Để hoàn thành đồ án này tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thanh Tùng và PGS.TS Phan Thiên Hƣơng đã tận tình hƣớng dẫn tôi trong thời gian viết đồ án. Xin chân thành cảm ơn Th.S Tống Duy Cƣơng đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian thực tập tại phòng Địa vật lý – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí (EPC)- Viện Dầu khí Việt Nam (VPI). Tôi xin đƣợc gửi lòng cảm ơn tới các thầy cô trong bộ môn Địa Vật Lý đã tạo mọi điều kiện cho tôi đƣợc đi thực tập tới nơi mà tôi có nguyện vọng, cũng nhƣ giúp tôi đƣợc bảo vệ đồ án tốt nghiệp một cách tốt đẹp. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các cô chú, anh chị trong phòng Địa vật lý – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí (EPC)- Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi đƣợc thực tập tốt nghiệp tại đây. Sự nồng nhiệt, cởi mở và giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị trong trung tâm đã để lại cho tôi những ấn tƣợng không thể nào quên. Cuối cùng tôi xin đƣợc gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo nhà trƣờng đã tạo điều kiện tốt cho tôi đƣợc học tập và rèn luyện trong thời gian quý giá khi là sinh viên Trƣờng Đại học Mỏ - Địa Chất. Mặc dù đã rất cố gắng nhƣng do kiến thức chuyên môn còn hạn chế và thời gian có hạn nên đồ án này không thể tránh khỏi những thiết sót. Tôi rất mong nhận đƣợc sự thông cảm và góp ý thêm của thầy, cô cùng độc gi
Trang 1M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT 7
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUANVỀ ĐỊA LÝ VÀ ĐỊA CHẤT KHU VỰC NGHIÊN CỨU 11
1.1 V ị trí địa lý tự nhiên 11
1.2 L ịch sử nghiên cứu tìm kiếm thăm dò dầu khí 13
1.3 Đặc điểm địa chất chung khu vực 14
1.3.1 Các y ếu tố cấu trúc chính 14
1.3.2 L ịch sử phát triển bể Phú Khánh 16
1.3.3 Đặc điểm đứt gãy 19
1.3.4 Địa tầng trầm tích bể Phú Khánh 21
1.3.5 H ệ thống dầu khí 24
CHƯƠNG 2:PHƯƠNG PHÁP MINH GIẢI ĐỊA CHẤN 2D 28
2.1 Minh gi ải lát cắt địa chấn 28
2.1.1 Xây d ựng băng địa chấn tổng hợp 31
2.1.2 Phân tích các m ặt ranh giới 32
2.1.3 Xác định các đứt gãy kiến tạo 40
2.1.4 Xác định đặc điểm trường sóng địa chấn của các tập trầm tích 41
2.1.5 Thành l ập các bản đồ cấu trúc 47
2.2 Chương trình phần mềm Kingdom 52
CHƯƠNG 3 :KẾT QUẢ MINH GIẢI ĐỊA CHẤN, XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC 54
3.1 Cơ sở dữ liệu 54
3.1.1 Tài li ệu địa chấn và tài liệu giếng khoan khu vực nghiên cứu 54
Trang 23.1 2 Đánh giá tài liệu địa chấn khu vực nghiên cứu 59 3.2 Minh gi ải địa chấn 59 3.2.1 Liên k ết địa chấn – giếng khoan 59 3.2.2 Đặc trƣng các mặt phản xạ và hệ thống đứt gãy (hình 3.10 và 3.11) 62 3.2.3 Đặc trƣng các tập địa chấn 64 3.3 Xác định cấu trúc 72 3.3.1 Xây d ựng các bản đồ và chuyển đổi thời gian – độ sâu 72 3.3.2 Đặc điểm cấu trúc tầng Miocen trung theo kết quả minh giải địa chấn 80
KẾT LUẬN 86 KIẾN NGHỊ 86 TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đồ án này tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc tới TS Nguyễn
Thanh Tùng và PGS.TS Phan Thiên Hương đã tận tình hướng dẫn tôi trong thời
gian viết đồ án Xin chân thành cảm ơn Th.S Tống Duy Cương đã giúp đỡ tôi rất
nhiều trong thời gian thực tập tại phòng Địa vật lý – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí (EPC)- Viện Dầu khí Việt Nam (VPI)
Tôi xin được gửi lòng cảm ơn tới các thầy cô trong bộ môn Địa Vật Lý đã tạo
mọi điều kiện cho tôi được đi thực tập tới nơi mà tôi có nguyện vọng, cũng như giúp tôi được bảo vệ đồ án tốt nghiệp một cách tốt đẹp
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các cô chú, anh chị trong phòng Địa
vật lý – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí (EPC)- Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được thực tập tốt nghiệp tại đây
Sự nồng nhiệt, cởi mở và giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị trong trung tâm đã để
lại cho tôi những ấn tượng không thể nào quên
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo nhà trường đã tạo điều
kiện tốt cho tôi được học tập và rèn luyện trong thời gian quý giá khi là sinh viên Trường Đại học Mỏ - Địa Chất
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do kiến thức chuyên môn còn hạn chế và thời gian
có hạn nên đồ án này không thể tránh khỏi những thiết sót Tôi rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý thêm của thầy, cô cùng độc giả
Trang 4DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ TRONG ĐỒ ÁN
2 Hình 1.2 Vị trí khu vực nghiên cứu trong bể trầm tích Phú
9 Hình 2.2 Mô hình xây dựng băng địa chấn tổng hợp [3] 33
10 Hình 2.3 Một số kiểu cấu trúc trước (a) và sau khi chịu
ảnh hưởng của các hoạt động kiến tạo (b) [3] 34
12 Hình 2.5 Mô hình tổng hợp các kiểu bất chỉnh hợp địa
13 Hình 2.6 Dạng phủ đáy thể hiện trên lát cắt địa chấn [3] 36
14 Hình 2.7 Bất chỉnh hợp gá đáy thể hiện trên lát cắt địa
Trang 518 Hình 2.11 Các chỉ tiêu xác định ranh giới bất chỉnh hợp [3] 41
20 Hình 2.13 Đánh dấu đứt gãy để xác định vị trí và hướng
21 Hình 2.14 Thí dụ phân tích lát cắt địa chấn và chuyển số
26 Hình 2.19 Quy trình minh giải trên phần mềm Kingdom
27 Hình 3.1 Các tuyến địa chấn trên khu vực nghiên cứu 56
28 Hình 3.2 Vị trí các giếng khoan trên khu vực nghiên cứu 59
29 Hình 3.3 Băng địa chấn tổng hợp của giếng khoan 119 –
Trang 6chấn tại lô 121 và 122
37 Hình 3.11 Các ranh giới địa chấn và đặc trưng phản xạ địa
38 Hình 3.12 Tài liệu địa chấn PGS có số liệu vận tốc xử lý được
trình bày trên nền bản đồ độ sâu đáy biển 73
39 Hình 3.13 Các phương pháp chuyển đổi thời gian – độ sâu 74
40 Hình 3.14 So sánh hiệu quả của 2 phương pháp chuyển đổi
thời gian – độ sâu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG ĐỒ ÁN
DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ, CHỮ VIẾT TẮT
1 EPC – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí
2 VPI – Viện Dầu khí Việt Nam
3 2D (Two Dimension): 2 chiều
4 ĐB - TN: Đông Bắc – Tây Nam
5 TB - ĐN: Tây Bắc – Đông Nam
6 B – N: Bắc Nam
7 R0 : Hệ số phản xạ vitrinit
8 VSP ( Vertiacal Seismic Profile): Tuyến địa chấn thẳng đứng
9 Play: bẫy chứa dầu khí
10 HST: Hệ thống trầm tích biển cao
11 LST: Hệ thống trầm tích biển thấp
12 TST: Hệ thống trầm tích biển tiến
Trang 8gần đây công nghệ thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng được quan tâm và đã có
những bước phát triển vượt bậc Đặc biệt phương pháp thăm dò địa chấn là phương pháp giữ vai trò chủ đạo, giải quyết các nhiệm vụ địa chất khác nhau và đã trở thành phương pháp được phát triển mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực: phương pháp, thiết bị, thu
nổ, xử lý và minh giải tài liệu Khối lượng thăm dò địa chấn hàng năm trên thế giới ngày càng tăng, kết quả thu được cũng hết sức to lớn và phạm vi ứng dụng cũng như
phạm vi sử dụng ngày càng mở rộng Với mạng lưới các tuyến địa chấn quan sát tối ưu bao gồm các tuyến dọc, các tuyến ngang sau quá trình xử lý và minh giải sẽ cho ra các
bản đồ phản ánh chính xác trung thực cấu trúc địa chất dưới sâu, giúp cho việc xác định trược tiếp đặc điểm các tâng chứa, tầng chắn, tầng sinh, thiết kế và lựa chọn vị trí các giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí một cách có hiệu quả
Từ các kết quả nghiên cứu Địa chấn và Địa vật lý các bồn trũng thuộc lãnh hải đặc quyền kinh tế Việt Nam: Bể Sông Hồng, bể Phú Khánh, bể Cửu Long, bể Nam Côn Sơn, bể Tư Chính – Vũng Mây, bể Mã Lai – Thổ Chu và nhóm bể Hoàng Sa, Trường Sa là những bể trầm tích có tiềm năng lớn về dầu khí, với hàng loạt các cấu tạo triển vọng trên thềm lục địa Việt Nam Trong đó bể Phú Khánh đang được kỳ vọng sẽ mang lại nguồn dầu mỏ lớn để thay thế nguồn dầu khí đang dần cạn kiệt ở bể Cửu Long cũng như ở Việt Nam
Do bể trầm tích Phú Khánh nằm ở vùng nước tương đối sâu nên trước đây khu
vực này ít được nghiên cứu Tuy nhiên cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ
và nhu cầu năng lượng của con người thì trong những năm gần đây bể Phú Khánh đã được đưa vào nghiên cứu tương đối chi tiết Trong đó quan trọng nhất là tìm ra được
Trang 9dầu khí nằm ở tầng cấu tạo nào, đặc điểm cấu trúc tầng đó ra sao thì chúng ta cần phải minh giải tài liệu địa chấn để chính xác hóa đối tượng quan tâm cũng như vạch ra được
diện phân bố của chúng Từ đó có thể thiết kế các giếng khoan thăm dò cũng như khai thác Trong thời gian thực tập tại phòng Địa vật lý – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí (EPC)- Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) tôi được tiếp cận phương pháp minh giải địa chấn và tìm hiểu thêm về bể trầm tích Phú Khánh với đề tài:
“Minh giải địa chấn 2D xác định đặc điểm cấu trúc tầng Miocen trung khu
v ực Bắc bể trầm tích Phú Khánh”
Đồ án gồm 88 trang, 54 hình, và 3 bảng biểu được trình bày theo cấu trúc:
Chương 1: Tổng quan về địa lý và địa chất khu vực nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp minh giải địa chấn 2D
Chương 3: Kết quả minh giải địa chấn xác định cấu trúc
K ết Luận và Kiến Nghị
Đồ án được hoàn thành sau đợt thực tập dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của thầy
giáo TS Nguy ễn Thanh Tùng và ThS Tống Duy Cương cùng tập thể các thầy cô
trong bộ môn Địa vật lý, khoa Dầu khí và tập thể cán bộ kĩ sư trong phòng Địa vật lý – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí( EPC)- Viện Dầu khí Việt Nam (VPI)
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Nguyễn Thanh Tùng cùng
ban giám hiệu nhà trường, tập thể các thầy cô giáo trong bộ môn Địa vật lý cũng như khoa Dầu khí – Trường Đại học Mỏ - Địa Chất là những người trực tiếp hướng dẫn, chỉ
bảo và tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành đợt thực tập và viết đồ án tốt nghiệp này
Trang 10Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ThS Tống Duy Cương và tập thể
cán bộ kĩ sư phòng Địa vật lý – Trung tâm nghiên cứu tìm kiếm thăm dò và khai thác
dầu khí ( EPC) – Viện Dầu khí Việt Nam, những người đã tận tình giúp đỡ và tạo điều
kiện cho tôi được thực tập tại đây Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới ban lãnh đạo Viện Dầu khí Việt Nam đã tạo điều kiện tốt cho tôi thực tập tại Viện dầu khí
Tuy đã cố gắng hết sức nhưng do hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm của bản thân cũng như thời gian thực hiện nên đồ án không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình viết và trình bày Tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô giáo và các
bạn để đồ án được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5/ năm 2014
Sinh viên
L ại Ngọc Dũng
Trang 11của Biển Đông [1] (Hình 1.1)
Hình 1.1 Các bể trầm tích Đệ Tam ở Việt Nam [1]
Trang 12Cũng giống như phần lớn phần diện tích thềm lục địa miền trung Việt Nam, địa hình đáy biển tại đây có dạng tương đối bằng phẳng với độ dốc không lớn trong khoảng độ sâu từ 50m đến 300m và thay đổi mạnh tại khu vực sườn dốc thềm lục địa,
độ sâu đạt tới hơn 1.000m và xa nữa đến 2.500m nước về phía đông nam của khu vực nghiên cứu Khí hậu khu vực bể Phú Khánh chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và tây nam, nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 260-270C Đây là vùng chịu ảnh hưởng
của áp thấp nhiệt đới (có khi mạnh thành bão) nhưng muộn hơn khu vực Bắc Bộ, thường là vào tháng 10, 11 trong năm Sóng cực đại vào mùa gió Đông Bắc là khoảng 6-7m, mùa gió Tây Nam là 5-6m
Trong phạm vi đồ án này, tôi tiến hành phân tích tài liệu địa chấn nhằm xây
dựng bản đồ địa chấn khu vực lô 121-122 thuộc bể trầm tích Phú Khánh, vị trí lô được
thể hiện trên hình 1.2
Hình 1.2 Vị trí khu vực nghiên cứu trong bể trầm tích Phú Khánh và thềm lục địa Việt
Nam[1]
Khu vực nghiên cứu
Trang 131.2 L ịch sử nghiên cứu tìm kiếm thăm dò dầu khí
Mặc dù bể Phú Khánh còn ít được nghiên cứu, song công tác nghiên cứu địa
chất ở phần đất liền sát phía Tây bể Phú Khánh được các nhà địa chất Pháp nghiên cứu
từ rất sớm trong công tác khảo sát lập bản đồ tỷ lệ 1:500.000 vùng Đà Nẵng (1935), Nha Trang (1937) và Quy Nhơn (1942)
Điểm lộ đầu tiên được phát hiện vào 1920-1923 tại Đầm Thị Nại ( Quy Nhơn),
phần đất liền kề với bể Phú Khánh Năm 1944, các nhà địa chất Pháp đã khoan tìm
kiếm ở đây nhưng không còn tài liệu để lại Từ 1944-1964, Saurin cũng đã nghiên cứu điểm lộ dầu ở Đầm Thị Nại và kết luận rằng nguồn dầu không phải từ Neogen mà từ các lớp Sapropel giàu tảo (algae) ở vịnh Quy Nhơn cung cấp Từ sau năm 1960 nhiều
cuộc khảo sát của các nhà địa chất- địa vật lý Pháp, Mỹ, Đức, Nhật, Trung Quốc đã được tiến hành trong các chương trình nghiên cứu biển Đông Từ sau năm 1970, các công ty dầu khí nước ngoài đã tiến hành các nghiên cứu địa chất- địa vật lý với mục đích tìm kiếm dầu khí sơ bộ dưới sự quản lý của chính quyền Sài Gòn cũ và từ 1979 đến nay các hoạt động nghiên cứu càng được tăng cường dưới sự quản lý của Tổng cục
Dầu mỏ và Khí đốt Việt Nam và sau này là Tổng công ty Dầu khí Việt Nam Cho đến nay, ở vùng biển miền Trung thuộc khu vực bể Phú Khánh đã có nhiều khảo sát địa vật
lý như GSI (Mỹ,1974),(Liên Xô, 1984), GECO-PRAKLA (1993), NOPEC (1993) với
khối lượng khảo sát khoảng 17.000 Km tuyến địa vật lý
Các nghiên cứu trên phần đất liền được nhiều nhà địa chất tiến hành từ 1977 đến nay Lê Như Lai, Nguyễn Quang Hinh(1977); Phan Huy Quynh (1980); Sladen, Nguyễn Quang Bô (1991); Trần Tĩnh (1988-1997); Lê Thành (1998) đã phân tích các mẫu ở vùng Đầm Thị Nại và cho thấy loại dầu ở vết lộ tương tự với dầu trong carbonat Miocen ở giếng khoan 119-CH-1X và cho rằng dầu lộ có thể có nguồn gốc từ phần sâu
của bề Phú Khánh dịch chuyển lên qua các đứt gãy trong vùng Năm 2000 Viện Dầu khí hợp tác với Viện Địa chất Nhật Bản (JGI) nghiên cứu các vết lộ từ Nông Sơn đến Kon Tum, Sông Ba, Đầm Thị Nại Năm 2002-2003 Phạm Quang Trung cùng các cộng
sự ở Viện Dầu khí tiếp tục nghiên cứu các mẫu lộ dầu ở Đầm Thị Nại Các kết luận của các tác giả này còn rất trái ngược nhau nên vấn đề nguồn gốc dầu lộ, chất lượng nguồn
đá mẹ còn chưa được giải quyết và cần phải nghiên cứu tiếp Trong những năm
2001-2004, Viện Dầu khí đã chủ trì đề tài cấp nhà nước KC-09-06 nghiên cứu về địa động
lực và tiềm năng dầu khí các vùng nước sâu, xa bờ, trong đó có khu vực bể Phú Khánh Cũng trong thời gian này, dự án ENRECA do Viện Dầu khí hợp tác với Cục Địa chất
Trang 14Đan Mạch và Greenland (GEUS) đã tiến hành nghiên cứu tổng thể địa chất và tiềm năng dầu khí bể Phú Khánh, trong đó có tập trung nghiên cứu sâu về địa hoá và trầm tích của khu vực Đầm Thị Nại và trũng Sông Ba, phần đất liền kề với bể Phú Khánh
Lô 121 – 122 nằm ở phía Tây Bắc của bể trầm tích Phú Khánh Mạng lưới các tuyến đo 2D trong khu vực mới được thu nổ gần đây có chiều sâu thu nổ lớn hơn và dày đặc hơn trước nên có thể quan sát khá tốt phần móng trước Đệ Tam, tuy nhiên do đây là khu vực nước sâu nên vẫn còn khá khó khăn trong công tác minh giải cũng như đánh giá triển vọng dầu khí Ý nghĩa của việc minh giải địa chấn lô 121-122 là để tìm
hiểu thêm về tiềm năng dầu khí trong những vùng nước sâu mà Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm
Trong khu vực nghiên cứu cho tới nay đã có hơn 8.000km tuyến địa chấn 2D do các khảo sát khác nhau như PKBE08, CPKI09, NOPEC93, PK-TC03, Wa_74 Trong tổng số hơn 8.000 km tuyến địa chấn kể trên, chỉ các tài liệu thuộc khảo sát PKBE08
*Đới trũng Phú Yên (Hình 1.3): Đới này chiếm phần trung tâm bể, được khép
kín phía Đông là đới nâng Khánh Hòa, phía Tây là đới sụt chuyển tiếp, Bắc và Đông
Bắc là địa lũy Tri Tôn và đới phân dị Hoàng Sa, còn phía Nam là đới trượt Tuy Hòa Đới bị chia cắt thành 3 phụ trũng ngăn cắt giữa chúng là các dải nâng tương đối trong Oligocen: Phụ trũng Đông Bắc, phụ trũng trung tâm và phụ trũng Nam Đới trũng này được hình thành trong thời kì tạo rift Oligocen - \Miocen sớm và được lấp đầy bởi các thành tạo lục nguyên cát, bột và sét với chiều dày trên 9000m, bao gồm các thành tạo Eocen?, Oligocen, Miocen và Pliocen – Đệ Tứ
Trang 15Hình 1.3 Các yếu tố cấu trúc chính bể Phú Khánh [2]
* Đới nâng Khánh Hòa ( đới nâng phía Đông bể)(Hình 1.3): đới nâng Khánh
Hòa hay còn gọi là đới nâng phía Đông bể, đới phát triển theo hướng ĐB – TN, đới được khống chế bởi những đứt gãy lớn phát triển cùng chiều, đới có xu hướng thắt dần
về phía ĐN, là một đới nâng đóng vai trò khép kín phần phía Đông của bể trầm tích này, đới được hình thành vào cuối Oligocen đầu Miocen
*Thềm Đà Nẵng, đới trượt Tuy Hòa và địa lũy Tri Tôn (Hình 1.3)
+ Th ềm Đà Nẵng nằm ở Tây Bắc của bể Phú Khánh, kéo dài theo phương Bắc
Nam, độ sâu mực nước nhỏ hơn 100m, với tầng trầm tích Kainozoi mỏng, chiều dày
trầm tích biến đổi tăng dần về phía Đông
+ Đới trượt Tuy Hòa( Tuy Hoa shear zone) nằm ở phía Tây Nam của bể Phú Khánh,
là một vùng có các đứt gãy có biên độ lớn, một trong số đó xuất phát từ trong móng Phương cấu tạo Tây Bắc – Đông Nam của đới trượt Tuy Hòa tương tự như phương của đứt gãy Sông Hồng ở phần đất liền miền Bắc Việt Nam Theo Tapponnier (1982), điều này có lẽ liên quan đến sự biến dạng đới cắt trượt lớn( Mega shear zone), kết quả của
sự di chuyển khối Indochina và Âu – Á Trũng sụt lún cạnh đới cắt trượt Tuy Hòa được
Trang 16hình thành nối liền với phần lớn các địa hào xuất hiện trong pha tách giãn chính và trong đó các trầm tích Oligocen dưới, có thể có cả trầm tích Eocen đã trầm đọng
và trũng sâu Phú Khánh Đới nâng này gọi là đới nâng Quy Nhơn Qua tài liệu địa chấn
có thể thấy vào Miocen giữa khu vực này chịu sự vận động nén ép, bị uốn nếp và nâng lên, thậm chí bị lộ ra trên mặt biển trong thời gian dài nên bị bào mòn, đào khoét mạnh
mẽ Hoạt động này chấm dứt vào đầu Miocen muộn và quá trình lún chìm lại xảy ra tạo điều kiện trầm đọng các trầm tích Miocen trên và Pliocen – Đệ Tứ có thế nằm bình ổn
và tương đối bằng phẳng
* Đới giãn đáy biển Đông (Hình 1.3): Đới này nằm ở phía Đông Nam bể Phú
Khánh, đới kéo dài và liên thông với phần Bắc bể Nam Côn Sơn, được phát triển trong thời kì đầu tạo rift và ngừng lại vào cuối Oligocen
1.3.2 Lịch sử phát triển bể Phú Khánh
Bể Phú Khánh là một bể tách giãn rìa lục địa thụ động hoặc còn có thể xem là
một bể rìa lục địa liên quan đến va chạm các mảng kiến tạo Ấn Độ, Âu – Á và hoạt động tách giãn biển Đông với lịch sử phát triển nhiều pha Bề dày trầm tích từ 500m ở rìa phía Tây và hơn 10000m ở trung tâm những hố sụt phía Đông bể Theo các kết quả nghiên cứu địa chất kiến tạo của các tác giả nước ngoài và trong nước, sự tiến hóa kiến
tạo của bể Phú Khánh cùng có chung một đặc điểm như các bể trầm tích Đệ Tam khác quanh biển Đông và có thể chia thành các giai đoạn tiến hóa kiến tạo chính như sau (Hình 1.4):
a) Giai đoạn trước rift xảy ra từ Creta muộn đến Eocen
Trong giai đoạn Creta muộn, quá trình thúc trồi của phần Tây Nam Biển Đông được chi phối chủ yếu bởi các hoạt động trượt bằng ngang ở các hệ thống đứt gãy Sông Hồng, Tuy Hòa và Three Pagoda Trong Creta muộn - Paleocen hoạt động phun trào axit xảy ra trên diện rộng, hoạt động bào mòn mạnh mẽ tiếp nối sau hoạt động nâng
trồi Trong Eocen muộn do tác động của chuyển động nâng trồi
Trong Eocen muộn do tác động của dịch chuyển, va mảng Ấn Độ với mảng Âu
Á, đưa lại kết quả là phát triển khu vực hút chìm mới theo hướng đông bắc - tây nam Hoạt động này tạo ra Biển Đông cổ
Trang 17Hình 1.4 Sơ lược lịch sử phát triển địa chất khu vực nam Sông Hồng-bắc Phú Khánh [ theo anhvt@vpi.pvn.vn]
Hoạt động căng giãn khởi đầu trong thời gian này làm giập vỡ móng trước Đệ Tam( đã từng cố kết và gắn liền với địa khối Kon Tum) tại tiền đề cho bể Phú Khánh được hình thành như là hệ quả của chuyển động dịch chuyển và quay khối Indochina, cũng như sự căng giãn đi liền với chuyển động quay và mở rộng Biển Đông (Hình 1.5)
b) Giai đoạn đồng tạo rift xảy ra từ Eocen đến Oligocen
Quá trình hút chìm của Biển Đông cổ dọc theo máng Bắc Borneo tiếp diễn, tạo
ra các ứng suất căng giãn trong mảng hút chìm làm tăng thêm sức kéo căng của rìa Indochina và đỉnh cao nhất của hoạt động này là tạo ra sự giãn đáy biển ở vùng nước sâu của biển Đông vào giữa Oligocen Đây là pha hoạt động tách giãn mạnh nhất, diễn
ra gần như đồng thời trong tất cả các bể trầm tích Đệ Tam phía Tây Nam biển Đông
Trang 18Hình 1.5 Phân tầng cấu trúc bể Phú Khánh [5,6]
Ở bể Phú Khánh pha này khởi đầu cho sự hình thành, phát triển các địa hào song song với hướng mở của biển Đông và tạo môi trường trầm tích cận lục địa Hoạt động sụt lún và mở rộng ở vùng này đạt quy mô cực đại trong Oligocen Các yếu tố
cấu tạo chính, dương hoặc âm ở bể Phú Khánh được hình thành trong pha đồng tạo rift chính, với trường ứng suất dọc và ngang chiếm ưu thế trong vùng Tuy nhiên biến dạng nén ép cũng xảy ra ở một vài đứt gãy trượt bằng kết hợp với nén ép nghiêng Sự căng giãn và sụt lún đồng thời với tách giãn của bể Phú Khánh được diễn ra song hành với
hoạt động trầm đọng vật liệu vụn thô và vật liệu phun trào Giai đoạn nâng lên được
kết thúc bằng một bất chỉnh hợp bào mòn mang tính khu vực ở giới hạn tiếp xúc giữa Oligocen - Miocen, đánh dấu cho tính phân dị của các hoạt động kiến tạo trong vùng Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng ở bể Phú Khánh giai đoạn synrift có thể còn phát triển trong Miocen sớm (Hình 1.5)
c) Giai đoạn lún chìm khu vực sau tạo rift xảy ra từ Miocen sớm đến Đệ Tứ
Vào Miocen sớm bắt đầu hoạt động lún chìm nhiệt; phát triển từ từ về phía Đông và được xem là thời điểm bắt đầu của hoạt động sau rift Việc giảm tốc độ nâng trồi về phía Đông Nam của khối Indochina trong giai đoạn này làm cho hoạt động trượt
bằng trái ở đứt gãy sông Hồng cũng giảm và đánh dấu sự chấm dứt hiện tượng quay các khối trên diện rộng Phương căng giãn biển Đông được chuyển đổi từ bắc - nam sang tây bắc - đông nam và hiện tượng đảo ngược của khu vực hút chìm Biển Đông từ hướng về phía Đông sang hướng về phía Tây cũng xảy ra trong thời gian này
Trang 19Vào giai đoạn giữa và cuối của Miocen giữa có hai biến cố kiến tạo đáng chú ý
đã xảy ra đánh dấu bằng hiện tượng đảo ngược nội bể mà nguyên nhân chính có lẽ liên quan tới sự va chạm giữa hai mảng Á - Úc kéo theo sự hình thành các giai đoạn bào mòn hoặc không lắng đọng trầm tích rất điển hình, thể hiện bằng các bất chỉnh hợp rõ ràng trên các lát cắt địa chấn Trong Miocen giữa trường ứng suất chủ đạo là nén ép ngang, dẫn tới sự nghịch đảo kiến tạo, hình thành các cấu tạo hình hoa trong các loạt trầm tích Dọc theo một số đứt gãy lớn cắt ngang sườn nghiêng của bể Phú Khánh đồng thời cũng xảy ra các biến dạng ứng suất ngang rất đặc trưng
Trong Miocen muộn toàn bộ khu vực biển Đông chủ yếu chịu lực nén ép, lực này cùng với hệ đứt gãy trượt bằng phải ở thềm lục địa Việt Nam có lẽ đã trở thành động lực tạo ra sự nâng lên tạm thời cũng như sự đảo ngược từng phần của bể Phú Khánh vào cuối Miocen muộn tạo mặt bào mòn mang tính địa phương Vào Pliocen
hoạt động biển tiến ảnh hưởng rộng khắp khu vực biển Đông Cũng như các bể khác trong khu vực, bể Phú Khánh được các thành tạo trẻ Pliocen - Đệ Tứ phủ bất chỉnh hợp lên trên mặt bào mòn Miocen muộn, nhưng vì thời gian và mức độ bào mòn không lớn nên ranh giới giữa Miocen muộn và Pliocen rất khó xác định trên các mặt cắt địa chấn (Hình 1.5)
1.3.3 Đặc điểm đứt gãy
Hệ thống đứt gãy hoạt động từ móng và phát triển đến Miocen giữa, có nơi đến
cả Miocen trên Hướng của đứt gãy theo hướng BN, ĐB-TN gồm các đứt gãy làm thành các sụt bậc về phía Đông nơi có trũng sâu của bể Các đứt gãy dịch chuyển khống chế hoạt động đứt gãy ở khu vực Tuy Hoà có hướng TB-ĐN
Trong vùng nghiên cứu đã phát hiện hàng loạt đứt gãy với kích thước khác nhau
cả về chiều dài cũng như biên độ dịch chuyển Chúng được sinh thành, phát triển vào các thời kỳ khác nhau và ngừng nghỉ hoạt động cũng vào các giai đoạn khác nhau
Hoạt động của đứt gãy từ móng và phát triển đến Miocen giữa đôi nơi đến cả Miocen trên Hướng của đứt gãy theo hướng B-N, ĐB-TN … gồm các đứt gãy làm thành các
sụt bậc về phía Đông nơi có trũng sâu của bể Các đứt gãy dịch chuyển khống chế hoạt động đứt gãy ở khu vực Tuy Hoà có hướng TB-ĐN
Dựa trên các đặc tính đó có thể phân chia chúng thành 3 hệ thống đứt gãy chính:
- H ệ thống đứt gãy ĐB - TN
Trang 20Hình 1.6 B ản đồ phân bố hệ thống đứt gãy chính trong bể Phú Khánh [1]
Các đứt gãy có cùng hướng phát triển ĐB - TN này được phát hiện chủ yếu trong vùng Tây Nam khu vực nghiên cứu, chúng được hình thành trong các thời kỳ khác nhau, một số được hình thành từ trước Kainozoi và tái hoạt động nhiều lần, còn đại bộ phận được hình thành trong Kainozoi cùng tiếp tục hoạt động trong các pha kiến
tạo trong Kainozoi Mặc dù các đứt gãy có hướng ĐB-TN phát triển không lớn về chiều dài và biên độ song chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển các địa hào, bán địa hào cũng như địa luỹ ( Hình 1.6)
Trang 21- H ệ thống đứt gãy TB - ĐN
Hệ thống đứt gãy này có phương TB - ĐN là hệ đứt gãy thuận tập trung chủ yếu
ở đới trượt Tuy Hòa, chúng phát triển tương đối lớn cả về chiều dài và biên độ dịch chuyển Chúng được sinh thành tương đối muộn, chủ yếu vào thời kỳ cuối tạo Rift
sớm, đầu tạo Rift muộn và tiếp tục hoạt động, tái hoạt động trong các pha kiến tạo trong Miocen, mà đặc biệt trong Miocen giữa chúng hoạt động rất mạnh Đặc tính của
hệ thống đứt gãy này là các đứt gãy thuận, hướng cắm tương đối thẳng đứng (Hình 1.6)
- H ệ thống đứt gãy á kinh tuyến
Những đứt gãy phát triển theo hướng á kinh tuyến đều được sinh thành từ trước Kainozoi, cùng tái hoạt động nhiều lần trong Kainozoi Đây là các đứt gãy được phát
hiện chủ yếu ở phần Bắc và trung tâm bể Phú Khánh, chúng có kích thước tương đối
lớn về chiều dài và biên độ dịch chuyển Những đứt gãy này đóng vai trò quan trọng,
khống chế cánh phía Tây của khu vực Phú Khánh đặc biệt là phân chia thềm Đà Nẵng với đới trung tâm của bể Phú Khánh (Hình 1.6)
1.3.4 Địa tầng trầm tích bể Phú Khánh
Bể Phú Khánh là bể tách giãn phát triển trên rìa lục địa, một phần lớn diện tích
của bể nằm ở vùng biển sâu với chiều sâu nước biển từ vài trăm đến trên 3000m mà trước đây hầu như không có tuyến địa chấn phủ qua
Các thành tạo trầm tích Kainozoi ở khu vực nghiên cứu nằm trên vùng chuyển
tiếp từ vỏ lục địa Indo – China ( nền Đông Dương) sang vỏ Á đại dương gần bờ biển Đông và được chia thành 2 tầng cấu trúc Tầng cấu trúc dưới còn gọi là tầng cấu trúc trước Kainozoi, tầng này bao gồm các phức móng cố kết với thành phần là đá biến chất, phun trào, xâm nhập Chúng có thành phần vật chất và tuổi hết sức phức tạp
Tầng cấu trúc trên còn gọi là tầng cấu trúc Kainozoi, đây là tầng cấu trúc được hình thành, phát triển và nằm bất chỉnh hợp lên tầng cấu trúc dưới Tầng này có chiều dày
trầm tích Kainozoi tương đối lớn, chỗ dày nhất đạt tới 10000m, trung bình 3000m – 4000m bao gồm các trầm tích lục nguyên, lục nguyên cacbonat và lục nguyên chứa than, các ám tiêu san hô
Nét chung nhất về địa tầng trầm tích vùng bể Phú Khánh (Hình 1.7) là có sự
biến đổi nham tướng trầm tích mạnh giữa các khu vực, đặc biệt là giữa phần phía Bắc
và phía Nam, cũng như phần phía Đông và phía Tây Bề dày trầm tích Kainozoi dày
Trang 22nhất ở khu vực phía Đông (có thể tới 10000m) và mỏng dần ở khu vực phía Tây và phần phía Nam của khu vực nghiên cứu
Móng trước Kainozoi: Liên kết với các tài liệu giếng khoan 124-CMT-1X,
127-NT-1X và từ các giếng lân cận ở phần ĐB bể Cửu Long và Nam bể Sông Hồng cho phép xác định đá móng của bể Phú Khánh bao gồm các đá granitoid và đá biến chất có tuổi thành tạo từ Mezozoi muộn đến Paleozoi Tại giếng khoan 124-CMT-1X
đã gặp móng granit nứt nẻ, tại giếng 127-NT-1X đã gặp được móng là đá xâm nhập nứt granitoid [1] Đá móng là trầm tích tuổi Paleozoi có khả năng phân bố và tồn tại trong nhiều khu vực thuộc đới phân dị Hoàng Sa Đá móng biến chất có thể gặp trong một số khu vực ở phần Nam bể Phú Khánh nơi tiếp giáp với phần ĐB của bể Cửu Long
Địa tầng trầm tích Kainozoi
H ệ Paleogen – Thống Oligocen (P 3 ): Trầm tích Oligocen phủ không chỉnh hợp trên các phức hệ móng có thành phần và tuổi khác nhau và chúng được tích tụ dày tại các trũng sâu đặc biệt là phần phía Đông của bể Do các giếng khoan thăm dò ở bể Phú Khánh được khoan trên các cấu tạo là các móng nhô cao nên không gặp trầm tích Oligocen
1
): Trầm tích phụ
thống Miocen dưới nhìn chung phát triển tương đối rộng khắp trong toàn khu vực nghiên cứu và chúng phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo trầm tích Oligocen Tuy nhiên trầm tích có thể rất mỏng hoặc vắng mặt tại một số khu vực nổi cao tương tự như
đã quan sát thấy ở địa lũy Tri Tôn hoặc tại đới nâng Khánh Hòa Môi trường trầm tích tam giác châu dần được thay thế bằng biển ven bờ đến biển nông, phần phía Đông tại các lô 125-127 không loại trừ có mặt các trầm tích tướng biển nông đến biển sâu Mặt cắt trầm tích của phụ thống Miocen dưới gồm chủ yếu sét kết, bột kết, cát kết dưới nhỏ xen kẽ những lớp sét vôi và đá cacbonat
2
) : Phần lớn diện tích khu vực phía Nam và T-TN chủ yếu phát triển các tướng trầm tích đồng bằng châu thổ ven biển đến biển ven bờ tương tự như phần ĐB của bể Cửu Long Tại đây lát cắt trầm tích bao gồm nhiều cát kết, cát kết chứa vôi, sét kết, sét chứa vôi.Các phức hệ bào tử
phấn thường gặp ở đay bao gồm Florschuetzia Meridionalis, Florschuetzia Trilopata,…thuộc phụ đới Florschuetzia Trilopata; và các Foram Tf2 thuộc các đới từ N9-N14, rất đặc trưng cho tuổi Miocen giữa Phần Trung Tâm của bể chủ yếu phát trieenrr các đá cacbonat tương tự như những đá cacbonat đã phát hiện tại các giếng khoan 124-CMT-1X, 124-HT-1X Các đá phun trào núi lửa (andezite, bazan, dung
Trang 23nham núi lửa…) xuất hiện tại một số khu vực tại các lô 122 đến 124 nhƣ đã phát hiện ở giếng khoan 121-CM-1X, 124-CMT-1X [1]
Hình 1.7 Cột địa tầng tổng hợp khu vực nam Sông Hồng – bắc Phú Khánh[1]
Trang 24H ệ Neogen – Thống Miocen – Phụ thống Miocen trên (N 1
3
) : Các trầm tích phụ
thống Miocen trên phát triển rộng rãi trong toàn bể với bề dày thay đổi từ 500m (phía Tây) đến trên 1000m (phần phía Đông) Các đặc điểm về điều kiện và môi trường trầm tích nhìn chung không khác nhiều so với các trầm tích Miocen giữa, nghĩa là cũng có
sự biến đổi nham tướng mạnh giữa các khu vực
H ệ Neogen – Thống Pliocen (N 2 ): Trầm tích thống Pliocen phát triển rộng khắp
và nhìn chung khá đồng nhất trong toàn khu vực Trầm tích bao gồm chủ yếu bởi các
đá dưới mịn với bề dày trầm tích lớn (>2000m) được thành tạo chủ yếu trong môi trường biển sườn thềm lục địa đến biển sâu ( đặc biệt tại các phần phía Đông) Trầm tích gồm chủ yếu là sét/sét kết, sét vôi màu xám trắng, xám xanh đến xám lục bở rời
hoặc gắn kết yếu, có chứa nhiều gloconit, pyrit và phong phú các hóa đá biển Ngoài
ra, cũng sẽ có mặt của các thành tạo phun trào núi lửa (tuổi Pliocen-Đệ Tứ) như đã gặp
ở một số nơi ở phần Nam của bể Sông Hồng
1.3.5 Hệ thống dầu khí
Từ những kết quả nghiên cứu về cấu trúc địa chất, kiến tạo – địa động lực, cơ
chế hình thành và phát triển bể và mối liên quan giữa kiến tạo – địa động lực với quá trình trầm đọng vật liệu trầm tích ta có thể khái quát những nét chung về hệ thống dầu khí như sau (Hình 1.7):
T ầng sinh
Từ những kết quả phân tích địa hóa và liên kết, minh giải tài liệu địa chấn ở khu
vực Nam bể sông Hồng để suy đoán tiềm năng đá mẹ của bể Phú Khánh và cho thấy trong bể này có 2 tầng đá mẹ chính: Sét đầm hồ, than và sét than châu thổ tuổi Oligocen và Miocen sớm, kerogen loại II và III có khả năng sinh khí và dầu, chúng phân bố chủ yếu trong các trũng ở phía Đông của bể, ngoài ra còn có thể tồn tại tầng sinh (thứ yếu) là đá bùn cacbonat
Ở phần Bắc bể Phú Khánh gradient địa nhiệt trung bình dao động từ 3,650C/100m (GK 120-CS-1X) đến 3,810C/100m (GK 120-CS-1X) Kết quả nghiên
cứu cho thấy hệ số phản xạ vitrinit chỉ đạt 0,45% tại độ sâu chôn vùi 1650m, nhiệt độ chưa đủ để sinh thành hydrocarbon Từ giá trị vitrinit quan sát và mô hình hóa cho thấy nóc của cửa sổ sinh dầu (R0 =0,6%) phải ở độ sâu chôn vùi 1900m Độ sâu của cửa sổ sinh dầu tương ứng với giá trị R0 =1,2% là 3100m tính từ đáy biển Như vậy đá mẹ trong bể Phú Khánh đã nằm trong cửa sổ tạo dầu
Trang 25 T ầng chứa
Trong bể Phú Khánh đá phát hiện các loại đá chứa chính sau:
trọng đã được bắt gặp trong các bể trầm tích Nam Côn Sơn, Cửu Long, Sông Hồng Đá móng nứt nẻ, hang hốc là: Đá granit, granodiorit bị phong hóa, nứt nẻ và hang hốc (tại
mỏ Bạch Hổ, Rồng, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Hồng Ngọc ở bể Cửu Long và Đại Hùng
ở bể Nam Côn Sơn), đá granit nứt nẻ chứa dầu ở Đầm Thị Nại tại Tây bể Phú Khánh
Đá cacbonat trước Đệ Tam chứa dầu đã phát hiện tại giếng khoan B10 và Bạch Trĩ ở
bể Sông Hồng
- Đá vụn lục nguyên tuổi Oligocen và Miocen sớm: Là các tập cát kết hạt trung
bình đến thô, có độ rỗng hiệu dụng từ 10-20%, là những đá chứa có tuổi Oligocen và Miocen sớm đã được phát hiện, chúng được thành tạo trong môi trường đồng bằng châu thổ, biển ven bờ và sông ngòi
san hô phát triển mạnh trong các thời kỳ Miocen sớm và Miocen giữa, đá có độ rỗng
thứ sinh do nứt nẻ sau khi được hình thành bởi tác động của các hoạt động kiến tạo gây nên
T ầng chắn
Qua phân tích tài liệu địa chất giếng khoan và tài liệu địa chấn địa tầng phát hiện trong bể Phú Khánh đang tồn tại các tầng chắn:
- T ầng chắn khu vực:
+ Các tập sét biển tiến cuối Miocen sớm
+ Các tập hạt mịn sét bột có tuổi Miocen muộn và Pliocen
Trang 26Hình 1.8 Sơ đồ tổng quát về hệ thống dầu khí bể Phú Khánh [1]
Kết quả minh giải tài liệu địa chấn đã phát hiện một số cấu tạo dạng vòm của các khối móng nhô cao, các bán vòm kề đứt gãy có khả năng tồn tại các ám tiêu san hô
tuổi Miocen, ngoài ra có thể phát triển các bẫy thạch học, địa tầng và các bẫy hỗn hợp Các dạng bẫy gồm :
- Các đới móng nhô cao: Bị phong hoá và nứt nẻ, bị bao phủ bởi các tập trầm tích hạt
mịn đó là sét, sét than và sét bột có tuổi Oligocen và Miocen Dạng cấu tạo này được phát hiện chủ yếu ở phần Đông Bắc bể Cửu Long, phần cực Bắc bể Nam Côn Sơn và
phần phía Bắc bể Phú Khánh
- Các c ấu tạo lồi khép kín 4 chiều: Phát triển kế thừa lên móng nhô cao, là các thân cát
có tuổi Oligocen hoặc Miocen hạ được hình thành và phát triển trong pha đồng tạo Rift
- Các c ấu tạo hình hoa (Flower structures): Phát hiện trong đới trượt Tuy Hoà, đây là
những cấu tạo lồi bị chia cắt bởi các đứt gãy thành các khối khác nhau và chúng được hình thành do bị nén ép ngang xảy ra vào thời kỳ Miocen trung và Miocen muộn Như
vậy thời gian hình thành các cấu tạo này quá muộn so với các pha dịch chuyển dầu khí trong Oligocen và Miocen dưới vì vậy nó cũng ảnh hưởng đến triển vọng dầu khí tồn tại trong các cấu tạo này
thành do dòng chảy rối trong vùng nước sâu ở phần trung tâm bể trầm tích Phú Khánh Turbidite là một trong những đối tượng đáng quan tâm trong công tác tìm kiếm dầu khí hiện nay
Trang 27- Các th ể cacbonat: Trong khu vực nghiên cứu đã phát hiện nhiều thể cacbonat mà đặc
biệt là cacbonat ám tiêu san hô được hình thành và phát triển trong thời kỳ Miocen trung, chúng trở thành các bẫy (prospects) có khả năng tích tụ dầu khí trong khu vực bể
trầm tích Phú Khánh
- Các b ẫy phi cấu tạo: Các bẫy phi cấu tạo có thể là các thân cát được phát triển trong
Oligocen và Miocen, đây là các thân cát được phát hiện do sự thay đổi tướng trầm tích
đó là các thân cát của lòng sông cổ, các nêm cát và các thân cát nằm kề áp lên móng và chúng trở thành các bẫy dạng phi cấu tạo có khả năng tích tụ dầu khí ở khu vực này
Các play dự báo có khả năng phát triển ở bể Phú Khánh là móng phong hoá nứt
nẻ (play 1), các thành tạo lục nguyên tuổi Oligocen (play 2), Miocen (play 3) và cacbonat Miocen (play 4) trong đó play cacbonat Miocen đã được kiểm chứng qua kết quả khoan giếng 124-CMT-1X
Trang 28lý số liệu tại các trung tâm xử lý Để minh giải tài liệu địa chấn cần xác định mối quan
hệ giữa đặc điểm của trường sóng như thời gian, tốc độ truyền sóng, tần số, biên độ, năng lượng sóng…với các yếu tố địa chất như yếu tố kiến tạo, đứt gãy, tướng đá, thành
phần thạch học… Minh giải tài liệu địa chấn bao gồm minh giải cấu trúc, minh giải địa
tầng trầm tích và minh giải thuộc tính địa chấn
Minh giải cấu trúc đòi hỏi phân tích các lắt cắt địa chấn 2D, các khối địa chấn 3D
nhằm xác định và liên kết mặt ranh giới địa tầng, bề dày các tập trầm tích, các đứt gãy, đới phá hủy, uốn nếp…Từ đó thành lập các loại bản đồ (đẳng thời, đẳng sâu, đẳng dày…) liên kết với tài liệu giếng khoan và các tài liệu địa chất khác để đưa ra kết luận
về địa chất khu vực nghiên cứu
Minh giải địa tầng đòi hỏi phân tích đặc điểm trường sóng địa chấn liên quan đến
môi trường trầm tích, đặc điểm và sự phân bố tướng, xác định đặc điểm các phân vị địa
tầng theo quan điểm địa tầng phân tập, xác định mối quan hệ của quá trình trầm tích với sự vận động kiến tạo và thăng giáng mực nước biển… Từ đó rút ra những kết luận
về môi trường trầm tích, lịch sử phát triển địa chất, tiềm năng dầu khí, khoáng sản… Minh giải thuộc tính địa chấn nhằm xác định các chỉ tiêu liên quan đến đặc điểm
dầu khí, thạch học, độ rỗng, sự tồn tại đứt gãy… Cơ sở là khai thác tối đa đặc điểm của các thuộc tính địa chấn bao gồm cả các thuộc tính hình học (thời gian, tốc độ…) và thuộc tính động lực của trường sóng ( pha, biên độ, tần số….)
Đồ án này tôi xin đề cập tới việc sử dụng tài liệu địa chấn 2D để minh giải cấu trúc địa chất khu vực nghiên cứu Lát cắt địa chấn là tập hợp các mạch địa chấn sau xử
lý, đây là các mạch tổng có đặc điểm là vị trí điểm phát và điểm thu sóng trùng nhau (khoảng cách thu phát bằng không) tương ứng với các điểm khác nhau trên tuyến quan
Trang 29sát Đây là lát cắt thẳng đứng, trục ngang là tuyến quan sát (x), trục dọc là thời gian truyền sóng (t), có mối quan hệ với chiều sâu mặt ranh giới (h) và vận tốc (v) theo công
thức: t = 2h/v
Để phân tích cấu trúc địa chất sát với thực tế và khai thác tốt những thông tin có được trên lát cắt địa chấn, người ta đưa các khái niệm như : tập địa chấn, bất chỉnh hợp địa chấn, mặt phân lớp
Tập địa chấn : Là một phần của lát cắt địa chấn, chúng bao gồm các mặt phản xạ có đặc điểm trường sóng tương tự nhau được tách bởi các tập địa chấn khác bằng các ranh
giới chỉnh hợp hoặc bất chỉnh hợp Tập địa chấn chính là tập trầm tích được đồng nhất hoá trên lát cắt địa chấn, nó có đầy đủ các đặc tính chủ yếu của một tập trầm tích để nhận biết và giải thích từ lát cắt địa chấn
Bất chỉnh hợp địa chấn: Là các mặt bào mòn hoặc gián đoạn trầm tích là dấu ấn ghi được qua quá trình hình thành địa chất của vùng, các bất chỉnh hợp gây sóng địa chấn
vì chúng thường là mặt phân cách giữa hai lớp có trở kháng âm khác nhau Một bất
chỉnh hợp góc có thể xuất hiện ở các nơi mà lớp bên dưới bị cắt xén do quá trình bào mòn, các lớp phía trên bất chỉnh hợp sẽ phủ lên bề mặt đã tạo sẵn bên dưới hoặc sẽ tạo góc với mặt tạo sẵn đó Tuy nhiên có nơi các lớp bên dưới và bên trên bất chỉnh hợp song song thì khi đó mặt bất chỉnh hợp chỉ có thể xác định, kiểm tra bằng số liệu cổ sinh hoặc đồng vị phóng xạ
Mặt phân lớp: Là biểu hiện thay đổi thạch học của các lớp trầm tích liên tục với chế
độ trầm tích khác nhau và do vậy chúng là các dấu ấn của quá trình trầm tích Do chúng là các mặt phân cách trầm tích, các mặt phản xạ xuất phát từ các mặt này sẽ ứng
với sự biến đổi đáng kể về vận tốc truyền sóng và mật độ Các phản xạ từ các mặt địa
tầng của một địa tầng có thể do một mặt phản xạ duy nhất hoặc là tổng của một vài phân lớp nằm gần sát nhau, hệ quả là các phản xạ sẽ phản ánh hình dạng tổng thể, độ liên tục, độ tương phản mật độ, vận tốc và các tính chất khác nhau mà lớp có được Minh giải cấu trúc thì mục đích đầu tiên và quan trọng là vạch được các ranh giới địa chấn đặc trưng và các hệ thống đứt gãy trong vùng phù hợp với điều kiện địa chất
và kiến tạo chung của khu vực Muốn vậy, người minh giải trước hết phải tạo được một
cơ sở cho sự liên kết ( dựa vào băng địa chấn tổng hợp) bên cạnh đó người minh giải
Trang 30phải nắm được đặc điểm trường sóng địa chấn, các dấu hiệu về trường sóng Từ đó xây
dựng các bản đồ cấu trúc nhằm đưa ra những lý giải về địa chất khu vực nghiên cứu Quá trình minh giải tài liệu địa chấn được tiến hành sau khi đã nạp đủ các dữ liệu
cần thiết về tài liệu địa chấn 2D, các dữ liệu địa vật lý giếng khoan như: well header, well log, well part, checkshot và well top Quá trình minh giải theo các bước sau:
- Xây dựng băng địa chấn tổng hợp (Synthetic) để xác định chính xác các ranh giới
phản xạ được chọn theo yêu cầu địa chất để đi pha
- Liên kết ranh giới phản xạ và minh giải hệ thống đứt gãy
- Lập bản đồ đẳng thời
- Xây dựng phương trình chuyển đổi từ bản đồ đẳng thời sang đẳng sâu
- Lập bản đồ đẳng sâu từ bản đồ đẳng thời sử dụng phương trình
- Luận giải cấu trúc địa chất khu vực dựa trên kết quả minh giải, các bản đồ cấu trúc
đã được thành lập
Quy trình minh giải được thể hiện bằng sơ đồ dưới (Hình 2.1):
Hình 2.1 Sơ đồ minh giải tài liệu địa chấn 2D
Trang 312.1.1 Xây d ựng băng địa chấn tổng hợp
Băng địa chấn tổng hợp thực chất là băng địa chấn lý thuyết hình thành trên cơ sở bài toán thuận với các số liệu: vận tốc truyền sóng, mật độ đất đá,… theo tài liệu địa vật lý giếng khoan
Mục đích của việc xây dựng băng địa chấn tổng hợp là so sánh các mạch địa chấn trên băng địa chấn tổng hợp (băng địa chấn lý thuyết) với các mạch địa chấn có được
từ kết quả thu nổ địa chấn đã xử lý (băng địa chấn thực tế) cho phép xác định được ranh giới phản xạ của sóng địa chấn từ đó giúp cho người minh giải lựa chọn pha để liên kết ranh giới địa chấn
Khi xây dựng băng địa chấn tổng hợp ta coi môi trường địa chất phía dưới là tập hợp các lớp dày Khi sóng địa chấn lan truyền trong môi trường phân lớp đó sẽ bị phản
xạ ở mỗi bề mặt và tại máy thu sẽ thu được sóng phản xạ với một biên độ và pha nhất định, sóng phản xạ này là tổng hợp của tất cả các sóng phản xạ tại mỗi mặt ranh giới
Thời gian truyền từ nguồn nổ tới máy thu phụ thuộc vào tốc độ lan truyền của sóng trong môi trường đất đá Biên độ của sóng ghi được phụ thuộc vào tốc độ và mật độ
của môi trường
Cơ sở thuật toán
Giả sử môi trường địa chất gồm N lớp, tương ứng với mỗi lớp này có một giá trị
trở kháng âm học nhất định và có mối quan hệ chặt chẽ với môi trường địa chất vì mật
độ và tốc độ đất đá phụ thuộc vào một loạt các thông số như thành phần thạch học, nhiệt độ, áp suất vỉa, chất lỏng chứa trong vỉa, độ rỗng Dưới đây là phương trình thể hiện mối quan hệ giữa trở kháng và các giá trị mật độ, vận tốc (2.1)
Trang 32(i) mật độ đất đá của lớp thứ i
V(i) vận tốc tương ứng lớp thứ i
R(i) hệ số phản xạ của lớp thứ i khi góc đổ thẳng góc
Khi năng lượng được phát ra từ nguồn địa chấn sẽ đi vào môi trường đất đá dưới
dạng sóng đàn hồi Tính chất của đất đá cho phép sóng đàn hồi đi qua được gọi là trở kháng âm học Sóng phản xạ địa chấn sẽ xuất hiện khi có sự thay đổi trở kháng âm học
và hệ số phản xạ được tính theo phương trình (2.2) Tuỳ theo mối quan hệ giữa iVi và
i-1 Vi-1 mà hệ số phản xạ có thể dương (+) hoặc âm (-)
Hệ số phản xạ sau khi tính toán được tích chập với xung nguồn tách ra từ tài liệu địa chấn hoặc tích chập với một xung chuẩn khác như: xung Ricker (tần số 30Hz); xung Omsby và xung Tapered Sine
Kết quả của phép tích chập là băng địa chấn tổng hợp cần lập, thể hiện trong phương trình (2.3):
W i R i
S( ) ( ) * (2.3)
Trong đó: S(i): Băng địa chấn tổng hợp
R(i): Hệ số phản xạ của lớp thứ i
W: Xung sóng địa chấn
*: Phép tích chập
Mô hình hình thành băng địa chấn tổng hợp thể hiện trên (Hình 2.2)
2.1.2 Phân tích các m ặt ranh giới
* Các dấu hiệu nhận biết bất chỉnh hợp địa chấn:
Các tập địa chấn được phân chia bởi các mặt ranh giới bất chỉnh hợp địa chấn và các mặt chỉnh hợp có thể liên kết với chúng Các dấu hiệu nhận biết bất chỉnh hợp địa
chấn liên quan đến đặc điểm tiếp xúc của các pha phản xạ như (Hình 2.4):
+ Ranh giới đáy: gá đáy (onlap), phủ đáy (downlap), bao bọc dưới ( base concodance)
Trang 33+ Ranh giới nóc: bào mòn cắt xén (erosional truncation), chống nóc (top lap), bao bọc nóc (top concodance)
Hình 2.2 Mô hình xây dựng băng địa chấn tổng hợp [3]
Hình 2.3 Một số kiểu cấu trúc trước (a) và sau khi chịu ảnh hưởng của các hoạt
Trang 34Hình 2.4 Các dạng bất chỉnh hợp nóc và đáy [3]
Hình 2.5 Mô hình tổng hợp các kiểu bất chỉnh hợp địa chấn [3]
Ranh gi ới đáy (baselap)
Bào mòn
(erosional
truncation)
Gá đáy (onlap)
Ph ủ đáy (downlap)
Bao b ọc đáy (base concodance)
bào mòn
Trang 35liệu [3] Hình dạng phủ đáy được minh họa trên hình 2.6
Hình 2.6 Dạng phủ đáy thể hiện trên lát cắt địa chấn [3]
- Gá đáy (onlap) :
Các yếu tố phản xạ trên ít nghiêng hơn so với với mặt bất chỉnh hợp.Các bất
chỉnh hợp này thường xảy ra ở đầu nguồn vật liệu, cũng có thể ở những vị trí vuông góc với hướng vận chuyển vật liệu Thường có ở trầm tích gần bờ [3]
Trang 36Trong những vùng có cấu trúc địa chất phức tạp việc phân biệt phủ đáy và gá đáy thường không rõ ràng và 2 loại bất chỉnh hợp này được gọi chung là bất chỉnh hợp đáy:
+ Gá đáy biển là phản xạ gá đáy của các trầm tích biển sâu Loại gá đáy này
luôn ở vùng biển sâu nên không liên quan đến sự thăng giáng của mực nước biển Do môi trường thành tạo là vùng biển sâu, có năng lượng thuỷ động lực thấp và nguồn cung cấp vật liệu trầm tích ít nên thành phần thạch học của gá đáy biển là những trầm tích mịn hơn gá đáy ven bờ Loại gá đáy này thường gặp ở những vùng biển sâu có phát triển hệ thống rìa và sườn thềm Nó thường xảy ra ngoài rìa thềm, khi rìa thềm
bị sụp đổ do trọng lực tạo ra trầm tích biển Sau quá trình sụp đổ sẽ tạo ra hệ thống kênh ngầm đáy biển và chính hệ thống kênh ngầm này là đường dẫn của các trầm tích biển ra phía biển sâu
+ Gá đáy ven bờ là các gá đáy của trầm tích lục địa, ven biển hoặc các lớp trầm
tích biển rìa Vị trí của loại gá đáy này thường phản ánh sự thay đổi của từ môi trường tích tụ ( vùng thềm biển ) tiến dần về phía đất liền nơi không có trầm tích và có thể có
cả quá trình bào mòn xảy ra Gá đáy ven bờ thường gặp trong các mặt cắt địa chấn và được cho là phản ánh các tập trầm tích lục địa ven bờ biển Quan sát gá đáy ven bờ được xem là dấu hiệu thay đổi mực nước biển tương đối Khi các onlap tiến dần về phía bờ biển phản ánh mực nước biển tương đối đang đang lên Khi các phản xạ gá đáy này lùi dần ra phía biển phản ánh một pha tụt của mực nước biển tương đối Hình ảnh
dạng gá đáy được minh họa trên hình 2.7
Hình 2.7 Bất chỉnh hợp gá đáy thể hiện trên lát cắt địa chấn [3]
Trang 37 B ất chỉnh hợp nóc
Bất chỉnh hợp nóc phụ thuộc nhiều vào lịch sử và quá trình bóc mòn sau trầm tích Các lớp nằm dưới có thể có dạng á song song hoặc có độ nghiêng lớn Trong nhiều trường hợp phát hiện được một số kênh ngầm dưới đáy biển, vị trí này thường nằm ở rìa thềm lục địa, tiếp giáp giữa tập biển tiến và biển lùi Các kiểu bất chỉnh hợp ngang liên quan đến bờ dốc và hẽm ngầm Loại bờ dốc đứng có nguồn gốc trầm tích
Loại liên quan đến hẽm ngầm là bất chỉnh hợp sau trầm tích, vị trí của đào khoét nằm trong bản thân tập địa chấn [3]
- Bào mòn c ắt xén (erosional truncation)
Bào mòn cắt xén là nơi kết thúc của địa tầng hoặc pha phản xạ địa chấn , được xem như là bề mặt bất chỉnh hợp địa tầng do những tác động sau trầm tích hoặc do hoạt động kiến tạo Thường xảy ra ở ranh giới trên của tập trầm tích Ranh giới bào mòn có
thể do nhiều nguyên nhân và được chia thành những loại sau:
Xảy ra do tác động của các hoạt động sau trầm tích làm cho bề mặt trầm tích bị bào mòn và trở thành bề mặt bất chỉnh hợp với lớp nằm trên
Xảy ra do sự phá vỡ cấu trúc đất đá như: đứt gãy, phượt trọng lực, sự xâm nhập
của các khối đá núi lửa làm cho địa tầng hoặc các pha phản xạ chấm dứt Bào mòn cắt
cụt làm cho việc nhận biết toplap dễ dàng hơn Quá trình bào mòn cũng xảy ra ở dưới mực nước biển như là trong các kênh ngầm dưới đáy biển, những kênh dẫn vật liệu trong các quạt ngầm đáy biển [3] Hình ảnh bào mòn cắt xén được minh họa trên hình 2.8
Hình 2.8 Bất chỉnh hợp bào mòn cắt xén thể hiện trên lát cắt địa chấn [3]
Trang 38- Ch ống nóc (Toplap): Các yếu tố phản xạ dưới có góc nghiêng lớn hơn độ
nghiêng của mặt ranh giới phía trên Thường xảy ra ở đầu nguồn vật liệu Trầm tích thô, tích tụ gần bờ, tướng châu thổ, thềm lục địa [3] Hình ảnh chống nóc được minh
họa trên hình 2.9
Hình 2.9 Bất chỉnh hợp chống nóc thể hiện trên lát cắt địa chấn [3]
Thường xảy ra ở rìa thềm lục địa, khi mực nước biển lùi, các con sông tăng cường đào khoét và khi biển tiến trở lại các trầm tích lại lấp đầy các đào khoét đó [3] (Hình 2.10)
Hình 2.10 Bất chỉnh hợp đào khoét [3]
Trang 39 B ất chỉnh hợp ngang
- Ki ểu bờ dốc: Nguồn trầm tích đặc trưng cho bồn trũng dốc đứng, nằm xa
nguồn vật liệu, không bị khống chế bởi yếu tố thủy động lực Trầm tích nằm ở đáy bồn trũng có bờ dốc đứng hoặc đáy đại dương, bị phức tạp thêm bởi các kiến trúc núi lửa [3]
- H ẽm ngầm: Là loại bất chỉnh hợp sau trầm tích Vị trí đào khoét ngay trong tập
trầm tích
Để xác định các ranh giới bất chỉnh hợp cần phân tích các điểm kết thúc của các yếu tố phản xạ và liên kết các xung địa chấn cùng liên hệ với một mặt ranh giới trên lát
cắt theo tuyến quan sát Nguyên tắc liên kết là phải đảm bảo các xung cạnh nhau có
thời gian xuất hiện ,hình dạng, biên độ xung thay đổi từ từ Sự chênh lệch thời gian
giữa các xung cạnh nhau cùng liên hệ với một mặt ranh giới cần nhỏ hơn nửa chu kỳ [3]
Để xác định ranh giới bất chỉnh hợp trên diện tích cần liên kết trên các tuyến khác nhau Trên các điểm giao nhau của các tuyến, các xung địa chấn liên hệ với cùng
một mặt ranh giới phải trùng nhau và các ranh giới trên và dưới chúng cũng phải khớp nhau
Trong trường hợp ở vùng khảo sát không phát hiện được các dấu hiệu của bất chỉnh hợp địa chấn địa tầng thì cần phải liên kết các bất chỉnh hợp đã phát hiện được từ các khu vực xung quanh Nếu trong vùng có giếng khoan thì cần tính các băng địa
chấn tổng hợp từ số liệu địa vật lý giếng khoan và liên kết các ranh giới địa tầng từ tài
liệu giếng khoan với tài liệu địa chấn Tuy nhiên, ranh giới giữa các tập địa chấn có thể
có những khác biệt nhất định so với kết quả phân chia theo tài liệu liên kết giếng khoan
nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản sau:
Ranh giới giữa các tập địa chấn phải có mức độ ổn định tương đối tốt trên một
diện tích rộng lớn của khu vực nghiên cứu để có thể liên kết chúng một cách tin cậy và chính xác
Ranh giới phân chia các tập địa chấn được đặc trưng bởi các trường sóng có đặc điểm tương đối khác biệt để có thể nhận biết được
Khi đã xác định được mặt ranh giới ta muốn minh giải rồi thì ta tiến hành chọn pha phản xạ để chúng ta có thể minh giải theo pha đó
Trang 40Hình 2.11 Các chỉ tiêu xác định ranh giới bất chỉnh hợp [3]
2.1.3 Xác định các đứt gãy kiến tạo
Việc xác định các đứt gãy kiến tạo trên các lát cắt địa chấn thường dựa trên các
dấu hiệu sau:
+ Sự gián đoạn đột ngột hướng dốc Trên mặt cắt địa chấn tồn tại vùng mất sóng