1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bé KÕ ho¹ch vµ §Çu t­

7 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bé KÕ Ho¹ch Vµ §Çu T­
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế và Phát triển Công nghệ
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 74,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bé KÕ ho¹ch vµ §Çu t­ Phát triển công nghệ – Những bài học của Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) 1 Những thành công trong chiến lược nhập khẩu và phát triển công nghệ của Hàn Quốc Một trong những thàn[.]

Trang 1

Phát triển công nghệ – Những bài học của Hàn Quốc và Đài Loan

(Trung Quốc)

1 Những thành công trong chiến lược nhập khẩu và phát triển công nghệ của Hàn Quốc

Một trong những thành công lớn nhất trong quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc những năm qua là chiến lược nhập khẩu và phát triển công nghệ Đây cũng là vấn đề được các nước đang phát triển rất quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế của mình Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hơn nữa lại có nhiều điểm tương đồng với Hàn Quốc nên có thể học tập được những kinh nghiệm về chiến lược nhập khẩu và phát triển công nghệ của nước này

Phát triển công nghệ thông qua chính sách thúc đẩy hoạt động R&D

Đặc điểm nổi bật nhất trong chiến lược công nghiệp hóa, thúc đẩy năng lực nghiên cứu và triển khai (R&D), tạo thuận lợi cho xuất khẩu của Hàn Quốc là việc Chính phủ thúc đẩy sự tăng trưởng của các hãng tư nhân khổng lồ trong nước (được gọi là các chaebol) Các chaebol được coi là những đầu tàu kéo nền kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, giành ưu thế trong cạnh tranh, tạo điều kiện đưa đất nước vươn lên khai thác

và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường khu vực và thế giới, cạnh tranh thành công với các tập đoàn của các nước phát triển Do đó, ở Hàn Quốc hình thành thể chế đại doanh nghiệp, lấy đại doanh nghiệp làm trung tâm của tăng trưởng kinh tế mà về thực chất là lấy các công ty xuyên quốc gia (TNC) làm chỗ dựa vững chắc cho sự phát triển kinh tế quốc gia Đây là một trong những trụ cột trong chiến lược phát triển công nghệ của Hàn Quốc Các chaebol được chọn ra từ những hãng xuất khẩu thành công và được hưởng một loạt trợ cấp và đặc quyền, bao gồm việc hạn chế các công ty đa quốc gia tham gia thị trường, hỗ trợ chiến lược tạo vốn và các hoạt động phát triển công nghệ hướng vào xuất khẩu Các chaebol

có đủ điều kiện để tiếp thu các công nghệ phức tạp, tiếp tục phát triển các công nghệ đó bằng hoạt động R&D của mình, xây dựng các cơ sở nghiên cứu đạt đẳng cấp thế giới và tạo

ra các thương hiệu và mạng lưới phân phối riêng

Chính phủ Hàn Quốc đã hỗ trợ phát triển công nghệ theo nhiều phương pháp khác nhau Chính phủ đã thúc đẩy trực tiếp hoạt động R&D của khu vực tư nhân bằng các biện pháp khuyến khích, bao gồm miễn thuế cho các quỹ phát triển công nghệ, cho nợ thuế đối với các khoản chi R&D cũng như nâng cao chất lượng nguồn nhân lực liên quan đến nghiên cứu và xây dựng các viện nghiên cứu công nghiệp Tập đoàn Phát triển công nghệ Hàn Quốc có nhiệm vụ giúp đỡ các hãng thương mại hóa kết quả nghiên cứu Tuy vậy, sự ưu đãi dành cho hoạt động R&D vẫn chưa lớn bằng chính sách ưu đãi chung mà Chính phủ Hàn Quốc dành cho các chaebol, ví dụ được bảo hộ về thị trường để làm chủ các công nghệ phức tạp, giảm thiểu sự phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), và buộc họ phải đầu tư nâng cao năng lực nghiên cứu của mình để cạnh tranh trên thị trường quốc tế

Chính sách khuyến khích phát triển R&D đã thúc đẩy các hãng nhập khẩu công nghệ, phát triển năng lực công nghệ nội sinh từ đó nhiều hãng lớn sau này có thể hợp tác bình đẳng với các hãng công nghệ hàng đầu thế giới Trong lĩnh vực nhà máy và công trình kỹ thuật, Chính phủ khuyến khích các nhà thầu nước ngoài chuyển giao kiến thức thiết kế cho các hãng trong nước Nhờ vậy, Hàn Quốc đã có thể sử dụng công nghệ nhập khẩu để phát triển năng lực trong các hoạt động tiên tiến, chứ không còn thụ động phụ thuộc vào các dòng kỹ năng và đổi mới của nước ngoài

Nhập khẩu công nghệ thông qua FDI và chuyển giao giấy phép

Trang 2

Nhập khẩu công nghệ ở Hàn Quốc và hoạt động chuyển giao công nghệ đã được chú ý trong các thập kỷ 70, 80 và 90 của thế kỷ trước Chính phủ đã có những chính sách nhập công nghệ qua các giai đoạn: 1978-1984, 1985-1994 (được coi là giai đoạn thông thoáng nhất) và giai đoạn từ sau 1994, được gọi là “Chiến lược Quốc tế hóa kinh tế mới” nhằm tự

do hóa mà thực chất là đơn giản hóa các thủ tục nhập công nghệ Công nghệ có thể được du nhập vào Hàn Quốc theo nhiều cách (trực tiếp hoặc gián tiếp), gồm đầu tư 100% vốn nước ngoài, liên doanh, hợp tác công nghệ, mua toàn bộ trang thiết bị sản xuất, chuyển giao giấy phép, chuyển giao kỹ năng, tài trợ kỹ thuật, mua máy móc thiết bị Hai hình thức quan trọng nhất trong nhập khẩu công nghệ của Hàn Quốc là hình thức chuyển giao giấy phép và thông qua FDI Nhật Bản là đối tác quan trọng nhất của Hàn Quốc trong lĩnh vực này

Một kênh nhập khẩu công nghệ quan trọng ở Hàn Quốc là thông qua FDI Các doanh nghiệp FDI chỉ được phép hoạt động ở những lĩnh vực cần thiết và được Chính phủ kiểm soát chặt chẽ Doanh nghiệp với tỷ lệ sở hữu vốn nước ngoài lớn chỉ được kinh doanh trong các ngành nghề tiếp cận được các công nghệ không phổ biến, hoặc thúc đẩy xuất khẩu Chính phủ can thiệp vào những hợp đồng công nghệ chính để tăng cường năng lực của người mua trong nước và tối đa hóa sự tham gia của các nhà tư vấn trong nước trong các hợp đồng kỹ thuật để phát triển các năng lực công nghệ cơ bản

Một hình thức nhập khẩu công nghệ khác của Hàn Quốc là xu hướng thông qua hợp đồng chuyển giao giấy phép từ công ty xuyên quốc gia Nếu nhìn từ quan điểm mang tính dài hạn, thì việc nhập khẩu công nghệ của Hàn Quốc không chỉ nhằm nâng cao cơ sở kỹ thuật mà còn nhằm đẩy mạnh hệ thống sản xuất, tăng sức cạnh tranh về giá cả, linh hoạt với những thay đổi ngắn hạn của thị trường Đó chính là sự khác biệt về mục đích nhập khẩu công nghệ nước ngoài so với các nước châu á khác Đồng thời, điều này cũng rất giống với quá trình nhập khẩu công nghệ trước đây của Nhật Bản

Ngoài ra, việc nhập khẩu công nghệ của Hàn Quốc còn được thúc đẩy bằng các chính sách khuyến khích thuế: Giảm thuế cho các chi phí chuyển giao sáng chế và chuyển giao công nghệ; miễn thuế thu nhập từ hoạt động tư vấn công nghệ; miễn thuế thu nhập cho các

kỹ sư nước ngoài

Cách tiếp cận chiến lược để nhập khẩu công nghệ ở các công ty công nghệ cao

Các công ty công nghệ cao luôn có sự cân nhắc đến năng lực công nghệ của mình

Để có hợp đồng chuyển giao giấy phép, các hãng cần phải có năng lực công nghệ để nhập khẩu và ứng dụng công nghệ Năng lực công nghệ ở đây được hiểu không chỉ bao gồm năng lực đồng hóa công nghệ hiện có để bắt chước, mà còn phải có năng lực tạo ra công nghệ mới để đổi mới Ngoài ra các công ty nhập khẩu công nghệ còn nỗ lực tìm cách tiếp thu tối đa lượng tri thức hàm chứa ở các công nghệ nhập về Các tri thức ở đây có cả ở dạng ẩn và dạng hiện (Tri thức ẩn là loại tri thức khó hệ thống hóa và truyền đạt; chỉ có thể truyền đạt thông qua hành động, tham gia vào bối cảnh cụ thể; chỉ thu nhận được thông qua kinh nghiệm, chẳng hạn như quan sát, bắt chước và thực hành Tri thức hiện là tri thức được hệ thống hóa và có khả năng truyền đạt bằng ngôn ngữ hình thức, hệ thống như cuốn sách, bản thiết kế kỹ thuật và tài liệu đi kèm theo máy móc /thiết bị /dây chuyền gia công lắp ráp)

Một điều không kém phần quan trọng và cũng là thế mạnh của Hàn Quốc nói chung cũng như các công ty công nghệ cao nói riêng là hiệu quả tích luỹ công nghệ trong ngành điện - điện tử Ngành công nghiệp bán dẫn của Hàn Quốc là một điển hình với những bước tiến nhảy vọt trong thời gian qua Việc sản xuất và kinh doanh lĩnh vực này được khởi đầu

Trang 3

với hình thức dựa hoàn toàn vào việc nhập công nghệ của nước ngoài và sau đó các doanh nghiệp lớn của Hàn Quốc như SAMSUNG, GOLDSTAR đã thành công trong việc làm chủ

và tạo ra công nghệ cho riêng mình Từ giữa thập kỷ 90 đến nay, công nghệ sản xuất DRAM của Hàn Quốc đã ngang bằng với trình độ các nước tiên tiến như Mỹ, Nhật Bản

Tóm lại, trong việc thúc đẩy quá trình nhập khẩu và phát triển công nghệ của Hàn

Quốc, có thể rút ra những đặc điểm chính sau đây:

- Dòng công nghệ nhập khẩu vào Hàn Quốc chủ yếu từ Mỹ và Nhật Bản, và các nước

có công nghệ phát triển cao khác Những công nghệ nhập khẩu chủ yếu tập trung vào các ngành: Điện - điện tử, hoá công nghiệp, máy móc thiết bị, vận tải

- Con đường nhập khẩu công nghệ của Hàn Quốc chủ yếu là thông qua các hợp đồng chuyển giao giấy phép từ các công ty đa quốc gia, sau đó mới là nhập khẩu các công nghệ, thiết bị máy móc Nhập khẩu công nghệ theo giấy phép giữa Hàn Quốc và Nhật Bản được coi như điển hình cho sự thành công mà nhiều nước khác cần học tập

- Phần lớn những công nghệ mà các doanh nghiệp Hàn Quốc nhập khẩu về là những công nghệ trọng tâm được tiêu chuẩn hoá hoặc phổ cập hoá, là những công nghệ hoàn chỉnh, tạo ra sản phẩm hàng loạt và có chất lượng, khả năng cạnh tranh cao trên thị trường nội địa cũng như trị trường xuất khẩu

- Chính phủ Hàn Quốc đã có những chính sách hợp lý trong việc khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ, làm chủ và sáng tạo công nghệ Đồng thời, Chính phủ và các doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ trong việc thống nhất điều chỉnh dòng công nghệ nhập khẩu, các chủng loại công nghệ phù hợp với đặc điểm, năng lực trong nước cũng như nắm bắt được cơ hội thị trường quốc tế nên việc nhập khẩu công nghệ đạt hiệu quả kinh tế cao

2 Kinh nghiệm phát triển công nghệ cao của Đài Loan (Trung Quốc) về phát triển công nghệ cao

Từ cuối thập kỷ 1990, Đài Loan đã trở thành một trong những nước hàng đầu về công nghiệp viễn thông và bán dẫn, với giá trị sản xuất đứng vị trí thứ 3 thế giới Những thành công trong việc chuyển đổi từ một nền kinh tế công nghiệp truyền thống sang phát triển công nghệ cao đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu Trong quá trình phát triển công nghệ của Đài Loan có thể rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc phát triển khoa học công nghệ

Tiếp thu và sáng tạo công nghệ nước ngoài

Trong số 10 nước hàng đầu về bằng sáng chế, Đài Loan được xếp vị trí thứ 3 thế giới, đứng sau Mỹ, Nhật và Đức với 6.550 bằng sáng chế trong năm 2001 (trong khi của Pháp là 4.460 và Hàn Quốc là 3.760) Đổi mới công nghệ của Đài Loan chủ yếu tập trung vào sản xuất thiết bị viễn thông và linh kiện điện tử với mức cao nhất ở ngành bán dẫn, chiếm 1/4 tổng số sáng chế Trong phát triển công nghệ, tính độc lập của Đài Loan ngày càng rõ nét Mặc dù công nghệ Mỹ là nguồn chủ yếu để học hỏi, song công nghệ và tri thức này đã được hấp thụ và nội địa hoá để trở thành công nghệ bản địa (tỷ lệ trích dẫn sáng chế của Đài Loan tăng từ 11,6% lên 20,1% tương ứng với mức giảm tỷ lệ trích dẫn công nghệ Mỹ từ 56,7% xuống 50,2% trong thời kỳ 1993-2001) Đài Loan không chỉ gửi nhiều kỹ sư và cán bộ nghiên cứu triển khai đến Mỹ học mà còn sử dụng nhiều bằng sáng chế của Mỹ và thu hút được nhiều nhà khoa học từ Mỹ trở về Đây chính là nguyên nhân của mối quan hệ gần gũi trong trích dẫn sáng chế công nghệ Mỹ

Đài Loan không chỉ có thứ hạng cao về số bằng sáng chế được cấp mà còn giữ vị trí

Trang 4

cao trong luồng chuyển giao tri thức quốc tế Nếu năm 1990, số trích dẫn sáng chế Đài Loan

so với Mỹ chỉ bằng 0,66% (thứ 10 thế giới), năm 1995 bằng 1,5% (thứ 7), thì đến năm 2000

đã đạt 4,35%, vươn lên đứng thứ 3 thế giới và năm 2001 đã là 6,37% Hầu hết sáng chế trong giai đoạn 1996-2001 của Đài Loan thuộc lĩnh vực điện tử, tin học Ngành có mức tăng trưởng cao là bán dẫn, trò chơi điện tử, xử lý số liệu, máy tính với mức tăng trưởng trung bình hàng năm 20%

Những năm gần đây, Đài Loan đã chuyển từ vai trò học hỏi sang sáng tạo công nghệ Đài Loan đã có những tiến bộ vượt bậc cả về số lượng và tốc độ tăng trưởng sáng chế trong công nghiệp linh kiện điện tử và thiết bị viễn thông Trên phương diện trích dẫn sáng chế, Đài Loan là một trong 10 nước hàng đầu thế giới Năm 2001, Đài Loan đã vươn lên đứng hàng thứ 3 sau Mỹ và Nhật Bản Những thành công này cho thấy mức độ đóng góp ngày càng nhiều của Đài Loan vào phát triển tri thức công nghệ toàn cầu

Cùng với sáng tạo công nghệ, các doanh nghiệp và cơ quan nghiên cứu triển khai Đài Loan đã dành những nỗ lực đáng kể để nâng cao trình độ tổ chức học hỏi nhằm nâng cao năng lực sản xuất hàng loạt Quá trình nâng cao năng lực tổ chức đổi mới công nghệ Đài Loan cho thấy: Khi giành được vị trí chủ chốt trên thị trường thế giới (khoảng 30% thị phần), Đài Loan đã theo sát các nước hàng đầu về năng lực công nghệ và khả năng sản xuất

Do đó đã lựa chọn được một chiến lược phát triển với những bước đi thích hợp trong tổ chức đổi mới công nghệ Nhìn chung, năng lực tổ chức quản lý công nghệ và quản lý chất lượng sản phẩm mới đã được nâng cao thường xuyên, liên tục Nhờ vậy, thời gian từ khi bắt đầu sản xuất đến khi chiếm lĩnh vị trí trọng yếu trên thị trường giảm nhanh (chỉ mất 8 năm

để giành được 40% thị phần thế giới về máy tính xách tay, 4 năm trong lĩnh vực đầu đọc đĩa CD-ROM và chừng 2 năm cho màn hình tinh thể lỏng)

Đài Loan đã thu hút được vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nhưng ảnh hưởng của FDI không phải chủ yếu ở năng lực công nghệ mà là năng lực quản lý ảnh hưởng này rõ nét thông qua nguồn nhân lực được chuyển giao từ các doanh nghiệp FDI Các công ty Đài Loan không chỉ học kỹ năng quản lý từ các công ty FDI mà còn tạo ra nhiều hệ thống quản

lý sản phẩm Mặt khác, do hầu hết các cơ sở là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên luồng di chuyển nhân lực dễ ràng và có điều kiện học hỏi lẫn nhau để hoàn thiện hệ thống quản lý Thông qua học hỏi phát triển công nghệ, tích luỹ năng lực tổ chức trong thời gian dài ở từng lĩnh vực và trong các doanh nghiệp, Đài Loan đã tạo ra năng lực sản xuất hàng loạt sản phẩm có tính năng công nghệ mới và nâng cấp được nhiều công nghệ đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng của thị trường toàn cầu

Vai trò của Nhà nước trong phát triển khoa học công nghệ

Chính phủ có vai trò quan trọng để phát triển công nghệ, thành tựu của Đài Loan đạt được trong thời gian qua bắt nguồn từ chính sách phát triển kinh tế với những lựa chọn chiến lược phù hợp, tạo tiền đề cho phát triển công nghiệp bán dẫn và công nghệ thông tin Theo tiến trình phát triển, ưu thế của các ngành công nghiệp Đài Loan phù hợp với nhu cầu

và xu thế phát triển toàn cầu

Trong những năm đầu thập niên 1990, điện tử đã trở thành ngành xuất khẩu lớn thứ 2 với năng lực cạnh tranh cao nhờ vào lợi thế lao động rẻ và tính linh hoạt của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Tuy vậy, với nhận thức các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nhân công

có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế trong tương lai, nên ngay trong thập kỷ 90, các nhà hoạch định chính sách Đài Loan đã lựa chọn công nghệ thông tin như một ngành mũi nhọn

hỗ trợ để phát triển công nghệ cao

Trang 5

Sự phát triển công nghệ từ trước tới nay đều do Chính phủ chỉ đạo và khu vực phi chính phủ thực hiện Những biện pháp can thiệp của Nhà nước có thể tiến hành trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ chức nghiên cứu triển khai, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, hỗ trợ tài chính, miễn giảm thuế, cho vay lãi suất thấp và những trợ giúp khác nhằm tạo ưu thế, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu và triển khai (R&D)

Ngoài ra Chính phủ đã nỗ lực xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển

công nghệ cao Chính phủ đã xây dựng các công viên khoa học nhằm tạo môi trường tốt cho

hoạt động R&D và đổi mới công nghệ Điển hình như Công viên Khoa học Tân Trúc, là đơn

vị trực thuộc Hội đồng Khoa học Quốc gia (NSC) được xây dựng năm 1980 Đến cuối 2001, trên địa bàn Công viên đã có 312 công ty khoa học công nghệ hoạt động, tạo ra doanh số bán hàng trên 929,3 tỷ đôla Đài Loan/năm Về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, tháng 8/1994 Chính quyền Đài Loan đã thành lập Uỷ ban Chỉ đạo Phát triển Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin với nhiệm vụ thúc đẩy xây dựng mạng lưới thông tin và các ứng dụng có tính chất đổi mới công nghệ thông tin Chính phủ Đài Loan đã thông qua "Chương trình Phát triển Cơ sở Hạ tầng Thông tin" như một định hướng để đạt được mục tiêu tập trung vào việc phát triển thương mại điện tử; phổ cập Internet trong từng giai đoạn sản xuất công nghiệp… Trong thời đại kinh tế dựa trên tri thức, Chương trình này đã tạo dựng chuỗi cung ứng gồm các hãng trong, ngoài nước tham gia và tạo cơ sở vững chắc để xây dựng mô hình "Đài Loan và chuỗi cung ứng toàn cầu"

Chính sách đào tạo và sử dụng nhân lực khoa học công nghệ

Để đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ nắm bắt kịp công nghệ tiên tiến và tạo ra năng lực phát triển của chính mình, Chính phủ đã thực thi những giải pháp để chuyển giao một số công nghệ chủ chốt được lựa chọn từ các nước tiên tiến; đồng thời thành lập các viện, trung tâm nghiên cứu để khám phá và cấy những công nghệ học hỏi được này vào Đài Loan Nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực được đào tạo, Nhà nước đã có những điều chỉnh chính sách giáo dục phù hợp với mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn Từ mục tiêu phát triển công nghệ cao, Chính phủ đã tăng cường việc bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nghệ So với năm 1976, số người tốt nghiệp đại học các ngành công nghệ năm 2000 tăng 3,3 lần và chiếm trên 52,5% số sinh viên tốt nghiệp

Trong sử dụng lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, động lực quan trọng để thu hút nhân tài là quá trình phân phối lợi nhuận của người lao động Lợi nhuận và sở hữu cổ phần trong các ngành công nghệ cao theo cách Đài Loan không chỉ đưa lợi tức đến người lao động mà cho phép họ trở thành cổ đông của doanh nghiệp Doanh nghiệp được phân chia lợi nhuận trực tiếp một phần bằng tiền mặt và bằng cổ phiếu Hệ thống phân chia lợi nhuận và sở hữu cổ phần đã tạo sức hấp dẫn và thu hút được nhiều lao động tài năng đến làm việc trong các ngành công nghệ cao đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ tin học và điện

tử Với cách làm này, Đài Loan đã không bị chảy máu chất xám mà ngược lại đã thu hút được nhân tài từ bên ngoài vào trong nước

Chính sách tạo vốn đầu tư mạo hiểm

Trong thời kỳ đầu của quá trình phát triển công nghệ cao (năm 1973), Đài Loan đã thành lập Quỹ phát triển để đầu tư và điều phối ngân hàng tái cấp vốn đầu tư mạo hiểm Tuy nhiên, cách làm này chỉ mới tạo ra được một số ít thành công trong phát triển công nghiệp Công ty đầu tư vốn mạo hiểm đầu tiên ra đời ở Đài Loan vào năm 1984, đến năm 1995 bắt đầu tăng mạnh Năm 2001, Đài Loan đã có 199 công ty đầu tư mạo hiểm với tổng số vốn

Trang 6

134,1 tỷ đô la Đài Loan (đứng thứ 2 thế giới) Nguồn vốn của các công ty này được huy động chủ yếu từ các doanh nghiệp địa phương và người dân Đài Loan, 70% nguồn vốn được đầu tư vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư mạo hiểm đã góp phần quan trọng vào phát triển các ngành công nghệ cao

Với những thành công trong quá trình phát triển công nghệ, Đài Loan đã đưa ra mục tiêu trong vòng 5 năm sẽ trở thành một trung tâm đổi mới công nghiệp và R&D của khu vực Châu á - Thái Bình Dương Với những chính sách thu hút nguồn lực khoa học và công nghệ toàn cầu, các nhà hoạch định chính sách Đài Loan hy vọng sẽ tạo được làn sóng mới để phát triển công nghiệp và công nghệ mới trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu

Tổng hợp từ: www.hca.org.vn; www.tapchicongsan.org.vn; www.vnn.vn;

http://www.tchdkh.org.vn http://vst.vista.gov.vn; http//moi.gov.vn

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia

Ngày đăng: 06/01/2023, 00:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w