Sự kiện này làm dấy lên lo ngại về việc sử dụng các tác nhân sinh học như một loại vũ khí trong các hoạt động khủng bố nhằm vào con người, động vật hoặc thậm chí cả cây trồng.. An toàn s
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA KHOA HỌC ỨNG DỤNG
SENIMAR MÔN AN TOÀN SINH HỌC
BIOSECURITY AND BIOTERRORISM
Người hướng dẫn: TS TRẦN THỊ DUNG Người thực hiện: 1/ LỮ THỊ ANH THƠ - 62101180
2/ CAO NGUYỄN SƠN - 42000117
Trang 2MỤC LỤC
Contents
I AN TOÀN SINH HỌC 4
1 Giới thiệu 4
2 Các cấp độ an toàn sinh học 5
2.1 An toàn sinh học cấp 1 (BSL – 1) 6
2.2 An toàn sinh học cấp 2 (BSL – 2) 7
2.3 An toàn sinh học cấp 3 (BSL – 3) 8
2.4 An toàn sinh học cấp 4 (BSL – 4) 9
3 Ứng dụng 10
II KHỦNG BỐ SINH HỌC 11
1 Giới thiệu 11
2 Phân loại 12
3 Vũ khí sinh học 13
4 Thiệt hại 17
5 Biện pháp 18
III KẾT LUẬN 19
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3Cuối cùng em kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Biosecurity and Bioterrorism
I AN TOÀN SINH HỌC
1 Giới thiệu
Trong những năm 1990, có rất ít nhận thức về hậu quả của việc lạm dụng khoa họcđời sống hoặc sức mạnh công nghệ sinh học tổng hợp Ngày nay, an toàn sinh học là mộtvấn đề được quan tâm rộng rãi và công nhận như một ưu tiên mang tầm quốc gia và quốc
tế Ở các nước phương Tây “những lá thư BỆNH THAN” (những lá thư có chứa bào tử của vi khuẩn BACILLUS ANTHRACIS) đã được gửi đi sau cuộc tấn công trung tâm thương mại thế giới năm 2001 Sự kiện này làm dấy lên lo ngại về việc sử dụng các tác nhân sinh học như một loại vũ khí trong các hoạt động khủng bố nhằm vào con người, động vật hoặc thậm chí cả cây trồng
Trong sinh hoạt hàng ngày, chúng ta cũng cần phải quan tâm đến vấn đề an toàn sinh học, như chúng ta diệt khuẩn sữa, rượu, bia để đảm bảo an toàn vệ sinh Chúng ta Clo hóa nước uống và chúng ta đã học được cách để giữ hệ thống không khí trong lành, tránh các bệnh về phổi Cơ thể chúng ta có khả năng miễn dịch, chống lại các bệnh khá tốt
Chúng ta đã lo lắng, quan tâm nhiều hơn đến tính nguy hại của vũ khí sinh học
Đó là những loại vũ khí dễ tạo và rẻ tiền nhất Để cho ra các loại vũ khí sinh học, cần phải có sự xem xét một cách chặt chẽ về an toàn sinh học Để bảo vệ những người công nhân làm việc với các tác nhân chiến tranh sinh học là một trong những vấn đề an toàn sinh học khó khăn nhất Có ý kiến cho rằng, việc sử dụng vũ khí sinh học là một việc rất khó, hoặc không có khả năng bảo vệ
Nhìn chung, an toàn sinh học phải là sự an toàn từ nơi làm việc, phòng thí nghiệmquá trình lên men, trang trại, vườn thú, vườn nuôi gia súc, trại cá, thuyền đánh bắt ca,… Hơn nữa một quần thể chung cũng cần phải được giữ an toàn Cuối cùng là môi trường phải được bảo vệ
Trang 5An toàn sinh học là ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích, mất mát, trộm cắp hoặc
cố ý phóng thích mầm bệnh, chất độc hay bất kỳ vật liệu sinh học nào khác An toàn sinhhọc nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường khỏi bị tiếp xúc với các tác nhân sinh học
An toàn sinh học là khái niệm chỉ sự bảo vệ tính toàn vẹn sinh học Đối tượng củacác chiến lược an toàn sinh học bao gồm biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe con người
Thực hành, cơ sở và thiết bị an toàn thích hợp đối với làm việc với các chủng
vi sinh vật xác định không được biết là gây bệnh ở người trưởng thành khỏe mạnh Phòng thí nghiệm không cần tách biệt khỏi phần đi lại chung của tòa
Trang 6nhà Công việc được thực hiện chung trên mặt bàn sử dụng thực hành vi sinh chuẩn.
Thiết kế phòng ốc hay thiết bị ngăn chặn không được yêu cầu và không được
sử dụng Nhân viên phòng thí nghiệm có đào tạo đặc biệt về các quy trình đượcthực hiện trong phòng thí nghiệm và được theo dõi bởi một nhà khoa học vớiđào tạo chung về vi sinh vật học hoặc khoa học liên quan
Một tủ an toàn sinh học nhìn chung không được yêu cầu đối với làm việc với những tác nhân này
2.2 An toàn sinh học cấp 2 (BSL – 2)
BSL - 2 là phòng thí nghiệm an toàn sinh học có thể được sử dụng để nghiên cứu các mầm bệnh có độ nguy hiểm vừa phải, có phương pháp dự phòng và điều trị hiệu quả, có thuốc điều trị và thường không phải mầm bệnh lây được qua đường hô hấp (SARS-CoV-2, vi trùng lao)
Trang 7 Thực hành, phòng ốc và thiết bị an toàn thích hợp cho các công việc được hoàn thành với một phổ rộng các tác nhân nội tại nguy hại trung bình có mặt trong cộng đồng và liên quan tới bệnh ở người ở mức độ nghiêm trọng khác nhau.
Nó khác với an toàn sinh học mức 1 ở những điểm sau:
- Nhân viên phòng thí nghiệm được đào tạo đặc biệt về thao tác các tác nhângây bệnh và được chỉ đạo bởi nhà khoa học có thẩm quyền
- Ra vào phòng thí nghiệm bị hạn chế khi công việc đang được thực hiện
- Phòng ngừa nghiêm ngặt với các vật sắc nhọn lây nhiễm
- Các quy trình xác định trong đó chất dạng sương nhiễm hoặc vết bẩn có thể được tạo ra được thực hiện trong tủ an toàn sinh học hoặc thiết bị bảo
vệ vật lý khác
2.3 An toàn sinh học cấp 3 (BSL – 3)
Trang 8 BSL - 3 phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 3 được xây dựng trong các
cơ sở y tế lâm sàng hoặc cơ sở nghiên cứu để xử lý các tác nhân có thể gây bệnh nghiêm trọng hoặc nguy cơ tử vong, có thể lây qua đường hô hấp (vi khuẩn salmonella, virus cúm thường)
Các mầm bệnh được nghiên cứu trong BSL-3 cũng có thể được nghiên cứu trong BSL – 4 Nhưng ngoài ra, phòng thí nghiệm an toàn sinh học cấp độ 4 còn dành riêng cho các vi khuẩn, virus và hóa chất cực kỳ nguy hiểm, không
có thuốc điều trị và thậm chí có thể gây chết người ngay sau khi nhiễm phải
Thực hành, cơ sở và thiết bị an toàn thích hợp với những công việc được hoàn thành với các tác nhân nội tại hoặc bên ngoài với một tiềm năng lây truyền đường hô hấp cái mà có thể gây ra nhiễm trùng nghiêm trọng và có khả năng gây chết người
Sự nhấn mạnh được đặt vào các rào cản sơ cấp và thứ cấp để bảo vệ nhân viêntrong khu vực truyền nhiễm, cộng đồng, và môi trường khỏi phơi nhiễm với khí sương có khả năng gây nhiễm tiềm tàng
2.4 An toàn sinh học cấp 4 (BSL – 4)
Trang 9 BSL - 4 là phòng thí nghiệm có cấp độ an toàn cao nhất Phòng dùng để nghiên cứu các tác nhân gây bệnh thường gây bệnh nặng cho người và động vật (vi khuẩn và nấm trên da).
Thực hành, cơ sở và trang thiết bị an toàn thích hợp cho công việc với các tác nhân bên ngoài nguy hiểm mà mang tới nguy cơ gây bệnh đe dọa sự sống cao
Có thể được truyền thông qua chất dạng sương, và đối với chúng không có vaccine hay phương pháp điều trị
Họ được hướng dẫn bởi các nhà khoa học có thẩm quyền người mà được đào tạo và có kinh nghiệm làm việc với những tác nhân này Đi vào phòng thí nghiệm được kiểm soát nghiêm ngặt bởi giám đốc phòng thí nghiệm Cơ sở này hoặc là tách biệt với tòa nhà hoặc nằm trong một vùng được kiểm soát trong tòa nhà, mà nó hoàn toàn biệt lập với các khu vực khác của tòa nhà
Một hướng dẫn vận hành cơ sở được chuẩn bị hoặc được chấp thuận Tủ an toàn sinh học cấp ba được yêu cầu cho làm việc với những tác nhân này
Các thành viên của phòng thí nghiệm có đào tạo đặc biệt và kỹ càng về thao tác với những tác nhân lây nhiễm cực kỳ nguy hiểm và họ hiểu các chức năng rào cản thứ cấp và sơ cấp của thực hành chuẩn và đặc biệt, các đặc tính thiết bịbảo vệ và thiết kế phòng thí nghiệm
Các tác nhân này thường dễ lây truyền từ cá thể này sang cá thể khác hoặc lây lan ra cộng đồng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp mà chưa có các biện pháp điều trị và phòng chống hiệu quả Bên trong phòng BSL - 4 có áp lực âm, là nơi virus không thể nào thoát ra ngoài được khi hệ thống quạt, lọc HEPA, tủ hút, an toàn sinh học, tủ lạnh chứa mẫu đông, có máy ly tâm vẫn đang hoạt động
Trang 103 Ứng dụng
An toàn sinh học liên quan đến các lĩnh vực sau:
Sinh thái học: Đảm bảo an toàn trong việc di chuyển sinh vật giữa các vùngsinh thái
Trong nông nghiệp: Hạn chế nguy cơ, tác hại có thể xảy ra do virus hoặc sinh vật biến đổi di truyền, prion (protein trong hội chứng xốp não – bệnh bò điên), hạn chế nguy cơ nhiễm khuẩn trong thực phẩm…
Trong y học: Đảm bảo an toàn sinh học trong sử dụng các mô hay cơ quan
có nguồn gốc sinh vật, sản phẩm trong liệu pháp di truyền, các loại virus, đảm bảo an toàn phòng thí nghiệm theo mức độ nguy cơ (cấp 1, 2, 3, 4)
Trong hóa học: Theo dõi nồng độ của nitrate trong nước, hóa chất thuộc nhóm polychlorinated biphenyl (các PCB ảnh hưởng đến sinh sản)
Nghiên cứu sinh học ngoài trái đất: về khả năng và biện pháp phòng chống
vi sinh vật có hại (nếu có) trong vũ trụ (chương trình của NASA) (có khi được gọi là an toàn sinh học mức độ 5)
Các môi trường nghiên cứu, các thí nghiệm đã và đang tác động và đem lại nhiều lợi ích cho cuộc sống hiện đại Tuy nhiên quá trình nghiên cứu có thể xảy ra nhiều hậu quả gây ảnh hưởng đến cuộc sống con người Việc tuân thủ an toàn sinh học ở trong
Trang 11môi trường này sẽ giúp đảm bảo việc phát triển mà không ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
II KHỦNG BỐ SINH HỌC
1 Giới thiệu
Khủng bố bằng vũ khí sinh học hay khủng bố sinh học (bioterrorism) dùng để chỉ những hành động làm phát tán có chủ định các yếu tố sinh học gây hại (như vi khuẩn, virut, chất độc có nguồn gốc sinh vật như các độc tố từ vi khuẩn, nấm độc ) Những yếu
tố này có thể gây bệnh (hay làm chết) người, động vật, thực vật Các yếu tố sinh học được sử dụng trong hình thức khủng bố này có thể được sản xuất hoặc đã có sẵn trong tựnhiên nhưng có khả năng biến đổi để tăng sức chống chịu với thuốc, tăng khả năng gây bệnh cũng như khả năng lan truyền trong môi trường Chúng có thể phát tán trong khôngkhí, trong nước, trong thức ăn Căn cứ vào mức độ ảnh hưởng, các nhân tố dùng trong khủng bố sinh học được phân làm ba nhóm A, B, C
Khủng bố sinh học là sử dụng vi khuẩn, virus hay vi sinh vật để gây bệnh hoặc lantruyền sự sợ hãi Khủng bố sinh học được sử dụng để tấn công hay đe dọa người dân, chính phủ và các quốc gia Trong các cuộc tấn công khủng bố bằng vũ khí sinh học, chỉ một số ít người dân bị tổn thương hay chịu ảnh hưởng nhưng rất nhiều người khác lại cảm thấy sợ hãi và thay đổi hành vi của mình vì sự sợ hãi đó
Khủng bố sinh học đề cập đến việc cố ý phóng thích các tác nhân sinh học hoặc chất độc nhằm mục đích gây hại hoặc giết chết con người, động vật hoặc thực vật với mục đích đe dọa hoặc ép buộc chính phủ hoặc dân thường thực hiện các mục tiêu chính trị hoặc xã hội hơn nữa
Trang 122 Phân loại
Phân loại các vi sinh vật gây nhiễm trùng theo nhóm có nguy cơ:
Nhóm nguy cơ 1 (không có hoặc có nguy cơ thấp đối với cá nhân và cộng đồng): Các vi sinh vật thường không có khả năng gây bệnh cho người hay động vật
Nhóm nguy cơ 2 (có nguy cơ thấp đối với cá nhân và nguy cơ thấp đối với cộng đồng): Các tác nhân có thể gây bệnh cho người và động vật, nhưng thường không phải là mối nguy hiểm cho nhân viên phòng thí nghiệm
Nhóm nguy cơ 3 (có nguy cơ cao đối với các cá nhân và nguy cơ thấp đối với cộng đồng): Các tác nhân thường gây bệnh nghiêm trọng cho người và động vật nhưng không lây truyền từ người sang người Có các biện pháp phòng ngừa và điều trị hữu hiệu
Nhóm nguy cơ 4 (có nguy cơ cao đối với cá nhân và cộng đồng): Tác nhân thường gây bệnh nghiêm trọng cho người hoặc động vật và có thể lan truyền trực tiếp
Trang 13hoặc gián tiếp nhanh chóng từ người sang người Chưa có biện pháp phòng ngừa và điều trị hữu hiệu.
3 Vũ khí sinh học
Theo các nhà nghiên cứu, con người đã được sử dụng dịch bệnh như một loại vũ khí từ hàng nghìn năm trước Người cổ đại từng ném xác chết của những người bị nhiễm
vi trùng hay mắc bệnh do vi trùng vào đối phương, hoặc thậm chí sử dụng nấm có chất
ảo giác và chai lọ chứa độc rắn để làm hao mòn sinh lực địch
Vũ khí sinh học thường được sử dụng như một công cụ để giành phần thắng trongcác cuộc chiến Cách đây khoảng 3500 năm, các chiến binh Trung Đông tùng giấu kí sinh trùng trên cơ thể cừu để truyền một loại bệnh nhiễm trùng cho thành phố kẻ thù Ở thười Trong cổ, nạn nhân chết do dịch hạch sẽ trở thành vũ khí sinh học tấn công con người
Khi công nghệ ngày càng phát triển, tham vọng sử dụng vũ khí từ virus càng đượcnhân lên ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong Thế chiến II, chính phủ Anh từng thử nghiệm bệnh than gây chết người trên đảo Gruinard, Scotland, khiến nơi này bị cách ly
48 năm Vào những năm 1930, Liên Xô từng biến một hòn đảo ở biển Aral trở thành nơi không thể ở được, với các thử nghiệm liên quan đến dịch hạch, viêm não ngựa
Venezuela hay bệnh sốt thỏ
Trang 14Trong những năm 1940-1941, quân đội Nhật từng rải bom chứa vi sinh vật gây dịch hạch ở 11 tỉnh của Trung Quốc Ở thời kỳ chiến tranh Triều Tiên 1950-1953, Mỹ từng sử dụng vũ khí sinh học bằng cách thả côn trùng gây bệnh cho người và lúa.
Thậm chí tồi tệ hơn, vào năm 1971, Nga từng sử dụng vũ khí bệnh đậu mùa, khiến 10 người bị nhiễm bệnh và ba người trong số này thiệt mạng
Cơ quan Y-Sinh Liên Bang Nga (FMBA) mới đây cảnh báo rằng virus Ebola, nguyên nhân khiến gần 1000 người ở Tây Phi thiệt mạng trong năm 2014, có thể trở thành một loại vũ khí sinh học
Nguy cơ này đang tồn tại Trên thực tế, Ebola có thể được sử dụng dưới dạng xịt, vốn dễ dàng dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng
Vũ khí sinh học không giống với bom nguyên tử Để tạo ra bom nguyên tử, người
ta cần đến một mỏ uranium, một nhà máy điện hạt nhân và nhiều công nghệ liên quan khác Trong khi đó, vũ khí sinh học có thể được chế tạo trong phòng thí nghiệm nhỏ và rất dễ ngụy trang Theo nhà nghiên cứu, việc phát hiện hoạt động chế tạo vũ khí sinh học
Trang 15không hề dễ dàng, dù công ước về vũ khí sinh học và độc hại đã có hiệu lực từ năm 1972.
Vũ khí sinh học dựa vào đặc tính gây bệnh hay truyền bệnh của vi trùng, vi
khuẩn, virus để tạo mầm bệnh hay cái chết cho người, động vật hoặc cây trồng Mức độ ảnh hưởng của loại vũ khí này tùy thuộc vào khả năng lan truyền của chúng trong cơ thể người, động vật hay cây trồng
Theo BBC , trong một lần ho, cơ thể người có thể đưa hàng nghìn vi khuẩn vào không khí Dịch nhầy của cơ thể cũng là một nguồn lây lan bệnh giữa những người tiếp xúc với nhau
Các đặc tính của virus hay vi khuẩn lây truyền bệnh khiến chúng trở thành vũ khí sinh học hàng nghìn năm trước và được cảnh báo có thể sử dụng trong thười đại ngày nay
Cái chết đen (Black Death) là tên gọi của một đại sịch xảy ra ở Châu Á và Châu
Âu trong thế kỷ 14 Bệnh đậu mùa cũng là nguyên nhân từng khiến 400000 người ở Châu Âu chết mỗi năm Mặc dù đã được loại trừ từ thế kỷ 20, nhưng nếu xuất hiện trở lại, nó có thể mở ra kịch bản cho ngày tận thế của nhân loại Đây là lí do mà chính phủ
Mỹ và Nga được cho là vẫn lưu giữ virus bệnh đậu mùa trong các phòng thí nghiệm bí mật
Đặc điểm của vũ khí sinh học là dễ lây nhiễm, dễ phát tán bằng bình xịt Tuy nhiên nó không có tác động phá hủy các công trình kiến trúc, cơ sở vật chất như đường
xá, cầu cống…
Bao gồm những loại có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộngđồng và mức độ lây lan lớn Thuộc nhóm này gồm có vi khuẩn nhiệt thán, dịch hạch, virus đậu mùa, vi khuẩn ung khí thán, virus sốt xuất huyết…
Bệnh than (bệnh nhiệt thán)
Trang 16Bệnh than là một nhiễm trùng gây ra bởi bào tử của một loại vi khuẩn có tên là Bacillus Anthracis Bệnh than thường xảy ra ở động vật có móng như gia súc và cừu Bệnh hiếm khi xảy ra ở người và thường chỉ xảy ra ở những người có tiếp xúc với động vật mắc bệnh hoặc làm việc với các sản phẩm từ động vật như len, lông hoặc da Bệnh than có thể là một dạng của khủng bố sinh học nếu ai đó cố tình phát tán vi khuẩn ở những nơi công cộng.
Hình: Bệnh Than (vi khuẩn Bacillus Anthracis)Bệnh than ở người có 3 dạng, cùng được gây ra bởi một loại vi khuẩn Dạng bệnh phụ thuộc vào cách mà vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể:
+ Nhiễm trùng da xảy ra khi chạm phải các sản phẩm của động vật bị bệnh hoặc đất đai bị ô nhiễm bởi bào tử vi khuẩn than hoặc do tiếp xúc trực tiếp với các bào tử này
+ Nhiễm trùng tiêu hoá (dạ dày và ruột) xảy ra khi ăn phải thịt chưa nấu chín có lẫn bào tử của vi khuẩn
+ Nhiễm trùng hô hấp xảy ra khi hít phải các bào tử của vi khuẩn
Bệnh than KHÔNG lây từ người sang người Bệnh than chỉ xảy ra do tiếp xúc trựctiếp với các bào tử vi khuẩn Khả năng toàn cộng đồng bị nguy hiểm vì tiếp xúc với vi khuẩn than là rất thấp
Mặc dù bệnh than có mặt trên các phương tiện truyền thông nhiều nhất nhưng những tác nhân khác cũng có khả năng làm vũ khí sinh học bao gồm vi khuẩn gây