Bé kÕ ho¹ch vµ ®Çu t BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập Tự do Hạnh phúc TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 6 năm 2019 BÁO CÁO Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 120[.]
Trang 1BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 6 năm 2019
BÁO CÁO
Tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ
về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu
(Tài liệu phục vụ Hội nghị ngày 18/6/2019 tại TP Hồ Chí Minh)
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các công văn số 4277/VPCP-NN ngày 20/5/2019 và số 3336/VPCP-NN ngày 24/4/2019 của Văn phòng Chính phủ về việc chuẩn bị Hội nghị đánh giá kết quả hai năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo kết quả triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao như sau:
I VỀ CÁC KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1 Về xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)
Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 120/NQ-CP, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hiện nay đang tổ chức lập quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ
2021 - 2030 tầm nhìn đến năm 2050 theo phương pháp tích hợp đa ngành theo quy định của Luật Quy hoạch Quy hoạch vùng ĐBSCL mới sẽ tạo ra một khung chiến lược toàn diện cho vùng ĐBSCL, làm cơ sở để triển khai các chương trình, dự án đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật,
hạ tầng xã hội, hạ tầng sản xuất cũng như việc khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực trên cơ sở phát huy những tiềm năng, lợi thế của vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu (BĐKH), xâm nhập mặn để thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội nhanh, bền vững
Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã triển khai thực hiện một số hoạt động chính sau:
(i) Hoàn thành đấu thầu lựa chọn đơn vị tư vấn quốc tế1 có kinh nghiệm
để tổ chức lập quy hoạch Vùng;
(ii) Tiến hành khảo sát ở một số địa phương trong vùng để rà soát, đánh
giá tình thực hiện quy hoạch và xác định các vấn đề liên ngành, liên tỉnh mà quy
1 Liên danh của HaskoningDHV Nederland B.V & Tổ chức hợp tác phát triển Đức GIZ
Trang 2hoạch vùng cần giải quyết; khẩn trương nghiên cứu xây dựng Nhiệm vụ lập quy hoạch vùng ĐBSCL dự kiến trình thẩm định trong tháng 9/2019;
(iii) Hướng dẫn, phối hợp chặt chẽ với các tỉnh, thành phố trong vùng
trong quá trình tổ chức lập quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2020 để đảm bảo sự gắn kết giữa quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh theo quy định của pháp luật về quy hoạch
(iv) Xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu quốc gia về quy hoạch
thí điểm cho vùng ĐBSCL để phục vụ kịp thời cho việc lập quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, thành phố trong vùng Trong giai đoạn trước mắt, Bộ Kế hoạch
và Đầu tư đang phối hợp với Ngân hàng thế giới để số hóa cơ sở dữ liệu về quy hoạch đã được phê duyệt trên địa bàn vùng để Bộ ngành, địa phương có thể tiếp cận đầy đủ, kịp thời thông tin, dữ liệu về quy hoạch phục vụ việc lập quy hoạch thời kỳ 2021-2030
(v) Tổ chức các cuộc hội thảo với cơ quan, tổ chức có liên quan, các địa
phương trong vùng để xác định định hướng phát triển của vùng
Nội dung quy hoạch sẽ tập trung vào một số định hướng chiến lược trên
cơ sở kết quả nghiên cứu sơ bộ như sau:
- Phát triển nông nghiệp theo 2 mục tiêu:
+ Thích ứng với các tác động của biến đổi khí hậu, sử dụng đất và nước một cách bền vững trong tương lai
+ Trở thành động lực tăng trưởng kinh tế của vùng ĐBSCL, hỗ trợ các ngành công nghiệp và dịch vụ dựa trên kinh doanh nông nghiệp để tăng trưởng bền vững
- Phát triển vận tải và logistics phù hợp với điều kiện đặc thù của vùng: + Nâng cấp mạng lưới vận tải thủy giữa vùng ĐBSCL với Thành phố Hồ Chí Minh;
+ Phát triển các trung tâm logistics (có thể kết hợp với các trung tâm vệ tinh) để tập trung, thu gom hàng hóa, hỗ trợ vận tải đa phương thức và cung cấp các dịch vụ gia tăng;
+ Nâng cấp đoàn phương tiện vận tải thủy nội địa - tăng công suất về độ sâu để tăng tính cạnh tranh với vận tải đường bộ
- Xác định các tiểu vùng để tạo động lực phát triển cho vùng ĐBSCL và các tiểu vùng
- Ứng phó với biến đổi khí hậu và tài nguyên nước:
Dự kiến quy hoạch sẽ hoàn thành trong Quý III/2020 theo đúng thời gian quy định tại Nghị quyết 120/NQ-CP
Trang 32 Về rà soát, đánh giá cơ chế thí điểm điều phối vùng theo Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 6/4/2016, các giải pháp hoàn thiện cơ chế điều phối vùng ĐBSCL
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Công văn số 3975/BKHĐT-KTĐPLT ngày 11/6/2019 báo cáo Thủ tướng Thủ tướng Chính phủ về rà soát, đánh giá cơ chế thí điểm điều phối vùng theo Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 06/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, nội dung báo cáo tập trung đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, thách thức và đề ra các giải pháp hoàn thiện cơ chế điều phối vùng Đồng thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất thành lập Hội đồng điều phối vùng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp, liên kết chuỗi chặt chẽ nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của các mặt hàng, nông sản, thủy sản của vùng, với những nội dung cơ bản như sau:
+ Cơ cấu tổ chức: Chủ tịch Hội đồng điều phối vùng Vùng Đồng bằng sông Cửu Long là một Phó Thủ tướng Chính phủ; 02 Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và 01 Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố trong vùng ĐBSCL (thông qua bỏ phiếu)
+ Thành viên Hội đồng: gồm 13 Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố trong vùng; Đại diện Lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Giao thông vận tải, Tài chính, Công Thương, Xây dựng, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Văn phòng Chính phủ
- Các cơ quan giúp việc của Hội đồng: văn phòng, tổ tư vấn và nhóm công tác (được thành lập theo nhiệm vụ và tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ)
+ Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền chủ yếu sau:
- Phối hợp với các địa phương thực hiện Quy hoạch vùng ĐBSCL giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050; giám sát việc triển khai thực hiện quy hoạch theo đúng quy định của Luật quy hoạch
- Thông qua kế hoạch điều phối liên kết hàng năm; thống nhất kế hoạch liên kết các địa phương trong vùng, xây dựng nội dung, quy mô, mức độ tính chất thực hiện các liên kết, phương thức tổ chức thực hiện các liên kết
- Thông qua danh mục đầu tư các chương trình, dự án liên kết vùng và các
dự án mang tính liên kết vùng; tổ chức giám sát và kiểm tra thực hiện
- Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá việc thực hiện các liên kết, tháo
gỡ, giải quyết các vấn đề nảy sinh về điều phối vùng
Việc thành lập Hội đồng vùng ĐBSCL có ưu điểm là Hội đồng vùng không phải một cấp hành chính, không tạo ra gánh nặng ngân sách cho nhà nước; Lãnh đạo Chính phủ chỉ đạo trực tiếp với các Bộ, ngành và địa phương
Trang 4giải quyết các vấn đề của Vùng nên có sự kết nối tốt hơn, từ đó có giải pháp xử
lý và khuyến nghị kịp thời đối với các vấn đề của vùng; là kênh thông tin và là cầu nối trực tiếp giữa Chính phủ và các địa phương trong vùng
Sau khi có ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu
tư sẽ phối hợp các Bộ và địa phương xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định thành lập Hội đồng điều phối Vùng ĐBSCL và Quy chế hoạt động của Hội đồng điều phối Vùng
3 Về xây dựng các chính sách khuyến khích phát triển cho ĐBSCL với quy mô toàn vùng, liên ngành, có tính dài hạn đến năm 2030 và xa hơn
để thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ giữa sản xuất nông nghiệp và doanh nghiệp
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; đồng thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban hành Thông tư số 04/2018/TT-BKHĐT ngày 6/12/2018 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 57/2018/NĐ-CP Theo đó, tại Nghị định 57/2018/BĐ-CP và Thông tư 04/2018/TT-BKHĐT quy định các ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở thành hạt nhân cho quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp, thích ứng với biến đổi khí hậu, cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước liên quan đến doanh nghiệp, nhằm giảm chi phí của doanh nghiệp (cả chi phí chính thức và lành mạnh hóa môi trường có khả năng phát sinh các chi phí không chính thức) để thúc đẩy làn sóng khởi nghiệp trong nông nghiệp, nông thôn, trong đó có vùng Đồng bằng sông Cửu Long
- Ngày 24/5/2019, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có văn bản số 3460/BKHĐT-KTNN báo cáo Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện Nghị định 57/2018/NĐ-CP nhằm thực hiện Chỉ thị số 09/CT-TTg về các giải pháp tập trung tháo gỡ cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng 6 tháng và
cả năm 2019 Tại báo cáo này Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ:
+ Chỉ đạo các Bộ và địa phương khẩn trương ban hành các văn bản để thực hiện Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, hoàn thành chậm nhất vào quý 3 năm 2019 + Đề nghị Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ từ nguồn dự phòng ngân sách trung ương năm 2019 nhằm hỗ trợ một số dự án của các địa phương theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, trong đó có các dự án của các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long + Đối với các dự án chưa có nguồn vốn hỗ trợ, cho phép các doanh nghiệp được gia hạn thời gian nộp thuế đối với các khoản thuế phải nộp của doanh
Trang 5nghiệp Số tiền thuế được gia hạn tương đương với số tiền dự kiến nhà nước hỗ trợ dự án theo quy định tại Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, thời gian gia hạn là 2 năm
4 Về xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, khuyến khích sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp, người dân vào phát triển hạ tầng, kết hợp phát triển du lịch: cơ chế vay vốn, phát hành trái phiếu, đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) theo quy định của pháp luật, ưu tiên bố trí nguồn vốn cho các công trình có tính kết nối liên vùng, liên tỉnh
4.1 Về bố trí nguồn lực:
4.1.1 Về vốn đầu tư công:
a) Vốn đầu tư công trong kế hoạch trung hạn 2016-2020:
(i) Đầu tư qua địa phương: Tổng số vốn đầu tư trong kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020 vùng ĐBSCL (chưa bao gồm 10% dự phòng) là 193.967,151 tỷ đồng chiếm 16,53% so với cả nước (chiếm 40% tổng chi đầu tư phát triển của vùng), trong đó:
+ Ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu là 79.905,9 tỷ đồng gồm: i) Nguồn vốn hỗ trợ đầu tư có mục tiêu từ NSTW: 42.321,62 tỷ đồng; ii) Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ: 20.673,097 tỷ đồng; iii) Nguồn vốn nước ngoài: 16.911,182 tỷ đồng
+ Nguồn vốn cân đối ngân sách địa phương là 114.061,251 tỷ đồng
(ii) Đầu tư theo một số lĩnh vực cụ thể:
+ Trong lĩnh vực nông nghiệp: bố trí vốn kế hoạch đầu tư giai đoạn
2016-2020 đạt 28.200 tỷ đồng (chiếm 29% tổng vốn toàn ngành) thông qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Trong lĩnh vực giao thông: bố trí vốn kế hoạch đầu tư giai đoạn
2016-2020 đạt 32.961 tỷ đồng thông qua Bộ Giao thông vận tải
+ Trong lĩnh vực y tế: đầu tư đạt 947,5 tỷ đồng và các địa phương trong vùng đều đã được đầu tư Bệnh viện đa khoa tỉnh với trang thiết bị khá hiện đại, đồng bộ
b) Nguồn vốn bổ sung ngoài kế hoạch trung hạn 2016-2020:
+ Đã bố trí xử lý sạt lở cấp bách nguy hiểm từ nguồn dự phòng Ngân sách Trung ương năm 2018 là 1.500 tỷ đồng
+ Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang rà soát, tổng hợp báo cáo Chính phủ cân đối nguồn lực trình cơ quan có thẩm quyền ưu tiên bố trí vốn cho các dự án cấp bách, đang là điểm nghẽn của vùng trong lĩnh vực giao thông, biến đổi khí hậu
từ nguồn dự phòng chung kế hoạch trung hạn giai đoạn 2016 - 2020
Trang 6+ Ngoài ra Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang tiếp tục làm việc với các đối tác phát triển, các nhà tài trợ để đề xuất một số dự án mới triển khai trong giai đoạn 2021-2025 cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long
4.1.2 Về thu hút vốn FDI:
Tính lũy kế đến ngày 20/5/2019, trên địa bàn các tỉnh vùng ĐBSCL hiện
có 1.589 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư đăng ký 22,3 tỷ USD, chiếm 6,4% tổng vốn đăng ký đầu tư của cả nước và xếp thứ 4 trong 6 vùng của
cả nước (sau Đông Nam Bộ, Đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải Miền Trung) Quy mô vốn bình quân trên 1 dự án là 14 triệu USD, cao hơn quy mô vốn bình quân chung của cả nước là khoảng 12,3 triệu USD
Từ khi triển khai Nghị quyết 120/NQ-CP, trong năm 2018, đầu tư nước ngoài vào vùng ĐBSCL đạt 2,59 tỷ USD, chiếm 7,12% tổng vốn đầu tư cả nước, bằng 95,2% so với năm 2017 và tăng 10,7% so với năm 2016
Riêng trong 5 tháng đầu năm 2019, các địa phương vùng ĐBSCL đã thu hút được 68 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký mới là 855,8 triệu USD, 36 lượt dự án điều chỉnh vốn với tổng vốn tăng thêm là 96,4 triệu USD và 106 lượt
dự án góp vốn, mua cổ phần với tổng giá trị góp vốn gần 83,4 triệu USD Tính chung thì vùng ĐBSCL đã thu hút được 1,04 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm
2019, chiếm 6,21% tổng vốn đầu tư đăng ký cả nước và tăng 30,9% so với cùng
kỳ 5 tháng đầu năm 2018
4.1.2 Về phát triển doanh nghiệp:
Trong 02 năm 2017 - 2018, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 18.265 doanh nghiệp thành lập mới (chiếm 7% cả nước) với tổng số vốn đăng ký là 184.666 tỷ đồng (chiếm 6,6% cả nước), tăng 21% về số doanh nghiệp và tăng 72,3% về số vốn đăng ký so với giai đoạn 02 năm trước đó
Trong 05 tháng đầu năm 2019, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 3.823 doanh nghiệp thành lập mới (chiếm 7,1% cả nước) với số vốn đăng ký là 39.565
tỷ đồng (chiếm 5,9% cả nước), tăng 0,16% về số doanh nghiệp và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2018 Trong khi đó, cả nước có 53.998 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 669.722 tỷ đồng, tăng 3,2% về số doanh nghiệp và tăng 29,6% về số vốn so với cùng kỳ năm 2018
Đồng bằng Sông Cửu Long đã thể hiện nhiều nỗ lực trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và đã đạt được những kết quả tích cực dẫn đầu cả nước về tiếp cận đất đai, chi phí thời gian, chi phí không chính thức và tính năng động Tại Báo cáo điều tra, đánh giá chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2018, vùng Đồng bằng Sông Cửu Long có 03 tỉnh góp mặt trong tốp 5 tỉnh đứng đầu cả nước, bao gồm Đồng Tháp, Long An, Bến Tre
Trang 7Hiện nay, thời gian trung bình xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là 1,12 ngày, thấp hơn nhiều so với thời hạn trong vòng 03 ngày làm việc theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014
4.2 Về xây dựng cơ chế huy động nguồn lực, khuyến khích sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp với Cơ quan Hợp tác Đức (GIZ) và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) hoàn thành Dự thảo cơ chế và chính sách ưu tiên để khuyến khích đầu tư tư nhân ở Đồng bằng sông Cửu Long,
dự kiến sẽ xin ý kiến của các bộ, ngành và địa phương trong thời gian tới để hoàn thiện Dự thảo báo cáo, trong đó có một số giải pháp cụ thể:
- Cần áp dụng tốt các chính sách tài chính và chính sách thuế theo hướng tăng trưởng xanh và chống biến đổi khí hậu đã được ban hành bằng các hướng dẫn cụ thể;
- Giải quyết các khó khăn về đất đai, giải phóng mặt bằng cho các dự án, điều chỉnh luật đất đai theo hướng đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất, đảm bảo khả năng tiếp cận lâu dài đối với đất đai và các quyền sử dụng hợp pháp của các nhà đầu tư Tăng tính kết nối giữa các vùng chuyên canh, các cụm liên kết ngành với các trung tâm thương mại và cảng xuất khẩu chính;
- Kiến tạo phát triển bền vững, trên cơ sở chủ động thích ứng; chuyển từ
tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy sang tư duy kinh tế nông nghiệp, từ số lượng sang chất lượng gắn với chuỗi giá trị; từ sản xuất nông nghiệp hóa học sang nông nghiệp hữu cơ và công nghệ cao Chú trọng công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp;
- Chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, tránh can thiệp sâu vào tự nhiên, phát triển bền vững theo phương châm chủ động sống chung với lũ, sống chung với mặn, khô cạn, thiếu nước, phù hợp với điều kiện thực tế; Cải thiện các thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hoá, áp dụng các công cụ của chính phủ điện tử; Xây dựng vùng nguyên liệu cho sản xuất nông lâm thuỷ sản: xây dựng cánh đồng mẫu lớn và liên kết sản xuất tiêu thụ theo chuỗi;
- Xây dựng các mô hình hợp tác xã, công ty phát triển nông nghiệp với cánh đồng mẫu lớn, đại diện cho doanh nghiệp hoặc tay nối của doanh nghiệp trong triển khai sản xuất theo quy trình GAPs, đồng bộ sản phẩm và chuỗi khép kín để đạt chất lượng sản phẩm cao và ổn định;
- Tăng cường công tác chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất từ các đơn vị sở hữu, tăng sự liên kết tác quyền cho những doanh nghiệp nhỏ để ươm màu cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời xây dựng các điểm
Trang 8trình diễn công nghệ ở cấp tỉnh để giúp người dân và doanh nghiệp tiếp cận được các công nghệ nhanh nhất;
- Tiêu chuẩn hoá công nghệ, quy trình sản xuất để dần nâng cao mặt bằng công nghệ, xã hội hoá công nghệ, đặc biệt là các công nghệ chọn tạo giống để sản phẩm được cải thiện chất lượng nhanh nhất có thể
4.3 Về danh mục dự án liên kết Vùng:
Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Cơ quan Hợp tác Đức (GIZ) xây dựng Bộ tiêu chí xác định các dự án liên kết vùng và đã ban hành tại Quyết định
số 625/QĐ-BKHĐT ngày 5/5/2017 và đã có công văn số 4259/BKHĐT-KHĐTLT ngày 22/6/2018 hướng dẫn sử dụng bộ tiêu chí xác định dự án liên kết Vùng ĐBSCL
Đồng thời, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương xây dựng đề xuất các chương trình và dự án liên kết vùng ĐBSCL Đến nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 3974/BKHĐT-KTĐPLT ngày 11/6/2019 về danh mục chương trình, dự án liên kết Vùng, trong đó có 38 đề xuất dự án cơ bản đáp ứng tiêu chí là dự án liên kết vùng với tổng nhu cầu vốn đầu tư là 89.798,99 tỷ đồng (trong đó vốn NSTW là 88.557,39 tỷ đồng; vốn ngân sách địa phương là 397,4 tỷ đồng; vốn doanh nghiệp là 319,2 tỷ đồng; vốn khác là 525 tỷ đồng) Tuy nhiên, hiện nay kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020 đã giao cho các Bộ, ngành và địa phương; phần vốn dự phòng chung ngân sách Trung ương giai đoạn 2016 - 2020
đã được báo cáo Quốc hội tại Tờ trình số 238/TTr-CP ngày 28/5/2019 của Chính phủ nên không cân đối được nguồn vốn để thực hiện các dự án liên kết vùng lúc này Vì vậy, Bộ Kế hoạch và Đầu tư kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành tiếp tục rà soát và tổng hợp các dự
án liên kết vùng đã đáp ứng tiêu chí nêu trên trình Thủ tướng Chính phủ đưa vào
kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2021-2025 sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương
5 Về nhiệm vụ tập trung xử lý vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân, bảo đảm sử dụng hiệu quả số vốn đầu tư công trung hạn 2016-2020
- Hàng năm, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành rà soát việc giao kế hoạch và giải ngân các dự án đầu tư công giai đoạn 2016-2020 nói chung, trong
đó có trong vùng ĐBSBCL
- Đối với cơ chế chính sách đẩy mạnh giải ngân các dự án đầu tư công, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư tham mưu Chính phủ ban hành Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 3/8/2017 về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch vốn đầu tư công và Công văn số 2348/VPCP-KTTH
Trang 9ngày 15/3/2018 của Văn phòng Chính phủ về một số nhiệm vụ chủ yếu đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2018, trong đó đã bao gồm đầy đủ các nhóm giải pháp và giao nhiệm vụ cụ thể cho Bộ, ngành liên quan và địa phương
- Trong năm 2018 và 2019 Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với các
Bộ, ngành thành, địa phương thành lập các đoàn công tác thúc đẩy giải ngân tại các địa phương để kịp thời tháo gỡ khó khăn trong quá trình triển khai kế hoạch đối với các địa phương, trong đó có các địa phương trong Vùng ĐSCBL
6 Tồn tại, hạn chế
Mặc dù đã đạt được những kết quả nêu trên song hiệu quả triển khai hoạt động liên kết tại Nghị quyết 120/NQ-CP chưa cao bởi các hạn chế như sau:
- Về mục tiêu liên kết vùng: Quyết định 593/QĐ-TTg mới được thể hiện
chủ yếu ở khía cạnh tăng cường các trao đổi ở cấp độ chính sách về liên kết vùng, chưa có quy định ràng buộc việc thực hiện các cam kết về liên kết vùng giữa các địa phương, đồng thời các mục tiêu đề ra chưa thực hiện được và tác động trên thực tế là chưa rõ ràng
Một số ngành, lĩnh vực của từng địa phương vẫn còn phát triển theo hướng riêng lẻ, thiếu sự liên kết chặt chẽ, thống nhất trong toàn vùng, việc triển khai các cơ chế, chính sách đầu tư chưa đạt hiệu quả như mong muốn, còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách cũng như quy hoạch phát triển vùng Xét về cơ cấu kinh tế, các tỉnh, thành trong vùng ĐBSCL nhìn chung đều có cơ cấu kinh tế tương tự nhau, chưa phát huy tốt lợi thế so sánh, nên việc đầu tư còn trùng lắp, dàn trải, không gian kinh tế vùng bị chia cắt, xuất hiện một
số “xung đột lợi ích” trong ưu tiên phát triển giữa các địa phương Việc khai thác sử dụng tài nguyên nước cũng như phát triển các sản phẩm chủ lực vùng chưa được “liên kết” tốt dẫn đến các địa phương có sự cạnh tranh lẫn nhau, có nguy cơ phá vỡ quy hoạch
- Về cơ chế liên kết: Hầu hết các nhiệm vụ được giao trong Quyết định 593/QĐ-TTg và Quyết định 2220/QĐ-TTg về kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định 593/QĐ-TTg là nghiên cứu cơ chế, chính sách, nên mặc dù các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai tích cực xong cần có thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng, đánh giá và đề xuất các chính sách, giải pháp thích hợp Do đó, một số nhiệm vụ đã giao cho các Bộ, ngành địa phương chưa hoàn thành theo tiến độ
- Về quy hoạch: quy hoạch vùng là công cụ quan trọng định hướng điều phối liên kết vùng nhưng hiện nay mới lựa chọn được tư vấn quốc tế xây dựng nên cần thời gian để làm rõ yêu cầu liên kết và vai trò của mỗi địa phương trong phát triển tổng thể của vùng Vì vậy, các địa phương gặp lúng túng trong việc
Trang 10nhận diện các lĩnh vực liên kết có tiềm năng mang lại lợi ích lớn nhất để xác định các hoạt động liên kết cụ thể Đồng thời, các cơ quan quản lý cấp trung ương cũng thiếu căn cứ cho công tác tổ chức và quản lý các hoạt động liên kết trong vùng, bao gồm việc phân bổ và điều phối nguồn lực phát triển
Ngoài ra, chưa có một cơ chế xây dựng đồng thuận và thể hiện được lợi ích tập thể giữa các bên liên quan Đối với một số vấn đề mang tính vùng hoặc liên tỉnh, như điều tiết và chia sẻ nguồn nước hay xây dựng kết cấu hạ tầng, các địa phương thiếu một cơ chế để cùng bàn bạc và thảo luận một cách thấu đáo và thuận tiện Do đó, quá trình thảo luận có những vướng mắc về kỹ thuật hoặc cơ
sở pháp lý thì các bên chưa có cách thức tháo gỡ và giải quyết Điều này cũng dẫn tới khó khăn trong việc xây dựng đồng thuận để thực hiện các vấn đề liên kết cụ thể, bao gồm những vấn đề đã được nhất trí thông qua các văn bản đã ký kết giữa các địa phương
- Về nguồn lực tài chính: Chưa có nguồn vốn bố trí riêng cho các nhiệm
vụ liên kết Các quy định hiện hành chưa có quy định ưu tiên xây dựng một cơ chế tài chính riêng cho hoạt động liên kết tại ĐBSCL Điều khoản quy định ngân sách Trung ương hỗ trợ mức vốn tối thiểu 10% so với tổng vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách trung ương phân bổ cho các địa phương trong Vùng để thực hiện các chương trình, dự án liên kết đến nay chưa thực hiện được do Quyết định 593/QĐ-TTg được ban hành sau khi Quốc hội đã quyết định kế hoạch đầu
tư công trung hạn giai đoạn 2016-2020, việc huy động nguồn lực từ xã hội vào hoạt động liên kết còn hạn chế
- Về bộ máy của cơ quan điều phối: Bộ Kế hoạch và Đầu tư được giao chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ thực hiện thí điểm liên kết chung toàn Vùng, nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư không phải là cơ quan chuyên trách, không đủ hoặc không có đủ thẩm quyền để điều phối sự phát triển chung của Vùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã tích cực triển khai các nhiệm vụ nhưng cũng chỉ là sự phối hợp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của các bộ, ngành và các địa phương, nhưng chưa xây dựng xong định hướng, chiến lược, quy hoạch, hoạch định những chính sách riêng biệt thống nhất cho toàn vùng, từ
đó thiếu sự gắn kết, phân công giữa các địa phương trong vùng
- Về xây dựng cơ sở dữ liệu: cơ sở dữ liệu về các vấn đề mang tính liên tỉnh và toàn vùng chưa được hình thành Dữ liệu hiện có thiếu tính tập trung, khó tiếp cận và chưa mang tính hệ thống Các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn chưa đóng vai trò thích đáng trong quá trình xây dựng và triển khai hoạt động liên kết Tình trạng này khiến các bên liên quan thiếu thông tin và căn cứ khoa học cho việc ra quyết định đối với các vấn đề liên kết