1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài tiểu luận Kinh tế phát triển_nhóm 6

26 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tiểu luận Kinh tế phát triển_nhóm 6
Tác giả Nhóm 6
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 225,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài tiểu luận Kinh tế phát triển nhóm 6 Bài ti u lu n Kinh t phát tri n nhóm 6ể ậ ế ể MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Sau hơn 20 năm đổi mới, với chính sách phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội[.]

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Sau hơn 20 năm đổi mới, với chính sách phát triển nền kinh tế thị trườngtheo định hướng Xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước đã vạch ra, nền kinh tếnước ta đã có những bước tiến đáng kể, đang hoà mình vào sự phát triển chung củanền kinh tế thế giới Việt Nam ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế thếgiới, là điểm dừng chân lý tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài Đây là điều kiệnthuận lợi để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực dồi dào trong nước Với tốc độ pháttriển trung bình đạt trên 8% một năm, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa(CNH-HĐH) đất nước đang có những bước tiến đáng kể thúc đẩy sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp, thươngmại, dịch vụ Quá trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, chủđộng hội nhập kinh tế thế giới đang đặt ra hàng loạt những vấn đề bức xúc cầnđược giải quyết trong đó có vấn đề việc làm và giải quyết việc làm cho người laođộng Đòi hỏi Đảng và Nhà nước cùng các cấp, các ngành quan tâm đưa ra nhữngchủ trương, giải pháp thiết thực để giải quyết việc làm cho người lao động Với mộtđất nước hơn 80 triệu dân như nước ta hiện nay nếu giải quyết tốt vấn đề việc làm

Trang 2

là tiền đề quan trọng để sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, góp phần thúc đẩy sựnghiệp CNH-HĐH đất nước Lao động là một nguồn lực, là trung tâm của sự pháttriển, nguồn lực lao động tốt là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế nhanh

và bền vững, ngược lại nguồn lao động kém sẽ là rào cản cho quá trình phát triểnkinh tế diễn ra Nhận thức được tầm quan trọng, tình hình thời sự và những hạn chếcủa công tác giải quyết việc làm cho người lao động nhằm sử dụng hợp lý và nângcao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nước nhà, và mong muốn tìm hiểu về tìnhhình nguồn lao động ở nông thôn nước nhà nên nhóm xin chọn đề tài:

Giải pháp nào cho tình hình lao động vừa thừa vừa thiếu của Việt Nam?

Trong phạm vi nghiên cứu của bài tiểu luận, chúng tôi xin được tìm hiểu vềvấn đề này qua việc trả lời 3 câu hỏi sau:

1 Nguồn nhân lực có vai trò như thế nào đối với phát triển kinh tế?

2 Tại sao lao động Việt Nam vừa thừa vừa thiếu?

3 Giải pháp cho vấn đề trên là gì?

Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận này là những vấn đề liên quan đếnnguồn lao động Việt Nam, giai đoạn 1996-2011 Căn cứ vào các đặc điểm của tìnhhình lao động Việt Nam, chúng tôi sử dụng phương pháp định tính để đi sâu vàlàm rõ vấn đề

Do hạn chế về thời gian và sự hiểu biết, bài tiểu luận chắc chắn sẽ còn nhiềukhiếm khuyết Chúng tôi hi vọng nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô vàcác bạn Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

I.Nguồn lao động với phát triển kinh tế

Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Lao Động ( 2002), độ tuổi lao động đối vớinam từ 15 tuổi đến 60 tuổi và nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi Nguồn lao động trênđược xét trên 2 mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng

Về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm:

• Dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm

Trang 4

• Và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thấtnghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không cónhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác( bao gồm cảnhững người nghỉ hưu trước độ tuổi quy định).

Nguồn lao động xét về mặt chất lượng về cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyênmôn, tay nghề( trí lực) và sức khỏe( thể lực) của người lao động

Chúng ta cần phân biệt khái niệm “nguồn lao động” với “lực lượng lao động” ỞViệt Nam sử dụng khái niệm : lực lượng lao động là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trởlên có việc làm và những người thất nghiệp Và cũng cần lưu ý rằng trong lựclượng lao động , chỉ có bộ phận những người đang làm việc mới là những ngườitrực tiếp tạo ra thu nhập cho xã hội

2.Vai trò của lao động với phát triển kinh tế

Như chúng ta đã biết, có 4 yếu tố chủ yếu là nguyên nhân của phát triển kinh tế:K(capital), L(labour), R(resources), T(technology) Trong đó lao động có vai tròđặc biệt hơn các yếu tố khác vì lao động có vai trò 2 mặt

Thứ nhất, lao động là một nguồn lực sản xuất chính và không thể thiếu đượctrong các hoạt động kinh tế Với vai trò này, lao động luôn được xem xét trên cả haikhía cạnh đó là lợi ích và chi phí Lao động là yếu tố đầu vào, nó có ảnh hưởng tớichi phí tương tự như các yếu tố sản xuất khác Lao động cũng bao hàm những lợiích tiềm năng theo nghĩa : góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống và giảm đóinghèo

Khía cạnh thứ hai đó là : lao động – một bộ phận của dân số, là người đượchưởng thụ lợi ích của quá trình phát triển Mọi quốc gia đều đặt trọng tâm vàochiến lược phát triển con người trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội Việcnâng cao năng lực cơ bản của cá nhân, của người lao động sẽ giúp họ có nhiều cơ

Trang 5

hội hơn Từ đó thu nhập tăng, chất lượng cuộc sống được cải thiện, kết quả là năngsuất lao động tăng.

Từ đó có thể khẳng định lao động có vai trò là động lực quan trọng trong tăngtrưởng và phát triển kinh tế Nhưng đối với các nước đang phát triển như Việt Namthì lao động lại chưa phải là yếu tố tác động mạnh vào tăng trưởng và phát triểnkinh tế Tuy có lợi thế là lao động nhiều và giá lao động rẻ song lại có biểu hiện của

sự “dư thừa” hay tình trạng thiếu việc làm Lao động với năng suất thấp, phần đónggóp của lao động trong tổng thu nhập còn hạn chế do nền kinh tế còn chậm pháttriển

3.Việt Nam trong thời kỳ cơ cấu dân số “vàng”

Theo Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình, số liệu điều tra dân số ngày

1/4/2009 cho thấy Việt Nam đang bước vào giai đoạn có cơ cấu “dân số vàng” với

tỉ lệ người trong độ tuổi lao động lớn, tỉ lệ người phụ thuộc thấp Với lợi thế sosánh là nguồn nhân lực dồi dào so với các quốc gia khác, cơ cấu dân số “vàng”thực sự là cơ hội “có một không hai” để phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Theo các chuyên gia, cơ cấu dân số “vàng” được coi là cơ hội phát triển của mộtquốc gia, bởi hiện tượng này thường chỉ xuất hiện một lần trong quá trình phát triểncủa một cộng đồng dân cư Với khoảng 53 triệu người trong độ tuổi lao động, mỗinăm lại được bổ sung 1,5 triệu người nữa thì đây thực sự là tiền đề để phát triểnkinh tế Bên cạnh đó, lực lượng lao động tăng lên đồng nghĩa với việc năng suất laođộng và khối lượng sản phẩm được tạo ra cũng tăng lên, tài sản xã hội và gia đìnhđược đảm bảo Dân số nhóm tuổi từ 0-15 tuổi giảm hơn một nửa trong 30 năm quacũng đã tạo điều kiện tốt hơn cho công tác phòng chống suy dinh dưỡng, khámchữa bệnh, nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, giảm bớt chi phí về y tế và ansinh xã hội

Trang 6

Bên cạnh đó tình hình cơ cấu dân số “vàng” cũng đặt ra nhiều thách thức Dân sốtăng nhanh kéo theo các chi phí đầu tư an sinh xã hội tăng cao Tỉ lệ lớn dân sốtrong độ tuổi lao động sẽ tạo sức ép cho vấn đề việc làm trong xã hội, hơn nữa,trình độ tay nghề chưa cao so với nhiều nước cũng là một thách thức lớn.

Nhiều nước trong và ngoài khu vực đã có bước tiến vượt bậc trong phát triển kinh

tế khi đạt tới trạng thái cơ cấu dân số vàng, như Trung Quốc, Đài Loan,… ViệtNam đang nắm trong tay cơ hội này, liệu có thể tạo được những chuyển biến tíchcực như những con rồng châu Á trước đây?

II Vấn đề lao động Việt Nam vừa thừa, vừa thiếu:

1 Cơ cấu lao động Việt Nam mất cân đối:

a, Nghịch lí trong tình trạng cung-cầu lao động:

* Thị trường cung lao động Việt Nam:

Nhìn chung, cung lao động về số lượng có xu hướng tăng nhanh Trong thời kì1996-2003, tốc độ tăng bình quân khoảng trên 2%/năm, tương ứng với trên 800ngàn người

Trang 7

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam (Đơn vị: nghìn người)

Giai đoạn gần đây, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam (so với dân số

đủ 15 tuổi trở lên) là tương đối cao (khoảng 52%-56%, giai đoạn 2006-2010) Thực

sự đây là lợi thế của lực lượng lao động Lao động trẻ có thể lực, thuận lợi cho việc đào tạo, nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

* Thị trường cầu lao động Việt Nam:

Một mặt, tổng việc làm của nền kinh tế tăng nhưng chưa tương xứng với tốc độtăng trưởng kinh tế Trong những năm qua, hệ số co giãn việc làm ở nước ta chỉ đạtmức trung bình 0,28% (tức là khi GDP tăng lên 1% thì việc làm chỉ tăng 0,28%).Điều đó có nghĩa là tăng trưởng chưa tạo ra nhiều việc làm, đem lại lợi ích chongười lao động Trong năm 2008, cả nước có 1,43 triệu người thiếu việc, trong đóchiếm 1,4 triệu người ở khu vực nông thôn

Mặt khác, nhu cầu lao động trong nước có xu hướng tăng, với sự gia tăng thươngmại quốc tế, và đầu tư nước ngoài Theo số liệu điều tra doanh nghiệp hàng nămcủa Tổng cục Thống kê, ước tính tổng số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đến

Trang 8

cuối năm 2006 là 234 ngàn doanh nghiệp Ngoài ra, khoảng 2 ngàn làng nghề, 110ngàn trang trại, 2 triệu hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ đã thu hútkhoảng 15 triệu lao động vào làm việc, trong đó có hơn 5 triệu làm theo hợp đồng,đưa tổng số lao động làm công ăn lương lên trên 13 triệu (trong đó có khoảng gần 2triệu làm việc trong khu vực hành chính sự nghiệp), chiếm khoảng 30% lao động

xã hội Năm 2009, theo khảo sát của Phòng thương mại- công nghiệp Việt NamVCCI, 47,4% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động có kĩ năng Hơn thế, cầu lao động xuất khẩu ra nước ngoài của nước ta có xu hướng tăng Từ

15 nước tiếp nhận lao động Việt Nam vào năm 1995 với 10.050 người đến nay laođộng Việt Nam đã có mặt trên 40 nước và vùng lãnh thổ, tập trung chủ yếu ở cácnước trong khu vực Đông Á như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Malaysia và sẽtăng một số thị trường khác Trong giai đoạn 2001 – 2005, Việt Nam đã đưa được

29 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài, trong đó có 50% được đào tạo nghề và90% được đào tạo định hướng Năm 2006, 78 ngàn lao động đi làm việc có thờihạn ở nước ngoài, đưa tổng số lao động và chuyên gia Việt Nam đang làm việc cóthời hạn ở nước ngoài lên trên 400 ngàn người

 Những nghịch lý:

- Lượng cung lao động có xu hướng tăng nhanh, đáng ra điều này sẽ giúp đáp ứngđược cho nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp Tuy vậy lượng cầuvẫn tăng đáng kể, nhu cầu tuyển dụng lao động của các doanh nghiệp chưa đượcđáp ứng rõ rệt, các doanh nghiệp vẫn có nhu cầu rất lớn tuyển dụng lao động

- Thêm vào đó, thị trường cầu lao động Việt Nam tăng mạnh và các doanh nghiệpvẫn rất cần lao động nhưng tỉ lệ thất nghiệp vẫn tương đối cao (Tổng cục Thống kêcho biết tỷ lệ thất nghiệp năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 2,88%, trong đótình trạng không có việc làm ở khu vực thành thị là 4,43% và nông thôn là 2,27%)

Trang 9

b Thừa lao động ở khu vực nông thôn:

Việt Nam mặc dù đã có 1 số thành phố lớn, nhưng vẫn là một nước nặng về nôngnghiệp, nông thôn, với lao động ở ngành nông nghiệp chiếm tỉ trọng việc làm lớnnhất (3/4 lao động ở nông thôn, tức 45,3 triệu người năm 2006) Theo số liệu điềutra của Tổ chức lao động quốc tế ILO, năm 2007 có 23,8 triệu người có việc làmtrong khu vực nông-lâm-nghiệp , chiếm khoảng 52% tổng số người có việc làm Tính chất nông thôn và sự phụ thuộc nặng nề vào nông nghiệp phản ánh thị trườnglao động Việt Nam vẫn đứng trước nguy cơ thiếu việc làm bền vững

Bảng 1: Lao động Việt Nam khu vực nông thôn giai đoạn 2007-2010

Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

2000, tốc độ tăng trưởng việc làm ở khu vực nông thôn là 1,3%, bằng 45% tốc độtăng trưởng việc làm bình quân cả nước (2,9%) Thực tế, tỷ lệ sử dụng thời gian laođộng của lao động trong độ tuổi lao động ở khu vực nông thôn giai đoạn 1997-

2000, tăng nhưng không đáng kể (73,14%- 74,19%) Quan hệ cung cầu lao động ởnông thôn thể hiện sự dư thừa tiềm tàng cũng có nghĩa là ở tình trạng thiếu việc

Trang 10

làm trầm trọng Giai đoạn 2008-2010, tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn có xuhướng gia tăng, từ 1,53% lên 2,3%.

c Lao động phổ thông chiếm đa số:

Báo cáo “Xu hướng việc làm” của Tổ chức lao động quốc tế ILO cho thấy, saukhu vực nông nghiệp chiếm số lượng lao động lớn nhất, là ngành công nghiệp chếbiến (12%) Ngành này đóng vai trò lớn đối với thị trường lao động khi cung cấpviệc làm cho 5,6 triệu người (năm 2007) Đứng thứ ba là ngành thương nghiệp, thuhút 4,8 triệu lao động, chiếm gần 11% Tiếp theo là ngành xây dựng (6% tổng laođộng) Năm 2007, nhóm lao động giản đơn là 28,1 triệu người, chiếm 62% tổng sốngười có việc làm Trong đó, nam giới chiếm 58% tổng số nam giới có việc làm, và

nữ giới lao động giản đơn chiếm tới 66% tổng số nữ giới có việc làm Tình trạnglao động khu vực phi chính thức ngày càng phát triển ở các nước đang phát triển,như Việt Nam, với khoảng 70% trong tổng số việc làm

Bảng 2: Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2007-2010

(Đơn vị: Nghìn người)Năm/Ngành nghề Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Trang 11

kiểm toán, luật Gần 70% doanh nghiệp công nghệ nói nhu cầu về cán bộ quản lýhiện vẫn chưa được đáp ứng Hơn 50% công ty dịch vụ cũng đang ở vào tình trạngtương tự.

2 Trình độ lao động Việt Nam còn thấp

a Việt Nam thiếu trầm trọng lao động trình độ cao:

Báo cáo về "Điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010" do Bộ Kế hoạch

- Đầu tư và Tổng cục Thống kê phát hành vào tháng 6-2011, đã công bố biểu "Tỷtrọng lực lượng lao động đã qua đào tạo chia theo trình độ chuyên môn kỹ thuậtthời kỳ 2007-2010" dưới đây:

Bảng 3: Tỷ trọng lực lượng lao động qua đào tạo giai đoạn 2007-2010

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam Điều gì đã dẫn tới thực trạng là tỷ trọng lao động Việt Nam có trình độ chuyênmôn kỹ thuật đã giảm sút trầm trọng trong vòng ba năm qua (2007-2010), từ con số17,7% xuống còn 14,7%? Và với tỷ trọng 85,3% lực lượng lao động chưa qua đàotạo nghề, thì giấc mơ "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" sẽ trở nên ngày càng xa vời Quy chuẩn về cơ cấu trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động khu vực châu Áhiện nay là: 1 đại học / 4 cao đẳng / 10 trung cấp Nếu lấy tỷ lệ này đối chiếu vớithực trạng trình độ lao động Việt Nam ở thời điểm năm 2010 là: 5,7 đại học / 1,7cao đẳng / 3,5 trung cấp, chúng ta sẽ thấy hết sự méo mó về cơ cấu trình độ của lao

Trang 12

động Việt Nam, khi lực lượng chuyên viên kỹ thuật bậc cao đẳng - một mắt xíchquan trọng trong cơ cấu lực lượng lao động - chỉ còn chiếm tỷ lệ 1,7%.

b Kĩ năng làm việc, tác phong công nghiệp của người lao động còn chưa cao:

* Kĩ năng làm việc:

Tình trạng thiếu nhân lực trình độ, có kĩ năng làm việc ở VN được nhắc đến ngàycàng nhiều trong những năm gần đây, nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới WTO, mở cửa thị trường đón nhận ồ ạt đầu tư của nướcngoài Không chỉ thiếu trầm trọng chuyên viên kỹ thuật, mà ngay lực lượng chuyênviên đã được đào tạo, chất lượng cũng rất yếu Kết quả khảo sát của Ngân hàng Thếgiới, tại Việt Nam có khoảng 60% lao động tốt nghiệp từ các trường cao đẳng vàdạy nghề cần được đào tạo lại sau khi tuyển dụng Nhiều doanh nghiệp không ngầnngại cho biết, họ sẵn sàng thu nhận lao động chưa biết gì về kỹ thuật, để đào tạo từbước đầu đến thạo việc, còn hơn là tuyển lao động có tay nghề sẵn nhưng chỉ biếttoàn những hiểu biết cũ, lỗi thời

Người lao động chưa được trang bị nhiều các kĩ năng mềm, như: kĩ năng làm việcnhóm, hay quản lí thời gian Mặc dù, trình độ ngoại ngữ đã có sự cải thiện, song, sựthay đổi không đáng kể này chưa thể cải thiện được mặt bằng chung của lao độngViệt Nam

* Tác phong công nghiệp:

Thiếu tác phong công nghiệp là một trong những yếu điểm lớn nhất của lao độngViệt Nam Tác phong công nghiệp thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quýtrọng thời gian, nhiều người chúng ta vẫn thường có thói quen “giờ cao su”, điềunày đã khiến chúng ta trở thành kiểu mẫu của sự chậm chạp, lề mề trong công việc.Với các nước phát triển, tuân thủ giờ giấc theo đúng luật định là một trong những

Trang 13

nguyên tắc cơ bản, tiên quyết để đưa doanh nghiệp đi đến thành công, và nếu ởphương diện cá nhân thì đó là yếu tố đầu tiên để nhà tuyển dụng chọn lựa.

Thêm nữa, các chủ sử dụng lao động nước ngoài thường xuyên phàn nàn về tìnhtrạng lao động Việt Nam liên tục chuyển đổi nơi làm việc vì lí do không chínhđáng Tình hình cư trú bất hợp pháp ngày càng gia tăng làm ảnh hưởng đến hìnhảnh người lao động Việt Nam nói riêng, và mối quan hệ hợp tác lao động của ViệtNam và các nước đối tác nói chung

3 Nguyên nhân tình trạng lao động Việt Nam vừa thừa, vừa thiếu:

a, Nguyên nhân chủ quan:

Người lao động Việt Nam chưa hình thành tâm lí chủ động tiếp cận thành tựu,tiến bộ khoa học trên thế giới, dẫn đến sự lạc hậu so với mặt bằng trình độ lao độngtrong khu vực, và trên thế giới

Tâm lí tiểu nông, nhỏ lẻ, xuất phát từ nền nông nghiệp lúa nước lâu đời đã ăn sâuvào người lao động, hình thành tác phong làm việc thiếu chuyên nghiệp, ý thức kỉluật

b Nguyên nhân khách quan:

Hệ quả của một nền giáo dục chạy theo bằng cấp:

- Theo thống kê năm học 2010-2011 của Bộ Giáo dục-Đào tạo (GD-ĐT) thì cảnước có 726.219 sinh viên hệ cao đẳng, còn hệ đại học là 1.435.887 Như vậy, ngaykhu vực đào tạo đã méo mó về cơ cấu: thay vì 1 đại học / 4 cao đẳng thì chúng ta

đã làm ngược lại: 2 đại học / 1 cao đẳng Đó là nói về con số, trên thực tiễn quản lý,

ai cũng thấy mỗi năm học, Bộ GD-ĐT đã "chìm đắm" ít nhất ba tháng cho công táctuyển sinh đại học

Ngày đăng: 05/01/2023, 21:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Giáo trình Kinh tế phát triển, Khoa Kế hoạch và phát triển – Đại học Kinh tế quốc dân, Nhà xuất bản Lao động xã hội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
2. Thị trường xuất khẩu lao động Nhật Bản: Cơ hội mới cho lao động Việt Nam, truy cập từ trang webhttp://hoptacquocte.com/category/tin-tuc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường xuất khẩu lao động Nhật Bản: Cơ hội mới cho lao động Việt Nam
3. Sẽ thuê giáo viên nước ngoài về Việt Nam dạy nghề, truy cập từ trang webhttp://vietbao.vn/Xa-hoi/Se-thue-giao-vien-nuoc-ngoai-ve-VN-day-nghe/10929201/157/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sẽ thuê giáo viên nước ngoài về Việt Nam dạy nghề
4. Việt Nam: Dân số “vàng” nhưng chất lượng thấp, truy cập từ trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam: Dân số “vàng” nhưng chất lượng thấp
5. Lao động Việt Nam đang bị “mất điểm”, truy cập từ http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Lao-dong-Viet-Nam-dang-bi-mat-diem/57630/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lao động Việt Nam đang bị “mất điểm”
7. Báo cáo về "Điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010" do Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Tổng cục Thống kê phát hành vào tháng 6-2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
8. Quyết định 1956-QD-TTg phê duyệt đề án “Đạo tạo nghề cho lao động Việt Nam đến năm 2020”, Thủ tướng Chính phủ, truy cập từ trang webhttp://thuvienphapluat.vn/Quyet-dinh/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đạo tạo nghề cho lao động ViệtNam đến năm 2020”
9. Quyết định 121/2007/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 -2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạchmạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 -2020
6. Bùi Quang Bình, Sử dụng nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam: thực trạng và giải pháp Khác
10. Số liệu thống kê Lao động – Việc làm của Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, giai đoạn 1996 - 2010 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w