Các công ty với quy mô sản xuất, thử nghiệm lâm sàng và tiếp thị sẽ có thể được các công ty lớn hơn đầu tư trong nghiên cứu và phát triển R & D dự án với mục đích đa dạng hóa danh mục đầ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
BỘ MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
DƯỢC
Trang 2PHẦN MỘT : PHÂN TÍCH VĨ MÔ NGÀNH DƯỢC
I.TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC THẾ GIỚI 3
1 Tổng quan ngành dược thế giới 4
2 Xu hướng 6
3 Những thách thức đối với công ty Dược 10
4 Triển vọng mở rộng quốc tế 12
II TỔNG QUAN DƯỢC VIỆT NAM 14
1 Tình hình kinh tế Việt Nam 14
2 Lịch sử hình thành và phát triển 14
A Các giai đoạn phát triển 14
B Ngành Dược Việt Nam hiện nay 15
3 Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự tăng trường ngành Dược Việt Nam 16
3.1 Thề chế-Pháp luật 16
3.2 Yết tố kinh tế 20
3.3 Văn hoá-Xã hội 23
3.4 Công nghệ 25
3.5 Cam kết WTO 25
4 Phân tích theo mô hình Porter’s 5 Forces 27
4.1 Phân tích môi trường cạnh tranh trong nội bộ ngành Dược 28
4.2 Mối đe doạ từ các đối thủ tiềm năng 31
4.3 Mối đe doạ từ các sản phẩm thay thế 32
4.4 Năng lực trả giá của khách hàng 32
4.5 Nhà cung cấp 32
5 Phân tích SWOT 35
PHẦN HAI: PHÂN TÍCH VI MÔ NGÀNH DƯỢC I Ước tính giá trị ngành 39
II Ước tính tỳ suất sinh lợi ngành 40
III So sánh với một số ngành 41
PHẦN BA: TRIỂN VỌNG NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM I.NHỮNG DỰ BÁO THUẬN LỢI TRONG TĂNG TRƯỞNG NGÀNH DƯỢC 45
1 Tiềm năng tăng trưởng về nhu cầu 45
2 Chính Phủ và Bộ Y Tế đẩy mạnh hỗ trợ sản xuất Dược phẩm nội địa 47
3 Nội lực các DN sản xuất trong nước 47
MỤC LỤC
Trang 34 Môi trường cạnh tranh 49
II.DỰ BÁO NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC MÀ NGÀNH DƯỢC SẼ GẶP PHẢI 50
Nhóm nhấn tố ảnh hưởng đến giá 1 Sự biến động của tỷ giá ngoại tệ và lại suất khó dự đoán được 50
2 Giá xăng dầu tiếp tục leo thang 50
3 Những rủi ro xuất phát từ Chính sách kiểm soát giá của Chính Phủ 51
Nhóm nhân tố tác động đến việc mở rộng thị phần, tăng trưởng trong doanh thu và nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của khách hàng 1 Triển vọng kinh tế thế giới 52
2 Gia tăng cạnh tranh đối với DN nước ngoài 52
3 Lãi suất tăng cao để kiềm chế lạm phát 52
III.TỔNG KẾT: DỰ BÁO TĂNG TRƯỞNG NGÀNH DƯỢC 52
PHẦN BỐN: CÓ NÊN ĐẦU TƯ VÀO CỔ PHIẾU NGÀNH DƯỢC HAY KHÔNG? 54
1 Ngành dược trên sàn chứng khoán 54
2 Cổ phiếu ngành dược được mệnh danh là cổ phiếu phòng thủ 57
a- Đặc điểm của một cổ phiếu phòng thủ 57
b- Điều này có đúng với thị trường chứng khoán Việt Nam không? Chúng ta hãy xem xét vài bằng chứng 57
3 Sự hấp dẫn của cổ phiếu ngành Dược trong giai đoạn hiện nay 62
Trang 4PHÂN TÍCH VĨ MÔ
Đặc điểm ngành dược Thuận lợi- Hạn chế
PHÂN TÍCH VI MÔ
Định giá ngành Ước lượng tỷ suất sinh lợi
NGÀNH DƯỢC CÓ TRIỂN VỌNG GÌ ? ĐẶC TRƯNG CỔ PHIẾU
QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
Trang 5I TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC THẾ GIỚI
1 Tổng quan ngành dược thế giới
Ngành công nghiệp dược có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những năm 2000 – 2007 nhưng hiện nay đã dần chậm lại đặc biệt là khu vực Mỹ và châu Âu
Theo thống kê của IMS Health, tổng doanh số ngành dược thế giới năm 2008 đạt 773 tỷ USD, tăng trưởng thuần 4.8% (loại trừ biến động yếu tố giá ) Trước đó ngành này có tốc độ tăng trưởng khá cao, bình quân 10% (2000 – 2003) và 7% (2004- 2007) Đây là mức tăng trưởng nổi trội so với tốc độ tăng trưởng chung của kinh tế thế giới và nhiều nhóm ngành khác Doanh thu ngành dược năm 2009 ước tính đạt 760 tỷ USD , giảm 1.68% so với năm 2008
Doanh thu ngành dược thế giới
Thị trường dược ở một số thị trường chủ chốt như châu Âu và Mỹ đang có dấu hiệu bão hòa , một phần do dân số các này đã ổn định và do các loại thuốc quan trọng bắt đầu hết hạn quyền sáng chế
Ngược lại , ngành công nghiệp dược của các nước đang phát triển ở châu Á Thái Bình Dương , châu Mỹ Latinh ,… vẫn có tiềm năng tăng trưởng mạnh trong thời gian tới Đây là các nước phát triển loại thuốc generic , dân số đông , thu nhập trên mỗi đầu người không
Trang 6ngừng được cải thiện … Theo dự đoán của tổ chức RNCOS , tăng trưởng của công nghiệp dược ở các nước đang phát triển trong giai đoạn 2009 – 2012 sẽ đạt 12%-15% trong khi của thế giới chỉ đạt 6%-8%
Biểu đồ doanh số ngành dược thế giới
Các ngành công nghiệp dược phẩm được đặc trưng bởi một mức độ tập trung cao với mười lăm công ty đa quốc gia thống trị ngành công nghiệp
Bảng 1.1 chứa thông tin về các công ty dược phẩm lớn đang được sắp xếp theo thứ tự năm
2004 doanh thu từ việc bán các sản phẩm dược phẩm
Bảng 1.1.Các công ty dược phẩm lớn
Trang 7 Những công ty này phát triển và sản xuất các sản phẩm chăm sóc sức khỏe khác, và vẫn có
bộ phận dược phẩm làm nòng cốt kinh doanh của họ cung cấp hơn 50% doanh thu của họ Các sản phẩm khác được sản xuất bởi các công ty này thường bao gồm các thiết bị y tế, các sản phẩm dinh dưỡng, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe người tiêu dùng và các sản phẩm cho sức khỏe động vật
2 Xu hướng
Ở đây chúng ta xem xét thay đổi cơ cấu gây ra biến đổi quan trọng, các yếu tố chính dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ doanh số bán hàng trong tương lai, và chỉ ra sự phụ thuộc mạnh
mẽ của ngành công nghiệp nghiên cứu và phát triển
Thay đổi cấu trúc
Trang 8Ngành công nghiệp dược phẩm hiện đang trải qua một giai đoạn chuyển đổi rất quan trọng Đa số các "Big Pharma" là các công ty tạo ra lợi nhuận cao, do đó họ có thể cung cấp tiền mặt dư thừa để giúp cho sự phát triển nhanh chóng hơn nữa hoặc thông qua sáp nhập và mua lại Các công ty với quy mô sản xuất, thử nghiệm lâm sàng và tiếp thị sẽ có thể được các công ty lớn hơn đầu tư trong nghiên cứu và phát triển (R & D) dự án với mục đích đa dạng hóa danh mục đầu tư trong tương lai các loại thuốc của họ và làm cho chúng ổn định hơn trong dài hạn Kết quả là, các công ty hàng đầu trong ngành công nghiệp đã được tham gia hoạt động sáp nhập và mua lại (M & A), liên doanh mới
Các vụ mua lại lớn nhất trong ngành công nghiệp trong những năm qua việc mua lại của Pharmacia Pfizer (giá mua $ 58000000000), và mua lại của Guidant bởi Johnson & Johnson (giá mua 25 tỷ USD) Cả hai vụ mua lại giúp hai công ty có thể củng cố vị thế của họ trong ngành công nghiệp dược phẩm
Bảng :Mua lại gần đây bởi các công ty dược phẩm lớn củaHoa Kỳ
Công ty mua * Kinh doanh cốt lõi của mục tiêu Giá mua,
tỷ.USD
Pfizer Pharmacia Các sản phẩm dược phẩm theo toa,
sản phẩm chăm sóc sức khỏe người tiêu dùng và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe động vật
Egea Sinh học R & D trong tổng hợp của chuỗi
ADN, lắp ráp gen và xây dựng các thư
Trang 9viện gen tổng hợp lớn Biapharm SAS Sản phẩm chăm sóc da
Micomed Cột sống cấy ghép
Merck Aton Pharma Phát triển các phương pháp điều trị
mới cho bệnh ung thư và các bệnh khác
i-Stat Xét nghiệm chẩn đoán
Spine Tiếp SA Cột sống, chăm sóc kinh doanh
Nguồn: Báo cáo thường niên của công ty
Một hình thức thay đổi cơ cấu trong ngành công nghiệp thiết lập các liên minh chiến lược mới và liên doanh Cho đến nay là quá trình nghiên cứu và phát triển cho mỗi loại thuốc trong nhiều năm và đòi hỏi đầu tư đáng kể, và kết quả của các khoản đầu tư thời gian và nguồn lực tài chính vẫn còn chưa rõ ràng cho đến khi phê duyệt cuối cùng của thuốc, "Big Pharma công
ty không ngừng tìm kiếm sự phối hợp rằng họ có thể nhận được từ hợp tác với các đối thủ cạnh tranh của họ Năm qua đã đưa ra nhiều ví dụ về các sáng kiến như vậy Ví dụ, hợp tác của
Trang 10Sanofi-Aventis và Bristol-Myers Squibb sản xuất của Plavix, đó là một trong những sản phẩm bán chạy hàng đầu cho các công ty này
Yếu tố chủ yếu của sự tăng trưởng trong tương lai
Các ngành công nghiệp dược phẩm cho thấy tỷ lệ tăng trưởng doanh số bán hàng cao trong thời gian qua, và một số yếu tố cho thấy xu hướng này sẽ tiếp tục trong tương lai
Thứ nhất, do tiến bộ rất nhiều trong khoa học và công nghệ, bao gồm cả ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe, và hiện nay tuổi thọ ở các nước phát triển đã được tăng đều Kết quả là, tỷ lệ ngày càng tăng của người cao tuổi hứa hẹn tăng trưởng hơn nữa nhu cầu cho các sản phẩm chăm sóc sức khỏe
Hơn nữa, theo các nghiên cứu khác nhau, một phần đáng kể dân số cao tuổi ở Hoa Kỳ
và các nước khác không được điều trị thích hợp Ví dụ, chỉ có khoảng 1 / 3 dân số Hoa Kỳ đòi hỏi phải điều trị y tế cho cholesterol cao thực sự được điều trị đầy đủ Như dự kiến, cải tiến và các thuốc theo toa Medicare Đạo luật Hiện đại hóa bắt đầu từ đầu năm 2006 sẽ tăng cường khả năng tiếp cận của công dân cao cấp bảo hiểm thuốc theo toa, do đó tăng doanh số bán hàng dược phẩm
Mặc dù các nước đang phát triển vào lúc này có một phần nhỏ của doanh số bán hàng dược phẩm thế giới, các nước này cũng có một tiềm năng đáng kể cho ngành công nghiệp dược phẩm trong tương lai Nền kinh tế phát triển nhanh ở châu Á, Nam Mỹ và miền Trung và Đông Âu cho thấy một khả năng thanh toán ngày càng tăng của dân số và làm cho các thị trường này ngày càng hấp dẫn hơn cho công ty Big Pharma Tiếp tục cải cách hệ thống pháp luật trong nước của các khu vực này, đặc biệt là về các vấn đề bằng sáng chế bảo vệ, chắc chắn
sẽ cho kết quả tăng trưởng doanh số bán hàng dược phẩm
Trang 11một loại thuốc đã được phê duyệt, và khoảng một nửa của tất cả các loại thuốc mới thất bại trong giai đoạn cuối của thử nghiệm lâm sàng
3 Những thách thức chính đối với các công ty dược
Những thách thức chính cho các công ty dược đến từ bốn lĩnh vực
Đầu tiên, họ phải đối phó với sự cạnh tranh từ bên trong
Các ngành công nghiệp dược phẩm hiện đang đại diện cho một môi trường cạnh tranh cao Người ta có thể phân biệt ba lớp cạnh tranh :
Đầu tiên, rõ ràng, Big Pharma công ty cạnh tranh với nhau Mặc dù không phải tất cả các công ty dược phẩm hàng đầu bao gồm tất cả các phân đoạn của thị trường dược phẩm, nhưng hầu như tất cả trong số họ đang hoạt động R & D và sản xuất thuốc trong phân khúc với tiềm năng cao nhất - chẳng hạn như điều trị các bệnh truyền nhiễm, tim mạch, tâm thần hay ung thư
Thứ hai, Big Pharma bị thiệt hại lợi nhuận đáng kể do cạnh tranh từ các nhà sản xuất thuốc generic Các công ty dược phẩm theo định hướng nghiên cứu, đầu tư nguồn lực tài chính đáng kể và thời gian để phát triển các loại thuốc mới thì các nhà sản xuất thuốc generic dành nguồn lực vào R & D, và bắt đầu sản xuất khi hết hạn bằng sáng chế của các công ty lớn vì thế giá sản phẩm của các nhà sản xuất thuốc generic thường thấp hơn, kết quả là , sau khi hết hạn bằng sáng chế, các nhà sản xuất thuốc generic nắm bắt thị phần đáng kể, làm giảm doanh thu của Big Pharma
Cuối cùng, toàn bộ ngành công nghiệp dược phẩm cạnh tranh với các ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe khác Trong trường hợp này, công ty dược phẩm nên không chỉ chứng minh hiệu quả cao của các sản phẩm của họ, mà còn cung cấp bằng chứng rõ ràng về lợi thế chi phí so với các hình thức chăm sóc khác
Thứ hai, họ phải quản lý trong một thế giới của kiểm soát giá cả với một loạt các giá
từ nơi này đến nơi khác
Trang 12Các công ty dược phẩm hoạt động trong một môi trường quy định, chịu sự ảnh hưởng đáng kể vào quốc gia và loại sản phẩm
Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của quy định của chính phủ cho các công ty dược phẩm là giá quy định, và các nước khác nhau có các chính sách khác nhau về vấn đề này Tại Hoa Kỳ - thị trường dược phẩm hấp dẫn nhất hiện nay không có kiểm soát giá trực tiếp từ chính phủ Đồng thời, dự kiến sẽ cải thiện thuốc theo toa Medicare và Đạo luật Hiện đại hóa có khả năng sẽ gia tăng áp lực giá cả đi xuống
Phần lớn các nước châu Âu kiểm soát giá thuốc, và áp lực giảm giá này đã được tăng lên trong những năm qua Nhật Bản đã kiểm soát giá cả thậm chí còn chặt chẽ hơn so với các nước châu Âu, tất cả giá được kiểm soát bởi chính phủ, và họ có thể xem xét lại giá định kỳ
Như vậy, giá của các sản phẩm tương tự có thể khác nhau đáng kể ở các nước khác nhau
Thứ ba, các công ty phải được liên tục cảnh giác đối với hành vi vi phạm bằng sáng chế và tìm kiếm sự bảo vệ pháp lý mới và phát triển thị trường toàn cầu
Các nhà sản xuất thuốc generic là một mối đe dọa đáng kể cho công ty dược phẩm dựa trên nghiên cứu Ví dụ, bằng sáng chế Claritin Schering-Plough đã hết hạn vào năm 2002, kết quả
là doanh số bán hàng của Claritin của Schering-Plough đã giảm từ 3,2 tỷ USD vào năm 2001 đến $ 1,8 tỷ trong năm 2002 và 0,37 tỷ USD năm 2003
Hơn nữa, các nhà sản xuất thuốc generic đôi khi bắt đầu sản xuất của các chất tương tự thuốc bảo vệ bằng sáng chế ngay cả trước khi một bằng sáng chế hết hạn Vì vậy, bảo vệ bằng sáng chế là một trong các điều kiện cần thiết để phát triển hơn nữa của ngành công nghiệp dược phẩm
Cuối cùng, tạo một danh mục sản phẩm thuốc để khi hết hạn bằng sáng chế sẽ có những sản phẩm mới phát triển tiếp tục thay thế sản phẩm cũ
Quản lý danh mục đầu tư thuốc là một trong những yếu tố quyết định quan trọng nhất của sự thịnh vượng lâu dài của công ty dược phẩm theo định hướng nghiên cứu
Trang 13Đầu tiên, nó mất một thời gian rất dài để phát triển một loại thuốc mới, và chỉ một phần rất nhỏ của tất cả các dự án thành công Các dự án mà công ty bắt đầu ngày hôm nay sẽ xác định hiệu quả tài chính 10-15 năm sau đó Vì vậy, cẩn thận kế hoạch của các dự án R & D là rất quan trọng đối với sự ổn định lâu dài của công ty
Thứ hai, trong chừng mực bằng sáng chế giữ độc quyền của thuốc chỉ trong một thời gian giới hạn, và ngay sau khi hết hạn bằng sáng chế, doanh số bán hàng của thuốc giảm
xuống, công ty đã cẩn thận theo dõi ngày hết hạn bằng sáng chế của nó, và đảm bảo rằng các sản phẩm mới có sẵn vào ngày đó
Việc tìm kiếm sản phẩm thay thế có thể được sửa chữa bằng cách mua lại công ty
nghiên cứu nhỏ hơn hoặc bằng sáng chế từ các đối thủ cạnh tranh, nhưng trong những trường hợp này công ty sẽ phải trả một giá cao, do đó làm giảm lợi nhuận của nó
4 Triển vọng mở rộng quốc tế
Theo IMS Y tế trình bày lại trong Báo cáo thường niên năm 2004 AstraZeneca, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu và Nhật Bản bao gồm ba thị trường dược phẩm lớn chiếm 88% doanh số bán hàng trên thế giới, riêng thị trường Mỹ chiếm khoảng 47% doanh số bán hàng trên thế giới
Đồng thời, mặc dù thị phần của doanh số bán hàng dược phẩm thế giới ở các nước đang phát triển tại thời điểm này là thấp hơn nhiều, chúng cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với các nước phát triển Ví dụ, Trung Quốc cho thấy một sự gia tăng doanh số bán hàng 26% trong năm 2004, theo sau là Thái Lan (16% tăng trưởng) và Ai Cập (15 %) Một số quốc gia châu Mỹ La tinh, chẳng hạn như Mexico, Brazil, Argentina và Venezuela cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng doanh số bán hàng nhanh hơn nhiều so với trên toàn thế giới trung bình Vì vậy, các nước đang phát triển có chứa một tiềm năng đáng kể cho việc mở rộng hơn nữa của ngành công nghiệp dược phẩm trong tương lai
Chu kỳ kinh doanh của ngành dược
Dựa trên nghiên cứu sự khác nhau về mức sinh lời đầu tư của 90 ngành so với mức sinh lời của chỉ số S&P 500 trong 10 chu kỳ kinh tế hoàn chỉnh từ tháng 12.1945 đến tháng 12.1995, Standard & Poor’s đã tổng kết được mô hình về mối tương quan giữa chu kỳ của thị trường
Trang 14chứng khoán và chu kỳ kinh tế Mô hình này chỉ ra rằng : trong một chu kỳ kinh tế điển hình tại mỗi thời điểm khác nhau sẽ có những ngành sinh lời hơn so với toàn bộ thị trường
Theo như những nghiên cứu này thì ngành dược là một bộ phận trong ngành chăm sóc sức khỏe ( gồm các công ty dược phẩm, trung tâm chăm sóc sức khỏe, công ty công nghệ sinh học
và các hãng sản xuất thiết bị y tế ) Cổ phiếu thuộc nhóm này có tính phòng vệ cao và không chịu tác động hay ít chịu tác động bởi chu kỳ kinh tế
Cụ thể hơn , ta thấy là các công ty dược phẩm chịu tác động bởi thị phần, thời gian cấp phép lưu hành thuốc, vòng đời của bản quyền sản xuất thuốc và kết quả của hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) nhiều hơn là sự tác động của các biến và chu kỳ kinh tế
Không phải là ngành dược không chịu tác động của các biến kinh tế mà do các sản phẩm của ngành dược là những sản phẩm thiết yếu và cần thiết nên dưới những thay đổi và tác động của các biến kinh tế thì phản ứng của ngành dược trước chu kỳ kinh tế không có nhiều thay đổi Vì thế mà cổ phiếu của ngành dược còn gọi là cổ phiếu phòng thủ Ở bất cứ giai đoạn nào của chu kỳ kinh tế , nhà đầu tư đều có thể xem xét đầu tư vào chứng khoán ngành dược khi muốn lựa chọn vào danh mục đầu tư một loại cổ phiếu chứng khoán có tính ổn định cao
II TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
1 Tổng quan về tình hình kinh tế VN
Năm 2008 nền kinh tế thế giới bị chao đảo trước cơn bão tài chính toàn cầu
Năm 2009 là năm mà nền kinh tế thế giới đầy thử thách trong giai đoạn phục hồi
Năm 2010: Kinh tế thế giới có nhiều diễn biến lạc quan hơn nhưng vẫn không ít những diễn biến không thuận lợi
Trang 15 Theo kết quả một nghiên cứu, vừa được Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách VEPR) - thuộc Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội) - công bố sáng 17/5/2011,
nhóm tác giả báo cáo, nếu xét về không gian cho các chính sách vĩ mô, hiện nay Việt Nam ở vào thế bất lợi hơn so với năm 2008, cho dù đó là năm chịu ảnh hưởng lớn nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
Cách đây khoảng 3 năm, ngân sách chưa bị thâm hụt quá sâu nên chính sách tài khóa còn có thể khá linh hoạt; lạm phát bắt đầu bùng lên cao nhưng lãi suất lúc đó chưa cao, và khả năng tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát là chấp nhận đuợc
Thêm vào đó, dự trữ ngoại hối năm 2008 đang ở đỉnh điểm, có thể can thiệp mạnh vào thị trường ngoại hối Tâm lý của người dân và doanh nghiệp khi đó cũng vẫn còn khá lạc quan vì cuộc khủng hoảng mới chỉ bắt đầu
Sau hai năm chống đỡ những khó khăn về kinh tế, sử dụng công cụ tài khóa một cách mạnh mẽ khiến nợ công đã tăng rất mạnh và thâm hụt ngân sách duy trì ở mức cao, không gian chính sách về khía cạnh tài khóa không còn nhiều
Trong khi đó, cũng năm 2010, Việt Nam cũng sử dụng nhiều can thiệp về tiền tệ như nâng lãi suất, thắt chặt hơn cung tiền và tín dụng, giảm mạnh dự trữ ngoại hối để bình ổn tỷ giá khiến không gian chính sách về khía cạnh tiền tệ bị thu hẹp
Báo cáo kết luận: “Trong năm 2011, các công cụ chính sách không còn nhiều cơ hội vận dụng với quy mô lớn được nữa Điều này đã thể hiện rõ trong những tháng đầu năm, khi chúng ta phải sử dụng nhiều công cụ hành chính quyết liệt trong việc can thiệp vào các thị trường”
2 Lịch sử hình thành và phát triển ngành dược Việt Nam
Ngành dược Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ khi còn sản xuất thủ công cho đến khi hội nhập công nghiệp dược thế giới
A Các giai đoạn phát triển
Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, sản xuất không đáng kể Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người thời kỳ này đạt vào khoảng
Trang 160,5- 1USD/năm Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếm nên tiêu chuẩn chất lượng thuốc trong
sử dụng chưa được chú trọng
cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường
Các xí nghiệp, công ty nhà nước trong ngành được thay đổi cơ cấu tập trung, cổ phần hóa đầu tư sản xuất, đầu tư vào chiều sâu, nâng cấp để thực hiện các quy định về thực hành tốt sản xuất GMP Số lượng thuốc được sản xuất ngày càng nhiều Cơ quan quản lý cấp cao của ngành dược là Cục Quản Lý Dược thành lập Luật Dược cũng được ban hành, làm cơ sở pháp lý cao nhất điều chỉnh toàn bộ hoạt động trong lĩnh vực dược để ngành Dược Việt Nam được hoạt động trong một môi trường pháp lý hoàn chỉnh và đồng bộ
18-20%/năm Việt Nam gia nhập WTO mang lại những thuận lợi cũng như khó khăn cho ngành dược
Ngành dược đạt được tốc độ tăng trưởng cao trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển Các công ty dược phẩm đã đạt được chứng nhận GMP-ASEAN, đẩy mạnh đầu tư GMP-WHO Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hưởng nhất định đến ngành dược Bên cạnh những thuận lợi về môi trường đầu tư, tiếp cận công nghệ mới, đón một lượng vốn đầu tư lớn, có cơ hội lựa chọn nguồn nguyên liệu đa dạng với chi phí hợp lý,…, ngành dược phải đối đầu với không ít khó khăn như: năng lực cạnh tranh yếu, thiếu hiểu biết các quy định
về sở hữu trí tuệ; thiếu vốn, kỹ thuật công nghệ; đối mặt với các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài trên một sân chơi bình đẳng khi chính phủ cam kết giảm thuế suất thuế nhập khẩu; nới lỏng chính sách với các doanh nghiệp nước ngoài
các nước trong khu vực và trên thế giới nhằm đảm bảo cung cấp đủ thuốc có chất lượng và an toàn
Ngành dược Việt Nam đang bước vào thời kỳ cạnh tranh theo các nguyên tắc cạnh tranh cơ bản kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc “đổi mới”, chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá - tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng Sau hơn 20 năm phát triển trong môi trường cạnh tranh, có thể khẳng định thị trường dược Việt Nam đã cơ bản vận hành theo cơ chế thị trường với các đặc thù riêng của một ngành kinh doanh đặc biệt Điều này cũng có nghĩa là các nguyên tắc và quy luật cạnh tranh đã từng bước phát huy tác dụng và ngày càng đóng vai trò chi phối trên thị trường
Trang 17B Ngành dược Việt Nam hiện nay:
Thị trường dược phẩm Việt Nam vẫn đang trên đà tăng trưởng và ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, nhưng tỷ lệ đóng góp trong GDP vẫn còn khá khiêm tốn, chỉ chiếm khoảng 1,6% GDP (2009).Thị trường dược phẩm Việt Nam chịu tác động của các yếu tố đặc biệt là yếu tố về con người và yếu tố kinh tế như tỷ giá, lãi suất, lạm phát…Phân khúc thị trường đa dạng chia làm hai mảng đông dược và tây dược Riêng mảng tây dược còn được chia ra làm:
Theo cách thức sử dụng thuốc
- Thuốc OTC (hàng không kê toa, bán chủ yếu ở các nhà thuốc bán lẻ)
- Thuốc điều trị (thuốc có kê toa, sử dụng trong bệnh viện và các trung tâm y tế)
Tại Việt Nam
- Thuốc phân phối vào hệ thống bệnh viện
- Thuốc phân phối ra thị trường
Theo bản quyền chế tác thuốc
- Thuốc generic (theo công thức có sẵn của thuốc nước ngoài đã chứng minh hiệu quả và hết thời hạn bản quyền)
- Thuốc patent (có bản quyền)
Hiện nay, ngành dược trong nước đang chủ yếu sản xuất thuốc generic có giá trị không
cao và chiếm tới 69% tổng thị trường thuốc với các chủng loại liên quan nhiều đến thuốc kháng sinh, thuốc thông thường (vitamin, giảm đau, hạ sốt)
- Theo WHO và UNCTAD (United Nations Conference on Trade and Development (Hội nghị thường niên về thương mại và phát triển của Liên hiệp quốc), ngành công nghiệp dược được phân theo 4 cấp độ:
Cấp độ 1: Hoàn toàn nhập khẩu
Cấp độ 2: Sản xuất được một số generic và đa số phải nhập khẩu
Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa sản xuất generic xuất khẩu được một số sản phẩm dược
Cấp độ 4: Sản xuất dược nguyên liệu và phát minh thuốc mới
Theo đó, ngành công nghiệp dược Việt Nam đang phát triển ở cấp độ 2,5-3 Đây là mức
độ đánh giá nền kinh tế có ngành công nghiệp dược, đã sản xuất được thuốc generic nhưng đa phần vẫn nhập khẩu Đây là khó khăn lớn của ngành dược Việt Nam hiện nay, khi vẫn chưa tự chủ được nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, với trung bình hơn 90% nguyên
Trang 18liệu vẫn phải nhập khẩu, chiếm trên 50% giá thành sản xuất.Các dược liệu được nhập chủ yếu
là nguyên liệu kháng sinh, vitamin và chiếm trên 80% giá trị nhập khẩu
3 Các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của ngành dược Việt Nam
a Thể chế - Luật pháp (Political)
a Sự ổn định về chính trị
Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị, xã hội, an ninh ổn định Chính phủ đã có những nổ lực trong việc thể chế hóa hệ thống luật pháp, cải cách hành chính tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong và ngoài nước nói chung, các doanh nghiệp trong ngành dược phẩm nói riêng
Cục Quản lý Dược dựa trên chi phí sản xuất cho từng năm
Nếu có biến động mạnh về giá nguyên liệu đầu vào thì các công ty có thể trình Sở Y
Tế địa phương để xin điều chỉnh giá thuốc, việc điều chỉnh này chỉ được thực hiện nếu được sự chấp thuận của Sở Y tế
Giá dược phẩm chiếm khoảng 5.4% trong công thức tính chỉ số CPI Tuy chỉ số giá thuốc và dược phẩm (MPI) có xu hướng tăng giảm khá giống như giá tiêu dùng (CPI), nhưng giá dược phẩm không có sự dao động lớn bằng Năm 2010, tỉ lệ tăng của giá thuốc (5%) thấp hơn hẳn so với tỷ lệ tăng của CPI do Bộ Y tế siết chặt hơn các quy chế quản lý giá thuốc
Trang 19 Quản lý kinh doanh
Theo WHO, ngành dược phải đáp ứng 5 tiêu chuẩn quy định về dược phẩm:
- Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP)
- Thực hành tốt kiểm nghiệp thuốc (GLP)
- Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP)
- Thực hành tốt phân phối thuốc (GDP),
Tới 2013, tất cả các quầy thuốc phải áp dụng nguyên tắc GPP Riêng 1/7/2007 tất cả các nhà thuốc thuộc quận nội thành của 4 thành phố lớn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ phải áp dụng tiêu chuẩn này
Các quy định này đã dẫn đến 1 sự thanh lọc trong ngành dược Cuối năm 2008, đã có 52% các doanh nghiệp dược (bao gồm cả tân và đông dược) đạt được tiêu chuẩn GMP-WHO Các doanh nghiệp còn lại khi đến thời hạn nếu không đạt được GMP-WHO sẽ phải thu hẹp
Trang 20phạm vi sản xuất và chuyển sang gia công cho các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn.Số doanh nghiệp đạt được tiêu chuẩn GLP và GSP lần lượt là 51% và 63%
c Các đạo luật liên quan:
Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh, Luật Thương mại và Luật Sở hữu trí tuệ cũng đã được Quốc hội thông qua, được kỳ vọng sẽ tạo môi trường đầu tư - kinh doanh - cạnh tranh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng và lành mạnh cho các doanh nghiệp Trong giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý, các thay đổi của luật và văn bản dưới luật có thể tạo ra rủi ro
về luật pháp cho các doanh nghiệp trong ngành dược
d Vị thế của cơ quan đầu ngành:
Cơ quan trực tiếp quản lý ngành dược là Cục Quản Lý Dược được thành lập vào năm
1996 theo Quyết Định số 547/TTg Đây là cơ quan quản lý chuyên ngành thuộc Bộ Y tế, giúp
Trang 21Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và thực thi pháp luật, điều hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực dược và mỹ phẩm trên phạm vi cả nước
b Kinh tế (Economics)
A Tốc độ tăng trưởng KT
Trong giai đoạn 2003-2007, KTVN đạt tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, trung bình từ 7.5 – 8.5%/năm Từ năm 2008 tới nay, do ảnh hưởng của cuộc suy thoái KT thế giới, mức tăng trưởng GDP của VN giảm xuống còn 6.23% năm 2008, 5.32% năm 2009 Theo Báo cáo cập nhật kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương được Ngân hàng Thế giới công bố ngày 19/10/2010, WB cho rằng GDP chỉ “đang trên đà đạt được mục tiêu 6.5% của năm
2010” Tuy nhiên, GDP năm 2010 của VN đạt 6.78% cao hơn con số WB dự báo Điều đó chứng tỏ nền KT VN đang từng bước phục hồi và tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng GDP cả nước giai đoạn 2003-2010
Ngành Dược cũng là 1 ngành phụ thuộc vào sự phát triển KT Khi nền KT tăng trưởng mạnh và đời sống nhân dân được nâng cao thì nhu cầu về dược phẩm, đặc biệt là thuốc bổ, thuộc đặc trị,… cũng tăng theo Do đó làm tăng doanh thu và lợi nhuận của ngành dược
Ngược lại, khi nền KT suy thoái, đời sống và thu nhập của người dân giảm thì nhu cầu về dược phẩm cũng giảm theo làm doanh thu và lợi nhuận ngành giảm xuống Tuy nhiên, do dược phẩm là nhóm sản phẩm thiết yếu nên mức giảm sẽ thấp hơn mức giảm của nền KT
Trang 22 Tiêu dùng thuốc gia tăng:
Ngành dược Việt Nam đạt mức tăng trưởng 2 con số, trung bình 18-20%/ năm trong
giai đoạn 2006 – 2007 Từ năm 2008 – 2010, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và xu
hướng hội nhập thì mức tăng trưởng ngành Dược có giảm hơn so với giai đoạn 2006 – 2007
Tốc độ tăng trưởng giá trị tiền thuốc sử dụng tăng bình quân trên 18% trong 5 năm
2006-2010, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng bình quân của ngành Dược toàn cầu (6,2%)
Tăng trưởng sản xuất
Do nhu cầu gia tăng, nên giá trị sản xuất thuốc trong nước cũng tăng dần qua các năm,
từ chỗ chỉ chiếm 36% tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong năm 2001, số còn lại 64% là thuốc
nhập khẩu thì đến năm 2010 tăng lên 48%
Tổng giá trị thuốc sử dụng và sản xuất của Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010
Trang 23Đvt: 1,000 $
(Nguồn: Cục Quản lý Dược)
Tăng trưởng GPD, giá trị sử dụng thuốc và giá trị sản xuất thuốc từ 2006 - 2010
( Nguồn: Tổng Cục thống kê & Cục Quản lý dược)
tổng giá trị thuốc sản xuất trong nước
Trang 24giá thuốc được kiểm tra và tương đối ổn định, không có sự tăng giá đột biến Chỉ số gia nhóm hàng dược phẩm, y tế năm 2008 la 9,43% nếu so sánh với chỉ số giá tiêu dùng chung của xã hội CPI là 47,71% (giảm hơn so với năm 2007 la 55%, năm 2006 la 65%)
Dù chịu sự kiểm soát giá của Nhà nước, nhưng giá dược phẩm cũng sẽ được điều chỉnh tăng theo đà tăng của CPI, nhưng mức tăng chậm hơn
Theo công bố chính thức của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm và
y tế tháng 5/2011 tăng 1,20% so với tháng 4/2011, là một trong những nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng không cao trong khi chỉ số giá tiêu dùng nói chung tăng 2,21% So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá hàng dược phẩm và y tế tăng 6,2%, thấp hơn nhiều so với mức tăng chung gần 19,8% Trong giai đoạn từ đầu năm 2009 đến hết tháng 5/2011, theo số liệu công bố của TCTK, giá nhóm hàng dược phẩm và y tế đều tăng chậm hơn chỉ số giá tiêu dùng nói chung, đặc biệt từ đầu Q4’2010 tính lại đây
Như vậy, giá thuốc trên thị trường năm 2011 những tháng gần đây nhìn chung ổn định hoặc có mức điều chỉnh (tăng hoặc giảm) không đáng kể
C Giá nguyên vật liệu, tỷ giá ngoại tệ và lãi suất
Biến động giá cả nguyên vật liệu
Đối với hoạt động sản xuất kinh doanh dượcphẩm của Việt Nam hiện nay, nguồn
nguyên liệu đầu vào của hầu hết các đơn vị sản xuất trong nước đều phụ thuộc rất lớn vào
Trang 25nguồn nhập khẩu nước ngoài (hơn 90%), trong khi giá nguyên vật liệu luôn biếnđộng Sự biếnđộng của giá nguyên vật liệu đã tác động đến giá thuốc và làm ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng Đây là một trong những nhân tốrủiro ảnh hưởng nhiều đến giáthành sản xuất
và khả năng sinh lời của các Công ty dượcnói chung
Năm 2008, các nguyên liệu nhập khẩu chính như kháng sinh tăng trung bình 2%,
vitamin tăng 34% và nguyên liệu của thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 80% => chi phí sản xuất tăng cao
Tỷ giá và lãi suất
Các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận các DN Hiện tại, tân dược vẫn chiếm tỷ lệ lớn hơn nhiều so với sản phẩm đông dược (hơn 90% trong thị trường dược phẩm),
và nhập khẩu hơn 90% nguyên phụ liệu và thành phẩm, nên chỉ cần một thay đổi nhỏ về tỷ giá cũng ảnh hưởng tới chi phí của các DN dược Ước tính, khi tỷ giá tăng 3,36% thì chi phí của
DN dược tăng thêm 3,024%
Lãi suất cho vay với DN sản xuất và kinh doanh ở mức 12.5-14%, tăng 4% so với năm
2009
Trong năm 2011, tỷ giá USD/VND tiếp tục được điều chỉnh tăng 9.3%, lãi suất cho vay đồng thời cũng tăng ở mức cao, phổ biến từ 16%-20%, ảnh hưởng mạnh hơn tới hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp dược so với năm 2010, nhất là các DN có tỷ lệ vay nợ cao
c Văn hóa – xã hội (Sociocultrural )
a Dân số
Việt Nam với dân số đông, khoảng 88 triệu người, với hơn 90% dân số ở độ tuổi lao động, tỉ lệ sinh duy trì ở mức cao nên nhu cầu về thuốc chữa bệnh là rất lớn Ngoài ra, tăng trưởng GDP hàng năm của Việt Nam vào khoảng 8%/năm, mức sống người dân ngày càng
Trang 26nâng cao nên nhu cầu với các loại thuốc bổ dưỡng, vitamin, tăng cường sức khỏe là cần thiết Đây sẽ là những nhân tố góp phần phát triển ngành dược
Việt Nam là một nước nông nghiệp, trên 70% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn,
có mức sống thấp hơn khu vực thành thị, nhu cầu dùng thuốc có giá thành rẻ cao Đây là một thị trường to lớn cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa, do ngoại trừ một số thuốc biệt dược, chuyên khoa cần phải nhập ngoại, đa số thuốc generic sản xuất trong nước đều đáp ứng nhu cầu điều trị trong khi giá rẻ hơn
b Thói quen sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng:
Phần lớn người tiêu dùng Việt Nam dùng thuốc không cần kê toa của bác sĩ đối với các bệnh thông thường Họ cho rằng nếu vào bệnh viện để lấy đơn thuốc vì những bệnh thông thường thì vừa mất thời gian vừa tốn tiền Do đó họ thường ra hiệu thuốc tây khai bệnh Người bán bán đưa thuốc gì uống thuốc đó Cũng có khi người bệnh mua thuốc theo hướng dẫn của một người hàng xóm từng có bệnh tương tự
Nắm được thói quen này của người tiêu dùng, các công ty sản xuất dược phẩm đã dùng đội ngũ trình dược viên tác động đến các hiệu thuốc dưới hình thức hoa hồng do sự tư vấn và
kê toa của nhà thuốc ảnh hưởng lớn đến quyết định mua thuốc của người bệnh
Ngoài ra, khi mức sống ngày một cao, hiện tượng lạm dụng thuốc bổ trong thói quen sử dụng thuốc của người tiêu dùng ngày một phổ biến Cuộc sống ngày càng bận rộn với nhiều áp lực, nhu cầu bổ sung vitamin và khoáng chất để duy trì sức khỏe cho cơ thể ngày càng được quan tâm Do vậy, thị trường thuốc bổ cung cấp vitamin và khoáng chất đang phát triển rất nhanh, là “miếng bánh” tương đối lớn cho các các doanh nghiệp dược phẩm để mắt tới Hiện nay, trong danh mục sản phẩm cung ứng ra thị trường của các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm hầu như đều có các loại thuốc bổ dưới các hình thức như: viên sủi bọt, viên, siro,
Trang 27Campuchia, Myanma và Indonesia Qua đó cho thấy Việt Nam là một nước có trình độ công nghệ lạc hậu và ngành dược Việt Nam không nằm ngoài sự đánh giá đó Trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất thuốc còn thấp và chưa được đầu tư đúng đắn, đang diễn ra tình trạng đầu
tư dây chuyền trùng lặp
Tại các nước phát triển, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) trong ngành dược rất được chú trọng Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước thu hút hoạt động R&D nhiều nhất hiện nay, kế đến là Singapore Tuy nhiên, mặc dù Việt Nam là một nước đang phát triển với chi phí nhân công rẻ nhưng đầu tư nước ngoài trong hoạt động R&D tại Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Các doanh nghiệp Việt Nam thiếu chuyên môn cũng như nguồn tài chính để hỗ trợ cho công tác R&D Thay vào đó, từ lâu Việt Nam đã là nơi để các công ty đa quốc gia tiến hành thử nghiệm lâm sàng
Việc đầu tư cho một nghiên cứu mới vô cùng tốn kém, trung bình phải mất 10 năm với chi phí từ 12-15 triệu USD Hơn nữa, các doanh nghiệp chạy theo nhu cầu trước mắt của thị trường và hạn chế về trình độ nhân lực, công nghệ nên chỉ nhậ p công nghệ để sản xuất thuốc thông thường Do đó, chí phí R&D mà các doanh nghiệp Việt Nam công bố thường tập trung vào các dự án mua sắm máy móc thiết bị mới Chi phí dành cho R&D chỉ khoảng dưới 3% doanh thu, đây là một tỷ lệ thấp so với các nước Châu Á dân số đông (khoảng 5%) và so với thế giới (12%-16%) Để tồn tại và sống còn, các doanh nghiệp Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển nghiên cứu khoa học về công nghệ bào chế, công nghệ sinh học sản xuất các thuốc mới, thuốc thành phẩm Đồng thời có chính sách thu hút đầu tư nước ngoài vào trong lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu chuyển giao công ngh
2.5 Cam kết WTO
Quyền kinh doanh
Từ 1/1/2007 các doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép mở chi nhánh tại Việt Nam dưới hình thức liên doanh liên kết hay 100% vốn nước ngoài Doanh nghiệp trong nước và
Trang 28doanh nghiệp nước ngoài sẽ được đối xử bình đẳng theo nguyên tắc đối xử quốc gia Việc bảo
hộ các doanh nghiệp phải được thực hiện đúng trong khuôn khổ của WTO
Quyền phân phối
Kể từ 1/1/2009 các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và chi nhánh doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được phép trực tiếp xuất khẩu mà không phải thông qua nhập khẩu ủy thác và uỷ thác nhập khẩu
Tuy nhiên, các doanh nghiệp nước ngoàikhông được phép phân phối trực tiếp dược phẩm tại Việt Nam mà phải bán lại cho các doanh nghiệp Việt Nam có chức năng phân phối Như vậy, các doanh nghiệp nước ngoài và chi nhánh doanh nghiệp nước ngoài Việt Nam nhập khẩu trực tiếp sẽ phải bán lại cho các doanh nghiệp trong nước có chức năng phân phối
Thuế trung bình đối với mỹ phẩm sẽ giảm từ 44% xuống còn 17,9% vào thời điểm
Việt nam phải thực hiện đầy đủ các cam kết
Việt Nam gia nhập WTO có những ảnh hưởng to lớn đến ngành dược Bên cạnh những thuận lợi, ngành dược phải đối đầu với không ít khó khăn
Thuận lợi:
- Môi trường đầu tư: Việt Nam gia nhập WTO sẽ mang lại cho các ngành kinh tế nói chung và ngành dược nói riêng một môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, minh bạch và thuận lợi hơn; được tiếp cận với nhiều thị trường lớn, đa dạng với các điều kiện kinh doanh, cạnh tranh công bằng
- Công nghệ: Ngành dược Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi trong tiếp cận với các đối tác kinh doanh để hợp tác sản xuất, chuyển giao công nghệ
- Vốn: Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, công nghiệp dược phẩm là một lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài với số lượng doanh nghiệp đăng ký hoạt động tăng mạnh
Do vậy, ngành dược sẽ đón một lượng vốn đầu tư lớn từ sự gia nhập của các tập đoàn dược phẩm nước ngoài vào Việt Nam
Khó khăn:
Trang 29- Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của ngành dược Việt Nam còn thấp, ngành dược Việt Nam chỉ mới sản xuất được thuốc gốc, xuất khẩu được một số dược phẩm, đa số phải nhập khẩu
- Các quy định về sở hữu trí tuệ: Sở hữu trí tuệ cũng là một thách thức cho ngành dược khi Việt Nam gia nhập WTO Tự do hóa sẽ làm gia tăng các nguy cơ tranh chấp pháp lý về quyền
sở hữu công nghiệp giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài Khi gia nhập WTO, ngành dược Việt Nam phải cam kết bảo mật dữ liệu thử nghiệm lâm sàng có trong hồ sơ đăng ký của các thuốc mới trong thời hạn 5 năm
- Vốn: Tiền thân của các doanh nghiệp dược là các xí nghiệp với quy mô vừa và nhỏ Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp này sẽ phải đối đầu với các tập đoàn dược phẩm nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh
- Kỹ thuật công nghệ: Trình độ kỹ thuật công nghệ sản xuất thuốc của Việt Nam còn thấp, vẫn dựa vào bào chế các thuốc gốc là chủ yếu, chưa có khả năng sản xuất thuốc có hàm lượng công nghệ cao.Thêm vào đó, hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) chưa được chú trọng và đầu
tư hợp lý
- Hàng rào thuế quan: Giảm thuế nhập khẩu là thách thức cho các doanh nghiệp sản xuất dược trong nước trong việc cạnh tranh với thuốc nhập khẩu từ nước ngoài Các nguyên liệu làm thuốc nhập khẩu sẽ được miễm giảm đến 0% tạo điều kiệm giảm chi phí giá vốn, tuy nhiên cũng ảnh hưởng đến một số doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu của Việt Nam
4 Phân tích theo mô hình Porter’s 5 Forces
Trang 30a Phân tích mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành dược
Ngành dược là một trong những ngành có môi trường cạnh tranh nội bộ cao Hiện nay,
cả nước có 180 doanh nghiệp sản xuất thuốc bao gồm cả tân dược và đông dược, trong số đó
có 100 doanh nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược, ngoài ra có 5 doanh nghiệp sản xuất vắcxin, sinh phẩm y tế
Mặc dù là số lượng doanh nghiệp nhiều nhưng quy mô còn nhỏ (về vốn và nhà xưởng), chủ yếu sản xuất thuốc phổ thông và phân phối Sau khi gia nhập WTO , cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài càng cao Số lượng doanh nghiệp ngoài đăng kí kinh doanh tại Việt Nam tăng từ hơn 300 năm 2007 lên gần 500 doanh nghiệp năm 2010
Những doanh nghiệp lớn dẫn đầu như dược Hậu Giang (DHG) chiếm 6.15% thị phần , Domesco chiếm 4.67%, Imexpharm chiếm 3.72% thị phần rất nhỏ còn lại cho các doanh nghiệp nhỏ khác Điều này đã cho thấy trong ngành dược chưa có những đại gia thực sự lớn chi phối, chiếm thị phần lớn Miếng bánh của ngành vẫn được chia phần cho nhiều doanh nghiệp
Ngoài ra các doanh nghiệp còn chịu sự cạnh tranh gay gắt từ các công ty dược nước ngoài được thành lập chi nhánh và thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu dược phẩm theo lộ trình cam kết mở cửa của WTO
Trang 31Bảng : Thị phần các công ty trong ngành dược Việt Nam
Phân khúc thuốc Đông dược: chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị ngành dược khoảng 0.5%-
1.5% giá trị sản xuất toàn ngành Hiện có khoảng 80 doanh nghiệp sản xuất Đông dược trong
đó có 5 doanh nghiệp đạt chuẩn GMP-WHO và hơn 400 cơ sở sản xuất nhỏ không có đăng kí Cạnh tranh cao do có nhiều tương đồng về số mục sản phẩm và giá cả giữa các đơn vị
Phân khúc sản xuất Tây dược : gồm 100 doanh nghiệp sản xuất Thuốc Tây dược nội đại
chủ yếu là thuốc kháng sinhvà vitamin , thực phẩm chức năng… chiếm 22% và 21% thị phần sản xuất thuốc trong nước Cạnh tranh trong 2 thị phần này phần lớn là cạnh tranh gián tiếp (do doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu sản xuất thuốc đã hết hạn bằng sáng chế) tuy nhiên thuốc nhập khẩu còn có ưu thế hơn do tâm lý chuộng thuốc ngoại của người tiêu dùng
Danh sách các công ty sản xuất thuốc với doanh thu lớn:
Trang 32DMC 602,865,650 612,928,612 709,969,607 766,808,517
DHT 239,782,126 234,580,786 244,763,453 265,864,407
IMP 568,425,519 596,410,661 731,468,923 751,000,320
Bảng so sánh kết quả hoạt động các doanh nghiệp ngành dược quí I năm 2011
Cạnh tranh với các công ty nước ngoài
Hiện nay có 500 doanh nghiệp nước ngoài cung cấp thuốc cho thị trường Việt Nam Số lượng các công ty và số thuốc nước ngoài đăng kí tăng vọt 29% lên 8500 thuốc sau khi Việt Nam gia nhập WTO và thuế nhập khẩu giảm từ 15-20% xuống còn 5.2% Các công ty lớn nhất Việt Nam gồm Sanofi Aventis Group (8.8% tổng thuốc tiêu thụ) và GlaxoSmithKline (7.8%),
Trang 33DHG(5%) DHG hiện là doanh nghiệp nội địa dẫn đầu sản xuất với 12% thị phần trong nước DHG và IMP là hai doanh nghiệp có doanh thu sản xuất lớn nhất (1600 tỷ VND và 625 tỷ VND) và tỷ trọng doanh thu hàng sản xuất cao nhất (94% và 95%)
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
1 Sanofi Aventis - Pháp
2 Novartis - Thụy Sĩ
3 United Pharma - Philippines
4 Ranbaxy - Ấn Độ
5 Sing poong Daewoo - Hàn Quốc
6 Korea United Pharm - Hàn Quốc
b Mối đe dọa từ các đối thủ tiềm năng:
Theo M-Porter, đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai
Việc gia nhập ngành của các công ty dược phẩm mới tương đối khó khăn Chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) cho việc chế tạo ra một loại thuốc mới của các công ty sản xuất dược phẩm là rất đáng kể Chính vì dược phẩm là loại hàng hoá ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, thậm chí là tính mạng của người tiêu dùng, nên phải sau một quá trình đánh giá rất dài của Chính phủ, các hãng mới có thể nhận được đặc quyền sáng chế sản phẩm mới Từ đặc quyền sáng chế này, các công ty mới có thể sản xuất và cung cấp các loại dược phẩm ra thị trường trong thời gian dài