Được sự quan tâm giúp đỡ và hướng dẫn của nhà giáo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, giảng viên Trường Đại học Thuỷ lợi, Lãnh đạo và cán bộ Khoa Sau đại học, sự tham gia góp ý của các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp, cùng sự nỗ lực của bản thân tác giả, bản Luận văn đã được hoàn thành vào tháng 11 năm 2011 tại Trường Đại học Thuỷ lợi. Trước hết, tác giả bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS. Lê Quang Vinh người hướng dẫn khoa học trực tiếp, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình làm và hoàn thành Luận văn. Tự đáy lòng mình tác giả bày tỏ lòng biết ớn sâu sắc tới cha, mẹ và những người thân yêu trong gia đình đã đồng cảm, sẻ chia bao nỗi vất vả, nhọc nhằn, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và làm Luận văn để đạt được kết quả như ngày hôm nay. Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã tạo diều kiện thuận lợi để tác giả được trình bày luận văn này.
Trang 1L ỜI CẢM ƠN
Được sự quan tâm giúp đỡ và hướng dẫn của nhà giáo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ,
gi ảng viên Trường Đại học Thuỷ lợi, Lãnh đạo và cán bộ Khoa Sau đại học, sự tham gia góp ý c ủa các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp, cùng sự nỗ lực của bản thân tác gi ả, bản Luận văn đã được hoàn thành vào tháng 11 năm 2011 tại Trường Đại học Thuỷ lợi
Trước hết, tác giả bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Lê Quang Vinh người hướng dẫn khoa học trực tiếp, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, động viên, giúp
đỡ tận tình trong suốt quá trình làm và hoàn thành Luận văn
T ự đáy lòng mình tác giả bày tỏ lòng biết ớn sâu sắc tới cha, mẹ và những người thân yêu trong gia đình đã đồng cảm, sẻ chia bao nỗi vất vả, nhọc nhằn, động viên, khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và làm Luận văn để đạt được kết quả như ngày hôm nay
Cu ối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
đã tạo diều kiện thuận lợi để tác giả được trình bày luận văn này
Hà Nội, tháng 11 năm 2011
Trang 2động, đã có quy hoạch chi tiết và dự kiến quy hoạch đến năm 2020
trên vùng Yên Nghĩa – Liên Mạc6 31
Bảng 2-2 : Sự xuất hiện của mưa thời đoạn ngắn trong các tháng qua các
năm tại trạm Hà Đông6 41
Trang 3Bảng 2-18 : Thống kê lượng mưa giờ max trong mô hình mưa 24 giờ lớn nhất trạm
Hà Đông tương ứng với tần suất 10%6 69
6
Bảng 2-19 : Kết quả tính toán hệ số tiêu cho tiểu vùng Yên Nghĩa – Liên Mạc theo
mô hình mưa giờ của hai ngày lớn nhất ứng với tần suất 10 %6 70
6
Bảng 2-20 : Tổng kết các kết quả tính toán hệ số tiêu cho lưu vực Yên Nghĩa – Liên
Mạc từ bảng 2-19 ứng với tần suất thiết kế P= 10 %6 72 6
Bảng 3-1 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông +5,8 m6 79 6
Bảng 3-2 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông +5,6 m6 79 6
Bảng 3-3 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông +5,4 m6 80
6
Bảng 3-4 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông +5,2 m6 80
6
Bảng 3-5 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông + 5,0 m6 81 6
Bảng 3-6 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông + 4,8 m6 81 6
Bảng 3-7 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ
Trang 4nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông + 4,75 m6 82 6
Bảng 3-8 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông + 4,6 m6 82 6
Bảng 3-9 : Kết quả tính toán thủy lực mặt cắt sông La Khê sau khi cải tạo mở rộng
có dạng mặt cắt chữ nhật, bề rộng đáy 20,0 m, độ dốc đáy i = 0,00, độ nhám n=0,02 Trường hợp mực nước khống chế tại Hà Đông + 4,4 m6 83 6
Bảng 3-10 : Tổng hợp kết quả tính toán thủy lực xác định đường mực nước thiết kế
sông La Khê sau khi cải tạo nâng cấp có bề rộng đáy 20 m, mặt cắt hình chữ nhật, độ dốc đáy i = 0,00, hệ số nhám n = 0,02 và lưu lượng lớn nhất có thể dẫn được6 84
Trang 5TH ỐNG KÊ CÁC HÌNH VẼ, BẢN ĐỒ MINH HOẠ
Hình 1-1 : Bản đồ hành chính khu vực phía Tây Hà Nội 24
Hình 2-1 : Đường tần suất thiết kế mưa 5ngày max trạm Hà Đông 43
Hình 2-2 : Biểu đồ mô hình mưa thiết kế trạm Hà Đông 47
Hình 2-3 : Sơ đồ tính toán tiêu nước mặt ruộng bằng đập tràn, chế độ chảy tự do 55
Hình 2-4 : Sơ đồ mực nước trong ao hồ điều hoà 56
Trang 6M ỤC LỤC
6
MỞ ĐẦU 61 6
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU6 1 6
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU6 3 6
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU6 3 6
4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU6 3 6
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU6 3
6
5.1 Phương pháp kế thừa6 3 6
5.2 Phương pháp điều tra thu thập và đánh giá6 3 6
6 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU6 4
6
CHƯƠNG 16 5 6
TỔNG QUAN HỆ THỐNG THỦY LỢI SÔNG NHUỆ VÀ TIỂU VÙNG YÊN NGHĨA - LIÊN MẠC6 5 6
1.1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG THỦY LỢI SÔNG NHUỆ6 5 6
1.1.2.3 Thời kỳ 1954 - 19736 6 6
1.1.2.4 Thời kỳ 1973 - 19976 7 6
1.1.2.5 Thời kỳ 1997 - 20076 8 6
1.1.2.6 Từ năm 2007 đến nay6 11 6
1.1.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên6 12 6
1.1.4 Hiện trạng kinh tế - xã hội và định hướng phát triển6 14 6
1.1.4.1 Hiện trạng và định hướng phát triển nông nghiệp6 14 6
1.1.4.2 Hiện trạng và định hướng phát triển đô thị6 16 6
1.1.1.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng6 17 6
1.1.4.4 Tiềm năng du lịch và định hướng phát triển6 18
Trang 71.1.4.5 Cơ sở hạ tầng xã hội6 19 6
1.1.4.6 Chất lượng đời sống và xã hội6 20 6
1.1.5 Đánh giá chung6 21 6
1.2 TỔNG QUAN VÙNG TIÊU YÊN NGHĨA - LIÊN MẠC6 23 6
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên6 23 6
1.2.1.1 Vị trí địa lý6 23 6
1.2.1.2 Đặc điểm địa hình6 24 6
1.2.1.3 Đặc điểm cấu tạo địa chất6 24
6
1.2.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng6 25 6
1.2.1.5 Đặc điểm các yếu tố khí tượng, khí hậu6 26 6
1.2.1.6 Đặc điểm sông ngòi6 29
1.3 NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN CHƯƠNG 16 36 6
CHƯƠNG 26 37 6
YÊU CẦU TIÊU NƯỚC CỦA VÙNG YÊN NGHĨA - LIÊN MẠC6 37 6
2.1 MÔ HÌNH MƯA TIÊU6 37 6
2.1.1 Khái niệm về mô hình mưa tiêu thiết kế6 37 6
2.1.2 Mục đích, ý nghĩa và nội dung tính toán6 37 6
2.1.2.1 Mục đích, ý nghĩa của việc tính toán6 37 6
2.1.2.2 Nội dung tính toán6 38 6
2.1.3 Chọn trạm đo mưa tính toán, tần suất thiết kế6 38 6
2.1.3.1 Chọn trạm đo mưa tính toán6 38 6
2.1.3.2 Chọn tần suất thiết kế6 38 6
2.1.4 Phương pháp tính toán6 38 6
2.1.5 Phân tích tài liệu mưa6 39
Trang 82.1.6 Kết quả tính toán6 42 6
2.1.6.1 Tính toán xác định các tham số thống kê6 42 6
2.1.6.2 Chọn mô hình mưa tiêu điển hình6 43 6
2.1.6.3 Xác định mô hình mưa tiêu thiết kế với tần suất thiết kế P = 10%6 46 6
2.2 TÍNH TOÁN HỆ SỐ TIÊU6 48 6
2.2.1 Khái quát chung về hệ số tiêu.6 48 6
2.2.2 Phân loại đối tượng tiêu6 49 6
2.2.1.1 Tiêu cho nông nghiệp6 49 6
2.2.1.2 Tiêu cho thành thị6 50 6
2.2.1.3 Tiêu cho nông thôn6 50 6
2.2.1.4 Tiêu cho khu vực công nghiệp và làng nghề6 50 6
2.2.1.5 Tiêu cho các loại đất khác6 50 6
2.2.3 Phương pháp tính toán hệ số tiêu thiết kế6 51 6
2.2.3.1 Phương pháp tính toán hệ số tiêu cho các đối tượng không phải là lúa nước6 51 6
2.2.3.2 Phương pháp tính toán hệ số tiêu cho lúa nước:6 52 6
2.2.3.3 Phương pháp tính toán áp dụng cho một số trường hợp cụ thể.6 55 6
2.2.3.4 Phương pháp tính toán hệ số tiêu cho hệ thống thuỷ lợi.6 59 6
2.2.4 Tài liệu tính toán6 62 6
2.2.4.1 Tài liệu mưa6 62 6
2.2.4.2 Cơ cấu sử dụng đất6 62 6
2.2.4.3 Khả năng chịu ngập6 64 6
2.2.4.4 Hệ số dòng chảy C6 64 6
2.2.4.5 Tổn thất nước6 64 6
2.2.4.6 Các điều kiện ràng buộc khác6 65 6
2.2.5.Kết quả tính toán hệ số tiêu cho tiểu vùng Yên Nghĩa – Liên Mạc6 65 6
2.2.5.1 Đối với năm 20106 65
6
2.2.5.2 Đối với năm 20206 68 6
2.3 NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN CHƯƠNG 26 73
Trang 9CHƯƠNG 36 74 6
PHƯƠNG ÁN TIÊU NƯỚC6 74 6
3.1 CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN TIÊU NƯỚC6 74 6
3.1.1 Hiện trạng tiêu nước vào trục chính sông Nhuệ và yêu cầu tiêu nước của vùng tiêu Yên Nghĩa - Liên Mạc6 74 6
3.1.2 Tính toán cân bằng tiêu nước cho vùng tiêu Yên Nghĩa - Liên Mạc6 74 6
3.2 PHƯƠNG ÁN TIÊU NƯỚC VÙNG YÊN NGHĨA – LIÊN MẠC6 75 6
3.2.1 Đề xuất phương án tiêu nước6 75
3.2.3.5 Cống điều tiết Xuân Phương6 89 6
3.2.3.6.Yêu cầu chung đối với các trạm bơm lớn tiêu ra sông ngoài sẽ xây dựng
hoặc cải tạo nâng cấp trong vùng Yên Nghĩa – Liên Mạc6 89 6
3.3 NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN CHƯƠNG 36 90 6
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ6 91 6
A KẾT LUẬN6 91 6
B KIẾN NGHỊ6 93 6
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN6 95 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO6 96
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH C ẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Khu vực nằm phía tây sông Tô Lịch và phía trên cống Hà Đông thuộc Hệ
thống thủy lợi Sông Nhuệ bao gồm các huyện Đan Phượng, Hoài Đức, quận Hà Đông và huyện Từ Liêm có tổng diện tích tự nhiên 20.814 ha trong đó diện tích cần
tiêu là 19.438 ha (quận Hà Đông 3.281 ha, các huyện Từ Liêm 930 ha, Đan Phượng 6.648 ha, Hoài Đức 8.679 ha)
Theo các quy hoạch lập từ năm 2007 trở về trước, khu vực nghiên cứu có tên
là tiểu vùng Đan Hoài Từ - một trong 9 tiểu vùng tiêu của hệ thống thủy lợi Sông
Nhuệ Ngoài trạm bơm là Đào Nguyên (Song Phượng) lắp 25 máy loại 2.500 mP
3
P/h
tiêu 2.200 ha ra sông Đáy và trạm bơm Nam Thăng Long có lưu lượng 9,0 mP
3
P/s tiêu
ra sông Hồng cho 450 ha khu đô thị Nam Thăng Long, phần diện tích còn lại của
tiểu vùng hiện nay đều được tiêu vào sông Nhuệ qua hệ thống kênh tiêu tự chảy và
trạm bơm tiêu Theo số liệu thống kê của Công ty TNHH một thành viên Đầu tư
phát triển thủy lợi Sông Nhuệ, hiện nay tổng diện tích đang tiêu trực tiếp vào sông
Nhuệ thông qua các điểm nhận nước tiêu lên tới 57.503 ha
Theo kết luận của quy hoạch năm 2007 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn phê duyệt thì hệ số tiêu của khu vực phía trên cống Hà Đông và phía trên đường Văn Điển – Hà Đông lấy theo hệ số tiêu thiết kế đã áp dụng cho
Thủ đô Hà Nội khi xây dựng trạm bơm tiêu Yên Sở là q = 11,6 l/s.ha, các khu vực
còn lại lấy hệ số tiêu là 6,20 l/s.ha Cũng theo quy hoạch này, trong tổng số 19.438
ha của tiểu vùng, các trạm bơm Yên Nghĩa (xây dựng mới) và trạm bơm Đào
Nguyên (cải tạo nâng cấp) có tổng lưu lượng thiết kế không ít hơn 166 mP
3
P/s tiêu ra
sông Đáy, tương đương với diện tích tiêu 14.292 ha Tổng lưu lượng của tiểu vùng
cho phép tiêu vào sông Nhuệ qua cống Hà Đông không quá 60 mP
3
P/s, tương đương
với diện tích 5.146 ha Tổng diện tích của hệ thống được phép tiêu vào sông Nhuệ
không quá 35.374 ha
Trang 11Theo kết quả nghiên cứu trong các quy hoạch lập năm 1997 và 2007, khi làm
việc với mực nước thiết kế tại Hà Đông +5,80 m và tại Phủ Lý +4,80 m, sông Nhuệ
chỉ có khả năng tải được lưu lượng không quá 248 mP
3
P/s
Tiểu vùng nghiên cứu (gọi tắt là tiểu vùng Yên Nghĩa - Liên Mạc) là khu vực
có tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra sôi động vào bậc nhất miền Bắc
Theo số liệu thống kê năm 2008, trên tiểu vùng đã có 31 khu công nghiệp và tiểu
công nghiệp đã được quy hoạch chi tiết hoặc đang xây dựng với tổng diện tích mặt
bằng 1.139 ha, dự kiến đến năm 2020 sẽ có thêm 3 khu công nghiệp mới được xây
dựng đưa tổng diện tích đất dành cho khu công nghiệp và tiểu công nghiệp trong
khu vực này lên tới 1.475 ha, chiếm tỷ lệ 7,59 % diện tích tiêu của tiểu vùng Một
số khu công nghiệp có quy mô lớn xây dựng thành tổ hợp công nghiệp và đô thị
Theo quy hoạch phát triển Thủ đô, dự kiến đến năm 2020 toàn bộ tiểu vùng này sẽ
trở thành đất đô thị, không còn đất sản xuất nông nghiệp
Các công trình thủy lợi đã xây dựng trên hệ thống sông Nhuệ nói chung và
tiểu vùng nghiên cứu nói riêng trong suốt nhiều thập kỷ đều hướng vào mục đích
chủ yếu là đảm bảo tiêu cho nông nghiệp lấy sông Nhuệ làm trục tiêu chính tiêu ra sông Đáy Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá trong những năm qua đã có tác động cực kỳ sâu sắc đến vận hành tiêu nước của hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ Mâu
thuẫn giữa yêu cầu tiêu nước nhanh, tiêu nước kịp thời của các đối tượng có mặt
trên các tiểu vùng và toàn hệ thống với khả năng tiêu nước của sông Nhuệ và của
các công trình thủy lợi đã có đang trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết Hệ quả của
mâu thuẫn trên là cứ đến mùa mưa là xuất hiện tình trạng úng ngập triền miên, kéo
dài trong nhiều ngày, nhiều giờ trong suốt mùa mưa trên hầu khắp hệ thống đặc biệt
là ở các quận nội thành Hà Nội Ngày 20-8-2006 chỉ với trận mưa trên 100 mm rải đều trên lưu vực sông Nhuệ nằm phía trên cống Hà Đông đã làm cho phần lớn thành
phố Hà Đông bị ngập trong nước, nhiều đoạn đê sông Nhuệ thuộc xã Mễ Trì và Mỹ
Đình (Từ Liêm) đã bị tràn bờ Do vậy đề tài luận văn cao học “Nghiên cứu đề xuất
gi ải pháp công trình tiêu nước hợp lý cho khu vực nằm phía tây sông Tô Lịch và phía trên c ống Hà Đông thuộc Hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ” là rất cần thiết
Trang 122 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề xuất được giải pháp công trình tiêu hợp lý cho tiểu vùng Yên Nghĩa –
Liên Mạc phù hợp với quy hoạch phát triển Thủ đô Hà Nội và cơ sở khoa học của
các giải pháp đề xuất
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là các công trình tiêu sẽ được cải tạo và xây dựng mới
trên tiểu vùng Yên Nghĩa – Liên Mạc phù hợp với quy hoạch tiêu nước chung của
hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô đến năm 2020
Phạm vi nghiên cứu ứng dụng là các cơ sở khoa học khi đề xuất quy mô và vị
trí của các công trình tiêu sẽ được xây dựng bổ sung
4 N ỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiện trạng tiêu và tính toán cân bằng giữa yêu cầu tiêu với khả năng tiêu nước của các công trình tiêu nước đã có trên tiểu vùng
- Nghiên cứu đề xuất các công trình tiêu trên tiểu vùng bao gồm vị trí xây
dựng, lưu lượng tiêu và khu vực tiêu phù hợp với quy hoạch tiêu nước chung của hệ
thống thủy lợi Sông Nhuệ cũng như yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô
- Phân tích cơ sở khoa học, khả năng ứng dụng vào thực tiễn của các giải pháp đề xuất
5 PH ƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp kế thừa
Nghiên cứu tiếp thu và sử dụng có chọn lọc kết quả nghiên cứu và thành tựu
khoa học công nghệ của các tác giả đã nghiên cứu liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp điều tra thu thập và đánh giá
Điều tra thu thập tài liệu, khảo sát và nghiên cứu thực tế, phân tích đánh giá
và tổng hợp tài liệu để từ đó rút ra các cơ sở khoa học và khả năng ứng dụng vào
thực tiễn
Trang 136 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu của đề tài là khu vực phía tây sông Tô Lịch và phía trên
cống Hà Đông thuộc hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HỆ THỐNG THỦY LỢI SÔNG NHUỆ VÀ
TIỂU VÙNG YÊN NGHĨA - LIÊN MẠC
1.1 T ỔNG QUAN HỆ THỐNG THỦY LỢI SÔNG NHUỆ
1.1.1 Vị trí địa lý
Hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ được bao bọc bởi sông Hồng ở phía đông và
bắc, sông Đáy ở phía tây, sông Châu Giang ở phía nam, kéo dài từ 20P
o
P32’40” đến
o
P02’0” kinh độ đông, bao gồm một phần
diện tích đất đai của Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hà Nam:
- Thủ đô Hà Nội có 9 quận nội thành nằm phía bờ nam sông Hồng gồm Ba Đình, Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Cầu Giấy, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Hà Đông và 8 huyện nằm phía đông sông Đáy gồm Đan Phượng, Hoài Đức,
Từ Liêm, Thanh Trì, Thanh Oai, Ứng Hoà, Thường Tín, Phú Xuyên;
- Tỉnh Hà Nam có thành phố Phủ lý và 2 huyện Duy Tiên, Kim Bảng nằm
phía bắc sông Châu Giang và phía đông sông Đáy
Hệ thống Thủy lợi Sông Nhuệ có tổng diện tích tự nhiên phần nằm trong đê
là 107.530 ha trong đó khoảng 75.342 ha là đất canh tác Tính đến ngày 31-12-2009
dân số của các quận huyện trong hệ thống có khoảng trên 4,15 triệu người So với
15 năm trước đây (1994), dân số các địa phương nói trên đã tăng khoảng 1,2 triệu người với tốc độ tăng trung bình mỗi năm 2,53 %
1.1.2 Quá trình nghiên c ứu, xây dựng và phát triển hệ thống thuỷ lợi Sông Nhu ệ
1.1.2.1 Thời kỳ phong kiến
Để đấu tranh với thiên tai, phòng chống lũ lụt, từ ngàn xưa người dân Hà
Nội, Hà Tây (cũ) và Hà Nam đã bỏ nhiều sức người và sức của tôn tạo nên các
tuyến đê dọc theo sông Hồng, sông Đáy Đê sông Hồng bao bọc phía bắc và phía đông hệ thống là tuyến đê được xây dựng lâu đời nhất Việt Nam
Trang 151.1.2.2 Thời kỳ thuộc Pháp
Năm 1932 người Pháp đã nghiên cứu quy hoạch xây dựng hệ thống công
trình thủy lợi cho một vùng lớn bao bọc bởi sông Hồng, sông Đáy và sông Châu
Giang với diện tích tự nhiên 107.530 ha (tại thời điểm đó có 94.000 ha đất canh tác)
đã chính thức hình thành hệ thống thủy nông Liên Mạc - Phủ Lý (hệ thống thủy lợi
Sông Nhuệ ngày nay) Theo quy hoạch này, sông Hồng là nguồn cung cấp nước tưới, sông Đáy là nơi nhận nước tiêu và sông Nhuệ là trục chính tưới tiêu kết hợp
của hệ thống Và hàng loạt công trình thủy lợi lớn được đề xuất xây dựng để đáp ứng yêu cầu tưới, tiêu và phòng chống lũ cho khu vực như sau:
1 Về tưới
Các chân ruộng có cao độ trên 7,5 m và dưới 1,5 m không đặt vấn đề tưới Hệ
số tưới áp dụng cho những chân ruộng có cao độ từ 1,5 m đến 2,0 m là 0,20 l/s.ha,
từ 2,0 m đến 4,15 là 0,5 l/s.ha, từ 4,14 m đến 7,5 m là 0,6 l/s.ha Để đảm bảo cấp nước tưới cho hệ thống, quy hoạch 1932 đã đề xuất xây dựng các công trình chính như : cống Liên Mạc; các cống đập điều tiết Hà Đông, Đồng Quan, Nhật Tựu, Điệp Sơn, 60 cống lấy nước tưới dọc theo các trục tưới tiêu kết hợp
2 Về tiêu
a) Xây dựng Đập Đáy và đập Nam Định với nhiệm vụ chắn lũ sông Hồng, hạ
thấp mực nước sông Đáy tại Phủ Lý xuống cao trình + 1,20 m để tiêu tự chảy cho
toàn hệ thống với hệ số tiêu trung bình 1,50 l/s.ha
b) Xây dựng các cống và đập điều tiết trên sông Nhuệ và sông Duy Tiên 3)
Xây dựng các cống tiêu tự chảy ra sông Đáy và chắn lũ sông Đáy
Đến trước năm 1954, trên hệ thống Sông Nhuệ mới xây dựng được Đập Đáy
(1934-1937), các cống tiêu ra sông Đáy gồm Lương Cổ (1936-1938), La Khê, Vân Đình (1938-1940) và 50 cống tiêu nằm dưới bờ các trục tiêu chính
1.1.2.3 Thời kỳ 1954 - 1973
Đầu năm 1955, nhân dân Hà Tây (cũ) đã ra quân rầm rộ đào khai thông cửa
cống Liên Mạc , nạo vét trục chính sông Nhuệ, đào mới hàng loạt các tuyến kênh
Trang 16cấp 2 nên đã phục hồi được nguồn nước đảm bảo tưới tự chảy cho 30.000 ha Từ năm 1955 đến trước năm 1973 đã có 3 lần nghiên cứu bổ sung quy hoạch xây dựng
thêm các công trình trên hệ thống (thực hiện vào các năm 1960, 1965 và 1969)
1 Về tưới
Kết luận của quy hoạch 1960 và 1965 không khác nhiều so với quan điểm
của quy hoạch năm 1932, chủ yếu là điều chỉnh bổ sung thêm các trạm bơm tưới và
hoàn thiện vùng tưới tự chảy.Tính đến năm 1973 trên hệ thống đã xây dựng được
23 trạm bơm tưới với tổng lưu lượng thiết kế đạt 44,34 mP
3
P/s phụ trách diện tích tưới lên đến 45.168 ha
2 Về tiêu
Các quy hoạch lập năm 1959-1960 và 1965 đã nghiên cứu tính toán lại phương án làm đập Nam Định và chứng minh rằng phương án này không có hiệu
quả Thời kỳ này vẫn tiếp tục nghiên cứu mở rộng khả năng tiêu tự chảy của hệ
thống ra sông Đáy bằng việc xây dựng thêm một số cống tiêu qua đê sông Đáy như
Quế, Bược, Lạc Tràng, Ngoại Độ Mặt khác, khả năng tiêu tự chảy ngày một khó khăn nên từ đầu những năm 60 của thế kỷ trước, ý định xây dựng trạm bơm để tiêu cho các vùng trũng đã hình thành và mau chóng được triển khai
Đến trước năm 1973 toàn hệ thống Sông Nhuệ đã xây dựng được 41 trạm bơm tiêu có tổng lưu lượng thiết kế lên tới 234,47 mP
3
P/s phụ trách lưu vực rộng trên
58.000 ha
1.1.2.4 Thời kỳ 1973 - 1997
Năm 1973-1974, hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ chính thức được nghiên cứu lập
quy hoạch hoàn chỉnh Khác với các lần nghiên cứu trước đây, nghiên cứu lần này là
hoàn chỉnh nhất Dưới đây là tóm tắt một số nội dung chính của quy hoạch 1973-1974:
Trang 171 Về tưới
Kết quả nghiên cứu, tính toán khẳng định nguồn nước đã đủ bảo đảm, chỉ cần hoàn chỉnh cho một số trạm bơm tưới cho vùng cao cục bộ, hoàn chỉnh hệ thống kênh mương và các công trình trên kênh
2 Về tiêu
Theo cơ cấu tổ chức quản lý điều hành hệ thống, quy hoạch 1973-1974 đã chia
hệ thống thành 9 tiểu vùng với tổng diện tích tiêu ra các sông như sau:
- Tiêu ra sông Hồng cho 13.718 ha do 4 trạm bơm lớn phụ trách là: Vĩnh Tuy, Đông Mỹ, Khai Thái, Yên Lệnh
- Tiêu ra sông Đáy 44.247 ha bằng các trạm bơm trong đó Vân Đình, Ngoại Độ,
Quế, Lạc Tràng
- Tiêu ra sông Nhuệ 46.300 ha và sông Châu Giang 3.265 ha trong đó có 10.326
ha tiêu tự chảy, 39.239 ha còn lại được tiêu bằng động lực do 28 trạm bơm phụ trách
3 Sử dụng sông Nhuệ vào vận tải thủy:
Cải tạo sông Nhuệ đáp ứng yêu cầu vận tải thủy cho các tàu đẩy 90 mã lực và sà lan dưới 100 tấn đi lại dễ dàng Mở 5 âu tàu là Lương Cổ, Nhật Tựu, Đồng Quan, Hà Đông và Liên Mạc Làm lại các cầu trên sông
Theo quy hoạch 1973 - 1974 toàn bộ vùng phía tây sông Nhuệ được tiêu ra sông Đáy bằng 62 trạm bơm tiêu lớn nhỏ với lưu vực rộng tới 20.742 ha
1.1.2.5 Th ời kỳ 1997 - 2007
Từ năm 1980 trở đi tình trạng úng trên hệ thống Sông Nhuệ đã diễn ra thường xuyên với mức độ ngày một nghiêm trọng hơn mà đỉnh điểm là năm 1994
có tới 35.000 ha đất canh tác bị úng ngập nặng Trong bối cảnh đó, năm 1995 việc
nghiên cứu rà soát bổ sung quy hoạch được tiến hành với nội dung được ưu tiên số
1 là giải quyết vấn đề tiêu thoát nước cho hệ thống Dưới đây là một số nội dung
chính của quy hoạch đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt
năm 1997:
Trang 181 Về tưới
Quy hoạch xác định rõ tổng diện tích canh tác lấy nước trực tiếp từ sông
Nhuệ qua cống Liên Mạc là 53.769 ha trong đó khu vực phía trên Đồng Quan có
21.288 ha và khu vực dưới Đồng Quan là 32.481 ha Hệ số tưới dưỡng áp dụng
chung cho hệ thống (tại mặt ruộng) là 0,89 l/s.ha Mặt khác, quy hoạch cũng khẳng định năng lực của cống Liên Mạc cũng như các hạng mục công trình khác trong hệ
thống có thể đáp ứng được nhu cầu cấp nước tưới đến sau năm 2000 Ngoài ra, quy
hoạch còn đề xuất là phải nạo vét lòng dẫn, cải tạo và nâng cấp trục chính sông
Nhuệ và sông Duy Tiên để đáp ứng yêu cầu dẫn nước, nâng cấp các công trình phục
vụ tưới khác
2 Về tiêu
Quy hoạch 1995-1997 kế thừa các nguyên tắc phân vùng và xác định ranh
giới vùng tiêu trong quy hoạch 1973-1976 chia hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ được
chia thành 4 vùng tiêu lớn theo hướng tiêu ra các sông với quy mô như sau:
- Vùng tiêu ra sông Hồng có 18.432 ha bao gồm lưu vực tiêu của các trạm bơm Nam Hà Nội (Yên Sở), Đông Mỹ, Bộ Đầu, Khai Thái, Yên Lệnh
- Vùng tiêu ra sông Đáy bao gồm lưu vực tiêu của các trạm bơm đã xây dựng như Song Phương, Vân Đình, Ngoại Độ, Quế và một số trạm bơm nhỏ khác có tổng
diện tích tiêu 29.974 ha
- Vùng tiêu ra sông Nhuệ có diện tích tiêu là 47.423 ha (có 6.080 ha tiêu tự
chảy) bao gồm toàn bộ vùng Đan Hoài ở phía tây sông Nhuệ, lưu vực của các trạm bơm đã xây dựng tiêu vào sông Nhuệ
- Vùng tiêu vào sông Duy Tiên và sông Châu Giang được giới hạn bởi sông
Duy Tiên ở phía đông, sông Mai Trang ở phía đông bắc, sông Châu Giang ở phía
nam và quốc lộ 1A ở phía tây Diện tích tiêu của vùng là 11.701 ha
Theo mô hình tổ chức quản lý, hệ thống Sông Nhuệ được chia thành 9 tiểu
vùng do các Công ty khai thác công trình thủy lợi phụ trách là: Đan Hoài Từ, La
Khê, Nam Ứng Hòa, Kim Bảng, Hà Nội,Thanh Trì, Hồng Vân, Phú Xuyên, Duy
Tiên
Trang 193 Các công trình đề xuất trong quy hoạch
- Cải tạo và nâng cấp trục chính sông Nhuệ và sông Duy Tiên
- Cải tạo, nâng cấp các cống Lương Cổ và Nhật Tựu
- Xây dựng các trạm bơm sau đây tiêu ra sông Đáy như: Ngoại Độ II, Quế II
- Xây dựng trạm bơm Tiên Hồng tại vị trí trạm bơm Lạc Tràng cũ
Sau khi hoàn thành nâng cấp hệ thống đê sông Nhuệ đảm bảo mặt cắt ổn định, cho phép xây dựng các công trình trên các vùng như: tiểu vùng Hồng Vân,
vùng phía tây sông Tô Lịch thuộc tiểu vùng Hà Nội, tiểu vùng Đan Hoài, khu vực
phía bắc của tiểu vùng La Khê từ Hà Đông đến Thanh Thùy, toàn bộ khu vực phía
nam của tiểu vùng La Khê
Đến năm 2007, các công trình thuỷ lợi sau đây đã được xây dựng theo kết
quả nghiên cứu:
a) Trạm bơm Khai Thái, Yên Lệnh là những dự án nằm trong quy hoạch
1973-1974, đến giữa những năm 90 của thế kỷ trước mới được lập BCNCKT bằng
vốn vay từ các tổ chức tín dụng quốc tế Và dự án cải tạo nâng cấp toàn bộ công trình đầu mối và hệ thống tưới tiêu của trạm bơm Vân Đình bằng nguồn vốn vay ADB đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ mùa mưa năm 2010 Trạm bơm Ngoại Độ
II với quy mô 30 mP
3
P/s đang chuẩn bị khởi công xây dựng
b) Từ cuối năm 2004 đến nay sông Nhuệ và sông Duy Tiên được nạo vét
nhiều đoạn phục vụ chống hạn khẩn cấp vụ đông xuân
c) Một số công trình điều tiết trên sông Nhuệ đã và đang được cải tạo nâng
cấp, xây mới để đáp ứng yêu cầu tưới như: cống Hà Đông, đập Đồng Quan được
xây lại và đập Hoà Mỹ đang chuẩn bị khởi công xây dựng
d) Một số trạm bơm tiêu lớn đã và đang được xây dựng tiêu vào sông Nhuệ
để thay thế các trạm bơm cũ đã hết thời hạn sử dụng như: Khê Tang II, Vĩnh
Mộ,Thần,…
e) Các công trình sau đây đã đề xuất trong quy hoạch cần ưu tiên đầu tư nhưng vẫn chưa được thực hiện:
Trang 20+ Cải tạo, nâng cấp đảm bảo ổn định hệ thống đê sông Nhuệ và công trình dưới đê đáp ứng yêu cầu tiêu nước, phòng chống lũ lụt và giao thông quản
lí vận hành;
+ Xây dựng mới các trạm bơm Quế 2 và Tiên Hồng (Lạc Tràng);
+ Các cống đập Nhật Tựu, Lương Cổ chưa được cải tạo nâng cấp (còn đang trong giai đoạn chuẩn bị dự án)
1.1.2.6 T ừ năm 2007 đến nay
Trong khoảng thời gian này đã có một vài nghiên cứu về hệ thống thuỷ lợi
Sông Nhuệ như :
+ Điều chỉnh bổ sung quy hoạch tiêu nước hệ thống thủy lợi sông Nhuệ do
Trung tâm Khoa học và Triển khai kỹ thuật thủy lợi lập năm 2007 cũng chia thành 4
vùng tiêu lớn theo hướng tiêu ra các sông Quy mô của từng vùng tiêu như sau:
Tiêu ra Sông Hồng có 18.350 ha do các trạm bơm Yên Sở, Khai Thái, Yên
Lệnh, Đông Mỹ, Bộ Đầu và một số trạm bơm nhỏ khác phụ trách
Tiêu ra sông Đáy có 44.618 ha gồm toàn bộ phần lưu vực phía tây sông Tô
Lịch và phía trên cống Hà Đông do các trạm bơm Yên Nghĩa, Song Phương, Vân Đình, Ngoại Độ, Quế và một số trạm bơm nhỏ khác phụ
trách
Vùng tiêu ra sông Nhuệ có 33.689 ha do 44 trạm bơm nhỏ đã có nằm dọc
hai bờ sông Nhuệ đoạn từ cống Hà Đông đến Lương Cổ phụ trách
Vùng tiêu ra sông Duy Tiên và Châu Giang có 10.873 ha thuộc lưu vực tiêu
của 11 trạm bơm nhỏ đã có
+ Kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ : Nghiên cứu ảnh hưởng của
công nghiệp hóa và đô thị hóa đến hệ số tiêu của đồng bằng Bắc Bộ đã chia hệ
thống thủy lợi Sông Nhuệ thành 4 vùng tiêu lớn theo hướng tiêu ra các sông như
sau:
Trang 21Bảng 1.1: Tổng hợp diện tích tiêu theo hướng tiêu ra các sông
TT Vùng tiêu FRc ần tiêuR(ha)
Tiêu vào các sông
H ồng Đáy Nhu ệ Duy Tiên + Châu Giang
1 Yên Sở - Nam Thanh Trì 10.954 9.700 0 1.254 0
3 Bắc cống Đồng Quan 30.659 3.693 13356 13.610 0
4 Nam cống Đồng Quan 46.379 8.364 17702 9.132 11.181
C ộng 107.530 27.088 45165 23.996 11.181
Trong luận văn cao học này sẽ tập trung nghiên cứu biện pháp tiêu nước cho
tiểu vùng Yên Nghĩa - Liên Mac
1.1.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên
+ Về đặc điểm địa hình: Nhìn tổng thể lưu vực của hệ thống Sông Nhuệ có
dạng địa hình lòng máng: cao ở các vùng ven sông Hồng, sông Đáy, thấp
dần vào trục chính sông Nhuệ ở giữa và dốc dần từ bắc xuống nam Cao độ
mặt đất biến đổi từ +0,7m đến +10,0m song phổ biến nhất là từ +2,0m đến
+6,0m
+ Về đặc điểm khí hậu – khí tượng
Nhi ệt độ: Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23P
o
P
C
Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm trên toàn
hệ thống dao động trong khoảng từ 83 - 85%
Mưa: Đây là vùng có lượng mưa tương đối lớn Tổng lượng mưa trung
bình thay đổi từ 1.554 mm đến 1.836 mm với số ngày mưa khoảng 130 ÷
140 ngày mỗi năm
B ốc hơi: Theo số liệu thống kê lượng bốc hơi bình quân năm ở toàn vùng
đạt khoảng gần 1.000mm Các tháng 5, 6,7 có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm
Trang 22 Gió, giông, bão: Hướng gió thịnh hành trong mùa hè là gió nam và đông nam còn mùa đông thường có gió bắc và đông bắc Tốc độ gió trung bình
khoảng 2-3m/s
Mây: Lượng mây trung bình năm chiếm khoảng 75% bầu trời
N ắng: Số giờ nắng hàng năm khoảng 1.600 ÷ 1.700 giờ Các tháng mùa
hè từ tháng 5 đến tháng 10 có nhiều nắng nhất, trên dưới 200 giờ mỗi
tháng
Mưa phùn: Hệ thống Sông Nhuệ là một trong những vùng có nhiều mưa
phùn nhất nước Hàng năm có khoảng trên 40 ngày có mưa phùn
Sương mù: Trung bình mỗi năm có khoảng từ 10 ngày đến 20 ngày có
sương mù
Các hi ện tượng thời tiết bất thường khác: Vào nửa đầu mùa hạ thỉnh
thoảng xuất hiện các đợt gió tây khô nóng Trung bình hàng năm có
khoảng dưới 10 ngày khô nóng
+ Đặc điểm thủy văn, sông ngòi
Sông H ồng: Hệ thống sông Hồng được hợp thành bởi 3 sông chính là
sông Lô, sông Thao, sông Đà và 5 phân lưu là sông Đuống, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Nam Định và sông Ninh Cơ Sông Hồng dài 1.126 km trong đó có 556 km chảy trên lãnh thổ Việt Nam, đoạn chảy dọc theo biên
phía bắc và phía đông hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ dài 90 km
Sông Đáy: nguyên là phân lưu tự nhiên của sông Hồng, bắt nguồn từ bãi
Yên Trung huyện Đan Phượng, có diện tích lưu vực 5.800 kmP
2
P Sông Đáy
dài khoảng 245 km chảy theo hướng tây bắc - đông nam Đoạn sông chảy
dọc theo biên giới phía tây của hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ dài 132 km
Sông Nhu ệ: Dài 74 km nối liền sông Hồng qua cống Liên Mạc với sông
Đáy qua cống Lương Cổ, là trục tưới tiêu kết hợp của hệ thống Nhuệ
Các sông n ội đồng khác: Nối liền sông Nhuệ với sông Đáy còn có các
sông Duy Tiên, Vân Đình, La Khê, Ngoại Độ và một số sông nhỏ khác
Trang 23tạo thành một mạng lưới tưới tiêu tự chảy cho hệ thống khi điều kiện cho
phép
+ Đặc điểm địa chất : Do quá trình chuyển động kiến tạo đã trải qua với các
kỷ Permier, Trias, Đệ Tam, Đệ Tứ cùng với tác động mạnh của các điều
kiện tự nhiên làm cho đất đá bị phong hoá mạnh tạo nên nền địa chất nham
thạch, đất đai không đồng nhất Nhìn chung cấu trúc địa chất hệ thống Sông
Nhuệ có dạng sau: Trầm tích Pleixtoxen, trầm tích Tholoxen Đánh giá một
cách tổng quát thì nền địa chất của hầu hết các khu vực trên hệ thống Sông
Nhuệ đều rất yếu
+ Đặc điểm thổ nhưỡng : Hệ thống Sông Nhuệ là vùng đồng bằng được tạo
thành do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Đáy Ở
những vùng cao ven sông Hồng và sông Đáy đất có thành phần cơ giới nhẹ,
chủ yếu là loại đất cát hoặc cát pha, khá chua và nghèo chất dinh dưỡng Ở các vùng trũng ven sông Nhuệ, sông Duy Tiên và sông Châu Giang đất có
thành phần cơ giới nặng hơn, chủ yếu là loại đất thịt nặng và sét nhẹ Đất ít
chua và giàu các chất dinh dưỡng hơn
+ Tài nguyên nước ngầm : Nguồn nước ngầm trong hệ thống Sông Nhuệ rất
phong phú và mức độ khai thác cũng rất cao, chủ yếu dùng để cấp nước
sinh hoạt cho nhân dân cho các quận nội thành Thủ đô Hà Nội, thành phố
Phủ Lý, các khu vực đô thị, công nghiệp và dịch vụ
1.1.4 Hiện trạng kinh tế - xã hội và định hướng phát triển
1.1.4.1 Hiện trạng và định hướng phát triển nông nghiệp
1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Diện tích đất nông nghiệp trong hệ thống không ngừng thay đổi Theo báo
cáo quy hoạch của Pháp đề ngày 27-2-1932 thì " Diện tích ruộng đất trong khu
v ực có 94.000 ha”
Trang 24Theo số liệu thống kê năm 1971, tổng diện tích đất nông nghiệp trên hệ thống
còn 77.497 ha (Hà Nội 60239 ha, Hà Nam 17258 ha); so với năm 1962 giảm 3.651
ha
Đến nay, theo nhiều nguồn số liệu khác nhau, diện tích đất canh tác trong hệ
thống chỉ còn khoảng trên 75.000 ha, chủ yếu được trồng lúa nước còn diện tích đất
chuyên màu và cây công nghiệp ngắn ngày chỉ chiếm khoảng 19% Hệ số sử dụng đất bình quân cả hệ thống đạt khoảng 2,4 – 2,5 Năm 2010, giá trị sản xuất nông
nghiệp trên 1 ha canh tác của Hà Nội đạt 141 triệu đồng (tăng 8,78% so với năm
2009), Hà Nam đạt 48,2 triệu đồng (tăng 4% so với năm 2009)
2 Kết quả sản xuất nông nghiệp
a) S ản xuất cây lương thực
Từ năm 2005 đến nay, diện tích trồng lúa vụ đông xuân trên cả hệ thống giảm
7,91% Tuy nhiên, do làm tốt công tác thủy lợi cấp nước tưới chủ động nên năng
suất lúa tăng 10,49% và sản lượng tăng 1,75% Ngoài ra, ngô là loại cây lương thực
quan trọng chỉ sau lúa có diện tích trồng cả năm so với năm 2005 cũng giảm tới 37,1% nhưng năng suất tăng 42,1% và sản lượng tăng 10,6%
b) S ản xuất rau xanh
Mặc dù diện tích trồng rau, đậu khu vực ngoại thành Hà Nội giảm mạnh do
chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và quá trình đô thị hóa nhưng các khu vực khác nằm
ngoài Hà Nội đặc biệt là khu vực thành phố Hà Đông và các huyện Đan Phượng, Hòai Đức và Thanh Oai thuộc Hà Tây diện tích trồng rau xanh lại tăng rất nhanh
c) Chăn nuôi
So với các địa phương khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ thì điều kiện tự
nhiên của hệ thống Sông Nhuệ có nhiều thuận lợi hơn cho phát triển chăn nuôi đặc
biệt là các loại gia súc lớn như trâu, bò, lợn và các loại gia cầm
3 Định hướng phát triển nông nghiệp đến sau năm 2020
+ Đảm bảo an toàn lương thực
+ Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Trang 25+ Mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm
+ Giải phóng sức lao động và nâng cao dân trí trong nông nghiệp
1.1.4.2 Hiện trạng và định hướng phát triển đô thị
1 Hiện trạng
Hiện nay, thành phố Hà Nội và tỉnh Hà Nam đang tập trung chỉ đạo rà soát,
kiên quyết xử lý các công trình xây dựng sai phép, trái phép, lấn chiếm đất công,
xây dựng nhà siêu mỏng, siêu méo trên địa bàn các quận Tại Hà Nội, nhu cầu xã
hội hóa nhà ở cho mọi đối tượng vẫn chưa đáp ứng được Theo thống kê cho thấy,
hiện 25% cư dân thành thị Hà Nội không đủ tiền để mua nhà ở, 20% nhà ở thành thị
bị xếp vào loại không đạt tiêu chuẩn Đặc biệt, ở Hà Nội khoảng 30% dân số có
diện tích nhà ở dưới 3m2/người Cơ sở hạ tầng xã hội và kỹ thuật tại các khu dân cư
đô thị thành phố nhìn chung không đồng bộ Năm 2010, tỷ lệ đô thị hóa đạt ở Hà
Nội là 32%, Hà Nam là 10% ( mức bình quân của cả nước là 27 %)
2 Định hướng phát triển đô thị
Theo quy hoạch phát triển không gian vùng Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 thì
hệ thống Sông Nhuệ là địa bàn chính để mở rộng Thủ đô Hà Nội về phía tây và
nam Tốc độ đô thị hoá các huyện Từ Liêm Thanh Trì Đan Phượng, Hoài Đức và
thành phố Hà Đông đang diễn ra với tốc độ cực kỳ nhanh chóng Dưới đây là khái
quát một số quy hoạch phát triển không gian đô thị Hà Nội:
+ Toàn bộ quỹ đất đất nằm hai bên trục đường Láng – Hoà Lạc được khai thác để : Xây dựng các khu đô thị, các khu dân cư tập trung, các khu công
nghiệp và hệ thống các trung tâm
+ Toàn bộ nước thải từ các khu vực dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh nằm trên lưu vực sông Nhuệ phần nằm phía
tây sông Tô Lịch sau khi qua hệ thống xử lý đều thải vào sông Nhuệ
+ Các chất thải rắn được đưa về bãi xử lý chất thải rắn đặt tại xã Nam Sơn
huyện Sóc Sơn Chất thải rắn có hàm lượng hữu cơ cao có thể đưa về nhà
máy chế biến phân rác Cầu Diễn Phế thải xây dựng đưa về bãi chôn lấp
Trang 26Lâm Du Trong tương lai chất thải rắn nói có thể sẽ đưa về bãi xử lý đặt tại vùng đồi xã Tiến Sơn huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình có quy mô 100 đến
300 ha
1.1.1.3 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng
1 Hiện trạng
Về công nghiệp: Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp của Hà Nam ước đạt
8.125 tỷ đồng, bằng 100,1% kế hoạch năm, tăng 23,5% so với năm 2009 Còn Hà
Nội 9giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 794,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14% so với năm
2009 (năm 2009 so 2008 chỉ tăng 7,6%)
Về tiểu công nghiệp, hầu hết các ngành nghề thủ công truyền thống được
khôi phục và phát triển và nhiều nghề mới được thành lập
2 Định hướng phát triển đến 2020
- Phát huy sức mạnh công nghiệp trung ương trên địa bàn đồng thời khuyến
khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc công nghiệp địa phương để tạo
nhiều việc làm và phát huy các nguồn lực trong dân;
- Xây dựng Hà Nội thành trung tâm công nghiệp lớn của cả nước Tiếp tục
phát triển công nghiệp có chọn lọc, đột phá vào những ngành, sản phẩm sử dụng
công nghệ hiện đại, kỹ thuật tiên tiến, có hàm lượng chất xám cao; ưu tiên một số
sản phẩm chủ lực thuộc ngành điện - điện tử - tin học công nghệ phần mềm, cơ kim
khí, dệt - may - da giày, chế biến thực phẩn, vật liệu mới
- Cải tạo và phát triển các khu vực tập trung công nghiệp hiện có, kết hợp
phát triển các ngành công nghiệp sạch không gây ô nhiễm cùng với các loại hình
sản xuất và có kế hoạch di chuyển các doanh nghiệp gây ô nhiễm đến khu vực ít dân cư
- Phát huy các ngành nghề truyền thống Tạo điều kiện phát triển các làng
nghề, các ngành nghề thủ công gắn với công nghệ mới;
- Khu vực ngoại thành phát triển mạnh công nghiệp gắn với quy hoạch đô thị
nhất là với các đô thị nhỏ nông thôn, giữ gìn và bảo tồn các di sản thiên nhiên, di
Trang 27sản văn hoá, di tích lịch sử và bảo vệ môi trường sinh thái, chuyển mạnh từ nền
công nghiệp chủ yếu là gia công hiện nay sang công nghiệp sản xuất hiện đại để đạt
giá trị xuất khẩu cao;
- Phát triển công nghiệp toàn diện theo hướng theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, tận dụng tối đa các cơ sở công nghiệp hiện có, ưu tiên phát triển các lĩnh vực có tiềm năng về nguyên liệu và nguồn nhân lực lớn như công nghiệp chế
biến nông lâm sản, thực phẩm, nhất là các ngành công nghiệp có hàm lượng lao động cao như đồ uống, dệt may, da giầy;
- Ưu tiên các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, điện
máy, công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu và sản xuất các
loại sản phẩm phục vụ du lịch, lễ hội;
1.1.4.4 Tiềm năng du lịch và định hướng phát triển
1 Tiềm năng và hiện trạng du lịch
Với hệ thống sông hồ tự nhiên rất đẹp và đa dạng, không chỉ bao bọc xung
quanh hệ thống mà còn chạy dọc giữa hệ thống đã tạo cho khu vực này một lợi thế
rất lớn và hấp dẫn về du lịch Hà Nội và Hà Tây cũ là vùng đất có nhiều di tích lịch
sử và danh lam thắng cảnh vào bậc nhất trong cả nước như Chùa Một Cột, Văn
Miếu Quốc Tử Giám, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích Hoàng thành Thăng
Long, và hàng chục chùa nổi tiếng trong nước và thế giới như chùa Trấn Quốc,
chùa Quán Thánh, chùa Quán Sứ, chùa Hà, Phủ Tây Hồ, Mặt khác, trên địa bàn
tỉnh Hà Tây cũ thì có tới 4 di tích xếp loại đặc biệt quan trọng quốc gia nằm trong
hệ thống Sông Nhuệ là chùa Bối Khê (Thanh Oai), Chùa Đậu (Thường Tín), đình
Hoàng Xá (ứng Hoà), đình Đại Phùng (Đan Phượng) Với những hoạt động được
triển khai rộng khắp, năm 2010 Hà Nội đón 11,8 triệu lượt khách, tăng 15,54% so
với năm 2009; trong đó khách quốc tế đạt khoảng 1,2 triệu lượt khách, tăng 18,42%; lượng khách nội địa đạt khoảng 10,6 triệu lượt khách, tăng khoảng 15,22
% so với năm 2009 Doanh thu xã hội từ du lịch năm 2010 ước đạt 27.000 tỷ đồng, tăng 114,62%
Trang 282 Định hướng phát triển du lịch đến năm 2020
Với thế mạnh của mình, với sự đa dạng về loại hình, giầu bản sắc dân tộc,
phong phú cả về tài nguyên thiên nhiên lẫn tài nguyên nhân văn, trong những năm
tới ngành du lịch phải được coi như mũi đột phá trong phát triển kinh tế Trong quy
hoạch cả nước, Hà Nội phải trở thành trung tâm hàng đầu về du lịch Du lịch Hà
Nội phải luôn được coi như là một điểm nối quan trọng trong tuyến du lịch xuyên
Việt, phải gắn du lịch với các khu di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh,
du lịch sinh thái
1.1.4.5 Cơ sở hạ tầng xã hội
1 Giao thông
a) Hi ện trạng : Hà Nội là một trong hai đầu mối giao thông quan trọng bậc
nhất cả nước Từ Hà Nội có thể đi đến mọi miền đất nước và quốc tế bằng hệ thống
giao thông thuận tiện Tỉnh Hà Nam thuộc hệ thống cũng có mạng lưới giao thông
vận tải phát triển khá tạo điều kiện thuận lợi cho lưu thông hàng hoá và vận chuyển
hành khách trong và ngoại hệ thống Trong những năm gần đây, cùng với đà phát
triển kinh tế xã hội của nước nói chung và các khu vực trong hệ thống nói riêng, hệ
thống đường hàng không, đường sắt, đường bộ, đường thủy được cải tạo, nâng cấp
và xây mới rất nhiều để phục vụ đi lại, vận chuyển hàng hóa, du lịch,
b) Định hướng phát triển : Đầu tư hoàn thiện, mở rộng, nâng cấp các tuyến
đường hướng tâm xuất phát từ Thủ đô Hà Nội, phát triển hoàn chỉnh các tuyến đường vành đai I, II, III và xây dựng đường vành đai IV Xây dựng hoàn chỉnh và
xử lý triệt để các nút giao thông trong nội thành và hoàn chỉnh hệ thống giao thông tĩnh Phát triển hệ thống xe buýt và triển khai hệ thống giao thông xe điện (đi ngầm,
đi nổi và đi trên cao) để đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị Xây mới một số cầu qua
sông Hồng Phát triển đồng bộ giao thông đô thị và nông thôn Phấn đấu duy trì tăng mức lưu chuyển hàng hoá hàng năm như hiện nay, tăng lưu chuyển hành khách
lên trên 6,0% / năm
Trang 292 Mạng lưới cấp điện
Các địa phương trong hệ thống nhận điện chủ yếu từ 2 nguồn chính là Nhà
máy thủy điện Hoà Bình và nhà máy nhiệt điện Phả Lại 7Hiện tại, điện năng thương
phẩm của Hà Nội chiếm 8,6% trong tổng điện tiêu thụ toàn quốc Tiêu thụ điện bình quân trên đầu người của Hà Nội đạt khoảng 1.258kWh/năm, cao gấp 2,3 lần so với
tiêu thụ điện bình quân của cả nước.7 Theo quy hoạch, các địa phương trong hệ
thống sẽ phải khẩn trương cải tạo và nâng cấp mạng lưới điện 6kV lên 22 kV cho
các khu vực thành phố, thị trấn
3 Mạng lưới thông tin liên lạc
Mạng lưới thông tin liên lạc trên hệ thống rất phát triển So với các địa phương khác ở miền bắc thì cơ sở hạ tầng thông tin liên lạc ở Hà Nội phát triển
nhất Hầu hết các xã nằm trong hệ thống Sông Nhuệ đều có điểm văn hoá hoặc trạm bưu điện Máy điện thoại cố định đã được trang bị đến trụ sở của tất cả các UBND
xã, phường Theo định hướng phát triển thì khu vực nội thành thành phố Hà Nội sẽ được đầu tư phát triển mạng lưới bưu chính viễn thông đạt tiêu chuẩn hiện đại
ngang tầm quốc tế
1.1.4.6 Chất lượng đời sống và xã hội
1 Mức thu nhập của nhân dân :
Theo số liệu thống kê, GDP bình quân đầu người năm 2010 của Hà Nội đạt
37 triệu đồng (≈ 1950 USD); Hà Nam đạt 14,7 triệu Tốc độ tăng trưởng tổng sản
phẩm GDP trung bình 2006 - 2010 ở Hà Nội đạt 10,7%, Hà Nam 13,2%
Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong hệ thống, đến năm 2015 GDP bình quân theo đầu người của Hà Nội đạt 55 - 60 triệu đồng (tương đương 3.400 - 3.700 USD), với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 10 - 11%;
GDP của Hà Tây cũ và Hà Nam đạt 16-18 triệu đồng (tương đương 1.000 - 1.100
USD), tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 13 - 14%
Trang 30
2 Giáo dục - đào tạo
Tất cả các địa phương (huyện, xã) nằm trong hệ thống đều có trường học và
hoàn thành phổ cập trình độ trung học cơ sở cho tất cả những người còn trong độ
tuổi đi học Mạng lưới trường mẫu giáo và tiểu học phát triển rộng khắp các phường, xã
Theo quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Hà Nội phải trở thành một trung tâm hàng đầu của cả nước về giáo dục - đào tạo
3 Y tế
Mạng lưới y tế đã phủ kín khắp các địa phương trong hệ thống Theo quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành y tế phải đảm bảo sức khoẻ, nâng cao thể
lực và tuổi thọ cho mọi người dân Làm tốt công tác y tế dự phòng Đồng thời, đẩy
mạnh công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, giảm số phụ nữ sinh con thứ 3, duy trì
tỷ lệ tăng dân số hàng năm dưới 1,0% Từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống
cho mọi tầng lớp dân cư
4 Văn hoá - thể thao
Ngoài Hà Nội là trung tâm văn hoá - thể thao của cả nước, Hà Nam là những
tỉnh có phong trào văn hoá - thể thao phát triển rất mạnh Và Hà Tây cũ là cái nôi
của nhiều môn thể thao dân tộc và truyền thống rất nổi tiếng mà điển hình nhất là võ Thiên Môn Đạo ở Hoà Nam (ứng Hoà) Theo quy hoạch phát triển, Hà Nội phải trở thành trung tâm hàng đầu về văn hoá - thông tin của cả nước Đồng thời, phải nhân
rộng phong trào toàn dân rèn luyện thân thể, phấn đấu đến 2015 nâng số người
luyện tập thường xuyên ở Hà Nội lên trên 30%, các địa phương khác từ 10 – 15%
1.1.5 Đánh giá chung
Từ hiện trạng kinh tế - xã hội ta thấy các khu vực nằm trong hệ thống thuỷ lợi
Sông Nhuệ có tốc độ phát triển rất nhanh Đặc biệt là tốc độ đô thị hoá nhanh ảnh hưởng nhiều đến hệ số tiêu, thời gian tiêu nước của các vùng trong hệ thống Điều
đó đã đặt ra một vấn đề lớn là cần phải có những bổ sung, điều chỉnh lại những quy
hoạch đã lập trước đó cho phù hợp với tình hình phát triển hiện nay và định hướng
Trang 31những năm tiếp theo Mặt khác, từ hiện trạng của hệ thống thủy lợi sông Nhuệ vừa
trình bày ở trên ta cũng thấy rằng: Nếu chỉ xét riêng về năng lực hoạt động thì phần
lớn các công trình tiêu đã xây dựng trên hệ thống đáp ứng được yêu cầu Tuy nhiên,
tình trạng úng ngập vẫn xảy ra thường xuyên trên hầu hết các tiểu vùng với các mức
độ khác nhau Nguyên nhân thì có nhiều nhưng đều liên quan đến khả năng tiêu
thoát nước kém của trục chính sông Nhuệ và yêu cầu tiêu nước ra sông Nhuệ ngày
càng cao Có thể khái quát lại thành những nguyên nhân chính sau đây:
+ Sự bồi lắng và cản trở lòng dẫn do: dẫn nước phù sa sông Hồng cấp nước tưới cho hệ thống và tình trạng lấn chiếm, đổ phế thải, vào lòng dẫn đang tăng lên
+ Mâu thuẫn giữa nhu cầu tiêu nước ra sông Nhuệ với khả năng chuyển tải nước của sông Nhuệ và mức độ đảm bảo an toàn cảu đê khi phải làm việc với mực nước cao
+ Sự xuống cấp của các công trình trong hệ thống: do các công trình phần lớn được xây dựng và đưa vào sử dụng từ trên 30 năm đến 70 năm, cùng với công tác
quản lý, vận hành,bảo dưỡng, công trình không được tốt
+ Tốc độ đô thị hóa quá nhanh chóng làm tăng nhanh nhu cầu sử dụng nước
về cả số lượng lẫn chất lượng, gây áp lực lớn cho việc tiêu thoát nước và phòng lũ
+ Sự biến đổi các yếu tố khí hậu - thủy văn theo chiều hướng bất lợi gây nên
tình trạng căng thẳng trong quản lý và khai thác công trình
Mặt khác, một vấn đề cũng rất cần được quan tâm, đó là tình trạng ô nhiễm
rất nghiêm trọng trên các con sông trong hệ thống do nước thải từ các khu dân cư,
từ hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp và làng nghề truyền thống đều đổ trực tiếp
vào sông Nhuệ
Trang 321.2 T ỔNG QUAN VÙNG TIÊU YÊN NGHĨA - LIÊN MẠC
Khu vực nghiên cứu nằm phía tây sông Tô Lịch và phía trên cống Hà Đông
thuộc Hệ thống thủy lợi Sông Nhuệ, gọi tắt là vùng tiêu Yên Nghĩa - Liên Mạc Sau đây là một vài đặc điểm về vùng tiêu :
1.2.1 Đặc điểm tự nhiên
1.2.1.1 Vị trí địa lý
Vùng tiêu Yên Nghĩa - Liên Mạc là 1 trong 4 vùng tiêu lớn của hệ thống thủy
lợi Sông Nhuệ theo kết quả nghiên cứu phân vùng tiêu trong đề tài khoa học cấp Bộ
: “Nghiên c ứu ảnh hưởng của công nghiệp hóa và đô thị hóa đến hệ số tiêu của đồng bằng Bắc Bộ” được bao bọc bởi:
+ Sông Hồng ở phía Bắc
+ Sông Đáy ở phía Tây
+ Sông La Khê ở phía Nam
+ Sông Tô Lịch ở phía Đông
và bao gồm đất đai của các quận, huyện sau: Đan Phượng, Hoài Đức, quận Hà Đông và huyện Từ Liêm có tổng diện tích tự nhiên 20.814 ha trong đó diện tích cần
tiêu là 19.438 ha (quận Hà Đông 3.281 ha, các huyện Từ Liêm 830 ha, Đan Phượng 6.648 ha, Hoài Đức 8.679 ha)
Trang 33Hình 1-1 : Bản đồ hành chính khu vực phía Tây Hà Nội
Thuộc hệ thống thuỷ lợi Sông Nhuệ
1.2.1.2 Đặc điểm địa hình
Toàn bộ vùng tiêu thuộc hệ thống sông Nhuệ nên cao ở các vùng ven sông
Hồng và sông Đáy, thấp dần vào trục chính sông Nhuệ ở giữa và dốc dần từ Bắc
xuống Nam, từ tây sang đông Cao độ mắt đất biến đổi từ + 4,5 m đến + 7,0 m, song
phổ biến nhất là từ + 5,0 m đến + 6,0 m
1.2.1.3 Đặc điểm cấu tạo địa chất
Vùng tiêu nghiên cứu thuộc hệ thống Sông Nhuệ nằm trong vùng đồng bằng
châu thổ sông Hồng nên cấu tạo địa chất có sự tương đồng Toàn vùng được tạo
thành do quá trình bồi tụ và lắng đọng trầm tích trong điều kiện biển nông cùng với
Trang 34các dòng chảy của sông ra biển Do quá trình chuyển động kiến tạo đã trải qua các
kỳ Permier, Trias, Đệ Tam, Đệ Tứ, cùng với tác động mạnh của các điều kiện tự
nhiên ( nhiệt độ, nóng, ẩm, mưa,…) làm cho đất đá bị phong hoá mạnh tạo nên nền địa chất nham thạch, đất đai không đồng nhất Với các lớp bồi tích, trầm tích, phù sa
khá dầy thể hiện một bồn địa mới được hình thành Trải qua thời kỳ biển lấn lần 1,
lần 2 và thời kỳ phát triển kế thừa, biển lùi, miễn trũng võng chuyển sang một thời
kỳ bình ổn và lấp đầy tạo ra một vùng đồng bằng rộng lớn và ngập nước Nhìn
chung cấu trúc địa chất của vùng có dạng sau:
+ Tr ầm tích Pleixtoxen: nằn dưới đáy địa tầng là cát thạch anh hạt nhỏ đến
hạt chung thuộc bồi tích cổ alQIII, có bề dày từ 20 m đến 30 m hoặc lớn hơn, nằm khá sâu dưới mặt đất từ 20 m đến 30 m
+ Tr ầm tích Tholoxen: nằm trên tầng trầm tích Pleixtoxen, dạng phổ biến là
bùn sét kiểu đầm lầy ven biển (bmQIV) Trên tầng bùn sét là trầm tích sét (mQIV)
Trên nữa là tầng á sét có chứa vỏ sò, chất hữu cơ thực vật Trên cùng là tầng bồi
tích sông (alQIV)
Vì vậy, toàn bộ vùng tiêu nằm trên nền địa chất rất yếu nên khi tiến hành xây
dựng công trình thủy lợi hay các công trình nào khác thì cần phải tiến hành khảo sát
cẩn thận, kỹ lưỡng tránh các túi bùn và có các biện pháp xử lý chống lún, chống cát đùn, chống cát chảy
1.2.1.4 Đặc điểm thổ nhưỡng
Vùng tiêu là vùng đồng bằng đuợc tạo thành do quá trình bồi tụ phù sa của
hai dòng sông Hồng và sông Đáy Hàng năm các diện tích canh tác vẫn ít nhiều được tưới bằng nước phù sa lấy từ các cống tự chảy hoặc các trạm bơm tưới Mặt
khác, cứ mỗi lần vỡ đê như: vỡ đê Hoàng Liên ( Từ Liêm) năm 1915, vỡ đê Đông Lao (Hoài Đức) năm 1945, đất đai lại được bồi đắp một lượng phù sa rất lớn Vì
thế, đất đai trong tiểu vùng rất đa dạng nhưng chủ yếu vẫn thuộc các nhóm sau: phù
sa sông Hồng được bồi đắp hoặc không được bồi đắp hàng năm, đất phù sa glây và đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa Nhìn chung, chúng đều là các loại đất ít chua và chua, có hàm lượng mùn và các chất dinh dưỡng ở mức trung bình đến nghèo Ở
Trang 35những vùng cao như ven sông Hồng và sông Đáy đất có thành phần cơ giới nhẹ,
chủ yếu là các loại đất cát hoặc cát pha, khá chua và nghèo dinh dưỡng Ở các vùng trũng ven sông Nhuệ đất có thành phần cơ giơi nặng hơn, chủ yếu là loại đất thịt
nặng và sét nhẹ Đất ít chua và giàu chất dinh dưỡng hơn
1.2.1.5 Đặc điểm các yếu tố khí tượng, khí hậu
Vùng nghiên cứu là một trong 4 vùng tiêu thuộc hệ thống Sông Nhuệ nên có điều kiện khí hậu và thời tiết khá tương đồng Mặt khác, vùng nghiên cứu nằm
trong vùng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ nên mang những yếu tố khí tượng, khí hậu
chung của cả vùng
1 Nhiệt độ
Toàn bộ vùng tiêu có nhiệt độ tương đối cao Nhiệt đọ trung bình năm
khoảng 230C ÷ 240C Tổng nhiệt độ năm khoảng 8.6000C Hàng năm có 3 tháng
(từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau) là nhiệt độ trung bình tháng dưới 200C Tháng 1
là tháng lạnh nhất có nhiệt độ trung bình trên 160C Nhiệt độ tối thấp nhất là 4,80C
và nhiệt độ tối cao nhất là 38,90C Mùa hè có nhiệt độ tương đối dễ chịu với nền
nhiệt trung bình trên 26P
0
P
C và tháng 7 là tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm với
nhiệt độ trung bình trên dưới 29P
Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm trên toàn vùng tiêu dao động
trong khoảng 83 ÷ 85% Sự biến đổi về độ ẩm giữa các tháng không nhiều Hai
tháng mùa xuân (tháng 3,4) và hai tháng mùa hè (tháng 8,9) là những tháng ẩm ướt
nhất trong năm, độ ẩm trung bình tháng đạt khoảng 87 ÷ 89% hoặc cao hơn Các tháng đầu mùa thu và đầu mùa đông thời tiết hanh khô nhất, độ ẩm trung bình tháng
Trang 36có thể xuống dưới 80% Độ ẩm ngày cao nhất có thể đạt 97% và thấp nhất có thể
Đây là vùng có lượng mưa tương đối lớn, với tổng lượng mưa trung bình năm
biến đổi từ 968,1 mm đến 2977,9 mm với số ngày mưa trong năm khoảng 125 ÷
150 ngày Lượng mưa tăng dần từ Bắc xuống Nam Theo thống kê mưa từ năm
1974 ÷ 2009 thì năm có lượng mưa ít nhất là năm 1988 với lượng mưa năm là 968,1
mm Tổng lượng mưa năm lớn nhất xảy ra vào năm 2008 với lượng mưa năm lên
tới 2977,9 mm Lượng mưa lớn nhất năm ứng với các thời đoạn thường rơi vào các
tháng 6,7,8,9 Lượng mưa trung bình 1 ngày lớn nhất trên toàn tiểu vùng là 514,2
mm xảy ra vào ngày 31/10/2008
Bảng 1-4 : Lượng mưa trung bình tháng nhiều năm tại trạm Hà Đông
Số giờ nắng hàng năm khoảng 1.600 ÷ 1.700 giờ Các tháng mùa hè từ tháng
5 đến tháng 10 có nhiều nắng nhất, trên dưới 200 giờ mỗi tháng Tháng 2,3 là
những tháng mùa đông nên số giờ chiếu nắng chỉ khoảng 30÷40 giờ mỗi tháng
Bảng 1-5 : Tổng số giờ nắng trung bình tháng nhiều năm tại trạm Hà Đông
Tháng
năm
Số giờ (h) 67 55 39 85 154 153 152 168 163 153 130 107 1427
Trang 375 Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm trên toàn vùng là 859,8 mm Các tháng mùa hè như tháng 6,7 có bốc hơi mạnh nhất lên tới trên 94 mm một tháng Còn các tháng mùa đông như tháng 2,3,4 có lượng bốc hơi nhỏ nhất trong năm, chỉ khoảng
Hướng gió chính trong vùng là gió Nam và Đông Nam về mùa hè và gió
Bắc, Đông Bắc về mùa Đông Gió bão thường xuất hiện vào tháng 7, 8, 9 là thời kỳ
có nhiều cơn bão đổ bộ vào đồng bằng Bắc Bộ, bão thường gây ra mưa lớn trong hệ
thống; úng ngập, lũ lụt thường xảy ra trong các tháng này
Bảng 1-7 : Tốc độ gió trung bình tháng nhiều năm tại trạm Hà Đông
nông nghiệp vì nó duy trì được tình trạng ẩm ướt thường xuyên, giảm bớt nguy cơ
hạn hán
8 Sương mù
Trung bình mỗi năm có khoảng 10 đến 20 ngày có sương mù Hiện tượng
này xảy ra chủ yếu vào các tháng đầu mùa đông, nhiều nhất là vào các tháng 11,12
Trang 389 Các hiện tượng thời tiết bất thường khác
Vào nửa đầu mùa hạ thỉnh thoảng xuất hiện các đợt gió tấy khô nóng Trung
bình nhiều năm có khoảng 10 ngày khô nóng Lúc này độ ẩm không khí có thể giảm
xuống dưới 60 ÷ 70%, độ ẩm tối thiểu có thể giảm xuống 30 ÷ 40%, ảnh hưởng đến
sản xuất nông nghiệp Nhiều năm gần đây hiện tượng mưa đá cũng xuất hiện thường xuyên hơn với vài trận mưa mỗi năm
1.2.1.6 Đặc điểm sông ngòi
+ Sông Hồng có diện tích lưu vực 155.000 kmP
2
P (phần trong nước 72.800
kmP
2
P
) Hệ thống sông Hồng được hợp thành bởi 3 con sông chính là sông
Lô, sông Thao, sông Đà và 5 phân lưu là sông Đuống, sông Luộc, sông Trà
Lý, sông Đào và sông Ninh Cơ Sông Hồng dài 1.126 km trong đó có 556
km chảy trên lãnh thổ Việt Nam và đoạn chảy qua vùng nghiên cứu dài
khoảng 28 km Mùa lũ kéo dài 5 tháng từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10 Lượng nước các tháng mùa lũ chiếm 75 ÷ 80 % tổng lượng nước hàng năm
Mùa kiệt kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm Sau khi, hồ Hòa Bình hình thành khi ngăn sông Đà năm 1978 nhưng chỉ tới năm 1990 khi cả 8 tổ máy hoàn thành và đi vào khai thác thì hồ mới thật sự tham gia điều tiết và làm ảnh hưởng lớn tới mực nước và lưu lượng của sông Hồng Và trong những năm gần đây, dưới tác động của các tác nhân như: nhu cầu nước tăng
nhanh, sự thay đổi khi hậu bất thường và trên thượng nguồn của sông Hồng,
Trung Quốc đã xây dựng một chuỗi các hồ ngăn dòng chảy chính, sự trữ nước của hệ thống hồ theo hình bậc thang,…đã làm cho mực nước và lưu lượng giảm mạnh, nhất là về mùa kiệt
+ Sông Đáy nguyên là phân lưu tự nhiên của sông Hồng, bắt nguồn từ bãi
Yên Trung huyện Đan Phượng, có diện tích lưu vực 5.800 kmP
2
P Phía bờ trái
là vùng đồng bằng có diện tích 2.020 kmP
2
P Diện tích lưu vực phía bờ phải là
Trang 39chảy theo hướng tây bắc - đông nam Đoạn sông chảy qua vùng nghiên cứu
dài khoảng 44 km
+ Sông Nhuệ dài 74 km nối liền sông Hồng qua cống Liên Mạc với sông Đáy
qua cống Lương Cổ, đoạn chảy qua vùng nghiên cứu dài khoảng 18,1 km,
là trục tưới tiêu kết hợp của hệ thống sông Nhuệ Cống Liêm Mạc về mùa
kiệt thường xuyên mở để lấy nước sông Hồng vào sông Nhuệ, còn mùa lũ
chỉ mở khi mực nước sông Hồng ở dưới mức báo động cấp 1 và trong đồng
có nhu cầu cấp nước Cống Lương Cồ về mùa lũ luôn luôn mở để mực nước
sông Nhuệ và các sông nhánh khác trong hệ thống luôn chịu ảnh hưởng trực
tiếp từ mực nước lũ sông Đáy
+ Ngoài ra trong tiểu vùng còn một số con sông nhỏ chuyển nước từ sông
Nhuệ ra sông Đáy như sông Đăm, sông Cầu Ngà, sông La Khê, kênh tiêu
T1 và T2
1.2.1.7 Nhận xét và đánh giá chung về điều kiện tự nhiên
Vùng tiêu Yên Nghĩa - Liên Mạc chiếm vị trí địa lý và là phần lãnh thổ hết
sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
Địa hình tương đối bằng phẳng với mạng lưới sông và kênh trục chằng chịt
có khả năng lấy nước và tiêu thoát nước, đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng để
đa dạng hoá sản phẩm cũng như chuyển đổi cơ cấu sử dụng
Việc cấp nước và tiêu nước phụ thuộc hệ thống sông ngoài và các sông trục
trong hệ thống, điều kiện biến đổi phức tạp, thiên tai lũ, bão, úng hạn thường xảy ra
Muốn giảm nhẹ cần phải có một hạ tầng cơ sở thủy lợi phù hợp và hoàn chỉnh làm
cho các ngành kinh tế phát triển ổn định và bền vững
1.2.2 Hiện trạng sử dụng đất và quy hoạch sử dụng đất
Khu vực nghiên cứu có diện tích tự nhiên 20.814 ha, diện tích cần tiêu 19.438
ha Riêng các quận huyện của tỉnh Hà Tây cũ có diện tích cần tiêu là 18.608 ha Năm 2006 Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tây (cũ) đã ký các quyết định phê duyệt kế
hoạch sử dụng đất từ năm 2006 đến năm 2010 của huyện Đan Phượng, Hoài Đức,
quận Hà Đông Theo đó, đến năm 2010 toàn bộ khu vực từ quận Hà Đông trở lên,
Trang 40diện tích đất giành cho nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản chỉ chiếm 38,18% trong
đó đất trồng lúa chiếm 13,29 % còn lại là đất trồng cây lâu năm và các loại đất nông
nghiệp khác Các loại đất ở, đất chuyên dùng và đất tôn giáo tín ngưỡng là loại đất
có nhu cầu tiêu nước triệt để, kịp thời chiếm 57,85 %
Theo số liệu thống kê, năm 2008, toàn vùng đã có 31 khu công nghiệp và tiểu
công nghiệp đã được quy hoạch chi tiết và đang xây dựng với tổng diện tích 1.139
ha, dự kiến đến năm 2020 sẽ có thêm 3 khu công nghiệp mới được xây dựng đưa
tổng diện tích đất dành cho khu công nghiệp và tiểu công nghiệp trong khu vực này
lên tới 1.475 ha, chiếm tỷ lệ 7,59 % diện tích tiêu của vùng Một số khu công
nghiệp có quy mô lớn xây dựng thành tổ hợp công nghiệp và đô thị
Bảng 1-8 : Diện tích các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và làng nghề đang
ho ạt động, đã có quy hoạch chi tiết và dự kiến quy hoạch đến năm 2020 trên vùng
Yên Nghĩa – Liên Mạc
TT Tên các khu công nghi ệp, cụm công nghiệp
và làng ngh ề Hi (2008) ện nay
Đến năm
2020