hàng hóa vọ̃n chuyển
2.1.1.1 Khỏi niệm
Là một trong các nghiệp vụ BH tài sản, có đối tượng là hàng hoá vậnchuyển, xép dỡ hàng bằng đường thuỷ, đường sắt, đường bộ và đường hàng không
2.1.1.2 Đối tượng của bảo hiểm hàng húa vận chuyển
Hàng húa đang trong quỏ trỡnh vận chuyển và xếp dỡ bằng đường thủy,đường sắt, đường bộ và đường hàng khụng
2.1.2 Vai trũ của bảo hiểm hàng húa vận chuyển
- Nõng cao trỏch nhiệm của cỏc bờn tham gia trong quỏ trỡnh vận chuyển vàxếp dỡ hàng húa
- Đảm bảo an toàn cho cỏc chủ hàng
- Phỏt triển cỏc mối quan hệ quốc tế
2.2 Bảo hiểm hàng hóa xuất nhọ̃p khõ̉u vọ̃n chuyển bằng đường biển2.2.1 Các loại rủi ro (RR) và tụ̉n thất trong bảo hiểm
2.2.1.1 Rủi ro hàng hải
a Khỏi niệm
Là những nguy cơ xảy ra tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ của biển xảy
ra Những tai nạn,những sự cố xảy ra một cách bất ngờ ngẫu nhiên ở trên biển
Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiờn tai, tai nạn bṍt ngờ trờn biển gõy ralàm hư hỏng hàng húa và phương tiện chuyờn chở
b Cỏc loại rủi ro hàng hải
- Theo nguụ̀n gốc:
+ Thiờn tai (mưa bóo, biển động… ở trờn biển)
+ Tai họa của biển (đõm và với tàu khỏc, bị mắc cạn, bị phỏ hủy, chỏy…)+ Cỏc tai nạn bṍt ngờ khỏc
Trang 25+ Do các hiện tượng chính trị xã hội
- Về mặt bảo hiểm
+ Rủi ro thông thường được bảo hiểm (rủi ro loại trừ): những rủi ro thườngkhông bảo hiểm trong mọi trường hợp Bao gồm: buôn lậu, tịch thu, phá bao vây,các hành vi sai lầm cố ý của người tham gia bảo hiểm…
+ Rủi ro phải bảo hiểm theo điều kiện riêng (còn gọi là rủi ro được bảohiểm trong trường hợp đặc biệt): là những rủi ro loại trừ đối với bảo hiểm hànghải Đó là những rủi ro đặc biệt, phi hàng hải như: chiến tranh, đình công, bạoloạn…Các rủi ro này chỉ được bảo hiểm nếu có mua riêng, mua thêm Khi chỉ muabảo hiểm hàng hải thì những rủi ro này bị loại trừ
+ Rủi ro không được bảo hiểm: (còn gọi là rủi ro loại trừ): là những rủi rothường không được bảo hiểm trong mọi trường hợp Bao gồm: buôn lậu, tịch thu,phá bao vây, các hành vi sai lầm cố ý của người tham gia BH…
2.2.1.2 Tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
a.Tæn thÊt
Là những thiệt hại hư hỏng, mất mát của đối tượng bảo hiểm do rủi ro gây
ra Ví dụ: rủi ro do thiên tai gây ra gây hư hỏng một số trang thiết bị trên tàu trị giá2.500 USD, rủi ro do đâm và với tàu khác làm thân tàu hư hỏng phải sửa chữa hưhỏng hết 40.000 USD
b.Phân loại
Căn cứ vào mức độ tổn thất:
Trang 26-Tổn thất bộ phận: là một phần của đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồngbảo hiểm bị hư hỏng, mất mát Ví dụ: thiếu hàng, gạo bị mất giá một phần do nướcvào kính bị vỡ một phần.
-Tổn thất toàn bộ: toàn bộ đôi tượng bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm
bị hư hỏng, thiệt hại Tổn thất bộ phận bao gồm:
+ Tổn thất toàn bộ thực tế (thực sự): toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị mấtmát, hư hỏng thật sự: hàng bị mất cắp toàn bộ, xà phòng bánh bị nóng chảy
Chỉ có TTTB “thực tế” trong 4 trường hợp sau:
Hàng hóa bị hủy hoại hoàn toàn
Hàng hóa bị tước đoạt không lấy lại được
Hàng hóa không còn là vật thể bảo hiểm
Hàng hóa ở trên tàu mà tàu được tuyên bố là mất tích
+ Tổn thất toàn bộ ước tính: là thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm cóthể chưa tới mức độ tổn thất toàn bộ nhưng đối tượng bảo hiểm bị từ bỏ một cáchhợp lý bởi tổn thất toàn bộ xét ra không thể tránh khỏi, hoặc có thể tránh khỏinhưng phải bỏ ra một chi phí lớn hơn giá trị của đối tượng bảo hiểm
VÝ dô: gạo chở trên tàu bị ướt hết, chi phí sửa chữa tàu lớn hơn giá trị củacon tàu, một tàu chở sắt thép xây dựng bị đắm trên hành trình do gặp bão Nếutiến hành trục vớt thì chi phí trục vớt có thể bằng hoặc lớn hơn giá trị ban đầu của
lô hàng
Căn cứ vào tính chất của tổn thất (trách nhiệm của BH):
-Tổn thất riêng (TTR): Là loại tổn thất chỉ gây ra thiệt hại cho một hoặc một số chủ hàng ở trên tàu TTR chỉ liên quan đến từng quyền lợi riêng biệt TTR
do một RR bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra ở bất cứ đâu chứ không riêng gì trên
biển TTR gây ra cho người nào thì người đó chịu
Ví dụ: Tàu hàng đang đi trên biển thì gặp bão, toàn bộ lô hàng gạo của chủhàng A bị mưa làm giảm chất lượng…
TTR bao gồm:
Trang 27+ Thiệt hại về vật chất: Hàng hóa của các chủ hàng bị thiệt hại, hư hỏng bộphận hay hư hỏng toàn bộ, tàu chở hàng bị hư hỏng Ví dụ: tàu bị đâm va phải đá,thân tàu bị hư hỏng, thiệt hại, nước biển tràn vào trong tàu làm lô hàng bông củachủ tàu A bi ướt giảm giá trị.
+ Tổn thất chi phí riêng: là những chi phí phát sinh bảo quản hàng hóa đểgiảm bớt thiệt hại hoặc để khỏi hư hại thêm bao gồm: chi phí xếp dỡ gửi hàng,đóng gói lại, thay thế bao bì ở bến khởi hàng hoặc dọc đường
Ví dụ: để giảm bớt tổn thất do nước vào làm hàng bông giảm giá trị cần dỡhàng và đóng gói thay thế bao bì cho lô hàng bông của chủ hàng A Toàn bộ chiphí phát sinh khi thực hiện các công việc trên được coi là chi phí hợp lý và là bộphận tổn thất chi phí riêng của TTR
-Tổn thất chung (TTC): Là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiếnhành một cách cố ý, hợp lý nhằm mục đích cứu tàu và hàng hóa chở trên tàu, cướcphí cho tàu thoát khỏi một sự nguy hiểm chung, thực sự đối với chúng
Ví dụ: thuyền trưởng tuyên bố dùng 2 kiện hàng của chủ hàng B để bịt lỗthủng của tàu do bị đâm va vào đá
Muốn có TTC phải có hành động TTC Có hành động TTC khi và chỉ khi
có sự hy sinh hoặc chi phí bất thường được tiến hành một cách hợp lý
Ví dụ: Hành động TTC là hành động thuyền trưởng tuyên bố dùng 2 kiệnhàng của chủ hàng B để bịt lỗ thủng của tàu, cứu cả đoàn tàu
Các thiệt hại, chi phí hoặc hành động được coi là TTC khi có các đặc trưng:
- Hành động TTC phải là hành động tự nguyện, hữu ý của những người trêntàu theo lệnh của thuyền trưởng hoặc người thay mặt thuyền trưởng
- Hy sinh hay chi phí phải đặc biệt bất thường
- Hy sinh hoặc chi phí phải hợp lý và vì an toàn chung cho tất cả các quyềnlợi trong hành trình
- Nguy cơ đe dọa cuộc hành trình phải nghiêm trọng
- Mất mát hay thiệt hại phải là hậu quả trực tiếp của hành động TTC
- TTC phải xảy ra trên biển
Trang 28Bước 1: xác định giá trị TTC (Gi)Giá trị TTC bao gồm giá trị tài sản hy sinh và các chi phí liên quan đếnhành động TTC được xác định theo các đặc trưng đã nêu ở trên
Bước 2: Xác định tỷ lệ phân bổ TTC (t)Tỷ lệ phân bổ TTC (t) là tỷ lệ phần trăm giữa giá trị tài sản và chi phí TTCvới giá trị chịu phân bổ TTC
Tỷ lệ phân bổ TTC
Giá trị TTC (Gi)
x 100Giá trị chịu phân bổ TTC (Gc)
Gc là giá trị của tất cả các quyền lợi có mặt trên tàu ngay trước khi xảy rahành động TTC Như vậy, nếu TTR xảy ra sau TTC thì giá trị TTR vẫn phải đónggóp chịu phân bổ TTC, nếu xảy ra trước thì không tham gia phân bổ
Giá trị chịu phân
Số tiền đónggóp TTC củamỗi bên (Mi)
=
Giá trị chịu phân bổ
TTC của mỗi bên
(Gc)
x Tỷ lệ phân bổ
TTC
Trang 29Ví dụ: Một lô hàng xuất khẩu có tổng giá trị bảo hiểm (giá CIF) là 200.000 USD Trong đó của:
+ Chủ hàng A: 120.000 USD
+ Chủ hàng B: 80.000 USD
Con tàu tham gia bảo hiểm ngang giá trị với số tiền là 300.000 USD Trong chuyến hành trình, tàu bị mắc cạn, thân tàu bị hỏng dự kiến phải sửa chữa hết 2.000 USD Để thoát nạn, thuyền trưởng ra lệnh phải ném một số hàng hóa của chủ hàng B xuống biển trị giá 20.000 USD, chi phí có liên quan là 2000 USD Tới cảng đến, trong khi bốc dỡ, một kiện hàng của chủ hàng A rơi xuống biển mất tích trị giá 10.000 USD.
Bước 1: Xác định giá trị TTC (Gi)
Gi = 20.000 USD + 2.000 USD = 22.000 USDBước 2: Xác định tỷ lệ phân bổ TTC (t)
Xác định giá trị chịu phân bổ TTC
= (300.000 -2.000) +120.000 + 80.000 = 498.000 -Tỷ lệ phân bổ TTC = 22.000/498.000 = 0,044= 4,4%
Bước 3: Xác định mức đóng góp TTC của mỗi bên (Mi- chi số I làcác bên liên quan đến TTC)
-Chủ tàu: (300.000 – 2.000) x 0,044 = 13.112 USDChủ tàu đã bỏ ra chi phí chung 2000 nên chỉ phải trả thêm:
Trang 30Điều kiện bảo hiểm là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của doanhnghiệp bảo hiểm đối với tổn thất của hàng hóa Hàng được bảo hiểm theo điềukiện bảo hiểm nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong điều kiện đó mới đượcbồi thường Như vậy, điều kiện bảo hiểm về chất là phạm vi bảo hiểm, bao gồmcác rủi ro được bảo hiểm và các rủi ro loại trừ Nội dung cơ bản của ICC(International Commercial Chairman) 1-1-1982
- Điều kiện bảo hiểm C
Phạm vi bảo hiểm theo điều kiện C: tổn thất hay tổn hại của hàng hóa đượcbảo hiểm có nguyên nhân hợp lý do cháy nổ, tàu bị mắc cạn, chìm đắm, bị lật,đâm va, dỡ hàng tại cảng lánh nạn., TTC, phần trách nhiệm mà người tham giabảo hiểm phải chịu theo điều khoản hai tàu đâm và nhau đều có lỗi
Các loại rủi ro loại trừ (rủi ro không được bảo hiểm) bao gồm: tổn thất haytổn thật do hành vi xấu, cố ý của người tham gia bảo hiểm, rò rỉ, hao hụt thôngthường về trọng lượng, khối lượng hoặc hao mòn tự nhiên của đối tượng được bảohiểm, do nội tỳ hoặc bản chất của hàng hóa, tổn thất hoặc tổn hại do đóng bao bìkhông đủ điều kiện, không thích hợp, tổn thất hoặc tổn hại mà nguyên nhân trựctiếp là chậm trễ…Điều kiện C không bồi thường tổn thất do mất nguyên kiện hàngcũng không phân biệt TTTB hay TTBP
Trong ví dụ trên, nếu chủ hàng A mua bảo hiểm theo điều C thì không đượcbồi thường vì rủi ro xảy ra với chủ hàng này là mất nguyên kiện hàng (khôngthuộc phạm vi bảo hiểm của điều kiện C)
-Điều kiện bảo hiểm B
Theo điều kiện này, ngoài các rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện C, doanhnghiệp bảo hiểm còn bồi thường tổn thất hay tổn hại đối với hàng hóa được bảohiểm do động đất, núi lửa, sét đánh, bị nước biển cuốn khỏi tàu, nước biển, nướcsông, hồ xâm nhập vào hầm tàu, vào container hoặc nơi bán hàng, tổn thất nguyênkiện hàng trong quá trình xếp dỡ, chuyển tải
- Điều kiện bảo hiểm A
Trang 31Đây là điều kiện bảo hiểm có phạm vi rộng nhất, bao hiểm tất cả những hưhỏng, mất mát của hàng hóa, kể cả rủi ro cướp biển, chỉ trừ những rủi ro loại trừtheo quy định và không áp dụng mức miễn thưởng.
-Điều kiện bảo hiểm chiến tranh
Theo điều kiện bảo hiểm này, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thườngnhững mất mát, hư hỏng của hàng hóa do: chiến tranh, nội chiến, cách mạng, nổiloạn, khởi nghĩa hoặc xung đột dân sự xảy ra từ những biến cố đó hoặc bất kỳhành động thù địch nào, chiếm đoạt, bắt giữ hoặc kiếm chế…
- Điều kiện bảo hiểm đình công
Theo điều kiện bảo hiểm này, chỉ bảo hiểm cho những mất mát, hư hỏngcủa hàng hóa được bảo hiểm do: người đình công, công nhân bị cấm xưởng hoặcnhững người tham gia gây rối loạn lao động, bạo loạn hoặc nổi dậy, hành độngkhủng bố hoặc vì mục đích chính trị…
-Điều kiện bảo hiểm ở Việt Nam
Ngoài các điều kiện bảo hiểm theo ICC 1982, hiện nay trên thị trường bảohiểm Việt Nam đang áp dụng các điều kiện bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằngđường biển, có thể áp dụng cho cả việc bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nối tiếpbằng đường bộ, đường sông hoặc đường hàng không Ví dụ: các điều kiện bảohiểm C, B và A trong Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằngđường biển ban hàng kèm theo Quyết định số 263/BHHH/98 ngày 12/12/1998 củaTổng giám đốc Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex
2.2.3 Giá trị BH và phí BH
2.2.3.1 Giá trị BH
Ví dụ: Công ty vật tư nông nghiệp II, nhập 15000 tấn phân bón trị giá2.500.637 USD (giá C&F) Hợp đồng chuyên chở từ Nga về cảng Hải Phòng.Công ty tham gia bảo hiểm lô hàng trên tại Bảo Việt theo điều kiên A và Bảo Việtchấp nhận bảo hiểm toàn bộ lô hàng theo giá CIF cộng lãi ước tính 10%, tỉ lệ phíbảo hiểm là 0,7% Xác định phí bảo hiểm lô hàng
Trang 32Giá trị bảo hiểm (GTBH )hàng hóa xuất nhập khẩu là giá trị thực tế của lôhàng được tính bằng giá CIF bao gồm: giá hàng hóa (C- Cost), cước phí vậnchuyển (F- Freight)và phí bảo hiểm và các chi phí có liên quan khác (I-Insurance).
Công thức xác định GTBH ( CIF)
C + F CIF = -
1 - RTrong đó: C: là giá trị của hàng hóa được tính bằng giá FOB tại cảng đi,F:cước phí vận chuyển, R tỷ lệ bảo hiểm
Ngoài ra để thỏa mãn nhu cầu của người tham gia bảo hiểm đối với hàngthương mại các doanh nghiệp bảo hiểm có thể nhận bảo hiểm thêm cả phần lãi dựtính, tức mức chênh lệnh giữa giá mua ở cảng đi và giá bán ở cảng đến (thực chấtđây là lợi nhuận thương mại không hoàn toàn là giá trị của hàng được bảo hiểm
Công thức xác định giá GTBH (CIF) có phần lãi dự tính
( C + F ) ( a + 1) CIF= -
1 – RTrong đó: C,F ,R theo công thức trên, a là tỷ lệ phần trăm lãi dự tính
Theo ví dụ trên, giá trị bảo hiểm được xác định theo công thức
( C + F ) ( a + 1) CIF= -
Trang 33Số tiền bảo hiểm (STBH )là số tiền đăng ký bảo hiểm ghi trong hợp đồngbảo hiểm STBH được xác định dựa trên cơ sở GTBH Hóa đơn hàng là tài liệuchắc chắn nhất đẻ xác định GTBH của hàng.
Thông thường các chủ hàng thường tham gia bảo hiểm ngang giá trị nên STBH = GTBH
C + F STBH = -
1 - RTrong trường hợp không có lãi dự tính
( C + F ) ( a + 1) STBH= -
1 – RTrong trường hợp có lãi dự tính
Trong trường hợp STBH cao hơn GTBH, đó là “bảo hiểm trên giá trị” còngọi là “bảo hiểm vượt mức”
Trong trường hợ STBH thấp hơn GTBH, đó là “bảo hiểm dưới giá trị” còngọi là “bảo hiểm dưới mức”
Trong ví dụ trên công ty vật tư nông nghiệp II mua bảo hiểm ngang giá trịnên STBH bằng GTBH = 2770091,339 USD
P = Sb x (1+ a ) x R
Trang 34Trong đó Sb là STBH (đã được xác định ở trên), a và R đã biết ở trên.
Trong ví dụ trên P = Sb x R = 2770091,339 x 0,7% = 19.390,64 USD.Tỷ lệ phí bảo hiểm (R) được ghi trong hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuậngiữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm Tỷ lệ phí phụ thuộc vàocác yếu tố sau:
+ Loại hàng hóa: hàng dễ bị tổn thất như dễ vỡ, dễ bị mất cắp thì tỷ lệ phíbảo hiểm sẽ cao hơn
+ Loại bao bì: bao bì càng chắc chắn tỷ lệ phí bảo hiểm càng hạ
+ Phương tiện vận chuyển: hàng được chở trên tàu trẻ có tỷ lệ phí bảo hiểmthấp hơn hàng được chở bằng tàu già
+ Hành trình: tỷ lệ phí tăng lên đối với những hành trình có nhiều rủi ro(theo thống ke kinh nghiệm) hoặc hành trình qua các vùng có xung đột chiếntranh
Trong một số trường hợp có nguy cơ gia tăng rủi ro (ví dụ hàng được vậnchuyển trên tàu già…), tỷ lệ phí bảo hiểm bao gồm hai phần sau:
2.2.4 Giám định và bồi thường tổn thất
2.2.4.1 Nghĩa vụ của người tham gia BH khi xảy ra tổn thất
Khi phương tiện chở hàng bị tai nạn và đe dọa an toàn cho hàng hóa củangười tham gia BH thì người tham giaBH phải có trách nhiệm thông báo cho cơquan liên quan nơi gần nhất để các cơ quan này có biện pháp theo dõi và phòng bịcho tàu và hàng hóa
Trang 35Nếu được thông tin hay phát hiện thấy thực tê hàng hóa bị tổn thất thì ngườitham gia BH cần làm ngay các việc sau: thông báo và làm giấy yêu cầu đề nghịdoanh nghiệp bảo hiểm giám định ngay Việc giám định hàng hóa bảo hiểm bị tổnthất phải do doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành theo đơn đề nghị của người thamgiaBH Nếu vụ tổn thất không được giám định viên của doanh nghiệp giám địnhthì sẽ không được doanh nghiệp chấp nhận bồi thường
2.2.4.2 Khiếu nại đòi bồi thường
Khi rủi ro xảy ra, người tham gia BH khiếu nại đòi bồi thường Khi khiếunại, người tham gia BH gửi đến doanh nghiệp bảo hiểm các giầy tờ sau: thư khiếunại hoặc công văn khiếu nại, hợp đồng bảo hiểm hoặc giấy khiếu nại bổ sung, vậntải đơn bản chính, hóa đơn mua bán bản chính, biên bản giám định hàng bảnchính, các chứng từ giao nhận hàng của cảng hoặc của cơ quan chức năng, thôngbáo tổn thất, hợp đồng vận chuyển, hóa đơn, biên lai các chi phí khác
2.2.4.3 Giám định và bồi thường tổn thất
Giám định là việc làm của doanh nghiệp bảo hiểm hoặc của người được ủythác nhằm đánh giá, xác định nguyên nhân, mức độ và trách nhiệm đối với tổn thấtcủa đối tượng được bảo hiểm để làm cơ sở cho việc tính toán tiền bồi thường Việcbồi thường tuân theo các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1: STBT < = STBH + chi phí đã chi ra để cứu vớt hàng, chiphí cứu nạn, chi phí giám định…
- Nguyên tắc 2: Bồi thường bằng tiền, không bồi thường bằng hiện vật
- Nguyên tắc 3: Nguyên tắc khấu trừ, doanh nghiệp BH sẽ khấu trừ cáckhoản tiền mà người tham gia BH đòi được ở người thứ 3
Trình tự tiến hành bồi thường:
- Bồi thường TTC
+ Doanh nghiệp bồi thường tiến hành bồi thường phần TTC cho ngườitham gia BH dù hàng được BH theo điều kiện nào và bất kỳ tỷ lệ nào nhưng khôngvượt quá STBH
Trang 36+ Không bồi thường trực tiếp cho người tham gia BH mà thanh toán chongười tính toán TTC do hãng tàu chỉ định
+ STBT này được cộng thêm hay khấu trừ phần chênh lệch giữa số tiềnthực tế đã đóng góp vào TTC và số tiền phải đóng góp vào TTC
- Bồi thường TTR
+ Đối với TTTB thực tế: bồi thường toàn bộ STBH
+ Đối với TTTB ước tính: bồi thường toàn bộ STBH nếu người tham gia
BH từ bỏ hàng (Nếu người tham gia BH không từ bỏ hàng hoặc xin từ bỏ nhưngdoanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận thì bồi thường theo mức độ tổn thất thựctế)
+ Đối với TTBP: bồi thường số kiện, số bao hàng bị thiếu, mất hay giá trịtrọng lượng số hàng rời bị thiếu, mất hoặc bồi thường theo mức giảm giá trịthương mại của phần hàng bị tổn thất
Ngoài ra doanh nghiệp bảo hiểm còn áp dụng chế độ bảo hiểm theo mứcmiễn thường (có khấu trừ hoặc không khấu trừ) nhằm giảm trách nhiệm bồithường của doanh nghiệp khi tổn thất xảy ra đối với hàng hóa được bảo hiểm
2.3 Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa
2.3.1 Phạm vi của bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nội địa
2.3.1.1 Rủi ro được BH
Cháy hoặc nổ, động đất, bão lụt, gió lốc, sóng thần, sét đánh, phương tiệnvận chuyển bị đắm, lật đổ, rơi, mắc cạn, đâm và vào vật thể khác, trật bánh, câygãy đổ, cầu cống, đường hầm và các công trình kiến trúc khác bị sập đổ, phươngtiện chở hành mất tích Các chi phí: các chi phí hợp lý cho việc phòng tránh haygiảm nhẹ tổn thất , các chi phí hợp lý cho việc dỡ hàng lưu kho, gửi đi tiếp hànghóa được bảo hiểm tại một nơi dọc đường đi do hậu quả của rủi ro thuộc phạm vitrách nhiệm bảo hiểm, các chi phí hợp lý cho việc giám định tổn thất thuộc phạm
vi trách nhiêm bảo hiểm
2.3.1.2 Rủi ro loại trừ
Trang 37Chiến tranh, nội chiến, cách mạng, khởi nghĩa, phản loạn, hành động xấu,
cố ý hay hành vi phạm pháp của người được bảo hiểm hay người làm công cho họ,mất mát, hư hỏng do khuyết tật vốn có hoặc nội tỳ của hàng hóa, xếp hàng quá tảihoặc sai quy cách an toàn về hành hóa nguy hiểm, đóng gói sai quy cách, bao bìkhông thích hợp hoặc hàng bị hỏng trước khi xếp lên phương tiện vận chuyển…
2.3.2 Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm được xác định theo công thức
P = Sb x RNếu là hàng thương mại
P = Sb x (1+ a ) x RTrong đó Sb là STBH, R là tỷ lệ phí bảo hiểm, a là tỷ lệ lãi dự tính (%)Phí bảo hiểm gồm hai phần:
+ Phí chính: tính theo phương thức vận chuyển (đường sắt, đường sông,ven biển, đường bộ) Tỷ lệ phí BH chính đối với đường bộ là thấp nhất, đối vớiđường ven biển là cao nhất
+ Phí phụ: tính theo tuyến đường (Bắc Nam, miền núi, sang các nước lâncận…)
2.3.3 Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
GTBH và STBH được xác đinh tương tự như hàng hóa xuất nhập khẩu
2.3.4 Bồi thường tổn thất
2.3.4.1 Đối với tổn thất bộ phận
Số tiền bồi thường = STBH x Tỷ lệ tổn thất
Trong đó tỷ lệ tổn thất được xác định tại nơi dỡ hàng theo công thức sau:
2.3.4.2 Đối với tổn thất toàn bộ
STBT = Tổn thất toàn bộ thực tế = Số tiền bảo hiểm
Trang 38CHƯƠNG 3: BẢO HIỂM VẬT CHẤT CÁC PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN
3.1 Khái niệm và vai trò của bảo hiểm vật chất các phương tiện vận chuyển
3.1.1 Khái niệm và đối tượng bảo hiểm
3.1.1.1 Khái niệm
BH vật chất các phương tiện vận chuyển là một phương pháp để bù đắpnhững tổn thất, những thiệt hại về vật chất các phương tiện vận chuyển cho chủcác phương tiện này khi rủi ro xảy ra với chúng
Bảo hiểm vật chất các phương tiện vận chuyển là một nghiệp vụ bảo hiểmtài sản mà đối tượng (tài sản) được bảo hiểm chính là những chiếc xe còn giá trị vàđược phép lưu hành trên lãnh thổ quốc gia
3.1.1.2 Đối tượng BH
Phần vật chất của các phương tiện vận chuyển thông dụng: bảo hiểm thântàu thủy, bảo hiểm thân máy bay, bảo hiểm vật chất xe cơ giới
3.1.2 Vai trò của bảo hiểm vật chất các phương tiện vận chuyển
Chủ xe tham gia bảo hiểm vật chất xe là để bồi thường những thiệt hại vậtchất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây nên Vì vậy, đốitượng bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản than những chiếc xe có giá trị và đướcphép lưu hành trên lãnh thể quốc gia
Đối với xe môtô, xe máy thường các chủ xe tham gia bảo hiểm toàn bộ vậtchất than xe
Đối với xe ô tô, các chủ xe có thể tham gia toàn bộ hoặc cũng có thể thamgia từng bộ phận của xe
3.2 Bảo hiểm vật chất thân tàu thủy
3.2.1 Phạm vi bảo hiểm
a Các rủi ro được bảo hiểm
- Tàu bị chìm đắm, cháy nổ, mắc cạn, đâm va
Trang 39- Tàu bị mất tích do mọi lý do
- Tàu bị hại do lỗi lầm của thủy thủ đoàn, do cướp biển
b Rủi ro loại trừ
RR về chiến tranh, đình công, RR do sự cố ý, lỗi lầm của người được bảohiểm và các RR vi phạm điều kiện của BH
3.2.2 Điều kiện bảo hiểm
3.2.2.1 Điều kiện bảo hiểm tổn thất toàn bộ TLO (Totol Loss Only)
Theo điền kiện bảo hiểm này những tổn thất sau được bảo hiểm:
-TTTB thực tế khi con tàu bị đắm, bị nổ tung, bị phá hủy hay phải phá hủy,
bị tước quyền sở hữu do bị cướp Khi tổn thất xảy ra do những rủi ro trên bảohiểm bồi thường theo số tiền bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm thân tàu giữa chủtàu và doanh nghiệp bảo hiểm không tính mức miễn thường
-TTTB ước tính: những tổn thất xảy ra làm hỏng thân tàu do tàu bị cháy,mắc cạn, đắm mà nếu bỏ chi phí để sửa chữa thì chi phí này lớn hơn số tiền bảohiểm, hoặc khi tàu bị hỏng nghiêm trọng mà chi phí sửa chữa tàu lớn hơn số tiềnbảo hiểm hoặc khi tàu bị cướp, mất cắp
Ngoài những tổn thất trên, điều kiện bảo hiểm tổn thất toàn bộ còn bồithường các chi phí cứu nạn hợp lý Đó là các chi phí để kéo tàu ra khỏi cạn, chiphí lai dắt tàu hàng…
3.2.2.2 Điều kiện bảo hiểm loại trừ tổn thất thân tàu FOD (Free of Demage Absolutely)
Điều kiện bảo hiểm này có phạm vi rộng hơn điều kiện bảo hiểm TLO,ngoài số tiền bồi thường cho chủ tàu theo điều kiện TLO Điều kiện bảo hiểmFOD còn bồi thường trong các trường hợp sau:
-Các chi phí tố tụng, đề phòng, hạn chế tổn thất phát sinh do rủi ro đượcbảo hiểm
- Các chi phí mà chủ tàu đã đóng góp vào tổn thất chung
Trang 40- Các chi phí mà chủ tàu phải bồi thường do phát sinh trách nhiệm dân sựvới bên thứ ba Thông thường công ty bảo hiểm sẽ bồi thường cho chủ tàu 3/4trách nhiệm dân sự của chủ tàu
3.2.2.3 Điều kiện bảo hiểm loại trừ tổn thất riêng về thân tàu FPA (Free from particular average absolutely)
Điều kiện bảo hiểm này bao gồm các điều kiện bảo hiểm theo FOD, ngoài
ra điều kiện này còn bảo hiểm cho các trường hợp sau:
-Bảo hiểm tổn thất bộ phận do hành động tổn thấtchung như: hỏng hóc hệthống đèn điện, buồm, neo, tời, nồi hơi…
- Bảo hiểm các tổn thất riêng, tổn thất bộ phận của tàu do va chạm với tàukhác trong khi cứu nạn, cứu hỏa trên tàu
3.2.2.4 Điều kiện bảo hiểm thời hạn thân tàu ITC (Institute time Clause)
Đây là điều kiện bảo hiểm rộng nhất trong bảo hiểm thân tàu Điều kiện bảohiểm này bảo hiểm tất cả các tổn thất và chi phí theo điều kiện bảo hiểm FPA.Ngoài ra còn bảo hiểm cho các trường hợp sau:
-Bảo hiểm tổn thất bộ phận của chủ tàu do hành động tổn thất chung gây ra(ngoài những bộ phận đã được bảo hiểm theo điều kiện FPA)
- Bảo hiểm tổn thất riêng và tổn thất bộ phận của tàu và máy móc thiết bị
do tai nạn bất ngờ gây ra (ngoài những tổn thất riêng và tổn thất bộ phận được bảohiểm theo điều kiện FPA)
3.2.3 Phí bảo hiểm
3.2.3.1 STBH
STBH <= GTBH + Cước phí chuyên chở hàng hóa + Chi phí điều hànhThông thường chủ tàu mua bảo hiểm dưới giá trị bảo hiểm
- GTBH = vỏ tàu + trang thiết bị, máy móc trên tàu
- BH cước phí chuyên chở là bảo hiểm cho phần cước phí mà chủ tàu phảitrả lại cho chủ hàng do không đưa được hàng về đến bến Phần cước phí vậnchuyển này có giá trị tối đa bằng 25% STBH