Bé KÕ ho¹ch vµ §Çu t TỔNG HỢP TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ – XÃ HỘI NĂM 2006 CỦA VIỆT NAM 1 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2006 so với các nước ASEAN + 3 Năm 2006, nền kinh tế nước ta tiếp[.]
Trang 1TỔNG HỢP TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ –
XÃ HỘI NĂM 2006 CỦA VIỆT NAM
1 Tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2006 so với các nước ASEAN + 3
Năm 2006, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng với tốc độ tăng trưởng khá, đạt 8,17%, trong
đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,37%; khu vực dịch vụ tăng 8,29% Trong 8,17% tăng trưởng chung, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,67 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 4,16 điểm phần trăm và khu vực dịch vụ đóng góp 3,34 điểm phần trăm Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,4%, thấp hơn mức tăng 4% của năm 2005, chủ yếu do tốc độ tăng của ngành nông nghiệp và thuỷ sản chậm lại vì ảnh hưởng của thời tiết bất thường và dịch bệnh
Tăng trưởng kinh tế năm 2006 của Việt Nam thấp hơn mức 8,4% của năm 2005 nhưng vẫn cao hơn mức kế hoạch đề ra (8%) Đây là mức tăng trưởng cao nhất trong 10 nước ASEAN, cao hơn 2,4% so với mức tăng trưởng trung bình của ASEAN và chỉ sau Trung Quốc trong nhóm ASEAN+3
Khu vực công nghiệp, xây dựng tăng trưởng thấp hơn năm 2005 do sản xuất công nghiệp giảm (dầu thô khai thác đạt 17 triệu tấn, thấp hơn mức 18,5 triệu tấn của năm 2005); công nghiệp chế biến và điện, nước, ga cũng giảm so với mức tăng trưởng năm trước) Khu vực dịch vụ tăng cao hơn mức tăng trưởng chung của nền kinh tế, trong đó một số ngành có tỷ trọng lớn vẫn duy trì được mức độ tăng cao như thương nghiệp; vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, khách sạn, nhà hàng, tài chính ngân hàng, bảo hiểm Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng tỷ trọng khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 40,97% năm 2005 lên 41,52% trong năm nay; khu vực dịch vụ tăng từ 38,01% lên 38,08%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 21,02% xuống còn 20,40% Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của Việt Nam đạt mức cao, đứng thứ 19 trên thế giới và đứng thứ 5 trong ASEAN+3 Điều này biểu thị nền kinh tế nước ta đang tiếp tục chuyển đổi mạnh theo hướng công nghiệp hoá
Tăng trưởng GDP thực tế của ASEAN+3 năm 2006
(ước thực hiện)
Trang 27 Inđônêxia 5,6 5,4
(Nguồn: WB, ADB, GSO)
Tuy nền kinh tế đạt mức tăng trưởng cao nhưng hiệu quả và chất lượng tăng trưởng chưa
có chuyển biến đáng kể, chưa tương xứng với tiềm năng và đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng vẫn là yếu tố vốn (chiếm khoảng 60%), hàm lượng trí tuệ, khoa học và công nghệ trong sản phẩm và dịch vụ còn thấp Chất lượng tăng trưởng, nhất là sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa có những cải thiện đáng kể, đời sống nhân dân nhiều nơi ở nông thôn, nhất là miền núi, vùng thường bị thiên tai vẫn còn nhiều khó khăn So với thế giới nói chung và nhóm ASEAN+3, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn ở mức thấp GDP bình quân đầu người tính theo sức mua của Việt Nam xếp thứ 156 trên thế giới và thứ 10 trong nhóm ASEAN+3, chỉ hơn Lào, Campuchia và Mianma
GDP bình quân đầu người của ASEAN+3 năm 2006
TT ASEAN+3 GDP đầu người theo ngang giá sức
mua (PPP/USD) TT thế giới
(Nguồn: WB, ADB)
Khái quát lại, mặc dù năm 2006 có nhiều khó khăn và thách thức, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng cao và phát triển Các chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế và các lĩnh vực then chốt đều đạt kết quả cao hơn so với năm trước Tổng sản phẩm trong nước tăng
Trang 38,17%, với xu hướng tốc độ tăng của quí sau cao hơn quí trước và có sự gia tăng của cả ba khu vực sản xuất và dịch vụ Sản xuất tăng và giá tiêu dùng tăng thấp hơn mức tăng trưởng nên đời sống dân cư được cải thiện Xuất khẩu tăng trưởng cao và tăng nhanh hơn tốc độ tăng nhập khẩu nên đã giảm dần được nhập siêu và tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu Đầu tư từ nguồn trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài tăng mạnh Tỷ giá tăng thấp góp phần ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Tình hình xã hội ổn định, văn hoá, y tế, giáo dục tiếp tục phát triển
Là năm đầu của kế hoạch 5 năm, mức tăng trưởng năm nay tuy đạt thấp hơn năm 2005 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng 6,89% của năm 2001, là năm đầu của kế hoạch
5 năm trước và các kết quả đạt được sẽ là sự khởi đầu tốt đẹp cho thực hiện kế hoạch
2006-2010 Việc nước ta chính thức gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO từ tháng 11/2006 và ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới vừa là thuận lợi và vừa là thách thức đòi hỏi nền kinh tế nước ta phải có sự chuyển đổi thích hợp và mạnh mẽ cả về cơ cấu ngành và cơ cấu sản phẩm, đồng thời cần nâng cao chất lượng tăng trưởng, hiệu quả đầu tư và tăng sức cạnh tranh của sản xuất và nền kinh tế
2 Chỉ số giá tiêu dùng
Tình hình giá cả thị trường trong năm 2006 tương đối ổn định Nhờ sự ổn định kinh tế vĩ
mô và các cân đối lớn như: thu chi ngân sách, cân đối tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế và tăng cường các biện pháp quản lý thị trường và giá cả, chỉ số giá tiêu dùng năm 2006 tăng 6,6% ( năm 2005 chỉ số giá tăng 8,4%), thấp hơn mức tăng trưởng và đạt mục tiêu về lạm phát mà Quốc hội đã đề ra Giá của tất cả các nhóm hàng hoá và dịch vụ trong tháng 12 đều tăng so với cuối năm trước, trong đó nhóm hàng lương thực tăng cao nhất là 14,1 %, chủ yếu do giá gạo của thị trường thế giới tăng cao kéo theo gía trong nước tăng lên Nhóm hàng có chỉ số giá thấp nhất là cước phí bưu chính, viễn thông giảm 2,9%.Các nhóm hàng khác tăng từ 3,5 – 5,9%
Mặc dù vậy, chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam năm 2006 vẫn ở mức cao và trong bảng so sánh với 13 quốc gia ASEAN+3, Việt Nam đứng vị trí thứ 10 Đây cũng là một trong những yếu tố lý giải thực trạng tăng trưởng GDP cao nhưng mức sống của nhân dân chưa có những cải thiện đáng
kể
Chỉ số giá tiêu dùng ASEAN+3 năm 2006
Trang 4TT ASEAN+3 2005 Ước 2006
(Nguồn: ADB, IMF, GSO)
3 Tỷ giá và giá vàng năm 2006
Giá vàng tháng 12/2006 đã tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 27,2% so với cuối năm trước Bình quân giá vàng năm 2006 tăng 36,6% so với năm 2005, trong đó tăng mạnh ở các quí 2 và 3 với các mức tăng tương ứng là 47,6% và 44,5% do giá vàng trên thị trường thế giới tăng cao
Năm 2006 tiếp tục chứng kiến xu hướng ổn định tương đối của tỷ giá VNĐ/USD Giá đô
la Mỹ tháng 12/2006 không tăng so với giá tháng 11, nhưng tăng 1% so với cuối năm 2005 Bình quân giá đô la Mỹ năm nay tăng 0,9% so với năm ngoái và không chênh lệch nhiều giữa các quí, mức giao động chỉ từ 0,9% tới 1,1% Như vậy, nếu quan sát từ năm 2003 đến nay, giá
đô la Mỹ tăng thấp đáng kể so với giá vàng và tăng thấp so với mức tăng giá tiêu dùng
4 Cán cân tài khoản vãng lai và nợ nước ngoài
Trong năm 2006, cán cân thanh toán của Việt Nam đã có những tiến triển khả quan Mặc
dù bị tác động bởi thâm hụt trong cán cân thương mại, nhưng tài khoản vãng lai của Việt Nam năm 2006 đạt số dư + 1,03 tỷ USD, đứng thứ 49 của thế giới và thứ 9 trong nhóm ASEAN+3
Cán cân tài khoản vãng lai 2006
(triệu USD) So với thế giới
Trang 56 Philíppin 5.355 32
(Nguồn: ADB, CIA-worldfactbook, IMF)
Theo số liệu của Bộ Tài chính, tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam hiện nay vào khoảng
11 đến 15 tỷ USD Cả số nợ tuyệt đối và tỷ lệ nợ/GDP đều đã giảm đi so với năm 2000 vì Chính phủ đã và đang trả nợ dần Hiện tất cả số nợ từ câu lạc bộ Luân Đôn và Paris đã được giải quyết hết, chỉ còn lại số nợ vay các nước phương Tây và hơn 90% số nợ này là vay ưu đãi ODA, khoản vay thương mại rất nhỏ Năm 2000, tỷ trọng nợ trong GDP là 39%, năm 2001 giảm còn 37,4% Tỷ trọng này trong các năm 2002 và 2003 là 34%, năm 2005 là 35,8% và năm 2006 là 36,6% Tính bình quân trong 5 năm 2001-2005 là 35,6% Tuy nhiên, theo ước tính của IMF và WB, tổng nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2006 vào khoảng 19,17 tỷ USD, đứng thứ 62 thế giới và thứ 9 trong nhóm ASEAN+3
Nợ nước ngoài của các nước ASEAN+3 năm 2006
(triệu USD)
Thứ hạng thế giới
Trang 613 Brunây 201
(Nguồn: ADB, CIA-worldfactbook,)
* Các công cụ chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành linh hoạt nhằm giảm áp lực tăng
tổng phương tiện thanh toán, ổn định lãi suất thị trường, ổn định tiền tệ, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế, đồng thời kiềm chế lạm phát ở mức thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế
Cơ chế quản lý ngoại hối tiếp tục được hoàn thiện theo hướng thông thoáng đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Dư nợ vay của Chính phủ và dư nợ nước ngoài của quốc gia nằm trong giới hạn an toàn cho phép
Hoạt động của thị trường chứng khoán khá sôi động, tốc độ tăng trưởng nhanh Năm 2006,
có 193 công ty niêm yết và đăng ký giao dịch tại các trung tâm giao dịch chứng khoán với tổng giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 221.156 tỷ đồng ( tương đương 14 tỷ USD), chiếm 22,7% GDP
5 Ngân sách và chính sách tài khóa
Trong năm 2006 việc thực hiện Ngân sách nhà nước gặp không ít khó khăn và thách thức lớn của thiên tai như (hạn hán, lũ lụt, bão số 1, số 6 và số 9), và các bất thường về thời tiết khác; dịch bệnh trong nông nghiệp giá xăng dầu và nhiều nguyên vật liệu đầu vào quan trọng của sản xuất tăng mạnh, một số mặt hàng xuất khẩu chịu sức ép cạnh tranh không bình đẳng của nước ngoài Tuy nhiên, nhiệm vụ thu, chi Ngân sách nhà nước tiếp tục đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch Ngân sách nhà nước giai đoạn 2006 -2010
Tổng thu Ngân sách nhà nước năm 2006 đạt 272.887 tỷ đồng,vượt 11,0% so với dự toán, tăng 19,1% so với thực hiện của năm 2005; trong đó thu từ dầu thô đạt 80.085 tỷ đồng, thu từ viện trợ không hoàn lại 3.618 tỷ đồng, thu nội địa thực hiện là 137.539 tỷ đồng
Tổng chi ngân sách nhà nước đạt 321.377 tỷ đồng vượt 9,2 % so với dự toán, trong đó chi đầu tư phát triển 86.400 tỷ đồng, chi thường xuyên 162.645 tỷ đồng, chi trả nợ và viện trợ 40.800 tỷ đồng Bội chi ngân sách nhà nước 48.500 tỷ đồng, bằng 4,98 % GDP (bằng dự toán năm), được bù bằng các nguồn vay trong nước và nước ngoài theo đúng kế hoạch được duyệt
6 Thương mại của Việt Nam đạt kết quả cao
Năm 2006 tổng kim ngạch xuất-nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng mạnh, đạt 84,7 tỷ USD, tăng 22% so với năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 22,8 %; nhập khẩu tăng 21,4% Nhập siêu khoảng 5,09 tỷ USD, bằng 12,16 % tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm đáng kể so với năm 2005 ( năm 2005 tỷ lệ nhập siêu là 14,1%)
- Về xuất khẩu: Xuất khẩu năm 2006 đạt trên 39,8 tỷ USD,tăng 22,8 % so với năm 2005.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) tăng 31,9 % so với năm 2005 Xuất khẩu dịch vụ năm 2006 đạt 5,1 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm trước
Trang 7Năm nay, nhiều mặt hàng xuất khẩu gặp khó khăn như giầy dép bị áp thuế chống bán phá giá, thủy sản bị kiểm duyệt gắt gao về dư lượng kháng sinh nhưng do chủ động da dạng hóa mặt hàng và thị trường xuất khẩu nên các mặt hàng trên vẫn đạt được kim ngạch xuất khẩu cao Năm 2006, xuất khẩu vào thị trường Mỹ gần 7,83 tỷ USD, tăng 35%, thị trường EU trên
7 tỷ USD, tăng 30%, thị trường Nhật Bản trên 5 tỷ USD, tăng 19% Có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, tăng 2 mặt hàng so với năm 2005 là cà phê và cao su, trong
đó có 4 mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu vượt 3 tỷ USD đó là: dầu thô đạt 8.265 triệu USD, tăng 12,1% so cùng kỳ năm 2005; dệt may đạt 5.384 triệu USD, tăng 20,6%; giầy dép đạt 3.592 triệu USD, tăng 18,2%; thủy sản 3.358 triệu USD, tăng 22,6%; các mặt hàng đạt trên 1
tỷ USD là sản phẩm gỗ đạt 1,933 tỷ USD, điện tử vi tính đạt 1,708 tỷ USD, gạo đạt 1,276 tỷ USD, cao su đạt 1,285 tỷ USD và cà phê đạt 1,217 tỷ USD
So với các nước ASEAN+3, giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ của Việt Nam đứng thứ 9 trong số 13 quốc gia, nhưng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chỉ sau Lào (49%) và Trung Quốc (24,4%), vượt mức tăng trưởng của các cường quốc xuất khẩu của khu vực như Xinhgapo (15,2% và Malaixia (13,6%)
Bảng kim ngạch xuất khẩu ASEAN+3 năm 2006
TT ASEAN+3 Giá trị XK
(triệu USD)
Tăng % so với 2005
Thứ hạng TG
về GTXK
(Nguồn: ADB)
- Về nhập khẩu: Năm 2006 nhập khẩu hàng hóa đạt trên 44,89 tỷ USD, tăng 21,4 % so với
Trang 8năm 2005 Trong đó các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhập khẩu đạt 16,5 tỷ USD, chiếm 36,9% tổng kim ngạch nhập khẩu và tăng 20,9% so với năm 2005
Nhập khẩu máy móc, thiết bị và hầu hết các vật tư, nguyên liệu cho sản xuất trong nước đều tăng so với năm trước, đặc biệt là nhiều loại vật tư chủ yếu (trừ xăng dầu, phôi thép và phân u rê) đều tăng khá Nhập khẩu máy móc, thiết bị tăng 24,1%; xăng dầu 5,8 tỷ USD, tăng 16,4% (nhưng lượng nhập giảm 3,8%); phân bón tăng 5,1%; chất dẻo tăng 26,8%; hoá chất 18,6%; giấy các loại tăng 30,5%; vải tăng 23,1%; riêng nguyên phụ liệu dệt, may, da giảm 14,1%, và đang có xu hướng giảm do tăng sản xuất thay thế ở trong nước; sắt, thép 2,9 tỷ USD, giảm 0,9%, nhưng lượng tăng 1,8% do giảm giá Nhập khẩu dịch vụ năm 2006 đạt 5,12 tỷ USD, tăng 14,3% so với năm trước, trong đó du lịch tăng 16,7% và cước phí vận tải, bảo hiểm chiếm 33,7%, tăng 20,1%
Tổng giá trị nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam đứng thứ 48 trên thế giới và thứ 9 trong ASEAN+3, tuy nhiên mức tăng trưởng nhập khẩu của Việt Nam cao nhất trong khu vực Điều này cũng phù hợp với một nền kinh tế mà sản xuất kinh doanh đang phát triển với tăng trưởng GDP đạt 8,17 % và đời sống nhân dân đang ngày càng được nâng cao
Bảng kim ngạch nhập khẩu của ASEAN+3 năm 2006
TT ASEAN+3 Giá trị NK
(triệu USD)
Tăng % so với 2005
Thứ hạng TG
về GTNK
(Nguồn: ADB)
Về thương mại nội địa
Trang 9Thương mại nội địa năm 2006 tiếp tục phát triển Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội ước đạt khoảng 580,7 nghìn tỷ đồng (tính theo giá thực tế) tăng 20,9% so với năm 2005 và tăng trên 13%, nếu loại trừ yếu tố lạm phát, đây là mức tăng tương đối cao so với tăng trưởng kinh tế và điều này chứng tỏ sức mua và tiêu dùng của dân cư tăng lên
Trong thương mại bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ xã hội, kinh tế nhà nước tăng 8,2%; kinh tế tập thể tăng 20,8%; kinh tế cá thể tăng 22,4%; kinh tế tư nhân tăng 25%; kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài tăng 21,5% Phân tích theo ngành kinh tế, thương nghiệp tăng 19,9%; khách sạn, nhà hàng tăng 22,3%; dịch vụ tăng 31,6% và du lịch lữ hành, chiếm 0,7% tổng mức nhưng tăng 30,5%
Nhìn chung, thị trường nội địa tiếp tục phát triển tương đối mạnh, sôi động, khối lượng, chất lượng hàng hoá liên tục tăng và không xảy ra tình trạng thiếu hụt, mất cân đối lớn giữa cung và cầu Các mặt hàng quan trọng, thiết yếu được bảo đảm nguồn cung trong mọi tình huống Lưu thông hàng hoá được đảm bảo ở cả thị trường thành thị, nông thôn và miền núi Phương thức đáp ứng nhu cầu mua bán, tiêu dùng trong nước ngày càng đa dạng và văn minh hơn (như siêu thị, trung tâm thương mại, mua bán thanh toán qua thẻ, mua bán tự chọn) phần nào thể hiện trình độ tiêu dùng của xã hội được nâng cao một bước theo hướng văn minh, hiện đại Trong báo cáo thường niên 2006 về chỉ số phát triển bán lẻ toàn cầu 2006, Công ty
Tư vấn quản lý quốc tế A.T.Kerney đã xếp hạng thị trường bán lẻ Việt Nam đứng thứ 3 trong
số 30 thị trường có chỉ số phát triển bán lẻ hàng đầu thế giới và coi Việt Nam là cơ hội vàng
để các nhà bán lẻ quốc tế đầu tư khai thác tiềm năng này Trong bảng xếp hạng này còn có 4 quốc gia khác trong khu vực được xếp hạng là Trung Quốc thứ 5, Thái Lan 12, Hàn Quốc 13
và Malaixia 14
Tuy nhiên, thương mại nội địa của Việt Nam năm 2006 vẫn còn tồn đọng một số hạn chế nhất định như: việc sắp xếp, tổ chức lại hệ thống phân phối nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, ngăn chặn đầu cơ, lũng đoạn thị trường chưa được triển khai có hiệu quả cao; phương thức phân phối, kinh doanh theo hướng văn minh hiện đại nhằm nâng cao sức cạnh tranh khi Việt Nam mở cửa rộng hơn thị trường phân phối chậm phát triển; vấn đề xây dựng hệ thống thông tin thị trường và cơ chế giám sát kinh doanh các hàng hoá cơ bản trong nền kinh tế mặc
dù đã được quan tâm song chưa hiệu quả, dẫn đến các quyết định điều hành thị trường thiếu chính xác, kịp thời và mối liên kết lợi ích lâu dài giữa sản xuất và lưu thông, giữa nhà nông với doanh nghiệp trong cung ứng vật tư hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm chưa được tăng cường
đúng mức (Nguồn: GSO, ADB)
7 Đầu tư của Việt Nam năm 2006
Tình hình huy động và sử dụng vốn
Năm 2006 là một năm thành công về thu hút các nguồn vốn Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước khoảng 41% GDP, đứng thứ 8 thế giới và thứ 2 trong ASEAN+3, sau Trung Quốc (44,3%) vượt Hàn quốc (29,1%), Thái Lan (28,7%), Nhật Bản 23,7%; Xinhgapo (21,8%),
Trang 10Inđônêxia 20,7%, Malaixia 19,9%, Campuchia 18,7%, Philíppin 14,3% và Mianma 11,8% Đây là tín hiệu đáng mừng về bùng nổ đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam và thành công của Đảng và Nhà nước trong các nỗ lực cải thiện môi trường và tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy các hoạt động đầu tư và kinh doanh ở Việt Nam
Trong năm 2006, thực hiện vốn đầu tư theo giá thực tế ước đạt 398,9 nghìn tỷ đồng, bằng
105,9% kế hoạch năm đề ra, trong đó vốn Nhà nước chiếm tỷ trọng 50,1%, bằng 103,2%; vốn ngoài nhà nước chiếm 33,6%, bằng 105,7% kế hoạch năm; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 16,3%, bằng 116,1% kế hoạch năm Mặc dù vốn nhà nước vẫn là nguồn quan trọng nhất của nền kinh tế, nhưng trong năm 2006 tỷ trọng vốn đầu tư khu vực nhà nước đã có xu hướng giảm dần từ 51,5% năm 2005 xuống 50,1% trong khi tỷ trọng nguồn vốn của khu vực ngoài nhà nước tăng mạnh Đây là tín hiệu tích cực đối với nền kinh tế thị trường đang hình thành, phần nào phản ánh môi trường đầu tư đã và đang được cải thiện Các nỗ lực thu hút nguồn vốn hỗ trợ phát triển ODA đạt kết qủa tích cực với tổng vốn cam kết tài trợ cho năm 2006 là 4,445 tỷ USD, tăng 700 triệu USD so với năm 2005, là mức cao nhất từ trước đến nay Đồng thời các nhà tài trợ đã khẳng định sự ủng hộ tích cực Việt nam thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 Đây là kết quả quan trọng tạo điều kiện để triển khai các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn và các dự án giao thông quan trọng quốc gia
Vốn ODA năm 2006 được hợp thức hóa thông qua các hiệp định ký kết với các nhà tài trợ đạt tổng giá trị 2,666 tỷ USD, trong đó vốn vay đạt 2,412 tỷ USD và vốn viện trợ đạt
254 triệu USD Giải ngân nguồn vốn ODA đạt 1,78 tỷ USD, bằng 101% kế hoạch, cao h ơn mức giải ngân của năm 2005, trong đó vốn vay đạt 1,577 tỷ USD, vốn viện trợ đạt 203 triệu USD
Vốn đầu tư gián tiếp (FII) nước ngoài vào Việt Nam mặc dù còn thấp nhưng trong xu hướng tăng nhanh và ước đạt 3 tỷ USD
Nguồn kiều hối tiếp tục đóng vai trò quan trọng, ước đạt 4 tỷ USD bằng mức của năm 2005
Năm 2006 đánh dấu sự tăng trưởng ngoạn mục của nguồn vốn FDI cả thu hút vốn ( cấp phép mới và vốn tăng thêm) và vốn thực hiện.Tổng vốn cấp phép mới và tăng thêm đạt 10,47
tỷ USD, tăng 49,1 % so với năm 2005 Trong đó vốn đầu tư cấp phép mới là 7,84 tỷ USD, vốn tăng thêm là 2,632 tỷ USD, tăng 66,6% về vốn đăng ký cấp mới và tăng 10,6 % về số vốn tăng thêm.Cả nước có 833 dự án FDI mới, với quy mô dự án có mức vốn bình quân đạt 9,4 triệu USD/ dự án, cao hơn so với năm 2005 (4,6 triệu USD/ dự án) và năm 2004 (3 triệu USD/ dự án)
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm 2005
Đây là năm nước ta có vốn FDI cao nhất trong gần hai thập kỷ vừa qua, kể từ khi Quốc hội