3 Câu 1 Từ quan điểm duy vật biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, anhchi hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận? Vân dụng ý nghĩ phương pháp luận vào hoạt động thực tiễ.
Trang 1hệ giữa vật chất và ý thức, anh/chi hãy rút ra ý nghĩa phương pháp luận? Vân dụng ý nghĩ phương pháp luận vào hoạt động thực tiễn bản thân? Bài làm
1 CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHÚNG – NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM 1.1 Nội dung của chủ nghĩa duy vật biện chứng Việc giải quyết khía cạnh thứnhất trong vấn đề cơ bản của triết học - vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy vàtồn tại, tinh thần và giới tự nhiên, ý thức và vật chất, hay theo cách nói phươngĐông là mối quan hệ giữa tâm và vật - đã chia các nhà triết học thành haitrường phái lớn: các nhà duy vật và các nhà duy tâm
Những người cho vật chất, tồn tại, giới tự nhiên có trước và quyết định ýthức, tinh thần, tư duy hợp thành những trường phái khác nhau của chủ nghĩaduy vật; còn những người có quan điểm ngược lại hợp thành các trường pháikhác nhau của chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy vật đã trải qua nhiều giai đoạn với nhiều hình thức khácnhau như chủ nghĩa duy vật thời cổ đại (từ thế kỷ VII tr.CN đến thế kỷ IIItr.CN), chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII XVIII, chủ nghĩa duy vật biện chứng (từthế kỷ XIX đến nay) Qua đó ta thấy, chủ nghĩa duy vật biện chứng là đỉnh caocủa chủ nghĩa duy vật
Chủ nghĩa duy vật biện chứng được C.Mác và Ph.Angghen sáng lập (thế
kỷ XIX) và được V.I.Lênin bổ sung, phát triển (cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷXX) Chủ nghĩa duy vật biện chứng đã khắc phục được tính trực quan, siêu hìnhcủa chủ nghĩa duy vật trước đó, và đạt đến chủ nghĩa duy vật hoàn bị, khoa họcnhư V.I.Lênin nói Trên quan điểm biện chứng, nó không chỉ duy vật trong giới
tự nhiên, mà còn duy vật trong đời sống xã hội Nội dung cơ bản của chủ nghĩaduy vật biện chứng được thể hiện tập trung trong quan niệm đúng đắn về vậtchất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa chúng
1.1.1 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất
Khắc phục những thiếu sót của chủ nghĩa duy vật trước Mác, chủ nghĩaduy vật biện chứng đã phân biệt phạm trù vật chất và sự tồn tại vật chất ở nhữngdạng cụ thể; chỉ ra tính khách quan, tính vô tận, vô hạn, tính không thể sáng tạo
và không thể tiêu diệt được của vật chất; tính thống nhất vật chất của thế giới vàphương thức, hình thức tồn tại của vật chất là không gian, thời gian và vận động
V.I.Lênin định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thựctại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác củachúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”
Trang 2Như vậy, theo V.I.Lênin, vật chất là một phạm trù triết học (khái niệmrộng nhất) để phân biệt nó với vật chất trong các khoa học cụ thể, vật chất thôngthường hàng ngày, với những biểu hiện cu thể của vật chất - có giới hạn, có sinh
ra và có mất đi; còn vật chất theo quan niệm triết học là không sinh ra và khôngmất đi, vô tận, vô hạn Vật cụ thể là vật chất, nhưng vật chất đâu chỉ là nhữngvật cụ thể; vật cụ thể là hữu hình nhưng vật chất đâu chỉ là những vật hữu hình;không vì phát hiện ra một dạng mới của vật chất mà nó tăng lên; ngược lại,không vì một hình thức cụ thể của vật chất mất đi mà nó giảm đi Nó vô tận, vôhạn, không được sinh ra và không mất đi, luôn vận động, biến đổi, chuyển hóakhông ngừng từ dạng này sang dạng khác
Mặt khác, vật chất là thực tại khách quan, tức tồn tại khách quan, ở bênngoài và độc lập với ý thức con người và loài người Thế giới vật chất tồn tạidưới dạng các sự vật, hiện tượng cụ thể vô cùng phong phú, đa dạng, nhưngchúng đều có một thuộc tính chung: tồn tại khách quan, bên ngoài và độc lập với
ý thức con người và loài người Đó là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất màchủ nghĩa duy vật biện chứng thừa nhận Thuộc tính này đã giúp chúng ta nhậnthức rõ hơn đâu là vật chất dưới dạng xã hội
Vật chất là thực tại khách quan; nhưng thực tại khách quan này không tồntại một cách trừu tượng, mà bằng cách nào đó (trực tiếp hay gián tiếp) tác độnglên các giác quan của con người và được các giác quan này nhận biết Khôngphải mọi hiện tượng vật chất khi tác động lên giác quan của con người đều đượccon người nhận biết; có cái phải qua dụng cụ khoa học, thậm chí có cái dụng cụkhoa học cũng chưa thể nhận biết, nhưng nếu nó tồn t khách quan, ở bên ngoài
và không phụ thuộc vào ý thức của người thì nó vẫn là vật chất
Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin đã giải quyết được vấn đề cơ bản củatriết học trên quan điểm duy vật; khắc phục được những thiếu sót của chủ nghĩaduy vật trước Mác về vật chất; xác nhận, chứng minh thêm cho tính triệt để củachủ nghĩa duy vật; và có ý nghĩa định hướng đối với các khoa học cụ the nhữngdạng hoặc các hình thức mới của vật chất
Vậy, vật chất tồn tại bằng những cách thức, phương thức nào? Đó là vậnđộng, không gian và thời gian Vận động là mọi sự biến đổi và mọi quá trìnhdiễn ra trong vũ trụ kể từ sự thay đổi vị trí giản đơn cho đến tư duy Vận động làthuộc tính cố hữu (vốn có) của vật chất, là phương thức tồn tại của vật chất, tứcvật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động Các hình thức và cácdạng khác nhau của vật chất chỉ có thể nhận thức được thông qua vận động;thuộc tính của vật thể chỉ bộc lộ qua vận động Vật chất và vận động không táchrời nhau, không thể hình dung nổi vật chất không có vận động; ngược lại, khôngthể tưởng tượng nổi có thứ vận động nào lại không phải là vận động của vật chất(ý thức suy cho cùng cũng chỉ là một thuộc tính của một dạng vật chất đặc biệt -
Trang 3bộ óc của con người) Vật chất không do ai sáng tạo ra và không thể bị tiêu diệt,cho nên, vận động - phương thức tồn tại của vật chất, cũng không do ai sáng tạo
ra và cũng không thể bị tiêu diệt
1.1.2 Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về ý thức
Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức là một thuộc tính của vật chất,nhưng không phải của mọi dạng vật chất mà chỉ là thuộc tính của vật chất sốngđặc biệt có tổ chức cao, đó là bộ não của con người
Về nguồn gốc của ý thức, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng ý thức cónguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc tự nhiên gồm bộ óc conngười và thuộc tính phản ánh của bộ óc với tư cách là hình thức phản ánh caonhất của thế giới vật chất
Bộ óc con người là cơ sở, nền tảng vật chất của ý thức Hoạt động của ý thứcdiễn ra trên cơ sở hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc, phụ thuộc vào hoạtđộng của bộ óc; bởi vậy khi bộ óc bị tổn thương thì ý thức cũng không thể hoạtđộng bình thường được
Tuy nhiên, nếu chỉ có bộ óc thì cũng không thể có ý thức Muốn có ý thứccần phải có quá trình tác động của thế giới khác quan lên bộ óc để bộ óc phảnánh Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của vật chất, biểu hi trong sự tácđộng qua lại giữa các sự vật, hiện tượng, là năng lực tái hiện lại đặc điểm của hệthống vật chất này ở hệ thống vật chất khác khi chúng tương tác với nhau.Thuộc tính phản ánh của vật chất cũng có nhiều cấp độ: phản ánh vật lý, hóa học
có tính chất thụ động, chưa có sự chọn lọc, định hướng; phản ánh sinh học đã có
sự lựa chọn, định hướng để thích nghi với môi trường nhằm duy trì sự tồn tạicủa nó, thể hiện ở kích thích do tác động của môi trường ở thực vật, các phản xạ
ở động vật có hệ thần kinh, tâm lý động vật ở động vật cấp cao có bộ óc
Phản ánh ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh, chỉ nảy sinh và xuấthiện ở bộ óc của con người Nhưng, nếu chỉ có nguồn gốc tự nhiên thì chưa có ýthức, cái quyết định để hình thành ý thức là nguồn gốc xã hội, đó là lao động,ngôn ngữ
Lao động là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiênnhằm tạo ra của cải nuôi sống mình Thông qua lao động, con người làm cho sựvật bộc lộ thuộc tính, tính chất, qua đó phản ánh và có hiểu biết, có tri thức về sựvật, hình thành ý thức Ngôn ngữ ra đời từ trong lao động và phát triển cùng vớilao động, là vỏ vật chất của tư duy Vì vậy, không có ngôn ngữ không thể có ýthức Ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết) vừa là phương tiện giao tiếp vừa là công cụcủa tư duy Nhờ có ngôn ngữ, con người mới có thể khái quát hóa, trừu tượnghóa những thuộc tính của vật chất, để có hiểu biết sâu về bản chất của sự vật.Ngôn ngữ còn là phương tiện để truyền đạt kinh nghiệm hiểu biết của con người
Trang 4thế hệ trước cho thế hệ sau Nhờ được kế thừa nên ý thức của con người ngàycàng phát triển Bản chất của ý thức được thể hiện ở một số khía cạnh sau:
Thứ nhất, ý thức, suy cho cùng, là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trongđầu óc con người Ý thức “không bao giờ có thể là cái gì khác hơn là sự tồn tạiđược ý thức”, “hình ảnh chủ
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.3,tr.37
53thay đổi theo Trong xã hội, đời sống vật chất thay đổi thì muộn đời sống tinhthần cũng thay đổi theo Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vậtchất som
Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau: Thứ nhất, ý thức có thể khôngthay đổi cùng với sự thay đổi của vật chất, thông thường sự thay đổi của ý thứcchậm hơn so với sự thay đổi của vật chất
Thứ hai, vai trò của ý thức thể hiện ở chỗ nó chỉ đạo hoạt động nhận thức củacon người bằng cách hình thành nên những ý định, tư tưởng, mục tiêu, kế hoạch,biện pháp Nó có thể quyết định tính đúng hay sai, thành công hay thất bại tronghoạt động thực tiễn Khi phản ánh đúng hiện thực khách quan, ý thức có thể dựbáo một cách tương đối chính xác cho hiện thực, có thể hình thành nên lý luậnkhoa học, soi đường chỉ đạo hiện thực Khi ý thức phản ánh sai lệch hiện thực cóthể dẫn đến thất bại trong hoạt động thực tiễn của con người
Thứ ba, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất làtrong thời đại ngày nay, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cuộcCách mạng công nghiệp lần thứ tư Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vai trò của trithức khoa học, của tư tưởng chính trị, tư tưởng nhân văn là hết sức quan trọng.Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: phải khơi dậy khát vọng phát triển phồn vinh,hạnh phúc, niềm tự hào, tự tin, tài năng trí tuệ để đổi mới tư duy, thúc đẩy sựphát triển đất nước nhanh và bền vững
Trang 51.2 Đặc điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Đặc điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện trung ở những điểmsau:
Thứ nhất, chủ nghĩa duy vật biện chứng là sự thống nhất
phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật
56
giTrước C.Mác ta thấy, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng là tách rời nhau,
cụ thê, chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII-XVIII là chủ nghĩa duy vật máy móc, siêuhình, tức không phải là chủ nghĩa duy vật biện chứng; còn đỉnh cao của phépbiện chứng là phép biện chứng của Hêghen lại là phép biện chứng duy tâm, tứckhông phải là phép biện chứng duy vật Chỉ đến chủ nghĩa duy vật do C.Mácsáng lập thì hai yếu tố trên mới thống nhất với nhau, không tách rời nhau, cụ thê,chủ nghĩa duy vật của C.Mác là chủ nghĩa duy vật biện chứng; còn phép biệnchứng của C.Mác là phép biện chứng duy vật
Thứ hai, chủ nghĩa duy vật biện chứng là chủ nghĩa duy vật triệt để TrướcC.Mác, đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật là chủ nghĩa
duy vật nhân bản của L.Phoiơbắc chỉ duy vật trong giới tự nhiên, nhưng vẫn duytâm trong lĩnh vực xã hội Duy tâm ở chỗ, ông chưa nhận ra cái gì là nhân tốquyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội, tức chưa tìm ra đâu là vật chấtdưới dạng xã hội Ông phê phán tôn giáo nhưng lại đề cao một tôn giáo khác, đó
là tôn giáo tình yêu C.Mác nhận xét, “khi Phoiơbắc là nhà duy vật thì ôngkhông bao giờ đề cập đến lịch sử; còn khi ông xem xét đến lịch sử thì ông khôngphải là nhà duy vật”
Trang 6Với quan niệm duy vật về lịch sử, C.Mác đã chỉ ra vật chất dưới dạng xã hội, đóchính là tồn tại xã hội Tồn tại xã hội, suy cho cùng, là yếu tố quyết định sự vậnđộng và phát triển của xã hội Ph.Ăngghen cho rằng, quan niệm duy vật về lịch
sử là một trong hai cống hiến vĩ đại của C.Mác
Thứ ba, chủ nghĩa duy vật biện chứng là sự thống nhất giữa
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1995, t.3,tr.65
57 65lý luận và thực tiễn, giữa tính cách mạng và tính khoa học C.Mặc chorằng, các nhà triết học trước kia chủ yêu chỉ giải thích thể giới bằng nhiều cáchkhác nhau, song vấn đề là cải tạo thế, Như vậy, chủ nghĩa duy vật biện chứngkhông chỉ giải thích thể giới mà còn góp phần cải tạo thế giới bằng hoạt độngthực tiễn của con người giới
Tính cách mạng và tính khoa học trong chủ nghĩa duy vật biện chứng là khôngtách rời nhau Tính khoa học trong chủ nghĩa duy vật biện chứng đã bao hàm vàđòi hỏi trong nó tính cách mạng; bởi lẽ tính khoa học đòi hỏi phải chỉ ra đượcquy luật vận động khách quan của lịch sử, phải đấu tranh chống lại mọi sự bảothủ, chống lại mọi áp bức bất công, cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mớiNgược lại, tính cách mạng trong chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng bao hàmtrong nó tính khoa học; bởi lẽ để chống lại xã hội cũ, xây dựng xã hội mới thìphải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, tức phải dựa vào khoahọc
Thứ tư, chủ nghĩa duy vật biện chứng là thế giới quan của giai cấp công nhân vànhân dân lao động trên toàn thế giới Chủ nghĩa duy vật biện chứng là thế giớiquan của giai cấp công nhân, nhưng lợi ích của giai cấp công nhân lại phù hợpvới lợi ích của nhân dân lao động Cho nên, với sự ra đời của triết học Mác, lầnđầu tiên trong lịch sử, nhân dân lao động có được một thế giới quan thực sựkhoa học của mình Đó là thế giới quan khoa học và cách mạng, là vũ khí tưtưởng trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động vàtoàn thể nhân loại khỏi áp bức bóc lột
Trang 7Chủ nghĩa duy vật biện chứng là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, một hệ tưtưởng đã được luận chứng bằng khoa học, phản ánh những quy luật phát triểnkhách quan của lịch sử.
582 VAI TRÒ CỦA CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG VIỆCXÂY DỰNG THẾ GIỚI QUAN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO,QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Thế giới quan triết học duy vật biệnchứng là thế giới quan 2.1 khoa học
Thế giới quan, theo nghĩa hẹp, là quan niệm hay hệ thống quan niệm của conngười về thế giới Quan niệm hay hệ thống quan niệm này cũng không phải lànhất thành bất biến mà nó thay đổi theo thời đại, phụ thuộc vào mức độ hiểu biết
và cải tạo giới tự nhiên của con người Nhưng thế giới không tách rời con người.Bởi vậy, theo nghĩa rộng, thế giới quan là hệ thống những quan niệm của conngười về thế giới; về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thâncuộc sống của con người và loài người trong giai đoạn lịch sử nhất định mỗi
Cấu trúc thế giới quan Thế giới quan bao gồm nhiều yếu tố, nhưng nổi trội hơn
cả là các yếu tố sau: tình cảm, lý trí, niềm tin, tri thức, lý tưởng Các yếu tố nàyliên hệ mật thiết, không tách rời nhau, trong đó tri thức đóng vai trò hạt nhân, cơ
sở Tri thức tự bản thân nó chưa phải là thế giới quan, nó chỉ gia nhập vào thếgiới quan khi nó chuyển thành niềm tin Khi đó, tri thức mới trở nên sâu sắc, bềnvững hình thành nên lý tưởng định hướng cho hoạt động của con người
Trải qua các giai đoạn lịch sử, thế giới quan cũng có nhiều hình thức khác nhau:
Thứ nhất, thế giới quan huyền thoại Thế giới quan huyền thoại là thế giới quancủa người nguyên thủy trong đó cái hiện thực và cái tưởng tượng, cái có thật vàcái hoang đường, lý trí và tín ngưỡng, tư duy và cảm xúc,v.v hòa quyện vàonhau
Thứ hai, thế giới quan tôn giáo Thế giới quan tôn giáo phản ánh hiện thực mộtcách hư ảo, trong đó niềm tin đóng vai trò cùng quan trọng.thé Thứ ba, thế giớiquan triết học Triết học lý giải bằng hệ thống các định nghĩa, khái niệm, phạmtrù thống tri thức chung nhất, khái quát nhất về thế giới, về vị trí c con người
Trang 8trong thế giới đó, bởi vậy, nó là hạt nhân lý luận của giới quan giới bằn Triếthọc là h
Thế giới quan triết học duy vật biện chứng là thế giới khoa học vì nó phản ánhmột cách đúng đắn, chân thực, khách thế giới khách quan bên ngoài; là thế giớiquan dựa trên những thành tựu của khoa học, được khoa học và thực tiễn chứngminh, bao gồm những tri thức đúng đắn về thế giới Người có thể quan khoa học
sẽ có nhận thức đúng đắn, tình cảm trong sáng, lành mạnh, có niềm tin vào bảnthân vào cuộc sống Ngược lại, sẽ làm mất định hướng và dẫn con người đếnhành động tiêu cực giới quan quan
Thav luan
2.2 Tầm quan trọng của việc xây dựng thế giới quan duy vật biện chứng cho độingũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay Thế giới quan triết học duyvật biện chứng là thế giới quan khoa học Thế giới quan khoa học duy vật biệnchứng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý
Một là, thế giới quan triết học duy vật biện chứng giúp đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý có nhận thức đúng đắn về quy luật vận động, biến đổi của thế giới xungquanh, qua đó giúp con người xác định đúng mục tiêu, phương hướng hoạt độngcủa mình Thế giới quan triết học duy vật biện chứng yêu cầu phải quán triệtquan điểm khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Quan điểm khách quan yêu cầu:
Thứ nhất, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, mọi chủ trương, đường lối, kếhoạch, mục tiêu đều phải xuất phát từ thực tế khách quan, từ những điều kiện,tiền đề vật chất hiện có Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII cho rằng, mọi chủtrương, đường lối phải bám sát thực tiễn của đất nước và xu thế của thời đại
60 69Thứ hai, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách nếu không làmnhư vậy, chúng ta sẽ phải gánh chịu những hậu quả tai hại khôn lường Văn kiệnĐại hội Đảng lần thứ XIII cho quan, rằng, đổi mới phải tôn trọng quy luật kháchquan không được lấy ý muốn chủ quan thay cho điều kiện khách quan
Trang 9Thứ ba, nhận thức sự vật, hiện tượng phải chân thực, đúng đắn, không được tôhồng hoặc bôi đen đối tượng, không được gán cho đối tượng cái mà nó không
có Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII chủ trương: phải dũng cảm nhìn thẳngvào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật
Thứ tư, nhận thức, cải tạo sự vật, hiện tượng nhìn chung phải xuất phát từ chínhbản thân sự vật, hiện tượng đó với những thuộc tính, mối liên hệ bên trong vốn
có của nó
Thứ năm, quan điểm khách quan đòi hỏi phải phát huy tính năng động sáng tạocủa ý thức, phát huy ý chí, khát vọng, đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát huy vaitrò nhân tố con người, chống tư tưởng, thái độ thụ động, ỷ lại, ngồi chờ, bảo thủ,trì trệ, thiếu tính sáng tạo; phải coi trọng vai trò của ý thức, coi trọng công tác tưtưởng và giáo dục tư tưởng, coi trọng giáo dục lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời, phải giáo dục và nâng cao trình độ tri thứckhoa học, củng cố, bồi dưỡng nhiệt tình, ý chí cách mạng cho cán bộ, đảng viên
và nhân dân nói chung, nhất là trong điều kiện nền văn minh trí tuệ, kinh tế trithức, toàn cầu hóa hiện nay; coi trọng việc giữ gìn, rèn luyện phẩm chất đạo đứccho cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự thống nhất giữa nhiệt tình cách mạng và trithức khoa học
Để thực hiện nguyên tắc khách quan và phát huy tính năng động của nhân tố chủquan của con người, phải nhận thức và dụng đúng đắn các mối quan hệ lợi ích,phải biết kết hợp các loại ích khác nhau, như: lợi ích kinh tế, lợi ích chính trị, lợiíchthần,v.v lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích xã hội; phải có cơ trong sáng,thái độ thật sự khách quan, khoa học, không vụ lợi Hai là, thế giới quan triếthọc duy vật biện chứng giúp đội n đông ngu
cán bộ lãnh đạo, quản lý hiểu đúng ý nghĩa cuộc sông, giúp
người có ý chí và quyết tâm hoạt động vì sự tiến bộ của xã hội và
của bản thân Thế giới quan triết học duy vật biện chứng sẽ là tiền đề lập nhânsinh quan tích cực, hình thành tình cảm, thái độ, hành vi của đội ngũ cán bộ lãnh
Trang 10đạo, quản lý trong quan hệ với thế giới xung quanh và với những người khác.хас
Trong thời đại ngày nay, khi các mối quan hệ xã hội đã trở nên hết sức phức tạp,tính chủ động của con người ngày càng được đề cao, thì vai trò của thế giới quankhoa học càng lớn Thế giới quan triết học duy vật biện chứng là một trongnhững cơ sở quan trọng của quá trình hình thành nhân cách người cán bộ lãnhđạo, quản lý Nói cách khác, thế giới quan triết học duy vật biện chứng góp phầncủng cố niềm tin, lý tưởng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, làm cho hoạtđộng lãnh đạo, quản lý có tính định hướng, có ý nghĩa hơn
Ba là, thế giới quan triết học duy vật biện chứng giúp đội ngũ cán bộ lãnh đạo,quản lý có cơ sở khoa học để đấu tranh có hiệu quả chống lại các loại hình thếgiới quan duy tâm, tôn giáo, siêu hình, không khoa học, để xây dựng đời sống xãhội lành mạnh, tiến bộ, phát huy được vai trò của con người trong hoạt độngthực tiễn
Bốn là, thế giới quan triết học duy vật biện chứng tạo cơ sở để nâng cao nhậnthức, hiểu biết cho độ ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Ngày nay, khoa học càngphát triển, càng củng cố tính đúng đắn của thế giới quan triết học duy vật biệnchứng giúp con người nhận thức về thế giới đúng hơn và cải tạo thế giới hiệuquả hơn Ví dụ như, cơ học tương đối ra đời góp phần giải thích rõ hơn chứkhông
62
con
bác bỏ cơ học cổ điển; cơ học lượng tử lại làm sâu thêm nhận thức của conngười về chuyển động và các đại lượng vật lý liên quan đến chuyên động nhưnăng lượng và xung lượng, của các vật thể nhỏ bé, ở đó lưỡng tính sóng - hạt màthôi
Năm là, thế giới quan duy vật biện chứng góp phần trang bị cho đội ngũ cán bộlãnh đạo, quản lý tầm nhìn xa, trông rộng; khắc phục được bệnh kinh nghiệm,thiên cận, tùy tiện, sự vụ, chắp vá, mò mẫm, “chỉ nhìn thấy cây mà không thấy
Trang 11rừng”, lẻ tẻ, vụn vặt, tâm lý tiểu nông Điều này rất quan trọng đối với người cán
bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiệnnay
Sáu là, thế giới quan duy vật biện chứng sẽ khắc phục được bệnh chủ quan duy
ý chí trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Bệnh chủ quan duy ý chí làkhuynh hướng cường điệu, thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của ý chí; tách rời,thậm chí đối lập ý chí với thức; coi ý chí có tính độc lập tuyệt đối, tách rời (xarời) hiện thực khách quan
Trong cuộc sống, trong đời sống xã hội, cái vật chất và cái tinh thần, cái kháchquan và cái chủ quan thường quyện chặt vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, ranhgiới giữa chúng chỉ có tính tương đối Điều đó dễ gây ra sự lẫn lộn, dễ lấy chủquan thay cho khách quan, nghĩa là dễ rơi vào bệnh chủ quan, duy ý chí Xâydựng hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp chưa có tiền đầy khókhăn, phức tạp, đòi hỏi chủ thể phải phát huy cao độ nhân tố chủ quan, phải cónhiệt tình cách mạng và tính tự giác Nhưng vai trò của nhân tố chủ quan cànglớn thì nguy cơ mắc bệnh chủ quan cũng càng lớn, vì khi đó người ta dễ cườngđiệu vai nhân tố chủ quan mà bất chấp quy luật khách quan, dễ lấy nhiệt tìnhcách mạng thay cho sự yếu kém về tri thức khoa học, yếu về lý luận.Bệnh chủquan, duy ý chí là một sai lầm có tính chất phổ biến ở nhiều nước xã hội chủnghĩa, trong đó có Việt Nam trước đây, đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng
Cụ thể, từ năm 1975 đến năm 1986 (trước Đại hội VI) ta đã mắc những sai lâmnghiêm trọng mà khuynh hướng tư tưởng chủ yếu là bệnh chủ quan, duy ý chí,lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan.Điều này thể hiện ở nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, chỉ xây dựng thànhphần kinh tế quốc doanh và tập thể, xóa bỏ mọi thành phần kinh tế khác; có lúcđẩy mạnh quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng; có nhiều chủ trương sailầm trong cải cách tiền lương, giá cả, tiền tệ, tóm lại là vi phạm nhiều quy luậtkhách quan Mặt khác, còn có biểu hiện thoát ly cả lý luận khoa học lẫn thựctiễn đất nước, từ đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng, góp phần làm cho nềnkinh tế, xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Bởi vậy, đấu tranhkhắc phục và ngăn chặn bệnh chủ quan, duy ý chí có ý nghĩa rất quan trọng vàđòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên
độ
ta
Trang 12N
Bệnh chủ quan, duy ý chí ở Việt Nam không chỉ có ngu gốc từ nhận thức(cường điệu, thổi phồng, tuyệt đối hóa vai trò của ý chí chủ quan con người) màcòn có nguồn gốc lịch sử, xã hội, giai cấp (sai lầm “tả” khuynh trong cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân; sai lầm có tính chất chủ quan nóng vội trong thời kỳxây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc) Bệnh chủ quan, duy ý chí, do nhữngđiều kiện lịch sử ở Việt Nam quy định nên có những nét đặc thù, biểu hiện ởlòng ham muốn và ảo tưởng “tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội” thông qua cácchủ trương, chính sách và hành động thực tiễn, chứ không phải bắt nguồn mộtcách tự giác từ một học thuyết duy tâm nào đó Bệnh chủ quan, duy ý chí ở ViệtNam chủ yếu là do thiếu kiến thức, kém lý luận, ít kinh nghiệm, sự lạc hậu trongnhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội gây nên
2 VAI TRÒ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Phương pháp và phương pháp luận
Phương pháp
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “methodos” có nghĩa con đường, công cụ nhận thức, hoạt động thực tiễn Theo nghĩa thông thường, phương pháp là những cách thức, thủ đoạn được chủ thể sử dụng
để thực hiện một mục đích nhất định Theo nghĩa khoa học, phương pháp
là một hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Phương pháp là kết quả của việc con người nhận thức quy luật quan trên
cơ sở của hoạt động thực tiễn Chủ nghĩa duy vật khách biện chứng coi phương pháp có tính khách quan, mặc dù phương pháp do con người tạo ra
Trang 13và được con người sử dụng như những công cụ để thực hiện mục đích nhất định.
Sức mạnh của phương pháp là ở chỗ, khi phản ánh đúng đắn những quy luật của thế giới khách quan, nó đem lại hiệu quả thiết thực trong nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Có nhiều phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn t
t
60
Căn cứ vào phạm vi, có phương pháp riêng, phương pháp , và phương pháp phổ biến Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động của con người, người ta chia thành phương pháp nhận thức và chung phương pháp hoạt động thực tiễn Mặc dù vậy, các phương pháp
này có quan hệ chặt chẽ với nhau Phương pháp luận Phương pháp luận là
hệ thống quan điểm, nguyên tắc có vai trò
chỉ đạo trong việc xác định phương pháp cụ thê cũng như xác định
+ vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý và có hiệu quả Phương pháp luận giải quyết các vấn đề như: bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp là gì; phương pháp có bao nhiêu loại, tiêu chí phân loại phương pháp
là gì; phương pháp có vai trò như thế nào đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của người,v.v con
pham
Trang 14Hiện nay, triết học Mác-Lênin đóng vai trò là phương pháp luận phổ biến, đồng thời là phương pháp luận đúng đắn, khoa học vì nó được xây dựng và được khái quát hóa lên từ những thành tựu của khoa học và của thực tiễn Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “chính phép biện chứng là một hình thức tư duy quan trọng nhất đối với khoa học tự nhiên hiện đại, bởi vì chỉ có nó mới có thể đem lại sự tương đồng và do đó đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong giới tự nhiên, giải thích những mối liên
hệ phổ biến, những bước quá độ từ một lĩnh vực nghiên cứu này sang một lĩnh vực nghiên cứu khác.”, “Chỉ có phép biện chứng mới có thể giúp cho khoa học tự nhiên vượt khỏi những khó khăn về lý luận”.
Phép biện chứng duy vật là phương pháp phổ biến của tư duy, của sự nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn Nó trở thành
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2002, t.20, 1,2 tr.488; 489.
“phương pháp duy cao nhất” Phương pháp này không thay phương pháp của các ngành khoa học khác mà cơ chung của ngành khoa học và được dùng làm công cụ hoạt động thực tiễn trong mọi lĩnh vực.
2.2 Vai phương pháp luận của phép biện chứng trong hoạt động nhận thức
và hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý Việt Nam hiện nay
nước ta, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là những người giữ chức trong tổ chức của hệ thống chính trị các cấp, do bầu định giữ cương vị lãnh đạo, điều hành, quản lý; những người quán trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật trực tiếp quyết định lãnh đạo, quản lý hướng dẫn, chỉ đạo nhân dân triển khai thực trương, đường lối trong hiện thực Đội ngũ cán đạo, quản lý còn là lượng tham mưu cho Đảng và Nhà trong việc hoạch định chiến lược, hoạch, chủ trương, chính sách, giải pháp thực hiện nhiệm
vụ triển kinh tế - xã hội của các các lĩnh vực, các địa phương và cả đất nước Do vậy, người lãnh đạo, quản lý có vị vai trò rất quan trọng Mọi trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đi mang lại thành công hay thất bại đều phụ thuộc vào cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Trang 15động lãnh đạo, quản lý của đội cán bộ hoạt động đặc thù Đó là việc quyết định, chức, chỉ đạo thực tiễn, kết thực tiễn để sung, phát triển luận Để hoạt động đạo, lý có hỏi đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có phương pháp luận nhận thức hoạt động thực tiễn
Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính quốc gia Sự thật, H.2002, t.20, tr.696 khoa học Cơ sở phương pháp luận đó chính là biện chứng duy vật, được thể hiện trong ba quan điêm: quan điểm toàn diện, " điểm phát triển, quan điểm lịch sử - quan cụ the.
Thứ nhất, quan điểm toàn diện.
Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vậy Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến chỉ ra rằng, mọi sự vật, hiện tượng khách ( trong quan tòn , mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau Vì vậy, muốn nhận thức được sự vật, hiện tượng phải xem xét tất
cả các mặt, các mối liên hệ tai giữa các yếu tố, các bộ phận trong sự vật đó
và giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.
Quan điểm toàn diện yêu cầu:
Một là, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng phải xem xét
sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, thuộc tính khác nhau của sự vật, hiện tượng ấy và - mối liên hệ qua lại giữa
sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện trong tượng khác Bởi vì bản chất của
sự vật, hiện tượng được hình thành, biến đổi và bộc lộ thông qua mối liên
hệ giữa chúng với các sự vật, hiện tượng khác.
V.I.Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của
sự vật đó” Chẳng hạn, kinh tế và chính trị tồn tại trong mối quan hệ biện chứng với nhau Xem xét vấn đề chính trị mà không tính đến các quy luật kinh tế khách quan sẽ dẫn đến chủ quan duy ý chí, xem thường các quy luật khách quan Ngược lại, nếu chỉ chú ý đến kinh tế, xem nhẹ vai trò của chính trị sẽ dẫn đến chủ nghĩa duy kinh tế, không thấy được tính tích cực của chính trị Chính trị và kinh tế có mối quan hệ biện chứng với
Trang 16'V.ILênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.42, tr.364.
nhau, kinh tế thay đổi thì chính trị cũng thay đôi, nhưng không phải mọi sự thay đổi của kinh tế đều dẫn đến sự thay đổi của chính chính trị cũng có quy luật vận động, biến đổi của riêng nó tri,
Mặt khác, quan điểm toàn diện cũng yêu cầu phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó, trong tính nhiều mặt và sự động qua lại quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau của chúng Sự trong thực tế tồn tại với cách như một chỉnh thể Nó không phải “tổng số đơn giản” các mối liên hệ mà tổng số các môi liên hữu cơ, có sự tác động qua lại quy định, chi phối lẫn nhau Có nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể thì mới nhận thức được sự vật, nhận thức được bản chất của sự vật.
Từ khi đổi mới đất nước, với quan điểm đa phương hóa, dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đã hội nhập quốc tế sâu rộng Năm 1992, chúng ta đã nối lại được quan hệ với Quỹ tiền quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu (ADB); năm 1995, Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN); năm 1996 tham gia Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN (AFTA), tham gia diễn đàn hợp tác Á Âu với tư cách là thành viên sáng lập; năm 1998, Việt Nam được kết nạp là thành viên chính thức của APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương).
Sau hơn 35 năm đổi mới hội nhập quốc tế, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước, trong đó bao gồm tất cả các nước lớn;
có quan hệ thương mại với hơn 220 nước và vùng lãnh thổ, là thành viên chính thức của tất cả các tổ chức quốc tế lớn, các tổ chức và định chế thương mại, tài chính chủ chốt ở khu vực cũng như trên thế giới Điều đó chững tỏ tính đúng đắn và sáng tạo trong các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong thời đại hiện nay, việc nhận thức sâu sắc điểm, đường lối của Đảng
về hội nhập quốc tế cũng là tiền đề cho đội ngũ quan
Trang 1776cán bộ lãnh đạo, quản lý ra quyết định phù hợp, mở ra khả năng 5 tác cho các tỉnh, thành phố trong hội nhập quốc tế để phát triển hop ố - xã hội
và mở rộng giao lưu hợp tác văn hóa, tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ trong lao động sản xuất Bên cạnh đó, để kinh té hoạt động lãnh đạo, quản lý có hiệu quả, người cán bộ phải nắm chắc đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, lối sống, truyền thống, phong tục tập quán, con người ở địa phương mình thì mới ban hành được những quyết định lãnh đạo, quản lý đúng đắn, phù hợp Ngoài ra, phải biết đặt địa phương mình vào trong tổng thể liên kết một vùng, miền để tạo ra hệ thống đồng bộ, thống nhất.
Hai là, quan điểm toàn diện chỉ ra rằng, sự vật, hiện tượng tồn tai trong mối liên hệ phổ biến, nhưng vị trí, vai trò của các mối liên hể không “ngang bằng” nhau Do vậy, trong vô vàn các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng phải nắm được mối liên hệ chủ yếu, bản chất, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng để tìm ra xu hướng, cách thức, cơ chế tác động cho sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.
Trong những năm đổi mới, việc nhận thức và giải quyết những mối quan hệ lớn' thể hiện rõ quan điểm toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam Đảng ta cho rằng, những mối quan hệ lớn góp phần xác định quy luật và tính quy luật của đổi mới và phát triển đất nước, đồng thời làm rõ hơn những đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội, góp phần vào sự hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và
Các mối quan hệ lớn: (1) giữa đổi mới, ổn định và phát triển; (2) giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; (3) giữa kinh tế thị trường và định hướng
xã hội chủ nghĩa; (4) giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; (5) giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; (6) giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; (7) giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; (8) ’ng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; (9) giữa Nhà nước và thị tr hành dân chủ
và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội giữa thực
95 95con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tạo ra động lực của đổi mới và phát triển toàn diện đất nước trong thời kỳ mới Trong các mối quan hệ lớn đó, mối quan hệ giữa đôi mới kinh tế và đổi mới chính trị giữ
Trang 18vai trò trung tâm, cơ bản bởi việc giải quyết mối quan hệ này sẽ quyết định tới việc giải quyết các mối quan hệ khác.
Ở mỗi địa phương, cơ sở, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng cần biết xác định rõ thế mạnh của từng vùng, miền để ra quyết định, lãnh đạo, quản lý Hiện nay, việc thực hiện Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) theo Quyết định số 490/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 7-5-2018 đang góp phần thúc đẩy phát triển thế mạnh nông sản ở các vùng miền trên địa bàn cả nước ta, cũng là tinh thần của quan điểm toàn diện.
Ba là, quan điểm toàn diện chỉ ra rằng, nhận thức của con người về sự vật, hiện tượng cũng chỉ mang tính tương đối, không đầy đủ, trọn vẹn Bởi lẽ, trong quá trình vận động, phát triển, sự vật, hiện tượng không phải lúc nào cũng bộc lộ hết các thuộc tính ra bên ngoài Mặt khác, bản thân chủ thể nhận thức lại luôn bị giới hạn bởi những điều kiện xã hội, lịch sử gắn với nhu cầu thực tiễn và mục đích của con người Nhận thức rõ điều này, chúng
ta sẽ tránh tuyệt đối hoá tri thức về sự vật, hiện tượng và tránh coi những tri thức đã có là những chân lý bất biến, tuyệt đối, cuối cùng về su vật, hiện tượng mà không bổ sung phát triển nữa Yêu cầu “cần thiết phải xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và sự cứng nhắc”.
Không có một đường lối, chính sách, quyết định lãnh c quản lý luôn đúng khi thực tiễn đã thay đổi Do vậy, người cán \ lãnh đạo, quản lý phải luôn nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý thông qua việc học tập, đào tạo, tu dưỡng rèn luyện, nhất là bồi
' V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, 1.42
96, năng lực tư duy lý luận để có tư duy khái quát, hệ thống, tư duy chiến lược trong việc xây dựng, ban hành các quyết định quản dưỡng lý đúng đắn, phù hợp với thực tiễn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, khi trình độ lý luận chính trị , kém thì nhận thức chính trị của người cán bộ không sâu sắc, you lĩnh chính trị không vững vàng, dẫn đến dao động về lập trường tư tưởng, dễ đánh mất
Trang 19phương hướng và niềm tin vào lý bán tưởng cộng sản và chủ nghĩa xã hội.
Sự yếu kém về lý luận có thể dẫn dến “tả khuynh” hoặc “hữu khuynh”, bệnh quan liêu, công thần và nạn tham ô hủ hóa, dễ gây ra hậu quả nghiêm trọng, làm cho | mạng bị tôn thất nặng nề, làm cho phong trào cách mạng không phát triển được' Do vậy, việc học tập lý luận, khắc phục cách tình trạng “lười học lý luận”, nhất là việc quán triệt sâu sắc điểm phương pháp luận của phép biện chứng duy vật sẽ góp phần quan định hướng cho hoạt động cách mạng của người cán bộ lãnh đạo, quản lý.
Quan điểm toàn diện chống quan điểm phiến diện, chiết trung và ngụy biện Phiến diện là chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt kia; không
đảm bảo tính đồng bộ; không thấy được vị trí, vai trò khác nhau của
các mối liên hệ.
Những năm qua, nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã thu hút các dự án đầu
tư mà không tính tới các vấn đề về môi trường, an sinh xã hội và các vấn đề
xã hội khác Những dự án có quy mô lớn đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đem lại hậu quả nặng nề cho nền kinh tế và đời sống của nhân dân Ngoài ra, những hệ lụy mà nó mang lại, như: nông dân bị thu hồi đất sản xuất, tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm vẫn là những vấn đề khó giải quyết
'Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.5, tr.273-275.
97hiện nay Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo và chỉ đạo quyết liệt đối với vấn đề này Tuy nhiên, việc thay đổi điểm, tư duy của con người không thể diễn ra nhanh chóng Do vậy, đây vẫn là vấn đề rất căn bản trong việc thay đổi tư duy, nhận thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay quan
Quan điểm toàn diện cũng hoàn toàn xa lạ với chiết trung và ngụy biện Thực chất của chiết trung là kết hợp một cách vô nguyên tắc, chủ quan
Trang 20những cái mà về nguyên tắc là không thể kết hợp được hoặc coi những mối liên hệ là “ngang băng” nhau, không có sự phân biệt về vai trò của chúng Trong lãnh đạo, quản lý, những người có tư tưởng chiết trung thường thể hiện ra là những người thiếu chính kiến, thiếu bản lĩnh, lập trường, không
có thái độ rõ ràng trong lời nói và việc làm Một “căn bệnh” nguy hiêm sinh
từ những người chiết trung là chủ nghĩa cơ hội Người cơ hội về chính trị thường tung hô, ca ngợi những thành tích của tổ chức, cơ quan, nhưng lại nhấn mạnh những sai lầm, khuyết điểm của cơ quan, tổ chức ấy Những người cơ hội thường dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gây tổn hại cho tổ chức, cho cách mạng này
Trong đánh giá, bình xét, sử dụng cán bộ, người cán bộ lãnh đạo, quản lý nếu lấy yêu cầu về phẩm chất, trình độ, năng lực của người này để xem xét, đánh giá người khác là quan điểm chiết trung Điều này không chỉ đánh giá sai con người, năng lực của mỗi cán bộ và còn hạn chế sự phát triển một cá nhân, kìm hãm sự phát triển, làm mất động lực của một cơ quan, tổ chức.
Ngụy biện là lối tư duy đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò của các mối liên hệ, coi cái không cơ bản là cái cơ bản, cái không bản chất là cái bản chất Khi đó, có thể “tô hồng” hoặc “bôi đen” đối tượng Người lãnh đạo, quản lý mắc bệnh này sẽ biểu hiện ra là người độc đoán, chuyên quyền hoặc những người yếu năng lực lãnh đạo phải nịnh nọt, bợ đỡ Khi thấy cái sai của người không
88 98cùng phe cánh thì lợi dụng trù dập, nói xấu, kỷ luật nặng, “nâng điểm”; quan đối với cái sai của những người cùng phe cánh thì xuề hoặc chỉ rút kinh nghiệm Trong công tác, họ luôn tỏ ra là người cập tiên, ưa cái mới, họ luôn tìm mọi cách để lập luận cho xòa bỏ qua điểm, chính sách mới của mình để nhằm thực hiện những mục đích nhất định Trong đánh giá cán bộ, người cán bộ những quan lãnh đạo, quản lý ngụy biện không công tâm, khách quan Họ dùng “thuật ngụy biện, sẽ dẫn đến đánh giá sai năng lực, phẩm chất của người cán bộ Nhận thức rõ điều này cũng góp phần vào việc đấu tranh chống lại những tư tưởng sai trái, để bảo vệ cán bộ tốt, bảo vệ quan điểm, đường lối đúng.
Chiết trung và ngụy biện có vẻ như toàn diện, nhưng thực chất là đôi lập với quan điểm toàn diện Chiết trung và ngụy biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật hiện
Trang 21tượng Nói về sự khác nhau này, V.I.Lênin viết: “Tính linh hoạt đó áp dụng một cách chủ quan = chủ nghĩa chiết trung và ngụy biện Tính linh hoạt áp dụng một cách khách quan, nghĩa là phản ánh tính toàn diện của quá trình vật chất và là sự thống nhất của quá trình đó, thì đó là phép biện chứng, là
sự phản ánh chính xác sự phát triển vĩnh viễn của thế giới”.
Thứ hai, quan điểm lịch sử - cụ thể.
Cơ sở lý luận của quan điểm lịch sử - cụ thể là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến chỉ ra rằng, mỗi sự vật, hiện tượng tồn tại, vận động, phát triển trong những không gian, thời gian xác định, với những mối liên hệ phong phú, đa dạng, khác nhau nên việc nhận thức chúng phải tính đến những điều kiện cụ thể 'V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, t.29, tr.118 99Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu:
với , những Một là, để nhận thức được đầy đủ về sự vật, hiện tượng phải xem xét chúng trong quá trình phát sinh, phát triển, chuyên hoạ trong các hình thức biểu hiện, với những bước quanh co, ngẫu nhiên gây tác động lên quá trình tồn tại của sự vật, hiện tượng trong không gian và thời gian cụ thê V.I.Lênin cho răng: cần n xem xét “một hiện tượng nhất định đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào, hiện tượng đó đã trải qua những giai đoạn phát triển chủ yếu nào, và đứng trên quan điểm của sự phát triển đó để xét xem hiện nay nó đã trở thành như thế nào” phải
Trong thời đại ngày nay, xu hướng phát triển tất yếu của cách mạng là chủ nghĩa xã hội Đó là quy luật tiến hóa của lịch sử xã hội loài người Tuy vậy, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi quốc gia, dân tộc lại có những điều kiện đặc thù Bên cạnh những quy luật chung chi phối xu hướng tất yếu, thì vẫn có những đặc điểm riêng về kinh tế, phương thức xuất, lịch sử, truyền thống, văn hóa, lối sống, con người Tháng 5-1921, Tạp chí La Revue Communiste của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc trong bài Đông Dương đã đặt vấn đề: “Chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nói chung và ở Đông Dương nói riêng không? Đấy là vấn đề mà chúng ta
Trang 22đang quan tâm hiện nay Muốn hiểu vấn đề đó, chúng ta phải xem xét tình hình hiện nay ở lục địa châu Á về mặt lịch sử và địa lý” Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu” Ngày nay, chủ nghĩa xã hội đang được xây dựng thành công ở Việt Nam đã chứng minh cho những nhận định đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc Nhận định đó đứng trên quan điểm lịch sử - cụ thể.
V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.39, tr.78 1 2,3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.1 t
100Hai là, quan điểm lịch sử - cụ thể chống lại bệnh giáo điều, bệnh kinh nghiệm trong nhận thức, coi tri thức là bất biến, dẫn đến nhận thức, vận dụng tri thức rập khuôn, xa rời thực tiễn Chân lý được hình thành dựa trên sự phân tích và khái quát những điều kiện cụ thê trong đó sự vật, hiện tượng diễn ra Vì vậy, bất cứ một tri thức trừu tượng nào tách khỏi những điều kiện lịch sử - cụ - lịch sử - mọi chân lý trừu tượng đều sẽ trở thành một lời nói suông, trống rỗng nếu người ta đem áp dụng nó vào bất cứ tình hình
cụ thể nào Nói cách khác, khi những hoàn cảnh lịch sử - cụ thê thay đổi, sự vật cũng biên đội, những tri thức phản ánh sự vật đó cũng phải biến đổi theo Khẳng định điều đó, V.I.Lênin viết: “Không có chân lý trừu tượng, chân lý bao giờ cũng cụ thể”.
Như vậy, theo quan điểm lịch sử - cụ thể, mỗi nguyên lý, lý luận, chân lý khoa học chỉ phản ánh những mối liên hệ và quan hệ nhất định, trong từng thời điểm nhất định Nếu thoát ly những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của nó thì chân lý có thể trở thành sai lầm Khi vận dụng những nguyên lý lý luận, những chủ trương, chính sách vào thực tiễn không được dừng lại ở những
sơ đồ chung, những công thức và bài bản có sẵn, mà phải tính đến những điều kiện, những hoàn cảnh lịch sử - cụ thể của sự vận dụng, tránh rập khuôn, giáo điều, máy móc, phải xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử - cụ thể mà vận dụng một cách sáng tạo Bởi lẽ, bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ the.
Trước thời kỳ đổi mới (1986), Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa là áp dụng lý luận, kinh nghiệm một cách giáo điều theo mô hình của Liên Xô để xây dựng chế độ kinh tế cho chủ nghĩa xã hội, không tính đến trình độ của lực lượng sản xuất ở điều kiện cụ
Trang 23'VILênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2005, t.12, tr.360.
101thể mỗi nước Điều đó đã dẫn đến kìm hãm sự phát triển lượng sản xuất, tạo ra nguyên nhân dẫn đến sự khủng hoảng kinh cua - xã hội.
Ngày nay, một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta và có những hạn chế trong việc quán triệt và vận dụng quan điện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào t tiễn Do vậy, việc ban hành quyết định lãnh đạo, quản lý không c the tính sáng tạo, không đạt hiệu quả cao Văn kiện Đại hội XIII nhân định: “chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yêu, chậm được khắc phục; năng lực cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyề còn hạn chế, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, làm cho pháp luật, nghị quyết chậm được thực hiện
và hiệu quả thấp”.
Do vậy, quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu, khi vận dụng những chủ trương, chính sách của Trung ương vào địa phương, cả ngành, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hết sức sáng tạo Không nên coi những chủ trương, chính sách là những nguyên tắc bất a bất dịch, có thể áp dụng nguyên xi trong mọi hoàn cảnh, mọi thời gian và địa điểm, phải phân tích kỹ lưỡng mọi hoàn cảnh, mọi điều kiện để vận dụng cho phù hợp.
Quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể, V.I.Lênin đã đề ra Chỉnh sách kinh tế mới từ sự phân tích sâu sắc thực tiễn nước Nga sau Cách mạng tháng Mười Ngay sau Cách mạng tháng Mười năm 1917, V.I.Lênin bắt tay vào việc vạch đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga Xôviết, một nước tư bản phát triển trung bình, còn lạc hậu về kinh tế, đơn độc trong vòng vây của chủ nghĩa tư bản thế giới, thù trong, giặc ngoài, chiến tranh liên miên,v V.I.Lênin đã buộc phải áp dụng nhiều biện pháp kinh tế thời chiến
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, tI, tr.94.
Trang 24102muốn đưa nước Nga tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội Xuất phát từ thực
tế lịch sử ấy, V.I.Lênin đã phát hiện ở với mong ra chính sách cộng sản thời chiên, một mặt nhằm bảo đảm chiến thắng thù trong, giặc ngoài; mặt khác khi kéo dài quá mức chính sách cộng sản thời chiến khi chiến tranh kết thúc đã dẫn nền kinh tế nước Nga Xô viết thăm Trong bối cảnh đó, với nhãn quan chính trị sắc bén, với sự táo bạo dám vượt lên chính mình, V.I.Lênin đã lãnh đạo tới bờ vực Đảng Cộng sản Nga thay đổi căn bản quan niệm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ đó, đề ra chính sách kinh tế mới Tư tưởng đó xuất phát từ thực tiễn đời sống, từ sự sáng tạo của hàng triệu, triệu quần chúng nhân dân, từ sự phân tích cụ thê một tình hình ( cụ the.
Khi vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể Người cho rằng, lý luận Mác- Lênin có tính phổ biến cho tất cả các quốc gia trên thế giới nhưng mỗi dân tộc lại có đặc điểm riêng Việt Nam là một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế chậm phát triển, nằm trong tổng thể văn hoá phương Đông, nên nhiều vấn đề diễn ra không giống như ở phương Tây Theo Người: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? lịch sử châu Âu Mà châu Âu là gì? đó chưa phải là toàn thể nhân loại” Do vậy, việc quán triệt quan điểm lịch sử -
cụ thể là một yêu cầu cơ bản của người cán bộ lãnh đạo, quản lý hiện nay Thứ ba, quan điểm phát triển.
Cơ sở lý luận của quan điểm phát triển là nguyên lý về sự phát triển của phép biện chứng duy vậy Nguyên lý về sự phát triển chỉ ra rằng, sự vật, hiện tượng luôn có xu hướng vận động, biến đổi theo chiều hướng đi lên theo hướng hoàn thiện, tiến bộ Vì vậy,
' Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.1, tr.509-510.
103trong khi xem xét sự vật, hiện tượng phải thây được phát triển khuynh hướng chủ đạo là
Trang 25Quan điểm phát triển yêu cầu:
Một là, khi xem xét sự vật, hiện tượng, phải đặt nó trong trạng thái vận động, biến đổi; phải thấy được khuynh hướng phát triển của chính sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Mỗi giai đoạn phát triển có những đặc điêm, tính chất, hình thức khác nhau Bởi vậy, phải có sự phân tích cụ thê để tìm ra những hình thức tác động phù hợp hoặc để thúc đây, hoặc để hạn chế sự phát triển đó.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã tìm thấy tính tất yếu của cách và nền chuyên chính từ sự thắng lợi của giai cấp vô sản, cũng như ra đời của chủ nghĩa cộng sản từ những “mớ hỗn độn” các sự kiện ngẫu nhiên của các xã hội tư bản chủ nghĩa Trong Thư gửi Vây-đơ mai-ơ (1852) C.Mác cho rằng: đấu tranh giai cấp nhất thiết dẫn đến chuyên chính vô sản và bản thân nền chuyên chính này cũng chỉ là bước quá độ để đi đến thủ tiêu mọi giai cấp' Tuy nhiên, C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh rằng, cuộc cách mạng
do giai cấp vô sản tiến hành không thể thực hiện một cách dễ dàng, nhanh chóng mang Sự
Hiện nay, tình hình thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt Trên tinh thần của quan điểm phát triển, Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” Cương lĩnh
1 Xem C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1996, t.28, tr.661.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.69.
104xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ
Trang 26tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” “Đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử” Do đó, cần “kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” và “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ XX, trước tác động từ cuộc khủng hoảng của các nước chủ nghĩa xã hội trên thế giới, tư tưởng xét lại chủ nghĩa Mác-Lênin đã xuất hiện tạo ra những diễn biến phức tạp trên mặt trận tư tưởng, lý luận Các phần tử cơ hội, xét lại phủ nhận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin, cho rằng lý luận về chủ nghĩa
xã hội đã sụp đổ; phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; tuyên truyền tư tưởng về dân chủ tư sản; phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Điều này thực chất là đi ngược lại quan điểm phát triển, cản trở sự tiến bộ, văn minh của loài người.
Hai là, phát triển là khó khăn, phức tạp Để nhận thức được sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng phải thấy được sự thống nhất giữa sự biến đổi về lượng với sự biến đổi về chất; phải tìm ra được nguồn gốc bên trong của sự vận động, biến đổi; phải xác định
1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr.70 * Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, 2, 3
Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2016, tr.66; 109 4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.112 xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng
do sự phủ định biện vậy chứng quy định Trong nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải bình tĩnh, tin tưởng vào tương lai; phải ủng hộ cái mới, cái tiến bộ ra đời và phát triển Có như con người mới chủ động, tự giác, tránh được vấp váp, rủi ro.
C.Mác và Ph.Ăngghen luôn nhấn mạnh rằng, cuộc cách do giai cấp vô sản tiến hành không thể thực hiện một cách dễ dàng, nhanh chóng, thậm chí có
Trang 27những bước thụt lùi tạm thời, thất bại ở những thời kỳ lịch sử, mỗi quốc gia nhất định Nhưng theo C.Mác và Ph.Ăngghen, sự thắng lợi của cách mạng
vô sản là tất yếu Tính tất yếu đó do sự chi phối bởi các quy luật khách quan Đây là điều hết sức quan trọng đối với việc củng cố niềm tin vào thắng lợi của người cách mạng mang
Sự khủng hoảng và sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu vào những năm 80-90 của thế kỷ XX, cũng như sự thắng lợi của chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong những thập niên đầu thế kỷ XXI đã chứng minh cho nhận định của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin là đúng đắn.
Quán triệt quan điểm này, trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, trước hết, cán bộ phải nắm vững quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất Mọi sự vật, hiện tượng chỉ có sự chuyển biến về chất nếu có đủ sự tích lũy về lượng, không được nóng vội tả khuynh Trước năm 1986, do tư tưởng nóng vội, muốn tiến nhanh, tiến mạnh lên chủ nghĩa
xã hội, nên Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa mắc không ít sai lầm trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Thực hiện quốc hữu hóa nền kinh
tế, nhanh chóng xóa bỏ kinh tư nhân và chế độ tư hữu Sự nóng vội này đã dẫn đến tư tưởng tả khuynh trong hoạt động cách mạng Hiện nay, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, không
106với tư tưởng nóng vội, bệnh thành tích (biểu hiện ở việc nợ tiêu chí) đã dẫn đến việc huy động quá sức dân, gây nên tình trạng phương nợ đọng xây dựng cơ bản không có khả năng trả, làm cho nhiều nơi việc xây dựng nông thôn mới không thực chất, không bền vững.
Mặt khác, quan điểm phát triển cũng chỉ ra rằng, trong nhận thức và hoạt động thực tiên, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải mạnh dạn, sáng tạo, quyết tâm cao khi đưa ra chủ trương, đề xuất ; kiến mới khi các điều kiện vật chất, nhân tố con người đã đủ cho sự thay đổi có tính cách mạng Cần chấm dứt tình trạng trì sáng trệ, sợ trách nhiệm, tâm lý nhiệm kỳ không dám đưa ra quyết định lãnh đạo, quản lý ở địa phương, bộ, ban, ngành mình lãnh đạo, quản lý Những năm qua, việc chậm trễ trong việc giải ngân các chương trình, dự án ODA, vốn vay ưu đãi nước ngoài là đi ngược lại quan điểm phát triển Điều này có nghĩa là quan điểm phát triển chống lại
Trang 28quan điểm bảo thủ, trì trệ, ngại khó, ngại đổi mới, dễ bằng lòng với thực tại.
Quan điểm phát triển cũng đòi hỏi, trong hoạt động lãnh đạo, quản lý người cán bộ phải có năng lực nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong đời sống xã hội ở từng lĩnh vực, công tác Năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý trước hết phải là năng lực phát hiện ra các mâu thuẫn và
tổ chức chỉ đạo quần chúng nhân dân giải quyết các mâu thuẫn đó Mặt khác, việc phân tích và giải quyết mâu thuẫn xã hội không chỉ đòi hỏi sự nhiệt tình, hăng hái mà phải có sự hiểu biết, có tri thức khoa học, có vốn sống nhất định Thiếu tri thức và vốn sống cần thiết sẽ không nhận thức đúng được bản chất của mâu thuẫn và do đó, không thực sự hiểu biết thế giới khách quan, không đề ra được những phương thức giải quyết các vấn
Quan điểm phát triển còn chỉ rõ, phát triển là quá trình phức tạp, quanh
co, thậm chí có những bước thụt lùi tạm thời Nhận thức được điều này sẽ tránh tình trạng chủ quan, giản đơn khi đề ra con đường, biện pháp thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển và khắc phục sự bi quan, dao động; đồng thời, củng cố được niềm tin trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Điều
đó đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải có bản lĩnh, có tinh thần quyết tâm, bình tĩnh để định hướng cho sự phát triển Trong đó, bản lĩnh chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng Người cán bộ lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh chính trị sẽ có lập trường vững vàng, có định hướng chính trị đúng đắn, luôn làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh thực tiễn và kiểm soát được hành vi, thái độ của mình trong
Trang 29mọi tình huống Từ đó, góp phần nâng cao sức chiến đấu của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ tổ chức, bảo vệ và ủng hộ cái mới, cái tích cực, cái tiến bộ Qua đó cũng góp phần đấu tranh chống lại tư tưởng cản trở cái mới, cản trở sự phát triển, làm chênh hướng đã xác định.
Hiện nay, cuộc đấu tranh chống lại những tư tưởng lạc hậu, cản trở đổi mới đang diễn ra rất phức tạp Do vậy, trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, người cán bộ phải có thái độ kiên quyết, trên tinh thần khách quan, khoa học để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ
Ba là, quan điêm phát triển còn đòi hỏi tư duy phản ánh sự + triển của sự vật phải “mềm dẻo”, linh hoạt, phải luôn luôn phát ) sung, thay đổi cho phù hợp với sự phát triển của bản thân sự vật, hiện tượng Nắm vững điều này
sẽ khắc phục được nhận dược bô thức cứng nhắc, máy móc về sự phát triển.
Tư tưởng về cách mạng không ngừng của chủ nghĩa Mác Lênin đã cho thấy rất rõ về quan điểm phát triển Khi luận chứng về mặt lý luận, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng, quá trình cách mạng do giai cấp vô sản tiến hành phát triển không ngừng nhưng phát triển qua từng giai đoạn tuỳ theo điều kiện lịch sử cụ thể mà có những yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết Vào giữa thế kỷ XIX, đứng trước khả năng của cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ, ở Đức, Đảng Cộng sản đấu tranh chung với giai cấp tư sản trong hành động cách mạng chống chế độ quân