Riêng với đàn sắt của Triều Tiên Hangul슬, seul thì thiết kế của nó tương tự như cổ tranh Trung Quốc, yatga Mông Cổ và mặt đàn được vẽ lên những chi tiết hoa lá chim muông tinh xảo, còn c
Trang 1TIỂU LUẬN MÔN ĐÀN BẦU
Cao Quốc Bình – CA172005
ĐBA102.4.B1 Nguyễn Duy Phương
Trang 2Mục Lục Trang Câu 1
1.1 Tổng quan về Sáo Trúc ……… 1 - 6 1.2 Tổng quan về Đàn Tranh……… 7 - 14 1.3 Tổng quan về Đàn Bầu ……… 15 - 18
Trang 3Câu 1
- Sáo Trúc
+ Nguồn gốc: Nguồn gốc của cây sáo trúc còn được nhắc đến từ những vùng đất cổ xưa hay các đại dương xa xôi như miền Địa Trung Hải nhưng thời gian này hình ảnh cây sáo trúc chỉ được biết đến trên bản vẽ
Các cây sáo đầu tiên xuất hiện được xem là tiền đề của cây sáo trúc được cắt ở vành miệng của ống thổi vớ 3, 4 lỗ bấm chứ không được gia công thành hệ thống lỗ bấm như bây giờ Sáo trúc được biết đến gắn liền với những hình ảnh quen thuộc của những người chăn cừu hay ở Việt Nam là những người mục đồng
Ngày này, những vết tích của cây sáo trúc còn được phát hiện trên dấu tích của những loại động vật cổ Sáo trúc từ lâu đã được xem là nét văn hóa gắn liền với nhiều quốc gia trong
đó có Ấn Độ
Nền văn hóa Ấn luôn gắn liền với hình ảnh cây sáo trúc thông qua nhiều truyền thuyết và câu chuyện khác nhau Theo nhiều tài liệu ghi lại thì cây sáo trúc xuất hiện từ 1500 trước Công Nguyên
Có thể thấy rằng, cây sáo trúc có mặt từ thời cổ đại và không ngừng phát triển cho đến ngày nay Cây sáo này có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới cũng như mang bản sắc của nhiều nền văn hóa khác nhau
Trang 4Người ta kể: Cách đây hàng nghìn năm, một sơn nhân ở trong rừng trúc chơi thấy một con ong đục thủng một lỗ trên giông trúc Gió thổi qua lỗ đó phát ra những âm thanh vi vu nghe rất êm tai Sơn nhân bèn nảy ra ý định chế tạo cây sáo Vì thế mà tiêu sáo làm say đắm lòng người
+ Có 2 tư thế đứng và ngồi: 2 chân cách nhau 10-15cm, đứng hoặc thoải mái , lưng thẳng, mắt nhìn thẳng về phía trước và nhìn thẳng về hướng khán giả, hạn chế di chuyển để không ảnh hưởng tới hơi thở
+ Cách chơi
Trang 5Cách lấy hơ và cách thổi sáo đúng:
Làm ướt môi: Dùng lưỡi thấm nước bọt cho ướt môi
Đặt lỗ sáo ngay đầu vào khe giữa môi trên và môi dưới Điểm tựa là môi dưới, rồi xoay ra ngoài một góc khoảng 90 độ
Mím môi và thổi
Thổi ra những âm trầm thì môi cần mím lại tạo một tia hơi gọn
Môi ép chặt hơn để thổi những nốt cao Nốt càng cao thì càng cần ép thật chặt để đạt được tia hơi thật nhỏ gọn
Thường sử dụng 5 làn hơi nhẹ, rất nhẹ, mạnh, rất mạnh và hơi nén Lực hơi thổi âm trầm nhất thì nhẹ vừa có xu hướng lực hơi mạnh dần khi thổi âm cao Âm càng cao thì môi lại càng phải ép chặt hơn và lực hơi mạnh hơn và ngược lại Người mới học thổi sáo chỉ nên thổi rất nhẹ, nhẹ và mạnh
Trang 6+ Nguyên tắc phát âm
Khi ta thổi sáo, cột khí bên trong ống sáo bị dao động và phát ra âm thanh Âm thanh đó cao (bổng) hay thấp (trầm) phụ thuộc vào khoảng cách từ miệng sáo tới lỗ mở mà ngón tay vừa nhấc lên
*Lưu ý: thứ tự ngón được tính bắt đầu từ lỗ thổi (hiểu ngầm 0)
Sáu ngón tay bịt kín sáu lỗ, thổi nhẹ ra nốt Đô
Mở tiếp ngón thứ sáu, thổi nhẹ ra nốt Rê
Mở tiếp ngón thứ năm, thổi nhẹ ra nốt Mi
Mở tiếp ngón thứ tư, thổi nhẹ ra nốt Fa
Mở tiếp ngón thứ ba, thổi nhẹ ra nốt Sol
Mở tiếp ngón thứ hai, thổi nhẹ ra nốt La
Mở tiếp ngón cuối cùng, thổi nhẹ ra nốt Si
Ngoài việc chơi sáo bằng miệng, một số người (như dân tộc hay người khuyết tật hay cả nghệ sĩ) còn chơi sáo bằng mũi, một điều vô cùng phi thường mà không phải ai cũng làm được
+ Kỹ thuật căn bản khi biểu diễn sáo trúc
1: Đánh lưỡi đơn, láy rền, đánh lưỡi kép, chạy ngón, rung hơi, reo lưỡi, láy rền kết hợp đập ngón
Trang 8- Đàn tranh
+ Nguồn gốc
Đàn tranh Việt Nam là đàn tranh giống như đàn sắt và đàn cổ tranh nhưng vì loại đàn tranh truyền thống của Việt Nam là 16 dây nên xuất xứ của nó chính là đàn thập lục cương huyền tranh (giảm thể : 十六钢弦筝 phồn thể: 十六鋼弦箏; bính â: Shíliù gāng xián zhēng)
từ Triều Châu – Trung Quốc và Đài Loan truyền sang nước Việt có thể từ đời nhaà Trần hay trước nữa, dùng trong dân gian dưới dạng 15 dây,16, 17, 19 dây và 22, 24 và hiện đại hơn là 26 dây; từ xưa đến giờ thay đổi số dây từ dây tơ tổng hợp sang dây cước, dây đồng đến dây thép và cải biên thêm trục đàn để mắc dây Đây là điểm đặc biệt của đàn tranh Việt Nam và Triều Châu, Đài Loan có được mà các loại đàn tranh Á Đông khác không hề có Riêng loại 16 dây tại Triều Châu có trước tiên Qua 7, 8 thế kỷ, người nước Việt dùng và bản địa hóa nó, tạo cho nó phong cách đặc thù trong thủ pháp, ngón đàn, tay nhấn nhá, trong thang âm điệu thức, biến nó trở thành một loại nhạc cụ bản địa
mang tính dân tộc, phù hợp với quan điểm thẩm mỹ của người Việt, và nói rõ ngôn ngữ
âm nhạc Việt Nam
16 tới 25 khóa lên dây chéo qua mặt đàn (đàn sắt lên tới 50 khoá) Mặt đàn làm bằng ván
gỗ dày khoảng 0,05 cm uốn hình vòm Ngựa đàn (còn gọi là con nhạn- 雁柱) nằm ở khoảng
giữa để gác dây và có thể di chuyển để điều chỉnh âm thanh Riêng cấu tạo đàn sắt gồm 25-50 ngựa đàn mắc với 25-50 dây Dây đàn sắt được túm gọn và cuộn chặt cố định bằng
4 trục đàn lớn Riêng với đàn sắt của Triều Tiên (Hangul슬, seul) thì thiết kế của nó tương
tự như cổ tranh Trung Quốc, yatga Mông Cổ và mặt đàn được vẽ lên những chi tiết hoa lá chim muông tinh xảo, còn cổ tranh của Đài Loan sử dụng dây kép
Dây đàn làm bằng kim loại với các cỡ dây khác nhau Ngày xưa cổ tranh Trung Quốc dùng dây tơ Khi biểu diễn nghệ nhân thường đeo ba móng gẩy vào ngón cái, trỏ và ngón giữa của tay phải để gẩy Móng gẩy làm bằng các chất liệu khác nhau như kim loại, sừng hoặc đồi mồi Cổ tranh Trung Quốc thông thường khi diễn tấu phải đeo tất cả tám móng
Trang 9giả; đeo vào ngón cái, ngón trỏ, ngón áp út và ngón út Riêng móng của ngón cái là cong hơn so với 3 ngón còn lại Thứ tự dây cổ tranh tương đương với 5 thang âm: Cung, Thương, Giốc, Chủy, Vũ và 21 dây của cổ tranh phân theo 5 âm khu: bội âm trầm, âm trầm, âm trung, âm cao và bội âm cao
Con nhạn đàn tranh Việt Nam có một lỗ xâu dây cước hay dây tơ tổng hợp nhỏ Đây là lý
do khiến các dòng đàn tranh Á Đông không có, vì ngựa đàn tranh khi mua về đã được lắp đặt cố định, còn những đàn tranh kia thì phải lắp con nhạn trước khi gảy Con nhạn cổ tranh song song với hộp điều âm và khoảng cách giữa con nhạn và hộp điều âm là tiền nhạc sơn (bên phải), hậu nhạc sơn là bên tay trái của con nhạn Con nhạn của đàn sắt, đàn cổ tranh Trung Quốc, yatga Mông Cổ hay đàn tranh Việt Nam đều sử dụng con nhạn hình chiếc kìm chữ A mỏ vuông Đàn cổ tranh Trung Quốc gồm hai loại chính là 整挖筝 (chính oát tranh) và 拼面筝 (bính diện tranh)
+ Tư thế:
Có 4 tư thế đánh đàn:
1 Ngồi thấp, xếp chân trên chiếu
2 Ngồi thẳng hoặc vắt chéo chân trên ghế, một đầu đàn đặt trên đùi, một đầu đàn gác trên giá hoặc đôn
3 Đàn được đặt trên giá cao ngang tầm tay Người chơi đàn ngồi trên ghế
4 Đứng đánh: đàn được đặt trên giá cao
Các tư thế ngồi đều phải tự nhiên, thoải mái, đàn đặt gần sát người, mặt đáy đàn tì lên đùi phải, đầu đàn được lên đôn hoặc giá đàn (có chiều cao bằng ghế ngồi đàn) Hai cánh tay nâng mềm mại trên mặt đàn
Tư thế tay phải:
Bàn tay phải nâng lên, ngón tay khum lại, thả lỏng, ngón áp út tì nhẹ lên cầu đàn Khi đánh những dây thấp, cổ tay tròn lại, hạ dần về phía trước đàn Khi đánh những dây cao, cổ tay
hạ đàn theo chiều cong của cầu đàn, cánh tay cũng hạ khép dần lại (tránh không đưa cánh tay ra phía ngoài) Ba ngón gảy mềm mại, từng ngón thả lỏng gảy nhẹ nhàng,
nâng lên hạ xuống gảy vào dây theo chiều cong tự nhiên của bàn tay
Trang 10Móng gảy vào dây không nên sâu quá hoặc hờ trên dây Điểm gảy nên cách cầu đàn khoảng 2cm Nếu gảy sát cầu, tiếng đàn đanh và sắc Nếu gảy xa cầu, tiếng đàn trầm, mềm mại
Đầu ba ngón tay giữa đặt trên dây nhẹ nhàng, bàn tay mở tự nhiên, ngón tay hơi khum
Ba ngón giữa (ngón trỏ, ngón giữa, ngón áp út) cụm lại, ngón cái và ngón út tách rời Dáng bàn tay vươn về phía trước tựa như cánh chim đang bay
Khi rung, nhấn, bàn tay được nâng lên mềm mại Ba ngón chụm lại cùng một lúc chuyển
từ dây nọ sang dây kia
Trang 11+ Nguyên tắc âm thanh
Thang âm đàn tranh gồm:
+ Kỹ thuật căn bản khi biểu diễn đàn tranh :đặt trên dây, bàn tay mở tự nhiên, ngón tay hơi khum, hai hoặc ba ngón (trỏ, giữa, áp út) chụm lại, ngón cái và ngón út tách rời, dáng bàn tay vươn về phía trước Khi rung, nhấn, bàn tay sẽ được nâng lên mềm mại, ba ngón chụm lại cùng một lúc chuyển từ dây nọ sang dây kia
Trang 12Ngón rung: đây là cách dùng một, hai hoặc ba ngón tay trái rung nhẹ trên sợi dây đàn (bên trái hàng nhạn đàn) lúc tay phải gảy
Ngón nhấn: sử dụng để đánh thêm được những âm khác có thể là 1/2 âm, 1/3 âm, 1/4 âm
mà hệ thống dây đàn tranh không có Cách nhấn là dùng ba đầu ngón tay trái nhấn xuống tùy theo yêu cầu của bài (nửa cung nhấn nhẹ, 1 cung nhấn nặng hơn) để điều chỉnh tay nhấn
Ngón nhấn luyến: sử dụng các ngón nhấn để luyến hai hay ba âm có độ cao khác nhau Nó
sẽ giúp âm thanh nghe mềm mại, uyển chuyển gần với thanh điệu tiếng nói hơn Có hai loại nhấn luyến
a Nhấn luyến lên: là gảy vào một dây để vang lên, tay trái nhấn dần lên dây đó làm âm thanh cao lên hoặc tiếp tục nhấn cho cao lên nữa
b Nhấn luyến xuống: phải mượn nốt (ví dụ muốn có âm Fa luyến xuống âm Rê phải mượn dây Rê nhấn mạnh trước rồi mới gảy sau; khi âm Fa ngân lên ngón tay trái nới dần để âm
Rê của dây đó vang theo luyến tiếng với âm Fa)
Độ ngân: ánh âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống chỉ cần gảy một lần Ðộ ngân của các âm nhấn luyến sẽ được ghi như các nốt nhạc bình thường Và người chơi cần phân phối thời gian để các âm có thể đều hoặc không đều nhau Độ cao của âm nhấn luyến lên hay nhấn luyến xuống có thể trong vòng quãng 4 nếu là khoảng âm thấp hoặc quãng 2, quãng
3 thứ ở những âm cao, không nên sử dụng liên tiếp nhiều âm nhấn luyến
Ngón nhún: đây là cách nhấn liên tục trên một dây bất kỳ, làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc Ngón tay nhún tạo thành những làn sóng có giao động lớn hơn ở ngón rung và làm cho âm thanh mềm mại, tình cảm, sâu lắng hơn
Ngón vỗ: dùng hai hoặc ba đầu ngón tay (ngón trỏ, giữa, áp út) vỗ lên một dây nào đó phía bên trái nhạn đàn vừa được gảy Sau đó nhấc ngay các ngón tay lên làm âm thanh cao lên đột ngột từ nửa cung đến một cung Có hai loại vỗ:
a Vỗ đồng thời: là cùng lúc tay phải gảy dây, tay trái vỗ Kỹ thuật này làm một âm phụ cao hơn nửa cung hoặc 1 cung luyến nhanh ngay xuống âm chính (âm phụ do ngón tay trái
vỗ tạo nên)
Trang 13Vỗ sau: là tay phải gảy dây xong thì tay trái mới vỗ lên dây Ta sẽ nghe được 3 âm luyến:
âm thứ nhất do tay phải gảy lên dây, âm thứ hai do ngón vỗ tạo nên (âm này cao hơn âm
thứ nhất khoảng nửa cung hoặc 1 cung) và âm thứ ba do ngón tay vỗ xong nhấc lên ngay (dây đàn được trở lại trạng thái cũ, âm thanh còn lại vang lên theo độ căng của dây đó lúc đầu)
Ngón vuốt: đây là kỹ thuật dùng tay phải gảy đàn, tiếp theo dùng hai, ba ngón tay trái vuốt lên dây đàn đó từ nhạn đàn ra trục dây hay ngược lại, làm tăng sức căng của dây một cách đều đều, liên tục Ta sẽ thấy âm thanh được nâng cao dần lên trong phạm vi 1/2 cung đến
1 cung
Ngón gảy tay trái: ngón tay trái có thể gảy dây trong phạm vi phía bên tay phải hàng nhạn đàn Tuy nhiên, tay trái không đeo móng gảy nên khi gảy âm thanh nghe êm hơn nhưng lại không vang bằng âm thanh tay phải gảy Người chơi có thể gảy bằng hai tay để tạo chồng
âm nhưng thường là tay trái gảy những âm rãi trong khi tay phải sử dụng ngón vê hoặc đang nghỉ
Trang 14Ngón bịt: là vừa sử dụng ngón tay phải gảy dây, vừa dùng đầu ngón tay trái đặt nhẹ trên dây đàn hoặc chặn tay trái lên đầu nhạn đàn nếu là gảy một nốt nhạc Nếu bạn định gảy hẳn một đoạn nhạc với toàn âm bịt thì nên sử dụng cạnh bàn tay phải chặn nhẹ lên cầu đàn, dùng tay trái gảy thay tay phải Âm thanh ngón bịt không vang mà mờ đục, gây ấn tượng tương phản với một đoạn nhạc đánh bình thường
Âm bồi:sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó Âm bồi Ðàn Tranh nghe đẹp hơn hẳn so với nhiều loại đàn dây gảy khác
+ Loại hình âm nhạc Ngoài khả năng diễn tấu giai điệu, ngón chơi truyền thống của đàn tranh là những quãng tám rải hoặc chập và ngón đặc trưng nhất là vuốt trên các dây và gảy dây,ngoài ra có cả dạng dùng vĩ kéo hay dùng que gõ Đàn tranh là nhạc khí dùng để độc tấu, hòa tấu đệm cho hát và được chơi trong nhiều thể loại âm nhạc như các dàn nhạc dân
ca, kết hợp với những ca khúc của C-pop, nhạc Âu Mỹ,
Trang 16- Đàn bầu
+ Nguồn gốc
Lần theo dấu tích lịch sử về nguồn gốc xuất xứ của cây Đàn Bầu, sử liệu cho biết chiếc đàn này có thể đã xuất hiện ở Việt Nam từ hàng ngàn năm “Đàn Bầu” xuất hiện và biến hóa trong rất nhiều giai thoại tiên cổ, những truyền thuyết kỳ diệu được lưu truyền trong kho tàng văn hóa nhân gian
Bên cạnh đó, trong thư tịch và hiện vật khảo cổ học cũng như lịch sử chữ viết, có một số sách sử quan trọng đã đề cập đến Đàn Bầu Theo An Nam chí lược, Đại Việt sử ký toàn
thư, Chỉ Nam Ngọc âm giải nghĩa, Đại Nam thực lục tiền biên thì “cây Đàn Bầu ra đời
xuất phát điểm ở vùng đồng bằng Bắc Bộ sau đó được người Kinh Việt Nam mang sang Quảng Tây Trung Quốc Đàn Bầu được lấy cảm hứng từ trò chơi dân gian “trống đất” của trẻ nhỏ là đào hố và căng dây qua lỗ đất, khi đập nghe tiếng bung bung mà các cụ ngày xưa đã có sự quan sát tinh tế và cảm thụ thanh âm nhanh nhạy nên những tiếng kêu
“bung bung” từ dây căng kéo trên lỗ đất ấy đã kết tạo ý tưởng hình thành cây đàn làm từ ống tre và quả bầu khô với một dây duy nhất”
+ Cấu Trúc
Đàn Bầu là một nhạc khí độc đáo của Việt Nam chỉ có một dây duy nhất, không có phím, dùng cần đàn (vòi đàn) để tạo nên những cao độ trầm bổng trong âm nhạc Cây đàn này ngày xưa gọi là “đàn một dây”, về sau mặt đàn đóng bằng gỗ ngô đồng, hoặc gỗ vông, thành đàn bằng gỗ trắc và để quả bầu vào cho đẹp, nên gọi là “Đàn Bầu” Trong hệ thống nhạc cụ, Đàn Bầu là loại nhạc cụ có một dây, thuộc họ dây, chi dây gảy; được phân loại thành 2 kiểu là đàn thân tre và đàn hộp gỗ Đàn thân tre ra đời trước, thường dùng cho người hát xẩm, đàn hộp gỗ ra đời sau với sự cải tiến nhiều tính năng ưu việt hơn
Đàn bầu thường có hình dạng một ống tròn (bằng tre, bương, luồng) hoặc hình hộp chữ nhật (bằng gỗ) thường có chiều dài khoảng 1,15 mét, cao khoảng 10,5 cm Trước kia, thân Đàn Bầu được làm bằng một đoạn ống bương hoặc vầu, có thể để nguyên hoặc được chẻ
ra làm đôi giống hình cái máng hứng nước ở vùng đồng bằng Bắc bộ và được gọi là đàn Bầu máng, sau này được thay bằng gỗ ngô đồng hoặc gỗ vông Các bộ phận bao gồm: một đầu to có bát âm với đường kính khoảng 12,5 cm; một đầu vuốt nhỏ hơn một chút khoảng 9,5 cm; cần đàn (vòi đàn) được làm bằng sừng tre dẻo dài khoảng 50 – 70 cm (sau này thay bằng sừng trâu); dây đàn làm bằng dây móc xe lại hoặc dây mây, dần thay bằng dây tơ (sau này bằng dây sắt); bầu đàn làm bằng đầu cuống quả bầu nậm hoặc gỗ tiện giống hình quả bầu; que khảy đàn thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm…, dài khoảng
10 cm (sau này thiết kế ngắn lại chừng 4 – 4,5 cm Đối với đàn hộp gỗ, cây đàn phải hội
Trang 17đủ hai yếu tố “mặt ngô – thành trắc” Có nghĩa là mặt đàn phải làm bằng gỗ cây ngô đồng
sao cho vừa xốp vừa nhẹ Khung và thành đàn làm bằng gỗ trắc hoặc gụ, vừa đẹp lại vừa bền Cần đàn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các sắc độ âm thanh khác nhau và làm cho tiếng đàn tròn, mượt Mặt đàn với thớ gỗ óng ả, khi kết hợp với hộp cộng hưởng
sẽ tạo nên những âm thanh vang, trong trẻo Ngoài ra còn có nhiều hoa văn hoặc khảm trai được trang trí trên đàn với các hình ảnh miêu tả cảnh sinh hoạt phong phú của người dân Việt Nam
Đàn Bầu có âm vực rộng tới 3 quãng tám Đẹp nhất là âm thanh phát ra trong vòng 2 quãng tám Nếu người nghệ sĩ kết hợp các kỹ thuật chơi đàn điêu luyện như sử dụng âm thực với sự tác động kéo căng hay giảm dây của cần đàn (vòi đàn) thì âm vực của Đàn Bầu có thể vượt trên 3 quãng tám Điểm đặc biệt nhất của Đàn Bầu so với những cây đàn
khác là việc sử dụng “âm bồi” trong diễn tấu tác phẩm Vì vậy mà âm sắc của Đàn Bầu
vang lên vô cùng mượt mà, trong trẻo, sâu lắng và quyến rũ, rất gần với âm điệu, tiếng nói của con người Bằng việc sử dụng các kỹ thuật chơi đàn như: kỹ thuật gảy bồi âm, kỹ thuật nhấn, luyến, vỗ, vuốt, láy, rung, dật,… người nghệ sĩ đã tái hiện nên rất nhiều cung bậc cảm xúc phong phú