Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất liên hệ mật thiết với

Một phần của tài liệu Bài thi môn triết docx (Trang 40 - 52)

C. Mác trình bày trong tác phẩm Gia đình thần thánh, khi phân tích mối quan hệ giữa con người với sản phẩm lao động: “vật thể, với cách là sự tồn

1.1.3. Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất liên hệ mật thiết với

nhau, không tách rời nhau thể hiện ở chỗ, mọi lực lượng sản xuất (người sản xuất, công cụ sản xuất, đối tượng sản xuất, phương tiện sản xuất) đều được gắn kết bởi những quan hệ nhất định nào đó của quan hệ sản xuất (đều nằm trong một tổ chức sản xuất, dưới sự quản lý của một đơn vị sản xuất nào đó); ngược lại, mọi quan hệ sản xuất đều là những quan hệ nhất định của một lực lượng sản xuất nào đó, nó phải chứa đựng một nội dung nào đó.

Lực lượng sản xuất, suy cho cùng, quyết định quan hệ sản xuất. Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, lực lượng sản xuất thay đổi, sớm muộn cũng theo sự thay đổi của quan hệ sản xuất.

Mức độ chinh phục của con người đối với giới tự nhiên (rộng hay hẹp, ít hay nhiều) quy định mức độ quan hệ giữa con người con người (rộng hay hẹp, ít hay nhiều). Quan hệ giữa con người con người trong thời đại sản xuất thủ công khác quan hệ giữa người với con người trong thời đại sản xuất tự động hóa. Nói khác, thời đại kinh tế khác nhau thì quan hệ giữa con người với người trong sản xuất vật chất cũng khác nhau. Thứ hai, tư liệu sản xuất, đặc biệt là công cụ lao động qu định cách thức tổ chức quản lý sản xuất, quy mô sản xuất. Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại lực lượng sản xuất. Điều đó được biểu hiện như sau:

ở chỗ Thứ nhất, tính độc lập tương đôi của quan hệ sản xuất thể hiện quan hệ sản xuất có thể không thay đổi cùng với sự thay đ của lực lượng sản

xuất. Thông thường quan hệ sản xuất t chậm hơn so với sự thay đổi của lực lượng sản xuất. thay d

Thứ hai, quan hệ sản xuất quy định mục đích xã hội của nền sản xuất, qua đó nó tác động đến thái độ, tính tích cực của n lao động - tức là tác động tới lực lượng sản xuất. Quan hệ sản x có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Thứ ba, quan hệ sản xuất có thể tạo địa bàn cho việc ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, mở rộng quy mô, thay đổi tốc nguo Xu

quan độ, hiệu quả, xu hướng, nhịp điệu của sản xuất, khiến cho lực lượng sản xuất phát triển. Từ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và hệ sản xuất, C.Mác rút ra quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản

xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất như sau: Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng biến đổi và phát triển. Sự biến đổi đó bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi vì phát triển của lực lượng sản xuất mà trước hết là công cụ lao động. Sự biến đổi của công cụ lao động làm thay đổi trình độ của Ir lượng sản xuất, qua đó làm thay đổi quan hệ của con người với con người trong sản xuất, tức là làm thay đổi quan hệ sản xuất.

Sự phá triển của lực lượng sản xuất đến trình độ nào đó, nhất định làm cho quan hệ sản xuất trở nên không phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất nữa. Khi ấy, xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn này tất

150yếu dẫn đến đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã nhằm phá bỏ “xiềng xích trói buộc” lực lượng sản xuất để xác hoi hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ mới của lực lượng xuất, mở đường cho lực lượng sản xuất mới phát triển. Điều đó lập quan sán , có nghĩa là dẫn đến sự diệt vong của phương thức sản xuất lỗi thời và ra đời một phương thức sản xuất mới. cung Sự không phù hợp của quan hệ sản xuất đối với trình độ phát

triển của lực lượng sản xuất thể hiện ở những điểm sau: Một là, quan hệ sản xuất lạc hậu so với trình độ phát triển của lượng sản xuất như đã phân tích ở trên. Sự không phù hợp thể hiện ở hình thức sở hữu, quan hệ tổ chức

quản lý, quan hệ phân phối n phẩm không theo kịp trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

yêu Hai là, quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có những tố đi quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Ví dụ như ở Việt Nam thời kỳ trước đổi mới, quan hệ sản xuất đã vượt trước một cách giả tạo, không phù hợp với trình độ thấp kém và không đồng đều của lực lượng sản xuất nên đã cản trở lực lượng sản xuất phát triển.

Tiêu chí đánh giá sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ của lực lượng sản xuất là năng suất lao động, tính tích cực xã hội của người lao động, mức sống nhân dân, tỷ lệ lạm phát, môi trường làm việc, tình trạng đình công,v.v.. Nếu những yếu tố đó tốt, chứng tỏ quan hệ sản xuất đang phù hợp và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Những yếu tố đó tiêu cực, hạn chế chứng tỏ quan hệ sản xuất đang kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mang tính khách quan, nhưng việc nhận thức và vận dụng nó lại phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người. Khi con người nhận thức và hành động đúng quy luật thì sẽ thúc đẩy nền sản xuất xã hội phát triển, khi con người nhận thức và hành

151

tđộng không đúng quy luật thì sẽ kìm hãm sự phát triển

xuất, nhưng sự kim hãm này chỉ mang tính nhất thời, theo tính t yếu khách quan, quy luật sẽ vạch đường đi cho bản thân n buộc con người phải quay lại nhận thức và hành động cho dung t no. N luật khách quan. 1.2. Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng

cua

Cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp th cơ cấu kinh tế của một xã hội nhất định. Nó bao gồm quan hệ sản xuất tàn dư; quan hệ sản xuất thống trị và quan hệ sản xuất n mống của xã hội tương lai. Ví dụ, trong cơ sở hạ tầng của xã hội t bản có: quan hệ sản xuất tàn dư (quan hệ sản xuất phong kiến quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa (thống trị trong xã hội) và quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (mầm mống của xã hội tương lai).

Đạ trưng của cơ sở hạ tầng của một xã hội là do quan hệ sản xuất thống trị quy định, chi phối các quan hệ sản xuất khác. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất tàn dư và mầm mống cũng có vai trò quan trọng. man

Ở các quốc gia đã phát triển, quan hệ sản xuất thống trị giữ trí chi phối trong cơ sở hạ tầng. Còn ở những quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình xã hội thì quan hệ sản xuất tàn dư v quan hệ sản xuất mầm mống lại giữ vai trò quan trọng.

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,v.v.. cùng với những thiết chế tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội,v.v.. được hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầng cũng mang tính giai cấp, trong đó, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Vì nhà nước là công cụ quyền lực của giai cấp thống trị về kinh tế V.I.Lênin cho rằng, vấn đề chính quyền nhất định là vấn đề quan trọng nhất của mọi cuộc cách mạng.

152

tầngsồn tỏt Nú uy

nh

ồn

m

tu

;

an

c

go

n

Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng liên hệ mật thiết với ; tách rời nhau, bởi lẽ cơ sở hạ tầng bao giờ cũng là cơ 1 tầng của một kiến trúc thượng tầng nhất định; ngược lại, kiến không tầng bao giờ cũng là kiến trúc thượng tầng được xây nhau, so ha thượng dựng trên một cơ sở hạ tầng nhất định. Cơ sở hạ tâng, suy cho cùng, quyết định kiến trúc thượng

| tầng. Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau: Thứ nhất, cơ sở hạ tầng “sinh” ra kiến trúc thượng tầng. Quan hệ sản xuất, quan hệ kinh tế suy cho cùng quyết định quan hệ chính | trị, pháp quyền, tư tưởng; mâu thuẫn trong đời sống kinh tế, xét đến cùng, quy định mâu thuẫn trong lĩnh vực tư tưởng.

Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng rằng thể hiện ở chỗ, sự xuất hiện của nhà nước, pháp luật đều gắn liền với sự xuất hiện của chế độ tư hữu và sự phân chia thành giai cấp đối kháng. Pháp luật ra đời là công cụ của giai cấp thống trị để bảo vệ cơ sở kinh tế và trật tự xã hội do giai cấp đó đặt ra. Sự tiêu vong của nhà nước, pháp luật cũng gắn liền với sự tiêu vong chế độ tư hữu và của giai cấp. Sự biến đổi của những quan của điêm chính trị, tư tưởng cũng vậy. Mọi quan điểm chính trị, tư tưởng đều có nguồn gốc từ nguyên nhân của sự thay đổi chế độ kinh tế.

Thứ hai, cơ sở hạ tầng quy định tính chất của kiến trúc thượng tầng; giai cấp nào chiếm địa vị thống trị về kinh tế, giai cấp đó chiếm địa vị thống trị trong kiến trúc thượng tầng. Cho nên, kiến trúc thượng tầng là công cụ để bảo vệ cơ sở hạ tầng. Mọi biến đổi của kiến trúc thượng tầng đều do kinh tế quyết định. Các bộ phận của kiến trúc thượng tầng đều biến đổi do ảnh hưởng quyết định của cơ sở hạ tầng.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm muộn kiến trúc thượng tầng cũng phải biến đổi theo. C.Mác cho rằng, cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh

153

vi

g

àgọi là chóng. Ông còn cho rằng, không thể lấy bản thân những quan hệ pháp quyền cũng như những hình thái nhà nước, hay lấy cái phát triển chung của tinh thần con người đê giải thích những quan hệ và hình thái đó, mà trái lại, phải thấy rằng những quan hệ và hình thái đó đều bắt nguồn từ những điều kiện sinh hoạt vật chất... Nếu không thể nhận định về một người căn cứ vào ý kiến của chính người đó đối với bản thân, thì chúng ta cũng không thể nhận định về một thời đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại đó. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy (với tư cách là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng) bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan hệ sản xuất xã hội. Đây chính là quan điểm duy vật triệt để của C.Mác. dai

Nguyên nhân sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và do đó của kiến trúc thượng tầng xét đến cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, sự phát triển của lực lượng sản xuất không trực tiếp dẫn đến sự biến đổi của kiến trúc thượng tầng, mà nó chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và đến lượt nó, sự biến đổi của cơ sở hạ tầng lại làm cho kiến trúc thượng tầng biến đổi.

Trong xã hội có giai cấp đối kháng, sự biến đổi của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng diễn ra thông qua cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Trong cuộc đấu tranh ấy, không phải cứ cơ sở hạ tầng mới xuất hiện thì toàn bộ kiến trúc thượng tầng cũ mất đi ngay tức khắc. Trong cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, những tàn dư của cái cũ còn tồn tại khá lâu dài. Mặt khác, có một số yếu tố của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng cũ được giai cấp mới duy trì, cải tạo phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới. Ví dụ, khi giai cấp công nhân xây dựng xã hội mới có thể kế thừa, tiếp thu những nhân tố hợp lý của kiến trúc thượng tầng cũ phục vụ cho công cuộc xây dựng xã hội mới.

154Kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại cơ sở hạ tầng. Biểu hiện cụ thể như sau: Thứ nhất, tính độc lập tương đối của kiến trúc thượng tầng thể hiện ở chỗ nó có đời sống riêng, có quy luật vận động riêng; nó có thể thay đổi nhanh, chậm, hoặc đi song hành với cơ sở hạ tầng, nhưng nhìn chung nó thường thay đổi chậm hơn so với cơ sở ha tang.

Thứ hai, các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều có khả năng gây ra những biến động không nhỏ đối với cơ sở hạ tầng bằng nhiều hình thức, theo những cơ chế, khuynh hướng (tích cực, tiêu cực) khác nhau.

Ph.Angghen cho rằng, một nhân tố lịch sử một khi được những nhân tố khác, xét đến cùng là nguyên nhân kinh tế, làm nảy sinh ra thì nhân tố lịch sử đó cũng có thể tác động trở lại đến môi trường của nó, và thậm chí đến những nguyên nhân đã tạo ra nó.

Thứ ba, các yếu tố của kiến trúc thượng tầng không phải lúc nào cũng tác động theo một hướng, nhưng với chức năng bảo vệ, phát triển cơ sở hạ tầng hiện có, nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng; nó chi phối và trong nhiều trường hợp, quyết định khả năng tác động của các bộ phận khác của kiến trúc thượng tầng đến toàn bộ đời sống xã hội và đến cơ sở hạ tầng.

Ngày nay, chủ nghĩa tư bản đang tiếp tục tìm cách “điều chỉnh” bằng một loạt chính sách kinh tế, nhằm làm dịu những mâu thuẫn xã hội, thích nghi với điều kiện mới. Nhưng, những điều chỉnh đó chưa thể vượt qua được khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản. Nó không thể xóa bỏ được những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản. Nhưng so với trước, có thể nhiều mâu

thuẫn xã hội đã dịu đi, nhưng xuất hiện mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với nhau, sự cạnh tranh giữa những tổ chức độc quyền... ngày càng gay gắt.

155Hạt nhân của mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến t thượng tầng chính là mối liên hệ giữa kinh tế và chính trị. Ngày đường chính trị đúng đắn với chủ trương kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế nghĩa làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế thống hội, kinh tế tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ được đẩy mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, hệ chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố cường, chính trị xã hội ổn định; quốc phòng và an ninh được giữ vững, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao, sức mạnh tổng hợp của quốc gia ngày càng tăng thêm, tạo ra thê và lực mới cho đất nước tiếp tục đi lên với triển vọng tốt đẹp. Nhưng cần ý rằng, chính trị đúng đắn phải có bước đi, lộ trình thực hiện thích hợp để hiện thực hóa các mối quan hệ trong đời sống xã hội. đến cùng, chính trị vẫn do kinh tế quyết định. và tăng nay,

nh

thu

nh

qu

ch

lic

Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên

Trước Mác, các nhà xã hội học và sử học thường nói về mục và sự tiến bộ xã hội một cách trừu tượng theo quan điểm duy chủ quan. Từ khi chủ nghĩa duy vật lịch sử ra đời, loài người có một lý luận thực sự khoa học để nhận thức được đúng bản của xã hội, phân tích được những quy luật khách quan chi phối vận động và phát triển của xã hội loài người.

Từ những tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin đã tiếp tục phát triển, phong phú thêm lý luận hình thái kinh tế - xã hội. Trên cơ sở khẳng định tư tưởng của C.Mác, V.I.Lênin đã chỉ ra những sai lầm các nhà xã hội học trước Mác là không biết xuất phát từ những hệ giản đơn là quan hệ sản xuất mà đi thẳng vào nghiên cứunhững hình thức chính trị, pháp luật, vào việc hình thành những hình thức đó từ những tư tưởng này, tư tưởng nọ của loài người trong thời đại nào đó và đến đấy thì họ dừng lại, kết quả là quan hệ xã hội đường như do con người tạo ra một cách có ý thức.

Vì đóng khung quan hệ xã hội vào quan hệ chính trị, tư tưởng, những người xã hội học chủ quan không thấy được tính lặp lại của những hiện tượng xã hội ở những nước khác nhau, từ đó họ quy khoa * chỉ là miêu tả những hiện tượng đó. V.I.Lênin đã chỉ ra việc tách quan hệ sản xuất ra với tư cách là quan hệ cơ bản, quyết định quan hệ học chính trị, tư tưởng, cho phép ứng dụng tiêu chuẩn về sự lặp đi lặp lại của các mối quan hệ để khái quát các chế độ xã hội khác nhau trong lịch sử và quy vào khái niệm “Hình thái kinh tế - xã hội”.

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử, dùng để chỉ một xã hội tồn tại trong một giai đoạn lịch c nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng của xã hội đó, phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất, và một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.

Quá trình lịch sử - tự nhiên của sự phát triển các hình thái kinh tế - xã hội được hiểu là sự phát triển đó tuân theo những quy luật khách quan vốn có, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Con người sáng tạo ra lịch sử, nhưng không phải sáng tạo một cách tùy tiện, chủ quan, mà sáng tạo trong những điều kiện, hoàn cảnh, tiền đề vật chất nhất định, phù hợp với quy luật khách quan.

Một phần của tài liệu Bài thi môn triết docx (Trang 40 - 52)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(58 trang)
w