C. Mác trình bày trong tác phẩm Gia đình thần thánh, khi phân tích mối quan hệ giữa con người với sản phẩm lao động: “vật thể, với cách là sự tồn
2.2. Vận dụng học thuyết hình thái kinh tế - xã hội trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay
Chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần xuất phát từ cơ sở lý luận của quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và cơ sở thực tiễn là trình độ lực lượng sản xuất vừa thấp vừa không đồng đều ở nước ta.
Điều này thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, trình độ của công cụ lao động ở nước ta hiện nay rất Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, 1 Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2001, tr.84.
160đa dạng, không đông đều. Theo thống kê, công cụ lao động thủ chiếm phần lớn trong nông nghiệp, còn trong công nghiệp chiếm đến 60% lao động giản đơn. Nhưng bên cạnh đó, ở nước ta công cũng đã có công cụ lao động ở trình độ cơ khí hóa, hiện đại hóa, tự động hóa. Những công cụ lao động này thậm chí đan xen nhau trong một cơ sở sản xuất, trong một nhà máy. Nếu như phương Tây, nhìn một cách đại thê, phát triển tuần tự từ lao động thủ công Y khí, rồi lên tự động hóa, thì ở Việt Nam hiện nay có lĩnh vực t triển tuần tự, lại có lĩnh vực phát triển theo kiểu đi tắt, đón lên cơ phát dâu. Điều này nói lên tính chất đa dạng, nhiều trình độ của công cụ lao động ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, phù hợp với sự đa dạng của công cụ lao động sản xuất như vậy, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người Việt Nam hiện nay cũng rất khác nhau. Từ đó, trình độ tổ chức và phân công lao động, trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất ở Việt Nam hiện nay ở những cơ sở sản xuất khác nhau cũng rất khác nhau.
Thứ ba, khoa học kỹ thuật ở nước ta hiện nay, nhìn chung ở
trình độ thấp, chậm phát triển, nhưng cũng có những yếu tố hiện
đại, đi trước, đón đầu. Điều đó cho thấy trình độ khoa học kỹ thuật
ở Việt Nam hiện nay cũng rất đa dạng.
Như vậy, trình độ của lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay khá đa dạng, không đồng đều, nhiều trình độ. Theo quy luật, muốn sản xuất phát triển thì quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất. Lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay đa dạng, không đồng đều, nhiều trình độ, do đó, theo lôgíc, tất yếu quan hệ sản xuất cũng phải đa dạng. Tính đa dạng của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ:
Một là, đa dạng thành phần kinh tế, tức là phải xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó cho thấy, chủ trương xây dựng nền kinh tế nhiều
161quy luật quan hệ sản thành phần không phải là một chủ trương xuất phát từ ý muốn c - quan, mà nó dựa trên quy luật khách quan xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở nước ta có các thành phần:
kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, Hien tu nay, kinh * tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu ngoài. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nude khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tê tập
thê, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Điều này giúp chúng ta càng nhìn nhận một cách rõ nét tính chất chủ quan duy ý chí của thời kỳ trước đổi mới Việt Nam với hai thành phần kinh tế là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể.
Hai là, đa dạng trong hình thức sở hữu, nhiều hình thức tổ chức quản lý.
Khác với trước kia (hai hình thức sở hữu là toàn dẫn và tập thể), ngày nay chúng ta có ba hình thức sở hữu: toàn dân, tập thể và tư nhân.
Ba là, đa dạng trong phân phối. Nếu như trước kia, chúng ta phân phối theo chủ nghĩa bình quân, cào bằng thì ngày nay phân phối theo nhiều cách khác nhau như theo lao động (tức theo khả năng, năng lực, trí tuệ), theo hiệu quả kinh tế, theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác, theo phúc lợi xã hội, an sinh xã hội.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII khẳng định “phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”; “Trong nhận thức và giải quyết các mối quan
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t.I, tr.128-129.
162cần chú trọng hơn đến: bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”. hệ lớn,... Phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay là cần phát
triển khoa học kỹ thuật, khoa học công nghệ, cải tiến công cụ lao động, mở rộng đối tượng lao động, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chân hưng nền giáo dục nước nhà. Muốn phát triển sản xuất ở Việt Nam hiện nay, không chỉ cần phát triển lực lượng sản xuất mà còn phải xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; tức là phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, điều đó có nghĩa là, phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Giải quyết những nhiệm vụ này sẽ là tiền đề để đưa nước ta từng bước thực hiện mục tiêu đã được nêu trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp, thu nhập trung bình cao;
đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.