Sông Phan bắt nguồn từ núi Tam Đảo, địa phận các xã Hoàng Hoa, Tam Quan, Hợp Châu, chảy qua các xã Duy Phiên, Hoàng Lâu (Tam Dương ), Kim Xá, Yên Lập, Lũng Hoà, Thổ Tang (Vĩnh Tường) the[r]
Trang 1ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH
Tỉnh Vĩnh Phúc có diện tích 1371,41 km2, dân số 1.154.792 người, gồm 9đơn vị hành chính là: Thị xã Vĩnh Yên (tỉnh lỵ) , thị xã Phúc Yên và các huyện:Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh, Tam Đảo.Toàn tỉnh có 152 xã, phường, thị trấn
Thời Hùng Vương với tên nước Văn Lang, Vĩnh Phúc nằm trong địa phận
bộ Văn Lang, trên hợp lưu của ba con sông: Sông Thao, Sông Đà, Sông Lô
Năm 257- 110 TCN, địa bàn Vĩnh Phúc nằm trong nước Âu Lạc của Thục
An Dương Vương Tên gọi vùng đất này theo thổ âm có thể là " M' rinh hay M'Linh, sau này được phiên âm thành Mê Linh hay Mi Linh"
Từ năm 111 TCN, nhà Hán xâm chiếm nước ta, chia làm ba quận: GiaoChỉ, Cửu Chân, Nhật Nam Khi đó, dưới quận là huyện, và Vĩnh Phúc bấy giờ(cho tới năm 243 SCN ) nằm trong huyện Mê Linh
Đến thế kỷ thứ III, Vĩnh Phúc bị xé lẻ và nằm trong 2 huyện Gia Ninh và
Mê Linh (thuộc quận Tân Xương) Tới thế kỷ VI (thời nhà Tuỳ),Vĩnh Phúc nằmtrong địa phận 2 huyện Gia Ninh và Tân Xương
Từ đó đến thế kỷ XIII,Vĩnh Phúc trải qua nhiều biến động Từ thế kỷ XIII XIV, nhà Trần vẫn chia nước thành các lộ; đến nhà Hồ lại đổi lộ thành trấn Dưới
-lộ (hay trấn) là các phủ, dưới châu là huyện, dưới huyện là các xã Lúc này, cáchuyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (thời Trần Mạt ), nằm trong ba trấn và lộ sau:
+ Lộ Đông Đô: Châu Tam Đới (Vĩnh Tường) có huyện Yên Lạc, huyệnYên Lãng và huyện Lập Thạch
+ Lộ Bắc Giang: Châu Bắc Giang có huyện Tân Phúc, châu Vũ Ninh cóhuyện Đông Ngàn (gồm huyện Kim Anh, huyện Từ Sơn)
+ Trấn Tuyên Quang có huyện Dương
Cho tới cuối đời thời Hậu Lê đầu nhà Nguyễn (đầu thế kỉ XIX ) vùng đấtVĩnh Phúc lại nằm trong các trấn sau:
Trang 2+ Trấn Kinh Bắc: Phủ Từ Sơn có huyện Đông Ngàn, phủ Bắc Hà có huyệnTân Phúc, huyện Kim Hoa.
+ Trấn Sơn Tây: Phủ Tam Đới gồm các huyện Bạc Hạc, Lập Thạch, YênLạc, Yên Lãng; Phủ Đoan Hùng có huyện Dương
+ Trấn Thái Nguyên: Phủ Phú Bình có huyện Bình Tuyền
Dưới triều Nguyễn (thế kỉ XIX), vua Minh Mệnh đổi trấn thành tỉnh, phạm
vi Vĩnh Phúc lại nằm vào 3 tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh và Thái Nguyên
Đến cuối thế kỉ XIX, nhằm thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháptiếp tục chia cắt và xáo lộn các huyện, các xã ở Bắc Kỳ để thành lập các trung tâmcai trị mới.Theo đó, các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Thái Nguyên bị cắt xén bớt đi,các tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên lần lượt ra đời
- Tỉnh Vĩnh Yên được thành lập ngày 29/12/1890 Nhưng do hoàn cảnh lịch
sử có những biến động nên mãi tới năm 1899, toàn quyền Pháp ở Đông Dươngmới ban hành quyết định chính thức thành lập tỉnh Vĩnh Yên Tuy vậy, qua nhiềulần xáo trộn, cuối cùng ngày 6/ 10/ 1901, tỉnh Vĩnh Yên mới ổn định với một phủ
là Vĩnh Tường và 4 huyện Yên Lạc, Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên
- Ngày 6/10/1901, Pháp thành lập tỉnh Phù Lỗ gồm phủ Đa Phúc, huyệnKim Anh và một phần huyện Đông Khê (cắt từ tỉnh Bắc Ninh ra), hợp với huyệnYên Lãng (tách từ tỉnh Vĩnh Yên ra), tỉnh lỵ đặt ở làng Phù Lỗ huyện Kim Anh
Ngày 10/12/1903, tỉnh Phù Lỗ đổi tên thành tỉnh Phúc Yên
Ngày 7/3/1913, tỉnh Phúc Yên đổi làm đại lý Phúc Yên, lệ thuộc tỉnh VĩnhYên
Ngày 31/3/1923, Thống sứ Bắc Kỳ lại ra Nghị định lập lại tỉnh Phúc Yên,gồm hai phủ (Đa Phúc, Yên Lãng) và hai huyện (Kim Anh - Đông Anh) - Đây làtỉnh nhỏ nhất xứ Bắc Kỳ lúc bấy giờ
*
Trang 3Tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập ngày 12/2/1950 theo Nghị định số 03/TTgcủa Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên.Việc thành lập tỉnh Vĩnh Phúc là nhằm tăng cường sự chỉ đạo phong trào đấu tranhhậu địch, tăng cường lực lượng ta về mọi mặt, đưa cuộc kháng chiến chống Phápsang giai đoạn mới…
Tuy vậy, về địa giới, tỉnh Vĩnh Phúc cũng không thật sự ổn định mà nhiềulần có sự tách ra nhập vào
Năm 1955 huyện Phổ Yên được tách khỏi Thái Nguyên và nhập vào VĩnhPhúc, nhưng đến đầu năm 1957, Phổ Yên lại được trả về Thái Nguyên
Đầu năm 1961, huyện Đông Anh xã Kim Chung (huyện Yên Lãng), xómNúi, xóm Nguyễn, xóm Tiên thuộc thôn Đoài xã Phù Lỗ (huyện Kim Anh) đượctách khỏi tỉnh Vĩnh Phúc, chuyển giao về thủ đô Hà Nội
- Ngày 26/1/1968, theo nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, hợpnhất hai tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ thành một tỉnh, lấy tên là Vĩnh Phú
- Từ tháng 1/1997, tỉnh Vĩnh Phúc được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX kỳ họp thứ 10.
Tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay gồm thị xã Vĩnh Yên (tỉnh lỵ); Thị xã Phúc Yên và 7 huyện là: Lập Thạch, Tam Dương, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên, Tam Đảo và Mê Linh.
Khi thực hiện Nghị định thành lập tỉnh lỵ Vĩnh Yên, chính quyền đô hộPháp đã dồn dân đi nơi khác, chiếm toàn bộ dải đồi cao chạy dài từ Cống Tỉnh rađến bờ Đầm Vạc, lấy đất xây dinh Chánh sứ, Phó sứ và các công sở có người Pháp
Trang 4đứng đầu như: Sở Cẩm (đồi cao trước rừng lim),Toà án, Đề lao, Kho bạc (địađiểm đài truyền hình tỉnh bây giờ)… Từ năm 1899 đến năm 1904, ranh giới thị xãVĩnh Yên (không tính khu người Pháp nắm giữ) là một tứ giác được quy định nhưsau:
- Phía Bắc giáp theo tuyến đường sắt
- Phía Đông bởi một đường thẳng hướng Bắc Nam tiếp tuyến với quai đê
- Phía Tây bởi một đường thẳng chạy qua tâm giếng Tích Sơn (là giếng MắtRồng hiện nay)
- Phía Nam bởi một đường thẳng (Đông sang Tây ) cắt ngang đường nóitrên, cách giếng Tích Sơn 820m Tổng diện tích chưa đến 2km2
Sau cách mạng tháng 8 - 1945, thị xã Vĩnh Yên là một cụm xã đặt dưới sựlãnh đạo của thành uỷ Vĩnh Yên, bao gồm các xã Vĩnh Yên, Tích Sơn, Hợp Thịnh,Đông Đạo, Hạnh Phúc ( Khai Quang ) ngày nay
Sau ngày 15/11/1955, hai xã Vĩnh Yên và Tích Sơn được chuyển giao chohuyện Tam Dương quản lý
Từ tháng 8/1949 đến tháng 7/1954, thị xã Vĩnh Yên có 4 phố chính là: NgôQuyền, Lê Văn Duyệt (sau gọi là Tân Lập), Trần Quốc Tuấn (nay nằm trong khuChiền), Vĩnh Thịnh và 4 xóm là Vĩnh Tân, Tân Phúc, Đình, Dinh Riêng xã TíchSơn vẫn thuộc huyện Tam Dương
Kháng chiến thắng lợi, tháng 7/1954 chính quyền ta tiếp quản vùng giảiphóng và các cơ quan đầu não của tỉnh đóng ở thị xã Phúc Yên
Tháng 12/1955, Thủ tướng chính phủ ra Nghị định số 450/TTg quyết địnhtái lập thị xã Vĩnh Yên
Năm 1955, trong cuộc cải cách ruộng đất, các đơn vị hành chính sau đâyđược nhập vào thị xã Vĩnh Yên
- Xã Tích Sơn gồm các xóm: Khâu, Tiếc, Hạ, Gạch, Mới, Sậu, An Định vàGẩu (xóm Gẩu từ xã Định Trung tách sang Tích Sơn, đổi lại xóm Đậu của TíchSơn lại tách sang Định Trung)
Trang 5- Ba làng Yên Lập của xã Định Trung.
- Xóm Bầu của xã Hạnh Phúc (Khai Quang ngày nay)
Tất cả các làng, xã trên được xếp thành 4 khu: Khu Tích Sơn (gồm Khâu,Tiếc, Hạ, Gạch, Vĩnh Thịnh); Khu Đống Đa (gồm Đình, Tân Phúc, Ngô Quyền,Vĩnh Tân, Tân Lập, Chiền); Khu Liên Minh (có 3 làng Láp và xóm Bầu); KhuLiên Bảo (sau này)
Đến tháng 7/1977 theo Quyết định số 178/CP của Hội đồng Chính phủ, thị
xã Vĩnh Yên được nhận thêm hai xã là Định Trung, Khai Quang và thị trấn TamĐảo (trước đó đều thuộc huyện Tam Dương)
Hiện nay thị xã Vĩnh Yên là thủ phủ của tỉnh Vĩnh Phúc, có diện tích5079,27 ha và khoảng 70.000 nhân khẩu Thị xã gồm 9 đơn vị hành chính là:Phường Ngô Quyền, phường Đống Đa, phường Liên Bảo, phường Tích Sơn,phường Đồng Tâm, phường Hội Hợp, phường Khai Quang, các xã Định Trung,Thanh Trù
THỊ XÃ PHÚC YÊN
Được thành lập ngày 9/12/2003 theo Nghị định số 153 - 2003/NĐ - CP củaChính phủ Thị xã Phúc Yên có diện tích tự nhiên là 12.029,55 ha với số dân82.730 người
Địa giới hành chính thị xã Phúc Yên: Đông giáp thành phố Hà Nội; Tâygiáp huyện Bình Xuyên; Nam giáp huyện Mê Linh; Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên;gồm các phường và các xã:
+ Phường Hùng Vương có diện tích tự nhiên 158,6 ha và 9.341 nhân khẩu;Địa giới hành chính: Đông giáp phường Phúc Thắng; Tây giáp xã Tiền Châu, Namgiáp huyện Mê Linh, Bắc giáp phường Trưng Trắc
+ Phường Trưng Trắc có diện tích 97,24 ha với số dân 8.168 người Địagiới hành chính: Đông giáp phường Phúc Thắng, Tây giáp xã Tiền Châu, Namgiáp phường Hùng Vương, Bắc giáp phường Trưng Nhị và Phúc Thắng
Trang 6+ Phường Trưng Nhị có diện tích tự nhiên 169,04 ha với số dân 6.934người Địa giới hành chính: Đông giáp phường Phúc Thắng, Tây giáp xã TiềnChâu, Nam giáp phường Trưng Trắc, Bắc giáp xã Nam Viêm và Tiền Châu.
+ Phường Phúc Thắng có diện tích tự nhiên 637,29 ha với dân số 8.261người Địa giới hành chính: Đông giáp thành phố Hà Nội, Tây giáp các phườngHùng Vương, Trưng Trắc, Trưng Nhị; Nam giáp huyện Mê Linh; Bắc giáp xãNam Viêm
+ Phường Xuân Hoà có diện tích tự nhiên 763,66 ha với số dân 17.333người Địa giới hành chính: Đông giáp thành phố Hà Nội, Tây giáp xã Cao Minh,Nam giáp xã Nam Viêm và thành phố Hà Nội, Bắc giáp xã Ngọc Thanh
+ Các xã Tiền Châu, Nam Viêm, Cao Minh, Ngọc Thanh
HUYỆN LẬP THẠCH
Theo sử sách ghi lại thì huyện Lập Thạch có từ đời Trần Thiếu Đế, nămKiến Tân thứ 2 (1399) Lúc đó thuộc châu Tam Đới, lộ Đông Đô Đời Lê, đờiNguyễn thuộc phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây Năm 1891 thuộc đạo Vĩnh Yên; năm
1899 thuộc tỉnh Vĩnh Yên
Năm 1903, huyện Lập Thạch có tới 11 tổng và 81 làng; 11 tổng là: BạchLưu, Đạo Kỷ, Đông Định, Đông Mật, Hạ Ích, Hoàng Chỉ, Nhân Mục, Sơn Bình,Thương Đạt, Tử Du, Yên Xá
Thời Tự Đức, giữa thế kỷ XIX, lỵ sở huyện Lập Thạch đặt ở xã Sơn Đông.Hiện nay, huyện Lập Thạch gồm 35 xã và một thị trấn Đó là các xã: BắcBình (9 thôn, xóm); Bạch Lưu (4 xóm); Bàn Giản (11 thôn xóm); Cao Phong (18thôn, xóm); Đình Chu (10 xóm); Đôn Nhân (4 thôn); Đồng Ích (8 thôn); ĐồngQuế (3 thôn); Đồng Thịnh (16 xóm); Đức Bác (3 thôn); Hải Lựu (14 xóm); Hợp
Lý (5 thôn); Lãng Công (10 xóm); Liên Hoà (5 thôn); Liễn Sơn (4 thôn); Ngọc Mỹ(9 làng); Nhạo Sơn (5 xóm); Nhân Đạo (10 xóm); Như Thuỵ (3 thôn); PhươngKhoan (5 thôn); Quang Sơn (10 xóm); Quang Yên (11 xóm); Sơn Đông (3 xóm);Tân Lập (6 xóm); Tiên Lữ (12 xóm); Tử Du (3 xóm); Tứ Yên (10 thôn); Văn
Trang 7Quán (15 xóm); Vân Trục (5 thôn); Xuân Hoà (21 xóm); Xuân Lôi (12 xóm); YênThạch (14 khu); Triệu Đề (10 thôn); Thái Hoà (7 thôn, xóm); Tam Sơn và thị trấnLập Thạch (11 khu).
HUYỆN TAM DƯƠNG
Thời Trần Mạt, tên huyện Dương; Thời thuộc Minh vẫn là huyện Dươngthuộc phủ Tuyên Hoá
Tên Tam Dương được đặt vào thời Lê Quang Thuận Lúc đó Tam Dươngthuộc phủ Đoan Hùng, trấn Sơn Tây, đời Nguyễn năm 1830 thuộc phủ VĩnhTường, tỉnh Sơn Tây Năm 1891, Tam Dương thuộc đạo Vĩnh Yên; năm 1899thuộc tỉnh Vĩnh Yên
Năm 1903, huyện Tam Dương có 10 tổng, 57 làng; 10 tổng đó là: BìnhHoà, Đạo Tú, Định Trung, Hoàng Chuế, Hội Thượng, Miêu Duệ, Quan Ngoại,Tĩnh Luyện, Yến Dương, Hội Hạ
Thời Tự Đức giữa thế kỷ XIX, lỵ sở huyện Tam Dương ở địa phận xã TíchSơn, chu vi 52 trượng, trước là phủ Đoan Hùng, trấn Sơn Tây, đến năm Gia Longthứ 7 dùng làm lỵ sở huyện Tam Dương
Hiện nay, huyện Tam Dương gồm 13 đơn vị hành chính: An Hoà (7 làng);Duy Phiên (2 làng); Đạo Tú (4 làng); Đồng Tĩnh (3 làng); Hoàng Đan (2 làng);Hoàng Lâu (3 làng); Hoàng Hoa (5 làng); Hợp Thịnh (3 làng); Hướng Đạo (4làng); Kim Long (4 làng); Thanh Vân (6 làng, 1 phố); Vân Hội (3 làng) và thị trấnHợp Hoà
HUYỆN BÌNH XUYÊN
Vào đời nhà Trần, lúc đó Bình Xuyên có tên gọi là Bình Lệ Nguyên (gọi tắt
là Bình Nguyên), thuộc châu Tuyên Hoá Từ đời Hậu Lê đến đầu đời Nguyễn(1428- 1822), đất Bình Xuyên ngày nay nằm trong 2 huyện Bình Tuyền và YênLãng
Trang 8Theo sách Đại Nam nhất thống chí, tên huyện Bình Tuyền xuất hiện vào
đời Lê Thánh Tông (1460- 1497) - khi đó đất này thuộc phủ Phú Bình, trấn TháiNguyên bao gồm các xã ở phía Bắc quốc lộ số 2 ngày nay trở ra phía sông Hồngthuộc huyện Yên Lãng, phủ Tam Đái, trấn Sơn Tây
Năm 1822, Vua Minh Mạng ra đạo dụ chuyển huyện Bình Tuyền sang PhủVĩnh Tường, thuộc tỉnh Sơn Tây… Năm 1842, theo đạo dụ năm Thiệu Trị thứ haiđổi tên Bình Tuyền thành Bình Xuyên và lại thuộc tỉnh Thái Nguyên Đến năm
1890 thì huyện Bình Xuyên được cắt hẳn về Vĩnh Yên
Tại thời điểm năm 1903, huyện Bình Xuyên có 7 tổng và 41 làng Các tổng
đó là: Ba Hạ (5 làng); Hương Canh (6 làng); Sơn Lôi (5 làng); Tam Lộng (8 làng);Thiện Kế (6 làng) và Xuân Lãng (6 làng) Tới năm 1927, tổng Bá Hạ lại nhập vàotổng Sơn Lôi, tổng Hương Canh giảm bớt làng Bảo Đức, toàn huyện lúc này còn 6tổng với 33 làng
Hiện nay, huyện Bình Xuyên gồm 13 đơn vị hành chính: Bá Hiến (13thôn); Đạo Đức (8 thôn); Gia Khánh (8 thôn); Hương Sơn (9 thôn); Phú Xuân (5làng); Quất Lưu (1 thôn và 6 xóm); Sơn Lôi (6 thôn); Tam Hợp (5 thôn); TânPhong ( 7 thôn); Thanh Lãng (5 thôn); Thị trấn Hương Canh (6 thôn); Thiện Kế(11 thôn); Trung Mỹ (8 thôn)
Đây là vùng đất trù phú, dân cư đông đúc Đến đời nhà Nguyễn, năm MinhMệnh thứ hai (1821), Phủ Tam Đái được đổi tên thành phủ Tam Đa Một năm sau
đó (1822) lại đổi tên gọi là phủ Vĩnh Tường, thuộc tỉnh Sơn Tây Cho tới năm
1832, phủ Vĩnh Tường chỉ còn lại 3 huyện là Bạch Hạc, Lập Thạch và Tam
Trang 9Dương Gần sáu chục năm sau, vào năm 1890, phủ Vĩnh Tường lại bao gồm 5huyện: Bạch Hạc, Lập Thạch, Tam Dương, Yên Lạc và Yên Lãng.
Năm 1899, chính quyền Pháp thành lập tỉnh Vĩnh Yên và phủ Vĩnh Tườngthành một đơn vị độc lập, không bao gồm các huyện nữa
Tới năm 1927, phủ Vĩnh Tường lại gồm 10 tổng là: Đồng Phú, Đồng Vệ,Hưng Lục, Kiên Cương, Lương Điền, Mộ Chu, Nghĩa Yên, Tăng Đố, ThượngTrưng và Tuân Lộ
Lỵ sở phủ Vĩnh Tường trước kia ở xã Văn Trưng Năm 1831 dời đến địaphận 3 làng Bồ Điền, Huy Ngạc, Yên Nhân Thành phủ hiện còn di tích ở xã Vũ
Di
Hiện nay, huyện Vĩnh Tường gồm 28 xã và 1 thị trấn Các xã là: An Tường(4 thôn); Bình Dương (5 thôn); Bồ Sao (3 thôn); Cao Đại (3 thôn); Chấn Hưng (3thôn); Đại Đồng (2 thôn); Kim Xá (6 thôn); Lũng Hoà (2 thôn); Lý Nhân (3 thôn);Nghĩa Hưng (3 thôn); Ngũ Kiên (6 thôn); Phú Đa (4 thôn); Phú Thịnh (4 thôn);Tân Cương (3 thôn); Tân Tiến (3 thôn); Tam Phúc (4 thôn); Tứ Trưng (3 thôn);Thượng Trưng (7 thôn); Thổ Tang (2 thôn); Tuân Chính (4 thôn); Vân Xuân (2thôn); Việt Xuân (4 thôn); Vĩnh Ninh (4 thôn); Vĩnh Thịnh (4 thôn); Vũ Di (4thôn); Vĩnh Sơn (1 thôn); Yên Bình (3 thôn); Yên Lập (5 thôn)
HUYỆN YÊN LẠC
Yên Lạc là tên vùng đất có từ thời nhà Đinh, nhà Lý và giữ nguyên tới nay.Tuy vậy, Yên Lạc chỉ là một huyện độc lập từ năm 1899 (thuộc tỉnh Vĩnh Yên khiđó)
Thời xưa, Yên Lạc là huyện đông dân cư Đến năm 1903, huyện Yên Lạc
có 7 tổng với 60 làng, đó là: Tổng Đông Lỗ (9 làng); tổng Hồn Ngạc (9 làng); tổngNhật Chiểu (7 làng); tổng Phương Nha (7 làng); tổng Thư Xá (10 làng); tổng VânĐài (14 làng); tổng Yên Lạc (4 làng)
Tới năm 1927, huyện Yên Lạc lại có 8 tổng, tức là thêm tổng Lưỡng Quán
Trang 10Hiện nay huyện Yên Lạc gồm 16 xã và 1 thị trấn Thị trấn Yên Lạc có 4thôn Các xã là: Bình Định (4 thôn); Đại Tự (3 thôn); Đồng Cương (5 thôn); ĐồngVăn (4 thôn); Hồng Châu (4 thôn); Hồng Phương (3 thôn); Liên Châu (3 thôn);Nguyệt Đức (3 thôn); Tam Hồng (9 thôn); Tề Lỗ (5 thôn); Trung Kiên (7 thôn);Trung Nguyên (9 thôn); Trung Hà (3 thôn); Văn Tiến (4 thôn); Yên Phương (4thôn); Yên Đồng (8 thôn).
HUYỆN MÊ LINH
Hiện có 17 đơn vị hành chính, gồm các xã: Chu Phan (5 thôn); Đại Thịnh(4 thôn); Hoàng Kim (3 thôn); Tiến Thắng (4 thôn); Tiến Thịnh (7 thôn); TiềnPhong (6 thôn); Tự Lập (2 thôn); Thạch Đà (4 thôn); Thanh Lâm (4 thôn); TrángViệt (3 thôn); Vạn Yên (6 thôn); Quang Minh (6 thôn); Tam Đồng (3 thôn), LiênMạc (3 làng), Mê Linh (3 thôn), Văn Khê (2 thôn), Kim Hoa (6 thôn)
HUYỆN TAM ĐẢO
Được thành lập ngày 9/12/2003 theo Nghị định số 153-2003/NĐ-CP củaChính Phủ Có diện tích tự nhiên 23.641,6 ha và dân số là 65.912 người; bao gồm
9 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã: Đạo Trù, Bồ Lý, Yên Dương, ĐạiĐình, Tam Quan, Hồ Sơn, Hợp Châu, Minh Quang và thị trấn Tam Đảo Địa giớihành chính: Đông giáp huyện Bình Xuyên và tỉnh Thái Nguyên; Tây giáp cáchuyện Lập Thạch, Tam Dương; Nam giáp các huyện Tam Dương, Bình Xuyên;Bắc giáp các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang
ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN
Địa hình Vĩnh Phúc được tạo thành bởi kết quả hoạt động tổng hợp từ cácquá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh cùng với tác động của con người như đắp
đê ngăn nước, đắp đập, phá rừng làm nương rẫy…
Vĩnh Phúc có 3 loại địa hình chính: Địa hình miền núi, địa hình vùng đồi vàđịa hình vùng đồng bằng
Trang 11ĐỊA HÌNH MIỀN NÚI
Theo nguồn gốc hình thành và độ cao, địa hình miền núi Vĩnh Phúc chialàm 3 loại:
Loại địa hình núi lửa: Chủ yếu thuộc dãy núi Tam Đảo Trong đó, phần
thuộc địa phận Vĩnh Phúc bắt đầu từ xã Đạo Trù (Lập Thạch) đến xã Ngọc Thanh(Mê Linh) có chiều dài trên 30 km, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, địa hìnhphân cắt mạnh, có nhiều đỉnh cao trên 1000m Cao nhất là đỉnh núi Giữa (1542m),đỉnh Phù Nghĩa, Thạch Bàn, Thiên Thị đều cao trên dưới 1.400m nổi lên như 3hòn đảo
Địa hình núi thấp: Đại diện cho loại địa hình này là núi Sáng, thuộc địa
phận hai xã Đồng Quế, Lãng Công (Lập Thạch) cao 633m, một dạng địa hình xâmthực, bóc mòn Địa hình núi thấp ở Vĩnh Phúc rộng hàng chục km2 Đó là nhữngnúi cấu tạo bằng đá cứng, phong hoá chậm như quaczit, amphibolit có hình núinhọn và cao trội hơn như núi Kim Tôn, núi Bầu ở Đồng Quế, Lãng Công (LậpThạch) Ngoài ra còn những núi cấu tạo bằng đá dễ bị phong hoá như gơnaibiotit,gơnai 2 mica và granit, kết hợp với hoạt động đứt gãy nên núi có hình bằng đi,thấp xuống, có khi kéo dào theo phương đứt gãy như núi Ngang vùng Đạo Trù,Hợp Lý, các núi ở Bắc Bình, Quang Sơn (Lập Thạch), Đại Đình (Tam Đảo)
Địa hình núi sót: Gồm núi Đinh, núi Trống, núi Thanh Tước, nằm theo
một trục trên địa bàn thị xã Vĩnh Yên, huyện Bình Xuyên và huyện Mê Linh Đây
là một trục của nếp lồi khu vực có phương Tây Bắc - Đông Nam Các núi đều cấutạo bởi các đá của hệ tầng sông Hồng, giới Proterozoi
Vĩnh Phúc còn có một dạng địa hình núi kéo dài theo đứt gãy trẻ (thành tạovào chu kỳ tạo núi An - pi); thường nằm ở ven rìa đứt gãy và trùng với phương đứtgãy; cấu tạo bằng các đá cuội kết cơ sở và răm kết kiến tạo
Chiều dài của núi có thể tới vài ki lô mét, chiều rộng vài trăm mét như cácnúi Phù Mây (Đại Đình, Tam Dương), núi Thằn Lằn (Mê Linh), các núi dạng đồi
ở vùng Đạo Tú (Tam Dương), vùng Tiên Lữ (Lập Thạch) với độ cao chỉ khoảng
50 - 70m
ĐỊA HÌNH VÙNG ĐỒI
Trang 12Ở Vĩnh Phúc huyện nào cũng có đồi Có nhiều đồi nhất là hai huyện LậpThạch và Tam Dương Các huyện đồng bằng như Vĩnh Tường, Yên Lạc còn sótlại một ít đồi gò như đồi Me, gò Đồng Đậu Đồi ở Vĩnh Phúc như bát úp, kíchthước không lớn, có dạng vòm đường nét mềm mại Đồi ở vùng đồng bằng chỉ cao
từ 20 - 50m, ở vùng trung du cao từ 50 - 200m
Đồi xâm thực bóc mòn: Do các quá trình phân cắt và bào mòn bởi nước
trên mặt đất ở những miền núi cấu trúc dương được nâng yếu, gồm toàn bộ nhữngđồi ở vùng núi Sáng (Lập Thạch) vùng từ Tam Dương đến Mê Linh và khu vực thị
xã Vĩnh Yên
Tác dụng xâm thực là sự kết hợp đồng thời của các quá trình phá huỷ các
đá có tính chất cơ học của dòng chảy và quá trình bào phá lòng bởi chính dòngchảy cùng với quá trình hoà tan các đá theo phương thức hoá học Xâm thực bềmặt còn gọi là rửa trôi bề mặt hay bóc mòn là kết quả tương hỗ tác động của nướcmưa, nước tuyết tan chảy tràn trên mặt và các dòng chảy nhỏ đang định vị trên mặtđất Xâm thực mạnh mẽ ở các sườn đồi, các đường phân thuỷ tương đối bằng, cácbồn nước Sự bào phá của các dòng chảy đã định vị tạo thành những mương, xói,khe, rãnh, suối, sông phân cắt các miền đồi như hình dạng ngày nay Sự xâm thựcnày càng rõ ở các vùng đồi cấu tạo bằng các đá phiến giầu nhôm như vùng LậpThạch, Tam Dương, Bình Xuyên
Sản phẩm trên bề mặt vùng đồi Vĩnh Phúc là sản phẩm phong hoá gồm cáclớp đất sét nâu đỏ, laterit và các mũ sắt Nhân dân thường dùng lớp đất sét cólatarit này để làm gạch đá ong và gạch không nung
Đồi tích tụ: Được hình thành do quá trình tích tụ và xâm thực, phân bố ở
các cửa suối lớn trong chân núi Tam Đảo như các suối ở Đạo Trù, Tam Quan, HợpChâu, Minh Quang (Tam Đảo), Thanh Lanh (Bình Xuyên), Thanh Lộc (Mê Linh).Đồi tích tụ thường có diện tích nhỏ, như một gò nổi giữa sông, suối, cấu tạo chủyếu là cuội, cát, sỏi, bột, sét và các tảng đá gốc hỗn độn Hình thái của đồi thường
bị dòng nước phạt một bên sườn hoặc cả 2 bên sườn nếu đồi đang ở giữa 2 dòngchảy