Phần 2 của cuốn sách Việt Nam văn học sử: Giản ước tân biên (Tập 2) tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc những nội dung về: thời kỳ thịnh đạt - triều Nguyễn; thơ đời Nguyễn, những tác phẩm dài đời Nguyễn, Nguyễn Du - Truyện Kiều, Nguyễn Công Trứ - Bài Hát Nói;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1
THIEN THU BA
THỜI KỲ THỊNH ĐẠT
TRIEU NGUYEN (1802 — 1862)
Thời kỳ này ồn oẹn cò 6o năm mà: mang danh là
thịnh đạt có thế làm người ta ngạc nhiền Vày mà đó là một
sự thật, Chưa bao giờ bằng trong @ chục năm dy vin ném
bẩy ra một cảnh tượng sâm nät sam suôê đền thê, Các tác
giỏ đông đảo Các sảng tác phong phú Có nhiều những
sang tác phẩm dài, những công trình lớn VỀ thê cách thà
ngoài những thê đổi dào đã cô lại thêm một thế tân kỳ : bài
hài nội, Sang sự thịnh đạt È đây nhằm nhất là sào phẩm
chất Thơ Đường dưởi ngồi búi của Hồ Xuân Hương, Bà
Thanh Quan đạt tới một trình độ mỹ diệu chưa hệ thầy,
Truyện Kiểu của Nguyễn Du là một kiệt tác không tiền
khoáng hận Câu song thất lục bài trong Ty bà hành ở một
tài khúa cạnh đã vượt cả Chủnh phạ, Củng cản, Ngay bài
hát núi mời ra đời mà san này cũng không tác giả nào ấi
quá được Cao Bá Quát,
Sone xét kỹ thì thấy sự th) dat dy ty đặt
dười triển Nguyễn mà công trình không hẳn là do chink séch
săn hóa triều Nguyễn tạo ra Các uua Nguyễn đầu không
làm tho nêm nh các chúa Trịnh, cũng không hệ khuyên
khích băn nêm như cúc na Tâp Son Trái lại nhà cấm
quyển chì chủ mục lưu tâm adng mu vun xoi cdy van Han
Trang 2
mới đạm 0ào trồng È Phú Xuân, Văn nôm triểu Nguyễn tiếp tục phát đạt là chính yêu nhờ ở một tập truyền, một thừa hưởng, trong thẩm thức của nho 4 ăn gia cũng nh trang đòi hỏi của công chủng dân gian, Có thể nói cây van ném triéu Ñ guyến trả được bẫy nhiêu bông đẹp hương thơm,
là cất yêu nhờ ở mọc trên mành đất Lê mạt, Tây Sơn
ThonG thiên này, trước hệt ở' một phần dau, phan
là chỉnh (các chương +, 2, 3, d, 3, chúng ta nghiền cow vé
| giải đoạn trong 46 vdn hoc think đạt tiên Nguyễh hiện ra
như một thừa-hưởng Lê mạt, Tây Sơn oà trên mảnh đất
Bác Hà cñ Kê đên phần thứ 2 (chương 6), chúng ta xét
qua trường hợp hai ông họ Cao, uồn nêm như một tiéng nói của giới nho qd Đắc Kỳ từ đời Minh Mệnh Và san đột đân phân thứ 3 (chương 7) chủng ta xét tắn nôm ở
Nam Kỹ san ngày thông nhật, nhất là tie dai Mink Mang
vé sau, uà thê hiện trong tác phẩm của hai nhà vén chink
là Bài Hữu Nghĩa oà Nguyễn Đình Chiếu,
Trang 3
CHUONG I
THO BO) NGUYEN
HO XUAN HUONG BA THANH QUAN
1 Giải BOẠN THỮA LE
TRONG VAN NOM TRIEU NGUYEN
¡— Không khí chính trị Nguyễn sơ
Nguyễn Ảnh trong cuộc trường chính Bắc tiến, san khí hạ được
'Fây-Sơn rồi, độc-chiếm chiếa trường, thống nhất đất nuớc Tuy nhiên,
sự thống nhất suốt đời vna Gia-Long cũng chỉ mới ở giai đoạn chun bi
«Vua Gia-Long lên ngôi, hiểu rằng ý niệm địa phương tự trị còn vtơng
vất ở đân gian nên chưa vội thống nhất triệt đề, Đề cai trị, ngài đặt ra
Gia-Định-thành và Bắc-thành tổng-trấn, Mỗi tổng-trấn có một triều-đỉnh
nho nhỏ riêng, có những cơ-guan cai trị như những bộ ở chínhphl
trung-tơng, Chính-phổ này chỉ trực trị có đoạn giữa gọi là Trực Lệ»,
(Việt sử: khảo lược của Dương Ky, trang 34)
Nhất là ở miền Bắc, mảnh đất 300 năm cũ của Nhà Lê, vua Gia-
Long lại càng thấy phải đè đặt, tử tốn, trông mong ở thời gian đề thu
phục nhân lâm Về chính sự thì trừ vài ba thay đổi bên trên trong co
sấu hành chính, côn ldật pháp, phong tục nơi đân gian lúc đầu đại đề
xẵn là theo chế độ cñ Về nhân vật thì trừ vài người đầu số đứng ra giip
rập Tây Sơn như Phan Huy Ích, Ngô-ThờiNhiệm bị trừng phạt gọi là,
còn hên đưới nhiền quan-lại cũ được lưu dụng, con cháu các đanh-gia
vợng-tộc đất Bắc được chiêu-dụ, nhất là những ai đã không chịu hợp-
tác với Tây-Sơn thì lại càng được trọng nề
Nhà vua chỉ chú trọng quéi sạch những vốt tích của Tây-Sơn Gòn
đối với cải k n Lê-Trịnh trong lỏng đân Bắc-Hà thì mới đầu không
ng trảnh không xâm phạm đến mà còn đề ý khơi lại, chính cũng là
nhằm loại trừ những ảnh hưởng mà Tây-Sơn có thề đã gây được Linh
Trang 4
cữu vua Lò Chiêu Thống kế thù của Tây Sơn, mối trổng vọng của bao
nhiên đạ cô irnng đất Bắc, được chính thức từ Trnng-Hoa đưa về, rước sách linh-dinh, ma chay trong thé Nhfing ké tong vong được biều đương,
Tân-triền khéo léo rmnuốn đứng ra đóng vai trỏ tựa hồ người rửa hận
cho Chiên-Thống người thừa kế tỉnh thân mà được mệnh trời của
nhà Lẻ vậy, Do đó mã snốt thời kỹ vua Gia-Long ở ngôi, không khí
chính-Hi, đân-tri, đân tình ở Bắc-Hà còn có gì rất gần gũi mật thiết với
théi Lé mat xtra
2.— Tinh hình văn học
Tính cách Hên tục và thừa kế ấy lại càng tổ rõ ở phương diện
văn bọc, trong giai đoạn Nguyễn sơ này Đất Nam hà, nhất là xuống quá vùng Gia-Định, từ trước ít luyện tập vän-tự, lại vừa trải qua một cơn
áo lộn ghê góm, chỉ có thì giờ đề nghỉ ngoi mà học hành Duy có miền Bắc, mãnh vườn øng cố cựu của văn học quốc gia, vẫn tiếp te sdn
xuất, Ở đây ta thấy thường cũng là những tên hay những họ efi cd
hiền văn sĩ, nho gia đi cầm bút đưới chúa Trịnh vua Lê, sống qua
đời Tây Sơn ngắn agủi và còn sống sang đời Gia Long Gó thể họ không viết gì nữa nhưng côn em họ lại cầm bút và tiến tục với thể tài và cm, luỳng cñ Điều ấy quá rũ ràng, nếu thí dụ chúng ta đi từ Nguyễn Huy
Tự, Nguyễn Thiện xuống đến Nguyễn Huy Hỗ, Nguyễn Du, Sự liên tục không những ở người sáng lác toà còn ở công chúng, độc giả Bởi vì từ
đời Trịnh, đất Bắc đã bất đầu có một công chúng văn nôm nhất là
truyện nêm, mỗi ngày thêm mở rộng ở tầng lớp trung lưu Chính công chúng ấy đã khiến đẻ ra mội số tảc phẩm bình dân vô danh mà họ giềng gi và tiếp tục thưởng thức, mà ngày nay ta cũng không biết rề
đã ra đởi vào đích xác lúc nào, chỉ biết đại đề là thịnh hành vào thời
Lé mat Ngnyén sơ Chính công chủng ấy mẻ thơ Xuân Hương, ngâm
nga Ban nữ thân, đón rước Nguyễn Du, đã giúp cho sự phát triỀn của
văn nôm vào triều Nguyễn này
là giai đoạn kết quả nữa Hãy nỏi về nội dung tư tưởng : trong văn
chương Nguyễn sơ, ta thấy bao nhiêu là hình ảnh của xã hội và tâm thức của con người Lê mạt + Nguyễn Du, Bà Thanh Quan, cho đến
Á- Danh từ Lê mạ như người ta thường hiểu, bao gầm cả giả đoạn Tây Sơn,
có chỗ chúng tôi thêm một chữ Tây Son vo cho rõ hơn, song dù khi không thêm vào, cũng vẫn nên hiểu như vậy
Trang 5Nguyễn Gông Trủ nữa, để viết nên tác phầm của họ đều đã phải sống
trải cải thời đâu biển Lê suy, Triều Nguyễn lên, mang đến một không
khi xã hội tương đối thanh bình, người văn nghệ có thể ngồi yên đề cho
bao nhiêu cẩm nghĩ đau long của một thời đầy hứng vị ấy kịp lắng
xuống và trút ra tác phầm
Tà giai đoạn tiếp tục và kết thành, nhưng biển nhiên cũng là giải
đoạn tiến bộ nữa, Sự tiếp tục ở đây là đề tiến lên, đề sản xuất ra những
tác phầm có giá trị hơn Đời Nguyễn ta sẽ thấy những vần thơ luật
hay hơn cả về trước, thấy nhiều tác phẩm đài, thấy một truyện nôm
mà nghệ thuật vươn lên đến tuyệt đỉnh, thấy nói chung cái không khí
sáng tác cũng nhữ thưởng thức văn nôm trổ nên phd thong va hao
hứng, Đành rằng tất cả cái đỏ đều dự phần vào và nên kề làm điều
thịnh đạt của văn học triều Nguyễn Nhưng cũng cần hiển rằng sự
thịnh đạt nay không khổi lên đột ngột mà là do những công trình đã
thai đựng sẵn Lừ trước
3.— Giai đoạn thừo-Lê
Tóm lại, tính cách tiếp tục và thừa hưởng là tính cách cốt yếu
của giai đoạn thịnh đạt đầu của văn học triều Nguyễn Đề mệnh đanh
giai đoạn ấy chúng tôi thấy đã có một đanh từ sẵn : Nguyễn sơ, chúng
tôi cũng đã đôi lần vừa dùng đến Song xét kỹ thì thấy đanh từ ấy
không được Ôa lắm Theo như các sử gia nước nhà thường biểu thì
Nguyễn sơ chỉ là những năm Gia-Long Qua đời Minh-Mệnh, thật vậy,
về chính sự, về khoa củ, nhà Nguyễn bắt đầu có những thay đổi lớn
xác định sự vươn lên cùng đặc tính của vương triều minh Tuy nhiên
về văn học, nhất là quốc văn, ảnh hưởng lê mạt không chỉ dừng lại
khi hết đôi Gia Long, Nguyễn-Du năm đầu Minb-Mệnh mới chết, Bà
Thanh-Quan đã viết thơ mình ngay giữa đời Mianh-Mệnh Hỗồ-Xuân-Hương
không biết sống đến bao giờ những người bạn hơn tuổi của bà là ông
Chiến-Hỗ mãi năm MinhMệnh 19 mới mất Nguyễn Công-Trử còn thọ
nữa, ông sống đến mãi giữa đời Tự Đức Vậy mà những người ấy đều
tir thei Lé mat toi Ta thấy cây văn học có thể đâm rễ xa và trổ bông
muộn Cho nên chúng tôi đề nghị một đanh từ khác, gọi đỏ là giai
đoạn thừa-Lê,
Giai đoạn Thừa-Lê ấy nên hiểu như một thành phần văn học hơa
là một kỳ hạn thời gian Thành phần ấy nằm trong văn học sử có một
đường ranh uyền chuyền Đường ranh ấy không rút vào một cái mốc
nặm tháng mà kéo dải lượn quanh những người những văn mà nó
Trang 6đưới thời Lê mạt — Tay Son), V8 văn, nó cỏ thề bao gồm rộng rãi một
số những tác phầm trường thiên, tác phầm khuyết danh như nhiều truyện nôm bình dan ma ta không biết rõ soạn niên, chỉ biết là có thể
có từ đối Lê và rất thịnh hành về đầu đời Nguyễn, tác phẩm trí đanh như tập Quốc-sử điễn-ca ra đới ngay từ đời Trịnh mà qua triều Nguyễn thì tràng tu đổi nhan lại hoài, cho nên cũng có thể coi là một vẫn phẩm nằm trong ranh giới thừa-Lê,
Chúng ta sẽ xem xét các khía cạnh văn học cña giai đoạn thừa-Lê,
nh đã đã xác định tính cách và giới hạn ở trên trong 5 chương đầu của thiên văn học triều Nguyễn Trước hết Chương niệt này nhằm trinh bày những tiến bộ của riêng loại thơ lật từ đầu Lê qua È Nguyễn đề đi
đến hai nữ thi gia nồi danh đời Nguyễn là H-Xuân-Hương và BÀ Thanh
Quan
H THƠ WAT TEN NGUYEN,
Bài thơ luật nguyên đã có từ Han-Thayén doi "Trần, tức là từ khi
văn nôm rnới phôi thai, song tảo phẩm côn truyền thì chỉ từ đời Lê trổ
lại, Bài thơ huật chữ nêm, cũng nh nguồn gốc nó, bài thơ Đường luật chữ Hản, là một công trình nhỗ nhoi, ngắn gọn, nên việ giác cũng phổ
thông, dé đàng, Gó thề nói bất kỳ nho gia nào cũng đã tùng làm, Duy sáng tác nhiều, gây thành thi nghiệp, thì từ đầu triền Lê tới khi bước
sang triều Nguyễn có mẤy nhà :
— Nguyễn-Trãi (tác giá Quấc đm th
~— Lê Thánh Tôn (đẫn đầu trong Hồng Đức Qaốc ám LRỒ
— Nguyễn: bÌnh Khiêm (táe gid Bạch Vda tht)
— Trịnh Căn (tác giả Thiên Hóa doanh bách uịnh),
— Trịnh Doanh (tác giả Riền nguyên thì tập)
„ — Trịnh Sâm (tác giả Tảm thanh lồn day tập)
"Trước khi bước sang nghiên cứu các thị gia đời Nguyễn chúng ta hãy thử nhận định qua một lượt tính cách chung của bài thơ luật về trước tức là nơi các nhà thơ hoặc tập thơ kề trên, Ta nhận thấy trong
Trang 7
khong ba trim pâm từ Nguyễn Trãi cho tiến Trịnh Sâm những bai thơ
luật của cáo tác giả như côn lưu lại cho chúng ta ngày nay xẵn giữ một
Biệu chúng, có nhiều đặc điềm khảo với qua đời Nguyễn sau này Đây
là những đặc điểm ấy:
L— Thé tho,
Bài thơ tất nhiên tuân theo quy tắc về vân và đối cña bài Đường
quật, Song thi gia ta thưởng không hay lâm lối tử tuyệt hay ngũ ngôn,
chỉ chuộng bài thất ngôn bát cú, Cách bố cục rộng rãi, nhất là thơ đời
1á, đời Mạc, không hề gỗ bỏ theo cách phân đoạn ứ mạo, thực, luận,
ết» cỗ điền ở thơ Hản khoa cử, Có một đặc điềm nữa là bài thơ
thất ngôn mà hay có những câu lạc ngôn xen vào, Ít thì một bai câu
(Ehí đó thường là câu phá hoặc câu kếQ, nhiêu có thể đến nằm, sâu
cầu, Cách nay rắt hay thấy ở Nguyễn-Trãi, Nguyễn BÌnh Khiêm, đến
thơ chúa Trịnh thí H đi song vẫn có, Xét cân lạc ngôn này thì không
phải là câu sáu trong cấp lục bát Việt-Nam Nó cũng là thô phống câu
sảu ở những bài thơ lục ngôn hoặc lục thất hỗn thề của Tân Nó giữ
lối cước vận và có khi có cà văn trắc,
2— Chữ dùng,
a) Đùng những chữ nôm 2},
1— Những chữ nôm thuần tủy, nhưng ngày nay không còn dang
trong Việt ngữ nữa ¡
— Lông xuân nhẫn ding dé khan thìn (Nguyễn Tsai)
— Ai nấy náo ưa kệ đãi bài (Nguyễn bình Khiêm),
_ Hai chit céng dank bidag va ve (The Héng Bec)
— Thẳng cảnh thiva lua rdt hữu ñnh (Trịnh Can)
3 — Những chữ nôn cỗ địch những chữ Hán, theo cách địch văn
đời xưa như: Kỷ: thửa = Ứ : chưng — Duy ¡ bai — Cố : chỉn — Tất : ấI,
— Đã ngoài chưng thé ddz hon thiệt, (Nguyên Trãi)
— Hương &t ehin nhiều, nắng chỉa có, (Thờ Hồng Đức, Vịnh Cúc)
— Thừa công đức cả biết bao nhiều (Trinh Can, Vink 'Trần võ quan)
3_— Những chữ nôm nay đừng đi đôi mà khi ấy chỉ dùng tiếng một
Nhu ldo (Ide dao), han (hdt han), dia (yea din), rỡ (rực TỔ) V Voi
—_ Khách đền vwon hoa côn Táo (Nguyễn Trãi)
— Đưởi biệt kính trên, trêu đấu đưới, (Nguyễn Bình Khiem),
— Về sónh sao bảy tố" mẫy hang (Trinh Sâm, Vịnh Mẫu doa)
Trang 8
THỜI KỲ THỊNH ĐẠT
4— Những điệp tự, miêu tà bằng cách lập lại, từ Lê sơ đã hay có, đến đời Trịnh càng ta dùng, có khi câu nào cũng có Như đơn cÑ một bài s Chơi núi Yên tử ›» cña Trịnh Căn :
Cung quê hương đứa thoáng thoằng mài, Lang lang chdng bon chit trdn ai
Thanh hương một khim vang vang rộng,
Ưu bát nghìn xuân rữn rõ" nrơi,
Giá đức bìa hÌn nhuần moi dink,
Đaành nhân cồn cộn khắp đổi nơi,
£ Thây Điển tăng những vân vận hồi,
Cảnh uái thu chdy hay hãy vai
b) Dùng điền Hân và chữ Hán
1— Những điền và chữ rất mắc mổ cao kỳ KỆ vài thí dụ trong
vô số có thề làm bối rối ngay nhiều nhà Hán học đời nay ;
— Yên từ nẻo lạc nhà Vương Tạ,
Quạt để hầu thn long Tiệp Dự (Nguyễn Trai}
— Sứm cân deo chỉm phượng đá, Khuya chiv moc châu rồng xanh, (Thơ Hồng Đức)
— Tượng thể kiên-hanh vần điệu quang,
Trưởng doanh là gữ nhật thư trường, (T Cin, Vinh mia Ha)
3— Những điển bay chữ Hán dịch sang nôm nhưng địch thẳng
nên tuy lời l8 có vẻ tầm thường mà ta không thê biểu được nếu không
— Phong lưu môn mới ba đường cúc (Nguyễn Trãi)
— Đã Khudt bao nhiều thời lại duấi, (Nguyễn Bình Thiêm)
: — Ba ngàn thê giới tát bdu trời (T Sâm, Vịnh núi Dục Thúy)
giao hifa), kink (dwong tit)
4 — Liêm cân tiết cả tụ hằng adm (Neuyén Trai)
Ị — C6 nhué bao nhiéu lại có đồi (Nguyễn Bình Khiêm)
ị — Mừng gặp tié lank 0ô hạn hào (T, Căn)
— Đây hợp tiệt lành vúi tiệc khế CT, Sâm)
— Đường tà nẻo kính mặc người đi (T, Sâm)
Trang 9
3 — Câu đặt
Câu đặt thưởng côn lệ thuộc củ phấp Han văn hoặc toa rap dang
đấp câu thơ Hán, Nhất la đời Lê sơ, những câu như sau thật không
hiếm ;
~— Cầt cách trượng phụ tùng dy ban,
Nat trong quân tử trắc la abi (Nguyén Trai)
~— Giảng bạc thể cùng thú có nguyệt,
Sử: xanh chép dé bút côn hương, (Thơ H.Đ, Vịnh My Ê)
Đời Mạc, đới Trịnh nói chưng thi gia di khéo vận dụng cho cách
diễn đạt Việt Nam hơn, nhưng lời lẽ nhiều khi vẫn không xuôi, tổ ra go
ép vì đảo lận, hỏặc bởi tỉnh lược quá mà ý tối tấm :
đHai thác trăng đương thủa kúng (Nguyễn Binh Khiêm) Gin lòng kính cần chế trấn duyên (T, Căn)
Bảm khí gìao quang thực bản đời (T, Sâm, Vịnh con Voi)
4 — Nghệ thuật
Xét chúng về giá trị nghệ thuật của thơ luật tiền Nguyễn, tử quan
điểm thầm mỹ của chúng ta ngây nay, thì thấy phần thơ ấy thưởng có
những tỉnh cách sau day:
— Œồ, nghĩa là trải với kim, văn tứ có nhiều yếu tố Hản tự và nâm
xưa, nay khó hiểu,
— Quê, nghĩa In trải vời thanh lịch, Chữ nôm, lới nôm không kến
chọn, tà một cảm giác thanh tố, thì vị bằng những trạng tự, lĨnh tự
thành ngữ mộc mạc có phần thê lỗ (có thể cẩm tưởng này chỉ có
với chúng ta bây giò), Thí dụ thơ Nguyễn Bình Khiêm tả tiếng
chuông chủa nỗi lên giữa lúc hoàng hôn:
Sơn tăng riều khách xui người bây,
Sơ nguyệt kếnh kênh đã giảng chuông, hay cảnh trên mặt nước lúc đi chơi thuyền :
Phơ phơ đếu bạc ông câu có,
Lee ido dong xanh con mdt méo,
~- Phae, nghĩa là chất pháo, thật thà, nghĩ sao nói vậy, cách diễn
đạt kém †ế nhị, thiếu bóng giỏ, xa xôi thành ra ý tứ đôi khi biện ra lần
thần hoặc nhằm thường, Như Nguyễn Bỉnh Khiêm kết luận bãi « Chơi
thuyền » ¡
Trang 10
tưởng như ý nghĩ của một đứa con nit!
Hoặc như Trịnh Căn kết luận bài «Vịnh chùa Kháa Sơn» :
Nhân nhà bảng nhân âu thưởng đầy,
Gin ling kink edn ché trấn duyên
thi bài học day du khách vừa thật thà vừa lạt lêo | Nei tóm lại, đọc thơ luật từ Nguyễn Trãi đến Trịah Sâm (hay qua
cả mấy thi gia Nam hà đồng thời) ta thấy giá trị nghệ thuật còn kém
Câu thơ nếu không khúc khuỷu, tối tăm thì lại thẳng đơ, cứng nhắc,
thiểu cái mềm mại uyền chuyền gây hứng thú Ngay dù khi đã
cổ gắng làm quen với chữ cỗ, vượt những trổ lực về văn tự, ta cũng
Ít khi thấy hài thơ có cái khí nh hoạt tiềm tàng và đồi đào chay suốt đưới hàng chữ, Hinh Ảnh thưởng khô khan, nguội lạnh, không gợi hứng nhiều, không truyền cẩm rộng, chỉnh là câu thơ thiến hồn vậy
Thật ra không phải nhất thiết thơ tiền Nguyễn là như vậy Song
đó là cái điệu chúng Nói đúng trong cái điện chung ấy, nhất là sang
đời Trịnh, thỉnh thoảng cũng có ngoại lệ, một hai bài hoặc đôi ba câu
lời trơn tru, ý thâm thiết Đời Trịnh, văn nôm đã phát triển mạnh
Thơ luật cũng khả hơn về kỹ thuật Nhất là sang thời Tây Sơn nữa,
dưới ngòi bút của Nguyễn Hữu Chỉnh, của Phan Huy Ích, của Phạm
Thái, Quỳnh Như, bài thơ đã thấy có về linh hoạt và bóng bẫy, Song nói chung cho đến đây, thơ tiền Nguyễn vẫn còn mắc phải bai cai tật
là nếu thiên về Hàn thì khúc mắc, tối tầm hoặc trần sáo, nếu thiên về
nốm thì lại quê kệch, chất pháo
Sang đôi Nguyễn, chúng ta sẽ thấy thơ luật biến đổi bẩn Về thể
thơ, cách bố cục, đối và vần sẽ chặt chẽ hơn Bài Đường luật trổ nên tính thuần, câu lục ngôn chỉ còn là một kỷ niệm VỀ chữ dùng, phần
nòm cỗ không còn nữa (ẽ tất nhiên vì là thời đại gần đây) mà phần
Hán tiến toi hoàn toàn Việt hóa, Câu đặt cũng xuôi thuận lưu loát hơn
bổn, Nói chung, câu thể”đã tiến nhiều về nghệ thuật Những biến đổi
và tiến bộ ấy ta thấy thể hiệu rõ ràng trong hai cây bút thơ Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan
Trang 11
hằng Hồ Xuân Hương Vậy mà về cuộc đời của bà người ta biết rt it,
ch} biết những điều vu vơ không cỏ biên chép ở một sử sảch đừng
đẫn nào cả, Vốa từ lân trmờc đây, thời văn nôm còn thịnh bành, trong
đân gian đã truyền tụng nhưng hài thơ nòi là của Hồ Xuân Hương
Song chỉ từ khi hồi đầu thế kỹ này ông Đông - Châu Nguyễn Hữu Tiến
soạn sàch « Giai nhân đi mặc» — mà tài liệu xổ dung thật ra cũng
chẳng eỏ gì là chắc chắn — người ta mời biết it điều về nữ thi nhân
ấy Theo sảch ấy và nhiều điều truyền thuyết Khảo nữa thì Hồ Xuân
Hương sống về đầu đời Nguyễn, nguyên quản ở làng Quỳnh Đôi, huyện
Quynh Lara, sử Nghệ Án, Cha là Hồ Phì Diễn cùng mẹ họ Hà (vốn
người HÃi Dương) đã đi cư ra Bắc, Ở phường Khản Xuân gần Hồ Tây,
huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Hà nội Hồ Xuân Hương ra đời ở đỏ, thuổ
nhỏ được đi học nhưng cha mẹ mất sở nên phải vất vả tự lập Thông
mình bay chữ, giổi thi từ, Hồ Xuân Hương có ÿ kén chồng nên muộn
duyên, sau lấy lề ông phổ Vĩnh Tường Ông này chết, lại tài già vời
một cai tồng tục gọi là Tông Góc, nhưng ông này không bao lâu cũng
qua đời Tủ đó bà ở vậy làm bạn vời văn chương, đi ngao du ede nơi
thắng cảnh, thường xường họa với các bạn vấn Trong số những
người đắc tính có ông Chiêu Hồ tức Phạm định Hồ, người làng Đan
Loan, phi Binh giang, tỉnh HÃI Dương Gò thuyết nỏi trong quãng đời
này, có lần bà đã chắn đời đi tủ những rồi lại hoàn tạc và cbung cuộc
ra sao thì không rõ
“Trong những điềm gọp nhất trên đây, có một điềm cd thé làm
cần cử cho sự thật là việc bà đã giao thiệp vời Phạm Đỉnh Hỗ Việc
ấy cò thật vì cò những bài thơ lãm chừng đề lại Phạm Đình Hỗ (sinh
năm 1768, chết năm 1839) đã sống dười đời Trịnh qua triền Tây Sơn,
sang triều Nguyễn đến mãi đời Minh Mạng Hồ Xuân Hương có thể
vời Phạm Đỉnh Hồ cùng một lửa tuổi Nhiều người đoàn rằng theo
` tâm lý thường tỉnh trong cuộc giao du thì Xuân Hương phải ít tuổi
hơn Phạm Đình Hỗ, nhưng chắc không Íf hơn bao nhiêu, cử cải giọng
già đặn của Xuân Hương trong lời đối đáp (bà bồn xứng là ch}, VẬY
điều chăc chắn là Hồ Xuàn Hương sống vào đầu đời Nguyễn và có lẽ
làm da số những bài thơ cỗa bà vào thời ấy, Trong thơ bà cẻ lần
nòi đến vua chúa, đến quan thì song không tÌt nhiên ja lam trong
đời chùa Trịnh VẢ chăng xem đến lời thơ thì rất gắn đây, khảc xa với
lời thơ như thưởng thấy trong tho luật tiền Nguyễn
Những bài thơ của Hồ Xuân Hương ngày trườc — thời văn nôm
— thường chỉ lưu truyền bằng miệng Đầu thế kỷ này người †a mời gộp
nhật thành một tập fẨy nhan đề là qXuân Hương thì tập, TẤI cả cỡ
Trang 12
độ 30 bài, đa số là thất ngôn, bát cú, ngoãi ra có mươi bài tử tuyệt và
một bài song thất lục bát (Đánh cở người)
Gó thể dựa theo đề tài mà phân loại như sau;
1— Những bài vịnh vật: Cái guặí (3 bài) — Quả mít + Bánh trối
— Ốc nhồi — Cái trắng thẳng — Cái giống
3.— Những bài vịnh việc: Tát nước — Đánh ấn — Dệt cũi — Đánh
cờ người
3.— Những bài vịnh người: Thiến nữ ngã ngảu — Ông Cử Võ
— Tranh Tố Nữ — Quan thị — Sử bị ong đốt ~— Sư phẩi lòng gải — Sư, 4— Những hài vịnh cảnh ; Chủa Hương — Chủa Quản sử -— Hang Thanh hóa — Hang Cầc cố — Đào Ta dội — Cảnh quê — Đài Khân Xuân
5.— Những bài cẩm hoài : Tự thán — Khác ống Phà Vĩnh Tưởng
— Khóc ông Tồng Gác — Vợ lề than thân — Đô người khóc chồng — Bà
lang khóc chồng — Không chồng mà chữa ¬ Chiếc bách
6 — Những bài ứng đáp : Mới trần — Mắng thí nhân chơi trên
— Boe bến Chiếu Hồ — Gội Chiêu Hồ uề piệc ong tiền
3.— Một nghỉ vấn phải giải đáp trước
Trước khi bước vào phân tích thơ Hỗ Xuân Hương, tưởng cũng
nên xét đến một giả thuyết tiền đề cho rằng không làm gì có một thi nghiệp đưới danh Hồ nữ sĩ như trên Những bài thơ góp nhật trong
« Xuân Hương thí tập » là do những tác giả vô danh xuất biện vào những lúc khác nhau Ngay cà con người của Xuân Hương cũng là do trí tưởng tượng của người ta tạo nên, Nói cách khác không lâm gì có một nữ
nhân tên Hồ Xuân Hương sống vào đời Nguyễn và thật sự đã sáng tác
ra được bấy nhiêu bài thơ Các nhà chủ trương thuyết này lý luận
nhữ Sau : a) Chính liêu sử da Hồ Xuân Hương là tất cà một chuyện hư
huyền vi tài liệu không có chép ở một sử sách nào đáng tin cay cd
Trang 13THƠ ĐỜI NG oven
thức những cáu truyện cân vấn mang những hính ảnh ấy, Chính sở
thích ấy đã đưa bọ đến sáng tác những bài thơ ấy cũng nhữ vô số
những truyện tiếu lâm khác
ø) Vậy thị tác giả những bài thơ ấy chính la bon dan ông có khí
ngay trong đám nho gia đạo mạo (chứng cớ là như Cao Bá Quái, Nguyễn
Khuyến, san này Tân Đá nữa cũng có những bài về loại Ấy), Người la
jam ra đề riếu cợt nhau, đề mua vai, đề chọc cưới Những ở một thời
dư luận nghiêm khắc, sgưởi ta đú có lám ra, cũng không đại gì mã nhận tác quyền Ngưới ta đọc chơi rồi có bị cán vận xề xuất xử thị đồ cho
Hồ Xuân Hương Tại sao đồ cho Hồ Xuân Hương được? Bởi ví lúc đầu
chắc cũng có Ở một địa phương nào đó một ngưới con gái hư thân,
mất nết, phóng đãng quá mức, mang tên ấy, người la đã làm một vài pai thơ tạc nhà đồ chế riễu nàng như bài « Không chông mà chữa s, bài
„Khóc Tổng Cóc› v,v Những bài ấy mới đâu gọi là thơ Xuân Hương không phải do Xuân Hương lãm ra mã lá thơ nói về Xuân Hương, Vệ sau các bài ấy được hoan nghệnh, người ta lâm ra nhiêu, những kế
ranh mãnh lại cảng đầu theo khuynh hướng, đến đảo tạo ra hẳn một loại thơ, cũng mang những tỉnh chất như nhau ; khiêu khích, bỡn cợt,
nữa tụo nữa thanh, người ta quen gọi là thơ Xuân Hương và góp lại ngày nay thành một thí tập
Xết giả thuyết này, ta thấy nó cũng có nhiều điều hữu lý, nhiều
về quyển rũ nữa là khác Tuy nhiên, trổ lại thân thế Hã Xuân Hương,
chúng ta bị ở đây trước một truyền thuyết — đá chỉ là truyền
thuyết dòng — song cũng khòng thể nao phủ nhận ngay được, nhất lá
thân thể ấy lại có a8 lại những vốt tích đú là ít oi với ngưới đương
thới Xét nữa thí việc nữ nhân hay thơ nóm trong lịch sử vẽ trước
khong phải chưa tứng có (xem Văn học Trịnh và Tẩy Son) Va ching,
đi vào nội dung thi tập, chúng ta nhận thấy một sự nhất trị khả zÖ tảng,
Không phẩi nhất trí ở mấy tính cách đã nêu trên má ở nghệ thuật thơ,
tứ thề cách (thơ thất ngôn, Đướng luật đấn thuật đặt cân đúng chữ,
giọng điệu, hơi thơ, tất cả chứng tổ một gốc gác, một văn phong, Cho nên đặt trước hai gid thuyết — cải than thé tác giả dẫn trên cũng xin
cho lam một giả thuyết thôi — chúng tôi vẫn công nhận truyền thuyết
và hiểu rắng Hồ Xuân Hương là một trướng hợp đặc biết, một ngoại lệ trong nữ lưu, trong thì giới và trong xã hội nước la xa
3.— Hình ảnh đâm tục,
Đọc thơ Hồ Xuân Hương, Tân Đà có phê một câu lá «Thi trang hữu quỹ », Thật vậy, trong bầu hết nếu không phải là toán thể các bái
Trang 14bóng gió vào những bài tả đồ vật, vịnh sự việc hay phong cảnh Xin
Hiển nhân quân tử ai là chẳng,
Msi gài chôn chân cũng muôn trẻo
Ngay cà những bài có ý hoài cÂm, trữ tỉnh, tác giả cũng cố gắng
và khéo léo đưa nghĩ đôi ấy vào Như khóc ông Phủ Vĩnh Tưởng:
Can cần tạo húa rơi đêu mắt,
Trang 15THO DO! NGUYEN “77
Ở đây aba đạo đức (hay giÁ đạo đức) có thé cho rằng tất cả là
bởi trí tưởng tượng «hư đốn» (pervers) của người đọc cử tự tạo ra
một ám ảnh ma quai, cho như về phía tác giá chỉ ngay tình (Ả vật hoa
cảnh, Sợ thật thì cải nghệ thuật nghĩa đôi ở đây đã hiền hiện khỏ mà
phi nhận được và đối với người đọc đến tuổi hiểu biết, nhất lã người
về nam giới vời bản nẵng tính đạc tự nhiên, tất không tránh được SỰ
lên tưởng, Day có điều lâm người ta phải ngạc nhiên là sự bằng hữu
của những hình ảnh khiêu khichấy trong mỗi bài thơ và dưới một ngôi
bút, Điều đó chứng tổ tất cẢ một khuynh hướng tâm hôn nơi con người
tác giả Và nếu chúng ta nghĩ rằng đây là một con người nữ nhân, lại
có học, sống trong xã hội nho giáo luân lý nghiêm khắc ngày xưa, thí
điền đó thành cà một bí ñn,
Gần đây có phải tân học đem triét thayét phan tam (psychanalyse)
của Ereud đề thử cất nghĩa sự bí ân ấy, Hồ Xuân Hương ở trong một
tinh trạng bị «dõn ép về tỉnh đục» ví không thỏa mãn nên giải thoát
ra văn chương, Ông Ngư
n Văn Hanh — có lề cần cử vào cuốn «Giai
nhân di mặc» của Nguyễn Hữu Tiến — tẢ Xuân Hương là ngưới «mật
rỗ hoa, đa ngăm ngắm đen», tức lã xấu xi ÍL được đàn ông đề ý, tuy
nhiên lại rấi đa tỉnh Sau lấy đến hai đời chồng mà cũng bất mãn
— vẽ đường tỉnh đạc tít nhiên — tôm lại luôn luôn bị (khẳng hoằng
sinh lý», Tỉnh dục không được thỏa mẫn, hiện ra những âm ảnh đâm
đăng rồi trút vào những bai tho ma quai
4 Cái cười trêo phúng
Một tỉnh chất phô biến và biển biện nữa của thơ Hỗ Xuân Hương
là tỉnh chất trao phúng, Mỗi khi bà cất bút lá đề riếu cợt phúng thích
Đi vào phẩn tích thi tập của bà ta thấy bà đã bắn những mũi tên trào
phúng vào để hạng người trong xã bội Tử ông Cổ Võ « Đầu đội nón
đa loe chóp đổ › đến chang vấn nhân đốt nát mà sinh chữ «cbơi trẻoo,
Tử ông quan thị đến ông thầy chủa Nhất là phải tăng säi hay bị Xuân
Hương trên chọc, Nào chế Sư bị ong đốt, nào chế Sư phải lòng gói bị
Mang đuổi, khí lại mô tẢ với những nét hoạt kế cuộc đổi từ hành cũa
si vãi
Chẳng phải là Ngô, chẳng phải ta,
Đầu dị trọc lắc áo Rhông tả
Odn ding trước mặt năm ba phẩm,
Vai ndp sơn lưng sản bay ba,
Khi cdnh kid tia khi chitm chge,
Trang 16
THỜI KỲ THỊNH ĐẠT
Giong ht, giong ki, giong hi ha
Tư lâu cổ lễ nên sử cụ,
Nedt nghéu tea sen nọ đó mà
Tóm lại, trên thì vua chúa quan lại, ông Phổ, ông Cử, đưới đến
ông Tổng, ông Lang, những mặt nam nhỉ to lon trong xã bội đều bị cái cười của Xuân Hương điềm điện, gọi tên Bà đã chế nhạo họ về
những tật xấu gì? Không ngoài mấy tật hợm đời, khoe khoang, ích kỹ, háo đanh Nhưng nhất là cái tật háo sắc của họ Tử bạo chi tan:
Hing héng md phén duyên tì cậy, Chúa đâu pua yếu một cái này, đến thứ đân, anh học trò còn non đại :
Ong non ngửa nạc châm hoa rữa,
Dé cén buôn sừng húc giệu thưa
kế sĩ lên mặt biền nhân quan tk vay ma:
Méi gài chên chân cồng muồn trả,
xưa Xã hội ấy đề cao cương thường cùng tôn giáo, thở vua chúa,
trọng kể sĩ, và chuộng nữ sẵc mà coí rễ đân bà, Hồ Xuân Hương đã là nạn nhân đan đớn của những nguyên tắc thống trị ấy Cho nên bà đã cấm tức mà phần động lại bằng thái độ chống đối, chống quyền ngự trị
của vua chúa, sĩ phu, nam giới, chống đối lại một nền luân lý khắc
nghiệt và áp bứo, chống luân lý nho giáo bẤt đàn bà thả tiết, chống chủ nghĩa đa thẻ, chống phải tôn giáo ăn bám xã hội, chống thành kiến
tỉa mai gái chửa hoang, Chống bằng cách nào ? Bằng cải khí giới của
kể yếu là cân trào phúng, i‡ tiếng cười Tiếng cười khi dí đêm lúc lần
ác để phẩn đổi một trật tự thống trị cùng với những giá trị của nó
Như vậy tức là đồng thời bà đã lên tiếng đồi hổi dân quyền, nhất là
nữ quyền: quyền cho người đàn bà được vươn lên ngàng hàng với dan ông, quyền cho ngwoi đàn bà được chỗ động trong việc tìm khoái lạc sinh lý như đân ông Biểu cợt thối hiểu đâm của bọn đầu ông, bá
đã nêu ra một cự thật: Luận lý xã bội thường khinh bÍ, kiêng ky vấn
Trang 17
THO DOI NGUYEN 279
đề sinh lý, nhưng đến những người bề ngoài đứng ra hảo vệ, ca tụng
luân lý ấy như vua quan, nho sĩ, tăng lữ, bề trong lại càng chìm đầm,
hèu yếu trong vấn đề ấy Cho nên bà thẳng tay tấn công vào cái thành
kiến phân thiên nhiên ấy, nói toạo và đề cao vấn đề sinh lý, coi như
chân lý day nhất trong cuộc sinh tồn của xã hội Tóm lại giải phóng
bắn năng chống lại lễ giáo, phá bổ thành kiến a8 mhin thẳng vào sự thật:
đó Tà một ý nghĩa nữa về cải chủ trương cách mạng của Hồ Xuân Hương,
5.— Phê binh qua những thuyết duy vật trên
Vậy thơ Xuân Hương là thơ (đồn ép» bay thơ ccách mạng? ?
“Thật ra thí hai thuyết trên là bà con, đều nằm trong trận tuyến phê
bình duy vật, một phong trào phê bình Xuất hiện Ở nước ta vào bồi tiên
chiến, khoảng 1938-1942 Chúng ta sẽ trinh bày tồng quát và phê phán
về phong trảo ấy vào phần Văn học hiện đại của bộ sách này, Ở đây
chỉ xin đưa ra mấy phận xét vấn tất lên quan đến vấn đề Hồ Xuân
Hương Thật ra thị những thuyết ấy đều có phần hữu ích cả ví giitp ta
nhìn rồ một mặt khác của sự thật nhưng nếu đem làm tôn chỉ, làm
tin điều đề mong cất nghĩa tất cả thì không khổi đưa đến những nhận
định sai suyễn
1_— Như đem thuyết phan tâm học về biện tượng đôn áp ý hưởng
(refoulement đe tendances) đề cất nghĩa cái binh ảnh đâm tục trong
thơ Xuân Hương ¡ Xuân Hương quyết không phải là một bịnh nhân
thân kinh thác loạn, tâm lý không hoằng trong quan niệm của Fread,
Đọc thơ bà trải lại, qua những nhận xét tnh quải, gua cải cười mỉa
mai, cải giọng trịch thượng, ta luôn luôn thấy sự hiện bữu của sự quan
gặt soi mỏi, của lý trí thức tỉnh, của bẩn ngÄ vững vàng, Đây là tiếng
mới cña một con người tự chủ hiểu rõ mình định nói gi, không phải
là những lới vô tỉnh, thốt ra trong những lúc tâm hồn kinh hoàng, ý
thức xảo động, đề rồi biện ra đười mất kinh của nhà phâo tâm học
thành tầm bịnh nọ, não chứng kia,
9.~— Lại như đem cái thuyết về cách mạng xã hội, tranh đấu giai
cấp đề cắt nghĩa cải cưới phủng thích của Hồ Xuân Hương : quan
giệm lịch sử vẻ tranh đấu giai cấp la một quan niệm không đúng với
xã hội A Đông ta, Nhất là Ở nước ta xưa không hê có những giai cấp
dong kin như thì dụ ở xã bội phong kiến Tây phương, Mặt khác thì
phải quan niệm rằng những binh thức lễ nghi, cuộc sống luân lý như
tổ tiên ta vẫn sùng thượng xưa không phải là những xiềng xich ma mot
thiều số vua quan đem ra làm khí giới thống trị dé dan ap, la gat va
Trang 18
280 THỜI KỲ THỊNH ĐẠT
bóc lột đân chúng như những nhà duy vật sau này lầm tưởng Phải
công binh mà nhận định rằng đó là những thành tích cố gắng về văn
minh, trong một giai đoạn lịch sử, mà toàn đân đã phải mạnh mề vươn
lên mới đạt tới, Đạt tới một hình thức sinh hoạt, những giá trị tính thần
mà đa số những đầu óc ‡ thức cho lâm phải làm bay, làm văn mính tiến hộ
Côn ra thì sự xung đột giữa cả nhân và xã hội, giữa bẩn nắng và luân
lý, giữa thú tính và lỗ giáo, Ở thời đại nào, đưới vòm trời nào, trong xã
hội nào chẳng có Có cà ngay trong cuộc sinh boạt cla từng người,
trong phạm vì mỗi cả nhân nữa Nhưng đến bảo rằng chŸ căn cười cợt
một nhân vật được trọng vọng, chế riễu một giá trị được tôn thờ, hay
nổi ruột câu chuyện tục tĩn đề giải phóng thủ tỉnh, ấy là làm cách
mạng, thị cái ý nghĩa cách mạng ấy thật dang rễ rúng quá
Bi vào trường hợp Xuân Hương, ia thdy cải cười của bà không
han là một cái cười đã phá những nhân vật và những giá trị thống trị
như thuyết cách mạng lý luận Người ta có thể đế dàng lập luận ngược
lại rằng như khi Hồ Xuân Hương" viết: Chúa dấn pua gẽn mội cdi nay,
không phải là bà phí bảng gì vua chúa mà chính bà kêu gọi đến uy
quyền của vua chủa đề nâng cao giá trị cho một «cái này», Cũng như
việc bà chế riễu bọn sư säi hỗ mang không sẻ nghĩa là bà đã kích tôn
giáo Việc bà chế riễn bọn học trò đốt không có nghĩa là bà đã kích
chữ nghĩa của nho gia, vấn học, sĩ ph Trái lại, nhà thơ ấy chỉ làm
một công việc thanh trừng cho hàng ngũ tôn giáo và sĩ phiệt « Lại đây
cho chị dạy làm thơ», câu ấy chứng tổ bơn hết cả tác giả công nhận
giả trị của thì văn «Than nay ví đồi làm trai được», câu ấy hơn hết
cã chủng tổ tác giả đã công nhận cái hơn của người đân ông trong
xã hội
6.— Đi tìm chân tướng thơ Xuốa Hương
1.— Nguồn gốc xã hội và lịch sử
pe biểu rõ được cái chân tưởng của thơ Xuân Hương có lẽ chúng
ta nên gạt hồ những lý thuyết làm sẵn và nhập cẳng ở trên, mà đi vào
lịch sổ, xã hội và vàn học của nước nhà hầu phần nào nhìn ra sự thật,
Ở nước ta ngày xưa, và từŠ
m trong lịch sử vẫn o6 2 tầng lớp bình
dan và sĩ phụ Tuy không phải là hai giai cấp chính trị đóng kín, nhưng
mỗi hạng đỏ, trên sĩ, đưới đấn (nông, công, thương) thường có lề lối”
sinh hoạt và câm nghĩ riêng biệt,
Hình dân có cuộc sống thiện về bẩn năng, côn sĩ phụ tôn the
những luàn lý, triết lý mà họ học bởi được trong Han hoc Su phần
Trang 19THO ĐỜI NGUYÊN 28r
cách này phản Ảnh sang mặt văn nghệ ra hai nên văn mã nhiều nhà
vin học sử vẫn thưởng đặt vào vị trí đổi lập: vẫn học binh đân của
binh dân gồm có những truyện cỗ tích, những câu tục ngữ, ca đao và
văn học nho sĩ lúc đầu toàn viết bằng chữ Hán Người bình đân sống
thiên về bản năng, không được trau đồi những lối điễn đạt thanh tế
nên trong lục ngữ ca đao của họ, có những lới tục tắn, những ý trang
trợn, lại thưởng hay có giọng đha bổn cười cợt, Trải với nho gia thưởng
tra lối diễn đạt văn hoa, những y tưởng trang nghiêm đứng đẩn
Gái cưới tục nhà — đướng như là bần chất của thọ Xuân Hương
—ta thấy nó đã cỏ tứ lâu trong những truyện tiếu lâm, những câu
tục ngữ ca đao trào phúng của binh dân Việt Nam Ong Truong Tira
nghiên cửu ca đao Việt Nam, ngạo nhiên bởi sy déi dao cha yến tố
tục tu có đưa ra ÿ kiến : Phải chẳng đẩy là di tích của một tôn giáo
—tôn giáo của người Việt Nam cỗ sơ — là thô cải giống, thờ sự siph để?
Điều hợp lệ hơn có lẽ chỉ là dân ta xưa đã có một cuộc sống VÀ
những cm nghĩ rất thiên vẽ bẩn năng sinh lý, Một công trinh kiến
trúc đòi Lý nh chùa Một Gột cùng bao nhiêu thần tich dam ding
trong truyện cỗ, trong cả Việt điện Ú lính tập, Lĩnh Nam chích quải, là
những bằng chứng xác đáng ở một thới mà giới lãnh đạo chữa xa cách bình
đân, chưa bị cải hóa bởi Hán học Những tử cuối đời Trần trở đi, Nho
giáo tiến lán địa vị mu thắng, Rồi sang Lê qua đòi Hồng Đức, Không
học trở thành độc tôn, lý trí với luật pháp và giáo điều nghiêm khắc
ngự trị xã hội Chính là giai đoạn mã ban ning tho 16 của đa số
bình đân nước Việt đÄ được rèn đũa rất nhiều, Nhưng sau baôi Thịnh
Lê, kỷ luật rôi dân, rồi sang thói phân tranh, xã hội loạn lạc, không
những đân chúng trổ lại nếp xưa mà ngay cả nho sỸ mà cuộc sống xáo
lộn đưa đến hằng nhật tiếp xúc với binh đân cũng đi đến hóa đồng với
họ trong những khuynh hướng phóng túng, Thêm váo cải không khỉ
đật lạc mà cáo nhà cầm quyền thiến từ cách đạo đức, bam hưởng
thụ đã thối ráo ra chúng quanh họ, ảnh hưởng không ít đến tư Lưởng
của những ngưới cầm viết, Ùo đó mà ta thay thi vẫn đổi Trịnh côn
đậm đà hương vị khoải lạc,ý khao khát hướng thụ bộc lệ ra trong
những khúc ngâm Nhất là Cung oân ngâm mang rõ màu sắc đục
khoynh mà Ảo não đọa lạo biết bao I
Cho nên qua đời Nguyễn sơ — mà những điền kiện nhân tâm,
phong tạc chỉ là tiếp tục và thừa kế đới Trịnh — sự xuất hiện của thơ
Ruan Huong không lâm cho chúng ta ngạc nhiên lắm, Đuy có điều khác
1à tính chất dam đăng ở đây không chim vào sâu não nhữ Ö' những ang
văn bác học, nó hợp với cái cười cd bữa của binh đân mà đỗ ra khinh
Trang 20
khoái Thơ Hồ Xuân Hương không những được bảo trước ở hẳn chất
cm hứng mà còn ở cả hình thức, ngôn ngữ nữa, bói Trịnh, một bài phú
như Ngã ba Hạc của Nguyễn Bá Lân (cỏ sao lạc ở trên) đã chứa đựng cẢ cái cười và cải tục của Hồ Xuân Hương, Lại còn một nhân vật kỳ đị là
Trạng Quỳnh hay Cống Quỳnh 2 cũng chuyên môn cợt nhấ, Có những
câu truyện lý thú về việc ông đối đáp với vua, với các bà chúa, với bà
Điểm, chẳng hiết só nên tin không, song những bài thơ lưu truyền của
ông, như bài Gửi cho oợ, Ghẹo cô hàng nước người Nghệ thì chỉnh là
trong loại thơ Xuân Hương này vậy,
Như vậy thơ Xuân Hương đã nẫy mâm ngay từ đòi Lê mạt, đến
đời Nguyễn Sơ có lẽ nó gặp thêm điêu kiện thuận lợi như sự an nính trở lại, việc chấn hưng lễ giáo của triều Nguyễn chữa kịp thi hành
nên đã đặc biệt nầy nở dưới cây bút cña một thi nhân mà nguồn gốc
hoàn cảnh và chắc chắn cá tính nữa đã là những yếu tố quyết định khác, 2— Hoàn cảnh sáng tác
Hồ Xuân Hương cứ nhữ tiều sử ghỉ lại, xuất thân từ một gốc gác trung lưu, việc nàng được theo đổi sự học lại có tài thi văn phải do năng khiến riêng bơn là sáo nhà, Dù sao ở xã hội trọng văn như ngày
xưa, một cô gái đà chẳng có sắc đẹp, đù gốc gác thấp kẻm thể nào,
song có tài ứng đối chữ nghĩa là sự hiểm có, tất được pgười ta để ý, nhất là được phe nam giới tim tôi, thử thách Ở đây cũng cần nhớ lại cải không khí sinh hoạt văn chương trong Xã hội ta xưa, tục lệ thách đối,
sách họa, ra đề tài cho làm thơ, xướng thơ đôi bọa lại, coi lâm tao nh
và diễn ra khắp nơi : trường học thầy đồ, công đường quan lớn, phỏng khách của một ông trưởng giả kén rể, quán bàng của một cô hàng
nước muộn chồng, Những tục lệ Ấy — hạ việc sảng tÁc thi văn xuống lầm một cuộc giải trí bình đân — chắc phải thịnh hành lắm ở nước -
ta vào đời Lê mạt, Có tiều sử nói chính Xuân Hương sau hai đời chồng,
ở vậy, cũng đã từng chủ trương một ngôi hàng nước hay được các bạn
làng văn chiếu cố Có lễ nàng tiếp nhiều bạn trai, như ông Chiều Hỗ, ở
ngay nhà mình nữa, Cô gái dy ban di cd mot nếp sống phóng túng
khác thường mà gốc gác bình dân và cuộc đời dang đổ của nàng cho phép cũng nhữ luân lý rùi đấn bấy giờ làm ngơ Người ta — họa nam
tử hiếu kỳ — đỗ xô đến làm quen với nàng Trong những cuộc gặp gỡ ở
quán nước ấy, khách hãng thưởng thức bát bún ốe biên, mân mê một
3 Mot thuyết nối: Ông là Nguyễn Quỳnh, người làng AÁa cực, huyện Hoằng
hóa, tỉnh Thanh hóa, đố hương cổng đời Lê Cảnh Hưng (coi Việt thí của Trần Trọng Kim)
Trang 21THƠ ĐỜI NGUYỄN z8
trai mit chín, khảo nhau về việc sư ông trong làng mới bị tai tiếng về một chuyện dâm ö, bồi nhau ai đã từng đến thầm hang Cắc Cở chưa Bay nhiêu cơ hội đễ hiến đề tài cho người ta thách nhan sảng tac CAm hứng bốc nóng, sự ganh đua hơn nhan bằng một ÿ lân kỷ, vượt nhau bằng một văn mắc mổ, cảng khiến trai gái quên mọi mặc cẩm phân biệt e đẻ Nhất là cô gái Cô Nguyệt muốn áp đảo được bon dan dng tro trên hay nỏi chuyện bài bây, hẳn phải tổ ra táo bạo hơn cà họ, Bởi vì năng đã nhín rõ chỗ đó, bọn đản ông thưởng hay đánh vào chỗ
yếu của phải nữ là cẢ thẹn, mỗi khi nghe nói chuyện tục tỉa thì đổ
ruặt cửng họng Nàng đã đi hơn họ, tổ ra ngõ ngảo hơn, có nam tính hơn họ, làm cho chính họ phải cừng họng đồ mặt bằng những bài thơ
Đa số những bài thơ Xuân Hương có lẽ ra đời như vậy, trong cái
không khi nửa tục, nỗa thanh của những cuộc xưởng họa binh dân, nửa hư, nửa thực của những cuộc bộc lộ bồn cọt Rằng trong đó có
hiện tượng « nhục cẩm đồn ép » ta không hoán toàn phổ nhận Ly thuyết
của Ereud là một cái gì quá tông quảt mà cũng quả tinh vì nữa khiến
nhiều khi ta phải đầu hàng cải nhìn soi mới cổa ông, Nhưng đến cho
rằng Xuân Hương đã lên tiếng ví lý tổng cách mạng xã hội ahư nhà
phê binh đuy vật sử quan lập luận thì thật đi quá xa sự thật Thơ Xuân
Hương trong ý nghŸa tổng quan của nó, chỉ là đại biều cho cải khuynh hướng cười cợt tạc tĩa trong văn nghệ bình dân Việt Nam, cải cưới thưởng khi chỉ đỗ mua vui chờ chẳng bao bàm một hậu ý lãm luân lý, chính trị
gi hết, Khuynh hướng ấy vốn thưởng thấy trong ca đao cỗ tích và đến
cuối Lê sang Nguyễn thi gặp những điều hiện thuận tiện như xã hội lộn
xộn, phong tục cởi mổ; thái độ a tông của một số cây búi nhé sĩ đọa lạc cho nên được địp nẫy nổ Rồi người nf thi nhân sinh ra trong
hoàn cảnh ấy đã đem tỉnh tỉnh và tài nghệ mình đầu theo khuynh hưởng
để tạo ra một thi nghiệp thật là dị ký
3.— Khfa cạnh trữ tình
Như vậy thơ Xuân Hương có ý nghĩa vẽ văn học sử nhiều hơn là
xã hội luận Nó không phải là tiếng nói tranh đấu cách mạng, của quần chúng, Và nếu tá chịu khó nghề xem thi thấy nó côn nặng chia tính
cẩm cả nhân, Nếu Xuân Hương có lên tiếng đôi bổi gi thì không phải
là đôi hỏi cho xã hội, quần chúng mà chỉnh cho phận nàng, long nang Bay chinh lại là một khia cạnh khác về chân tưởng thơ của Hồ
Xuân Hương : khia cạnh trữ tỉnh, Người ta thưởng chỉ đề ý đến cải cười, cải tục trong thơ Xuân Hương, Không biết rằng sau cải cười Ấy,
Trang 22
lại có nước mất và cái tục ấy nhiều khi chỉ là do sự mia mai hén
dai phát lộ ra, Tác giá đã quả đau khổ trong cuộc đời mình Nhân
duyên đang đổ, số phân long đong, tình cảnh đơn chiếc, Những bài bài thơ cẩm hoài của bà cho ta nghe rõ ra một liếng than vấn khi não nùng, khi chua chát +
— Canh khuya ũng nông trồng canh đền, Trơ cái hỗng nhân uối nước non,
— Tiềng gà năng tông gáy trên bom,
Oán hận trồng ra khắp mọi chôm, Cho đếo cả những bài chủ trương phúng thích, khêu chọc tiếng
cười, ta cũng thưởng thấy ần nấp một cái gì dịa dàng mềm mông kêu
gọi tình thương, đôi khi cả một giọng xót xa Ão não :
— Thên em như quả mit trên cây
— Bác mẹ sình ra phần ðc nhi
— Thân em thì trắng phận em tròn,
'Pưởng như tiếng nói van lơn đẫm thấm cla một tầm hồn nhỉ nữt
luôn luôn tha thiết với lình Ái mà ước vọng chỉ vấp phải toàn những
trãc trở đan lòng, Cho nên nàng đã phần ứng lại bằng một thái độ tự cường, tự kiêu, ngạo đôi, mạ đời, ngạo vÀ mã chính bọn đùn ông thé bi
bởi hợt, tìm đến nâng mà không hiểu nàng không thông cảm những
khát vọng vô tận về tình cẩm trong chiều sâu của tâm hỗn nàng Sự
lặn lớn của bi với bài, van lơn mềm mồng với mai nửa chanh chua,
đề kết cục lại bằng ngao ngắn hay thách thức, tất cả chỉ là những biểu din qua ty nhiên của một tâm lý phụ nữ trong hoàn cảnh như Xuân
Hương Cho nên thơ Xuân Hương tóm lại không phải chỉ hiến cho người ta một dịp suy nghĩ về cải cười tục nhấ của nó Nó còn cho
ta nghe ra một tâm iinh khi che kín, khi bộc lộ và lâm ‘cho chúng ta
phải cẩm động Do đó chúng ta cảng thấy sự duy nhất cổa tác phẩm
va tin vào sự có-thật của con người, Z.— Nghệ thuật thơ Xuân Hương
4.— Thơ nôm thuần tâY,
Về nghệ thuật ta cũng thấy thơ Xuân Hương chính là sự vươn
lên của văn nghệ bình dân Lời văn nỏm na Câu thơ thưởng chỉ là một lời nói cửa miệng
Musi ddy hay là mười tâm đây ?
— Khóa khéo đi đâu lũ ngắn ngờ Ú
— Quản sử saa mà cắnh vắng teo ?
Trang 23
Người đọc đã ngàn cái khúc mắc đốn bi Äa của thơ Tiền Nguyễn
tời đây thấy thoÃi mai như được bơi lội trong đông suối trong mắt của
tiếng nói thuần tủy dân tộc Không điền tích can xa, không chữ sách
thong thai La lùng là táo giả đã đưa được gọa gàng và tự nhiên những
cầu nôm na ấy vào luật lệ thất ngôn, vào khuôn khô đổi ngẫu :
— Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kí lạ bẩu Tiên môi mặt nhòm,
— Rúc rích thây cha con chuật nhất,
Ta ue mặc mẹ cải ong bầu,
— Cải tội trăm năm chàng chịu cá,
MMảnh tình một khỏi thiềp xin mang,
Ngữ vựng hầu bết là nôm, cỏ cả những tiếng chủi bởi, màch tục
Đôi khi cũng đăng chữ Hản song throng ding vời một hậu ÿ trào lộng :
Cdn cần tạo hỏa rơi đâu mỗi,
Miệng túi cần khôn thắt lại rỗi,
hoặc đùng làm trò chiết tự bổn cợt :
Duyên thiên chưa thấy nhô đâu đọc,
Phận liễu sao đã đây nết ngang
Tác giả đã xử đụng được những thành ngữ, những lối nói giản
ude bong bay ral Việt Nam như :
— Những kẻ không mà cả méi ngoan
— Đểu sœ hà phải gì bà cốt,
— Di thi cũng đè ở không xong,
— Mặt tháng đôi lần có cũng không,
Đồng thời người ta thấy một kho ngữ vựng rất đồi đào những
tĩnh từ trạng tự thuần túy nôm na mà rất cỏ giả trị nghệ thuật (coi đười)
2,— Thơ tả chân nghĩa đôi,
Người ta thường hiểu chữ tà chân trong tho Xuan Huong theo
hai nghĩa Một là bà đã nói đến những sự thật tục lu mà văn chương
lý tổng thường kiêng ky, Hai là bà đã để vịnh những đồ vật, những
sự việc tÂm thường và quen thuộc vời người ta trong cuộc sống thực
tiến hàng ngây
Ở.điềm trên ta thấy cải khảo léo đặc biệt của tác giả là xếp đặt
mô tẢ đề cho câu thơ, bài thơ thường có bai nghĩa, một agbĩa gần gũi
Trang 24
trong văn chương truyền khầu bình daa Lối thơ bai nghĩa đó thật ra
trước Hồ Xuân Hương ta đã thấy ở Lê Thánh Tôn, nhưng nhà vũa đề
vịnh những vật, những việc tầm thường đề luôn luôn ngữ ý cao xa như
việc cai nước trị đảo, còn ở Xuân Hương thị tất cả đưa về cải hình ảnh dam tne, Thi du nhữ vịnh việc dệt cửi, vua Lê Thánh Tên viết ¿
Tay ngọc lần đưa thoi nhật nguyệt, Gái chân đậm đạp máy âm đương
còn Hồ Xuân Hương viết ¿
Hai chân đạp xung năng năng nhắc, đột suất đâm ngang thích thích mau
Ta thấy rõ hai khuynh bướng khác nhau, cùng dựa vào một công việo thực tại, một đàng cố vươn lên cái cao cả của chí khí, một đăng
chỉ định kéo người La xuống cải âm ảnh của bản năng Bởi vậy nên lối dưới đễ được người bình dân thưởng thứo hơn
VỀ điềm đưới thơ Xuân Hương cũng nói lên cải khuynh hưởng
binh đân rất rõ rệt, Đề tài đêu là những đồ vật như quả mít, con ốc,
những việc như tắt nước, đánh ẩu Thật ra thì trong thơ Lê Thánh Tôn (hoặc được coi là của Lê Thánh Tôn) cũng đủ có khuynh hướng ấy nhưng tác giả chỉ mượn đỗ vật làm một biền tượng cho chí khí cao Xa nên cách mô tả viền vòng không bứng tbú Trong thơ Nguyễn Trãi, thơ
Hồng Đức cũng có nhữag bài tả cây trúc, cây tùng, coo hac, con nhạn,
nhưng đó đều là những đồ hoặc vật cao quí, cách mô tẢ theo khuôn sảo Hán văn, cũng xa sự thật Ở đất nước Đến Xuân Hương mới đúng
là thơ bình dân và tả chân Tác giả đã phô bày trí quan sát, lại khéo
vận đụng ngôn ngữ bình dân đề cho ta về vật, về người, về việc, những
nét họa vừa thực, vừa lính động Con ốc thì đếm ngày lăn lóc đám rêu hôi, qua mít thi da nd sé si, mii nd dầy, Người tắt nước thì œi sớm đầu nước mình nghiêng nga Đảnh ản thì giai co gối hac kham khom cất,
gái nến lưng ong ngửa ngửa lỏng Quả là những nét họa bức chân mà
ky thú
3.— Những đặc thuật trong bút phấp
Đi vào hề trong ky thuật hơn nữa, ta có thể tìm ra mấy bí quyết
đã khiến cho những bài thơ Xuân Hương rất hấp dẫn Tac gid dùng chữ
rất chỉnh xác, rất táo bạo Từ ngữ nôm na của bà thường giản giá trị miêu tẢ và gọi cảm Có thề sưu tập để lập thành một bằng đầy : cầu
Trang 25
THƠ DOL NGUYEN 287
trằng phau phan, nước trong leo lễo, fro taen hoda, vd phép phém, roi lam
bém, tiom om, sé rậm rạp, mồ lam nham Lời thơ đọc lần khi họa
hình, khi tượng thanh, cảm tưởng gãy ra rãt thích thú Có bài thơ
xếp đặt đề gây ấn tượng hình thanh với một nghệ thuật khéo quả, như
bài Cảnh quê, tưởng như một trỏ nhào lộn (jeu đacrobatie) với từ ngữ
hoặc một bức tranh mã cây bút quả vững chắc của tác giả đã bể g
tiến cong cảnh vật đề chiêu theo một chủ quan nghịch ngợm của mình,
Cai nghịch ngợm ấy lại côn tổ ra trong một bắt thuật rất quen thuộc
của nhà thơ nữa lA nói lái, Đọc lẫm bài như bài « Chùa Quán Sử b9;
Quản sử sao mà cảnh oẳng teo 7
Húi thăm sử cụ đảo noi neo ?
độc giả không dâm đọc nhanh nữa sợ vấp phổi cái bấy Hải lật của tác giả !
Tóm lại, Hồ Xuân Hương quả đã sử dạng tiếng nêm một cách
quả tải tỉnh và bài thơ Đường luật với một nghệ thuật thật là độc đáo,
iv THO BA THANH QUAN I.— Con người về di văn,
Người ta cũng không rõ nhiều về nỡ sĩ kêu là bà Huyện Thanh Quan,
Không rõ ngay tên bà nữa, GhỈbiết bà là ngườilàng Nghỉ Tâm, huyện
Hoan-Long (thuộc tỉnh Hà Đông bây giờ), Thân phụ là Nguyễn Lý 3 755-
1837) từng theo học Phạm quí Thích đời Lê, đỗ Thủ Khoa năm 1788 (đời
chúa Trịnh Sâm), qua Nguyễn ra lâm quan, làm đốc học tỉnh Sơn Tây rồi
HÃi Dương Hà thành hôn với ông bưu Nghị, người làng Nguyệt Ảng, huyện
“Thanh Trí (Hà Đông), Ong này đậu cổ nhân năm 1821 (Minh Mệnh [) lâm
trí huyện Thanh Quan (nay là phổ Thái ninh, tĩnh Thái bình) — bởi đó mà
có danh hiệu hà như thường truyền — có lần cau cữu, phổi giáng chức,
bd lam Bat phầm thơ lại tại bộ Hình, san lại được thăng lên Viên ngoại
lang Về vợ ông, người ta chỉ biết bà có tiếng hay chữ va vi nguyên là
con một quan đốc học danh tiếng, nên có thời ký (hẳn vào đời Minh Mệnh)
được với vào kính đô Huế lâm Cung trung giáo tap dé day cdc công chúa và
cũng phì, Tương truyền khi vào đạy trong cũng, vua bạn thơ chữ Ban
bà đều họa được Ngoài ra bà côn lâm một số bài thơ nôm côn lửn lại
ngày nay, tuy không nhiều song cũng đủ đánh đấu một thí tải lỗi lạc
vũ tạo thành một thi nghiệp có giá trị vững vàng trong văn học sử, Tất
3 Theo dài liệu của ông Nguyễn Tường Phượng và Búi Hira Sing trong Van
học sứ Việt Nam, Tiền lán thé’ ky XIX,
Trang 26
ì — Chita hom nhớ nhà (3 bài) 4
2.— Thái độ hoẻi kẽ
4.— Tiếng kêu cố quốc
Boc tho ba Thanh Quan, la thường thấy chứa chan cái lâm sự
nhờ tiếc nước non Nào khi đến viÖng chủa Trấn :
Trần Bắc hành cung cảnh giải dẫu, Chạnh niềm cò quốc nghĩ mà đản,
Nào khi ngắm cảnh ở đỉnh Đèo ngang :
Nhớ nước đau lổng côn quốc quốc, Nhất là đứng trước cảnh cỡ đỏ Thũng Long hoang lần :
Đá vẫn trở gan cùng tuệ nguyệt,
Nước côn cau mặt với tang thường
Nhiều nhà phê bình đã đưa ra cải thuyết bà Thanh Quan mang
nặng tấm lòng thương tiếc nhà Lê, “Thuyết ấy Cải tâm trạng hoài Lê ấy, chính cũng là lâm g chủng của nhiều nhọ
sĩ Bắc hà sau ngày thống nhất, khi bị đặt trước một tân triều mà Cực
chẳng đã họ phải ra phỏ tá Tâm sự ấy là điều có thật, có một cách âm
$, đai bền và là nguồn cẩm hưng cho bao tiếng lòng thấm thiết nơi Phạm
Qui Thich (phan Han văn), nơi Nguyễn Huy Hồ, nơi Nguyễn Du Chúng {a sẽ đi vào từng trưởng hợp riêng khi nỏiđến mỗi nhà văn nay O day
cần nhận xét chung là mặc đầu chính sách khôn khéo của vua Gia Long;
viện nhà Lê rơi vào để vãng không khổi gây ra trong lòng sĩ phụ Bic hi
nỗi tiếc thương
không phải là vỏ căn cứ
9 — Đưới ánh sáng lý trí
“Thật ra thị đây Cũng chẳng phải là cài án « trung thần bẩi sự nhị
quân» có thể đè lên lương lâm của đôi ba nho sĩ đã quả chấp kinh
Chit trang quan trong lương tâm đa số nho sĩ đất Bắc ngay từ trước
khi Nguyễn Ảnh ra Bắc, ngay cả trước khi Nguyễn Huệ ra Bắc, đã là một
Trang 27
THO DOI NGUYEN 289
cải gỉ mong manh, tế nhị, khó nghĩ khỏ nói Suốt thời Trung hưng thi
họ thở ai, thê vua Lẻ hay thờ chúa Trịnh, Họ Trịnh Hàm tôi va Lê
mà tre hiếp vua Lêrõ rằng Vua chúa bao phen mu đồ thanh Loàn
nhan, đề thế lưỡng lập ấy vẫn tôn tại đề họ cú phải tung
Hộ vua mà vẫn ấn lộc của chia Tham chỉ đã có lần một người trong
bọn họ (Nguyễn Công Hãng) bị lên an vé chit trang qnan đã nỏi toạc
ra; Lau nay quan than điên đão, chính ngụy mập mớ, côn phản biệt
sao được thuận nghịch? Cho nên đến khi Tây Son ra, một số như Phan
Huy Ích, Ngô Thời Nhậm đã không ngần ngại đổi bàng ngũ Đến khí
nha Ngnyén ién thi cé thé nói chúa Nguyễn Nam hà có nhiều điền kiện
@ được lông người Bắc hơn là nhà Nguyễn Tây Sơn, vị là một họ lớn,
có uy Hn, đã khổi lên chính từ đất Bắc rồi vào lập được vương nghiệp
lừng lấy miền Nam, không phải xuất thân thảo khẩu như anh em
Nguyễn Nhạc Trước kia chỉnh nhiều nho sĩ đất Bắc (trong số có
Nguyễn Du) muốn lật đỗ Tây Sơn, đã nghĩ đến hoặc thi hank cai oa
mượn bàn tay Nguyễn Ảnh Thể thi nay đại cục đã thành, hà chẳng phải
mot diéu man nguyện Vã chẳng vận hưng phẽ, lẽ thạnh suy Ìà trong
quan niệm qnả thông thuộc của nho gia Vua Lẻ Chiêu Thống không
lâm nên công chuyện gì là bởi nhân lực không kham mã cũng bởi số
trời không tựa Cải ngai vàng trôi đại, mạc nạt kia bả chẳng nên pho
cho giỏng nước Đông lưu, Cho nên đa số họ đã ra bợp tác với tân triều
Cho nên xét nhân lâm vá thới cuộc Bắc hà khi ấy, việc tha thiết với
chế độ và động máu nhà Lê hẳn chẳng đủ đồ tạo ra một thái độ hoài
Lẻ, Thái độ này thật ra để bắt nguồn tir những sự trạng khác hơn là
8.— Uẫn khúc tâm tình
Trước hết trong tâm lý của nho sĩ đất Bắc phải ra lam tôi tân triệu,
khi äy không khối có vấn đề tự ái tồn thương : tự ái địa phương, tự ải cá
nhàn Chúa Nguyễn Nam Hà hạ được Tây Sơn, nấm trong tay cả đất
nước, tồ chúc một triều đinh thống nhất ở Thuận Hóa Đất Bắc Hà ngàn
năm văn hiến» tử nay như rấn mất đán, quy phục một bọn ngưới hôm
qua họ côn coi như thể ngoại bang, Hơn thế bọp ebủ mới ấy đối với họ,
nhất thiết thua kém về học thức, đị biệt vẽ một quảng xa quả khử, lạ
Tùng về phong tục tính tính cho đến Ì ng nói Cho nên đã vượt
đèo Ngang vào Thuận Hỏa lãnh chức tước, đủ ngồi ở nhà công nhận
chính sóc tân triều, họ sao tránh khối nhiều mặc cm dau lỏng, Co thể
chỉnh sự cña Trịnh Phổ đã đổ hoắc, có thể tự cách của vũa Lê đã chân
pha, nhưng bao nhiên gia dink họ đã từng được vinh biền dười vua „
Trang 28và cũng làm quan với Nguyễn, cbinh minh được mời lâm giáo sư trong
hoàng cũng, như vậy không phải là không có Ân huệ và tín nhiệm của
chúa mới Song mặt khác cũng không nèn quên rằng bà thuộc về một
gia đình khoa hoạn đời Lê mạt, Thủ khoa Nguyễn Lý là cao đệ của Phạm Quý Thích, Họ Phạm là bạn thân cổa Nguyễn Dụ, NMấy người này đều
là cụu thần nhà Lê và khi ra nhận cbức tước efia nhà Nguyễn đều còn nặng lòng tưởng vọng tiền triều Bà Thanh Quan thời thơ ấu chắc đã
chịu ảnh hưởng thân phú Rồi lớu lên bôn lầu bèn cạnh chồng trong
một hoạn lộ cũng vất và gian nan, hẳn bà cũng có nhiều lúc cảm thấy cài vô vị của công đanh, cái nhục nh của luồn củi, trên hết cả những
tặc cảm hàng thần đị thuộc, do đó mà đi én tiếc thương thời đại cũ nước non xưa Viếng chùa Trấn Bắc bà đau lòng nghĩ tới cố quốc Nhìn cảnh Thắng Long điền tàn bà lưởng thấy nước cau mặt, Nghe tiếng
quyên kên ở đèo Ngang, bà cũng vi nước mà đau lòng Thử bồi
nước nào đây Ngôn ngữ ấy có thể làm cho chúng ta ngày nay ngạc
nhiên, Nhưng đối với người BẮc hà khi đó vừa ra khổi cuộc phân tranh thì hẳn là nước cũ 300 năm của vua Lê, cái nước Bắc Hà mà Tây
Sơn ra thăm mỗi lời đều xưng hô là «qnÿ quốc», nước ấy bảy giữ nằm đưới quyền thống tri cha chúa Nguyễn Nam hà
Tóm lại nói là hoài bão, nhớ tiếc cái chính trị tốt đẹp của mấy
ông vua Lê mạt thì không đẳng, Mấy ông này ngày trước có quyền
hành gì Bọn tấn thân mũ cao áo rộng ra vào phủ chúa thưởng cũng đồng lỏa với chúa mà coi họ như những lượng gỗ, Đúng ra chỉ
là một thứ tính thần địa phương khá đễ biểu trong hoàn cảnh lịch sử bấy giớ, Bà Huyện Thanh Quan hướng về một quá khứ mmà có lẽ bà
cũng không tưởng lận lắm mà bà cũng chưa thọ hưởng ân huệ đì, những đó là ác quả khử của tiền bối, của gia định, của quê ương minh cho nên tỉnh cẩm dễ tô nên màu khả ái Thái độ hoài Lê của bà Thanh Quan cũng như của nhiều nho sĩ đồng thời, không có tính cách chính trị, chỉ có tính sách tâm tình
3.— Mội dụng trữ tình 4.— Tâm tình ấy đã là đầu mối cho cảm hứng của nữ sĩ trong
Trang 29
nhiều bai the, Bai «Thing Long thanh hoai cd» nói lên nỗi đoạn trường
của tác giả trước cảnh hoang tần của cố đô đất Đắc:
Lãi xưa xe ngựa hỗn thu thảo,
Nến cũ lâu đài bỏng tịch đương
Bài « Chùa Trấn Bắc slà một tiếng than đài hướng vẻ quá khử
vàng son của vua Lê chúa Trịnh:
May toa sen rot mit hwong ney,
Năm thức mày phong nếp áo chấu,
Súng lớp phà hưng cai đã rộn,
Chuông hỗi kim cô lắng cảng man,
3.— Bên cạnh lông tiếc thương cảnh cũ người xưa ấy, ta cón
thấy đậm đã hơn tâm tỉnh riêng tư của tác giả 5ầu vì ngoại cuộc,
những nữ sĩ cũng sầu cho chỉnh mình Hầu hết các bài thơ của bà đều
thể hất nỗi buôn cô đơn man máo, Khi ở chốn trang đài :
Lấy ai mà kệ nồi hân ôn,
Khi bước tới đếo Ngang :
Đừng chân đừng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta uới tả,
Khi trên đướng đậm xa xôi:
làng quê một bước nhường nạao ngắn,
May ké tink chung có thầu là ?
Ta thấy thường là một tâm hôn bơ vơ cô độc, khao khát sự cẩm
thông, Phải chăng vị trong cuộc đời, bà đã phải nhiều lúc sống xa chồng;
xa gia định ấm cúng, mãi tổ thân yêu ? Như những khi ông huyện phải
đổi về kinh hay khi về sau chính bã phải lặn lội vào Huế lâm giáo tập ?
Chúng ta cũng không rõ nhiều hơn về đời tư của nữ sĩ Song cải cam
giác cô đơn ấy lá một cẩm giác thưởng chiếm đoạt tâm hồn người
Cái buôn có đơn ấy thành một bi Ấn quyến rũ đối với độc giả, Hợp với
cai buồn tiếc thương quả khử nó thành cải điện tâm tính chung của thơ
‘Thank Quan,
8.— Điệu lâm tỉnh ấy lại thưởng hay mượn cảnh vậi thiên nhiên
đề hưng khổi và hòa đồng Về trước, trong thơ tiền Nguyễn và nói
chung trong các thể văn nôm, không phổi đã không có thiên nhiên,
Những thiên nhiên đườởi ngôi bát của Nguyễn Trãi, của thi gia Hồng
Đức, của Trịnh Sàm, thưởng là một thiên nhiên lý trí hóa, cứng nhấc
đến chết khỏ, CẢ trong những khúc agàm đời Trịnh, thiên nhiên được
beeen
Trang 30
điềm xuyết vào đề làm nền cho tình cẩm, song thưởng không tránh khổi về chấp vá, lông cẳng, giả tạo Trong thơ Thanh Quan khác thể, cảnh hiện ra với nhiều tự nhiên quyến rũ và gợi cảm :
— Thập thoáng non tiên lác đắc mưa, Khen ai kháo 0ẽ cảnh tiêu sơ
Xank om cổ thạ trên xue tán,
Trang xéa trang giang phẳng lặng từ
— Gác mải ngư ông sẽ viễn phd,
Gỗ sừng mạc từ lại cô thôn
Ngan mai gié cuén chim bay indi,
Đệm liêu sương sa khách bước đẫn
Tác giả chú ý bố cục cho thành một bức tranh mỹ thuật đựy nhất
va hop hy Nba là tác giả gổi vào đó cải rang động của tâm hồn Hỗ
Xuân Hương trong đôi ba bài cũng có những nói họa cảnh linh động, song Xuân Hương sỏ khuynh hướng mượn cảnh vật làm trỏ ngạo đời chớ không đứng đắn tìm đến để giao cảm Lần thứ nhất, ở Thanh Quan,
ta thấy một tắm bồn tế nhị thật sự biết rnng động trước lhiên nhiên
Tâm hồn ấy đeo nặng cái nhớ qgoá khứ, cái buồn cô độc nên thiên
nhiên gợi ra thưởng là trong cảnh chiều xuống hoặc thu sang Nhất là
cảnh chiều hôm với tịch đương le lỏi, với tiếng quốc, tiếng gia gìa, với
gìó cuốn ngàn cây, chìm bay về tổ đã là khung cảnh cho quá nửa số bài thơ của bà Tác giả lim ở đó những nét khêu gợi để tình cẩm được
tự đo bộc lộ hoặc một không khí êm ã võ về cho lâm hồn mệt mỗi
4.— Nghệ thuật Đường thi
1— Đọc thơ bà Thanh Quan ai cũng phải công nhận là nghệ
thuật điên luyện Người ta có thê đi vào chỉ tiết tìm ra vô số những cái
hay : chữ dùng khéo, chọa lọc, thích đáng, đối rất chỉnh, rất thần tỉnh,
3 hàm súc, lời tran chuốt, gọn, đẹp, Từ thơ tiền Nguyễn xuống mà xét
thi quả là sự tiến bộ phi thường Dũng chữ Hán — đôi khi đùng nhiều —
mà không khúc mắc boặc nặng nề hoặc giả tạo Trải lại cd kinh mà
thanh thoát nhẹ nhàng :
Tắt xưa xe ngựa hôn thu tháo,
Nền cũ lầu đài bóng tịch đương
Dé vdn tro gan cũng tuê nguyệt,
Nước còn cau mặt tới tạng urưng
Ước lệ mà có hỗn, có cẩm:
Trang 31
THO DOI NGUYEN 294
ác môi ngữ ông về oiễn ph,
Ởã sững mục từ lại cô thân,
Ngắn mãi gis cuén chim bay mỗi,
Đậm liễu sương sa khách bước đên,
Sự phối hợp của ý tưởng với thanh Âm đã gây nên một thí điện
n chuyền, hấp dẫn, khác xa những động chữ chấp nối
công phn mà vẫn lũng cũng, không hồn của đa số các bài thơ tiền Nguyễn
Ø.— Đừng trên tử một lập trường chung mà xét, thì có thề nói thí
tải của ba Thanh Quan đã đua tảo giả đến thể hiện được chính cải tỉnh
tủy cổa bài thơ Đường Trung hoa Lối thơ này ngắn, gọn đôi hỏi một
ngôn ngữ hết sức ước thúc, một bố cục hết sức điều hỏa, thích hợp với
sự điến tả bóng gió một tỉnh ý thoảng qua, một tâm trạng chợt đến Thí
nhân thường bước vào mội cách tự nhiên, thác ý ởđổi ba nót phong
cảnh khên gợi, rõi nhẹ nhàng rút lui đề lại tỉnh ý ở chỗ du ba Sy hoa
hợp của nội tâm và ngoại cảnh, của lý trí và tính cẫm, sự điều Uếi đưa
lên đến độ tuyệt xão, đại đồ đó là cai tính thần của Đướng thị, như
người ta thường ra thưởng thức trong những bài bay nhất của các tác
giả Trung hoa đời Đường Tỉnh thần ấy, phải nói rằng đã được thể hiện
đến độ tuyệt điệu trong những bài thơ nôm của ha Thanh Quan Đọc thơ
bả ta thấy mội về gi điềm đạm, trang nhã, thanh tao Ý hàm súc Ở ngôn
ngoại Tỉnh bằng lắng ở đư ba, Đúng với cải tôn chỉ ©ÿ quỷ viễn, bất
quý cận, tỉnh quý đạm, hất quý nùng» mã nhà phê bình xưa đã nêu
ra cho bai thơ Đường
8.— Ngô tất Tố cho rằng bởi hà là người phầm bạnh đoan trang,
tâm tính điểm đạm nên không có những giọng tỉnh tử tha thiết được
Điều đó đúng Song eñng phải biều răng hạnh ấy, tỉnh ấy phần lớn đo
sự đường đục, sự đảo luyện bởi nho giáo Tâm hẳn nho giá là tất cả
một công trình chế ngự, điều hóa tinh cAm bởi lý trí Bài thơ Đường
chính là sự biên hiện nghệ thuật của công trình dưỡng dục ấy, Chỉ
những tâm hồn được đào luyện chín kỹ trong tinh thần giáo dục ấy
môi có thẻ sảng tác những bài thơ ấy Và cũng chỉ những tâm hồn ấy
mới có thẻ yêu mến được những bài thơ ấy Gho nên thơ Thanh Qnan
xửa rất được các nho gia ta ưa chuộng, ngâm nga Thi phầm của hà
không nhiều, léo téo vai bai, nhưng quả đánh đấu sự kết tỉnh của một
thi loại phối hợp với một thi tài Thơ: Đường trước bà người ta đã làm
vô SỐ, sau bà người ta cũng còn làm vỏ số, Nhưng trước cũng như sau,
có lề không ai vượt được nữ sĩ Thanh Quan
Trang 32
luật cña ta thường mắc hai cái tật là nếu thiên về nôm thì quê phác,
mà thiên về Hán thì khúc mắc nặng nề Tới đây hai tật ấy đã được
vượt qua Thơ Hồ Xuân Hương thiên về nôm mà bóng bầy, duyên
đáng Thơ Thanh Quan thiên về Hán mà thanh, thoát, nhẹ nhàng, Hồ Xuân Hương đại biều cho cải tỉnh thần trào phúng bình đân vươn lên thể biện trong một hình thức bác học Thanh Quan đại biu cho cái tỉnh thin tao nbd nho sĩ kết tính lại cùng với tình tủy của bài Đường thí trong một ngôn ngữ Hản Việt đã boàu toàn Việt hóa
a
Trang 33
CHƯƠNG IL
NHU'NG TAC PHAM DAI BOT NGUYEN
1 PHONG TRAO BOC NOM 1,_- Công chúng van ném
Đời Nguyễn văn nóm phát triền mạnh Một đấu hiệu là sự xuất
hiện của những làc phẩm đải, nhất là những truyện nôm được làm ra
nhiều và lưu hành trong một công chủng độc giả trở thành đông đão
Trườc đây, những táo phẩm nỏm chúng ta đã nghiên cửu có lễ chỉ l3
thừ văn chương chơi và riêng của một giới nho sĩ thu hẹp Họ sảng
tác vì một nhu cầu riêng và truyền bả ra bất quả một phạm vi thân hữu
quen biết và tuy là chữ nôm là tiếng Việt mà cỏ lẽ cũng có tảnh cách
cao quý nhừ Hản văn vậy, Thật vày, thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn
bỉnh Khiêm cho đến cà ngàm khúc của Nguyễn gia Thiều, truyện của
Nguyễn huy Tự hỗ dễ đã được đa số người Việt Nam khi Ấy biết đến,
ThE thi, trong khi đồ Ở giới bình đân người ta đọc gì, thưởng thức
những gì? Phải chẳng người ta chỉ tự mẫn với một mở ca đao Và cỗ
tích khẩu truyền ?Ở đây cần phải trở lại nhận xét trong oo cấu giảo
dục xửa sự hiện bữu một tầng lớp trí thức trung lưu, Ở phần khảo
cửu về Học thuật chữ Hàn, chúng ta đã nội việc học chit Han rat phat
triền ở xóm làng xưa, phưng đa số con em đân qúê theo thấy không
phải vời hy vọng trở nền ông Nghề ông Cử mã chỉ là đề trước học lấy
cải đạo luân thưởng sơ đẳng của nho gia, sau biết một số chữ Han khả
đŸ kỷ được ba chữ tên, viết được văn khế, đọc nổi cài trảt quan, tức là
đồ lâm một công dân nơi xôm làng Những người nây về sau nếu khả
gid co thể ra làm những chức việc trong làng boặc xoay ra các nghề
thương mại thư thải hơn việc lao động cày cuốc, đo đỏ có cơ hội hoặc
giờ phút rãnh rang để cầm đến cây bút tờ giấy Biết ¡L chữ Hàn họ
thưởng xoay ra học cach viết chữ nôm đề ghi chép, viết thư tin Co thd
coi họ như lờp trí thức trung lựa — trong đó có cã phụ nữ — đứng
Trang 34
giữa đa số cùng dân bên dưới và một thiều số nho sĩ thông thai ở bền
trên Phải công nhận rằng chính tùng lớp trí thức trung lưu Ấy đã là cái
công chúng binh đân của văn nôm khi thứ văn này bất đầu từ bổ lầu
ngà của đám nho sĩ thông thái đề lưu bành ở chốn dân gian Gần gũi
luôn đâm bình dân mù chữ, hẳn họ đã đem những lác phầm chữ nôm
đề truyền bá rộng rãi bằng lối truyền khẩu Ở giới người này và giúp cho văn học ký tái bằng chữ nôm được phổ biến về phía người thưởng thức và phát triền về phía người sảng tác Lớp trí thức trung lưu, lớp
độc giả văn nôm ấy vào đời Nguyễn hẳn phải thấy số lượng mở rộng
cũng như thầm quan liến bộ cho nên mới có thể phát sinh vào đời này
rất nhiều tác phẩm Tóm lại đời Nguyễn đã có eà một phong trào đọc nôm ở giữa dân chúng di đổi với một phong trào làm truyện nôm ở
về phía cúc nhà sáng tác,
2.— lai tịch tiền Ngoyễn
Phong trào đọc nôm vù Iruyền bá văn nôm ấy thật sự đã nhóm lên
tự bao giờ ? Văn nêm được phổ cập ở giới bình đân là nhờ Ở loại truyện
Ở nước nào cũng vậy, có lối truyện ký hay tiều thuyết là thưởng được
lớp người bình đân ưa thích nhất, Có thề lần theo những vết tích phát triển của loại ấy trong văn học sử ta đề nhận định sự phát triển của
phong trio doc ném kia Chúng ta có những truyện đầu tiên từ bao giờ ? Ngược động văn học sử, ta thấy đời Trần đã có baitruyện Trê cóc và
Trịnh thử Song hai truyện này đáng nghỉ ngờ, nguồn gốo xuất hiện chỉ
đựa vào sự truyền thuyết, Phải đến mãi cuối đời Trịnh, cuối thế kỹ 18
xăn học mới đề lại một chứng tích rõ ràng là truyện Hoa Tiên của
Nguyễn huy Tự Sự xuẤt hiện muộn màng này làm cho chúng ta phải ngạc nhiên Nên nhở lại là ở miền Nam là đất mới khai thác mà hồi đầu thể kỹ 18 đã có truyện Song tính Bất đạ (1718) Chẳug lễ ở miền Bae
là đất gốc của văn học mà phải đợi đến già nữa thế kỹ sau, thể ấy mới xuất hiện hay sao? Chúng ta chỉ có thể nghĩ rằng nho gia miền Bắc trước Nguyễn huy Tự đã khinh rễ thể này, không chịa để công phú và
tên tuổi vào việc sáng tác Tuy nhiên có thể cho rằng trước Hoa Tiên,
thể truyện ở miền Bắc đã có rồi, có trong những tác phầm vô đanh lea
hành ở dân chúng Chúng ta có thể giả thiết với nhiều chắc chẩn rằng
về đời Trịnh đã có một phong trào đọc văn nôm, nhất là truyện nồm,
đi đôi với phong trào sángiác bình đân, khối lên từ các chúa Trịnh Căn (1682-1709), Trịnh Cương (1709-1729 trổ thành mạnh mẽ về đời Trịnh Giang (1729-1740) Trịnh Doanh (1740-1767) Trịnh Sâm (1767-1782) đề rị
truyền tiếp sang đời Nguyễn so Giả thuyết ấy dựa trên những sự kiện
sat đầy
Trang 35
NHONG TAC PHAM DAI DO? NGUYEN
3— Tré igi van ném dưới các chúa Trịnh
4,— Đời Trần văn nôm ng như chữ nôm mới & trong vong thi
nghiệm của một số nho sĩ, chắc chu thể phố cập ở giới binh dan, Bai
Lê cầu văn nôm cũng chưa luyện, lim vài ba cầu thơ côn trúc trắc nói
chỉ sáng tác một truyền đài (Trinh thửyà Trề cóc nến có thật chỉ là
những ngoại lệ vì chắc cbẵn được sửa văn về sau) Nhưng hước sang
thời phân tranh nhất là từ đời Trịnh trở đi, việc học chữ Hán có phần
chénh wang, chit ndm vươn lên, trước hết chỉ để làm mội công cụ đạt ý,
thông tin (Trịnh Kiểm đã có những to lệnh viết bing ¢hit nom) San tie
đời Trịnh Căn, xã hội đất Bắc bước vào một giai đoạn tương đối an Ôn,
các chúa đỀ ý kiến thiết nội bd, chinh đốn học hành, văn nôm hẳn đã
lợi dụng cơ hội nay mk phat triền, Nhiêu « truyện »ra đới để thổa
mĩ cải công chúng thức Lự trung lưu mà ta đã nói trên, có khi được
sảng túc bổi những ngưới ngay trong số công chứng này, nghĩa là không
cô tên thối khoa hoạn, đo đó mũ sau chím vào đống tác phẩm vò
danh,
9 — Văn nôm đồ truyền đạira dân chúng tãi không thê hằng
những bến sao tay mà phải nhờ ở ấn loát, Việc khắc bẫn ở nước la chỉ
từ cuối đời Hồng Đữu, sau khi Lương như Hộc dist Thu (1448 wi 1459)
học được đem về mởi trở thành một công nghệ: Vay ma nghề in đó
đến đới Trịnh Cương, Trịnh Giang thi rất phát đạt Đới Trịnh Giang
chính phổ chỗ trrơag hẳn một ấu số, khắc các bẫn in Tử thư Ngũ kinh
đề phát hành loàn quốc, vã cấm người mính không clo mưa những
sách ấy Ổ bên Tàu chổ sang, Đời Trịnh Cương một tờ lệnh năm 1718
truyền cho quan dân biết ; « Hễ sách nào cô quan hệ đến thế giáo mới
được khắc iu lưu hành, Gần đây những bọn hiểu sự nhật bậy cáo tập
truyện và bÏ ngữ bằng quốc âm không phân biệt hay đổ, khắc gỗ in
bán ; việc ấy phải nền ngăn cẩm Tử ray nhì não có ván in những sách
như thế, cho trinh quan đến bất và tịch thu văn in phá hết» (Lich
triều tạp kú, sách của EEF.E.O, số A 16, q,3, tờ ã3), Việc cấm đoán này
nói lên một sự thật: thời ấy, văn nôm truyện nôm đã lưu hành rất nhiều
ở dân chúng và được vậy nhờ ở phương tiện ñn loÁt mổ mang, nhất
là nhờ ở thị hiến cla độc giả binh đân mã phương tiện ấy tim mọi
cách đề thỏa mãn, do đó gây ra một sự bột phải sách ném truyện nôn!
mà nhà căm quyền khiấy trong tỉnh thần tên trọng Hản học chính
Trang 36
THỜI KV THỊNH ĐẠT
ane
Tranh cồ đời Lê vẽ tích CHỮa Ba to & Hương Sơn
Trang 37
sảng tác từ đời Trịnh | Như truyện Jích sấu ký ngộ : Đời Trịnh, truyện
ấy đã được kề bằng Hản văn do Đoàn Thị BiỀềm, ngưới ta chắc văn sỉ
sảng tác truyện Bích câu nôm đã nảy hững trong khi đọc văn phầm của
họ Đoàn, và như vậy truyện nôm về soạn niên chắc phẢi theo gần
truyện chữ, cũng như bản địch Chính phụ ngâm theo sát tác phẩm
của Bang T Gôn, Ngoài ra trong nhiêu truyện khác, người ta côn
thấy đề thi hoặc nội đụng có điểm phẳng phất biến cố đới Thịnh Lê
hoặc Trung hưng Như truyện Tống Trén kề sự tích một ông Trạng
Nguyên đời Hồng Đức, truyện Bẻ cháa Đa hay Quan Âm Diệu Thiện,
trong đó có nhà phê binh cho rắng Diễu Trang vương chính là một ông
chúa Trịnh, clng như núi Hương sơn trong truyện chỉnh là núi Hương
Tịch ở Hà Đóng, truyện Nhi-dd-mai trong đó có nhà phê bình cho rằng
Lư Kỷ, Hoàng Tùng là binh ảnh của bọ Trịnh làm tôi lộng quyên và việc
học trỏ đón đường hành bung tẾ tường chính là một hình ảnh của
những vụ hành hung mà kiêu bình tửng gây ra ở Thăng Long dưới
các chúa Trịnh, Người sảng tác văn nghệ thưởng lợi đụng ngay những
điều tại nghe mắt thấy cũng như người đọc thưởng ưa thích tìm
thấy một hình ảnh của thời đại họ trong tác phẩm Do thông lệấy, có
thể giả thiết rằng những tác phầm trên đã được lâm ra về đới Trịnh,
Tom lại, như vậy có thể chắc chắn rằng phong trào đọc nôm và
sảng tác nôm nhất là về địa hạt tiều thuyết đã khổi lên mạnh dui các
Chia, Phong trào ấy tử giới binh đân ăn lên hỏa đồng với cùng một
phong thượng Ở giới thượng lưu nhữ ta đã có địp nhận xét trong Văn
học đời Trịnh Tuy nhiên về phía binh đân, đời Trịnh nó đã không đề
lại bằng chứng ca thể — tức là những tác phầm — để ta có thề nói đến
một cách rõ ràng, Nay mới nói đến chính là đề trở lại xác định một
đặc tỉnh của văn Nôm đời Trịnh và eñng để nhận định tỉnh cách liên
tục của một phong trào đã bắt đầu từ trước, phong trào đọc nôm va
sing tác nôm vào đời Nguyễn
li NHỮNG TÁC PHẨM VÔ DANH BỞI NGUYỄN
Phong trào ấy đã đưa đến sự lưu -hành hoặc phát sinh vào đời
Nguyễn Sơ hoặc nói rộng rãi vào tiên bán thế kệ XIX một số lớn tác
phẩm đài Ở đây chúng ta bay nói đến trước hối, trong số tac phầm ấy,
những truyện và khúc vô danh, loại văn phẩm này tủy bên trong cũng
+ Không kề mật sự tích như Tích bà Ý Lan của Trương Ngọc Trong hay một
cuốn sử bý nhớ Thiến nam ngữ lục quả đá là những vết tích rò răng về truyện nôm đời
“Trịnh,
Trang 38
người này nữa Chúng ta bất đầu xếp loại, sau nhận xét về nội dung, gốc
gác và nghệ thuật của chúng, sau hết nói đến mấy tác phẩm có giá tị hơn cả
| 4 Loai trayén (hd luc bài trưởng thiên) thaật một truyện xÂy
ra kết bợp bởi ít nhiều tình tiết biến đỗi ly kỹ đề đưa đến cuối cũng một
— Quan âm Diệu Thiện
— Mục Liên Địa Tang
— Mục Liên Thanh Đề v.v
e) Truyện ngụ ngôn luân lý ;
— Hoa điều tranh năng
— Trẻ Góc
3 Truyện này kả tích Bạch Viên Tân Các, đề tải đã được diến một lần trong
Trang 39
NHỮNG TÁC PHẨM DÀI ĐỜI NGUYEN gor
— Trmn lotr 4
vg thet hie bad didn th ê
cam tưởng của chỉnh tác giả hoặc nhân đanh một nhân vậi nào về một
vấn đồ gì có thể gợi sự say tưởng triết lý hay thí bứng trữ tình,
8.— Loại giẳng (thề lục bát hoặc song thất) là những bài giáo huấn
luân lý lý thuyết, tức là những giảng khỏa đạo đức:
— Nữ huấn
— Thập ân v.v
2.— NhGn xét chung về gốc gác
Những tác phẩm trên đều vô đanh hay nói đúng khuyết đanh nghĩa
là không ghi tên người làm Tại sao vậy? Một là vấn gia ta xưa thường
coi rễ văn nôm nhất là thứ nôm quảng truyền ở giới bình đân VÌ
taục đích giáo huấn hoặc tua vui, cáo cụ sáng tác nhưng sau đó tung ra
làm tài sẵn của đại chúng, các cụ không đặt đanh dự ở chỗ kỷ lên mình
vào tác phầm, Cũng có thể là vì tác giả ở địa vị xã hội tầm thường, trí
thức trung lưu, bàn nho, cùng nho, không có cao khoa hiền hoạn Nên
dù có đề tên mà người sau chép — theo tâm ly xf hội xưa — không
thấy đáng trọng đáng quí nên đã bố đi, Có khi chính Ltée vi ÿ thức rõ
địa vị thấp kém của minh nên chẳng thiết nêu têa tuổi lên,
Đã là vô danh thì gốc gác tất chẳng thể tổ tường Tuy nhiên l4
cũng có thề đưa ra mấy nhận định về việc xuất hiện của chang:
4— Như đã nói Ở mục trên, một vải truyện có thể đã xuất hiện
ngay dưới thời Lê trung hưng, Tuy nhiên xét đến văn từ thì thấy đều
không xa xưa lắm, Có thể giả thiết rằng mấy tác phầm Ấy sang Nguyễn
đã được trùng tu, ban van cỏ thể được canh tân hoài qua các bản in
bình đân, Nhất là táo phầm vốn vò danh lại qaẳng bá ở giới bình dân
nên việc trùng tu ấy lại càng để dung và tử nhiên,
3 Hai trayéa này đá nổi đến ở Văn bọc đời Trần (Thiền 1, Chương ?3- Về
truyện ngụ ngôu lấy loài vật đề tÍ dụ loài người lại còn cuốp Lục sác lranÄ công song viết
băng văn về và từ Đảng Trong đem ra,
Trang 40
3 — Đa số được làm ra dưới triều Nguyễn, tuy nhiên có lẽ chỉ
là trong giai đoạn Nguyễn sơ hoặc tiền bán thế kỷ 19, hoặc đến ngày
vong quốc là cùng, BỞI vì sau ngày đó, Hán hoc dan din thất thế, ý thức bệ nho gia suy yếu ; với quang cảnh đất nước đổi mới, nhà van
nôm chẳng còn để tia tuổng đề ngồi sáng tác những tác phim dai theo nghệ thuật cũ, mặc dầu những táo phẩm đã có về trước vẫn tiếp tục là
thức ăn cho bình dân trong một giai đoạa khá lâu về sau,
3.— Những tác phầm vô đanh trên đều xuất biện Ở Bắc hà trước,
và do những văn sĩ vô danh đất Bắc viết, san mới truyền bá vào Nam
và bản văn cũng được thay đổi cho thích hợp với ngôn ngữ đì phương, Tuy nhiên có lẽ cũng có trường hợp ngược lại, có một hai tác phẩm nhừ Thạch Sanh, Lục súc tranh công có lẽ gốc gác ở Đăng Trong sau mới truyền ra Bắc, và bản săn cũng được thay đổi theo ngôn ngữ miền Bắc, Tất cả việc qua lại này chắc hắn chỉ vào đầu triều Nguyễn,
nhờ việc đất nước thống nhất, đi lại dễ đàng
3 — Nhận xét chưng về nội dụng
Những Ang van trên đến có khuynh bưởng Lư tưởng thiên về bình
dân, Xưa nay nghiên cứu văn học nước 1a, người la thưởng cho rằng văn chương bình đân chỉ có tục ngữ, ca đao Điều đó là lầm Chính đây mới là phần chỗ não của văn học bình dân Việt Nam xưa Chúng t4
có thể thấy phần ảnh sâu đậm ở đấy, ÿ thức bệ của đa số người đân Việt Nam xưa từ bậc trung lưa trở xnống Nhà văn học sử thường
phần nàn trong táo phầm nho sĩ thiếu tính chất dân tộc, nếu đề công
nghiên cứu kỹ những loại này, “hốt lả loại truyện, có Lhề tìm ra vô số những nết « Việ-Nam » xưa, Đây là vài nhận xét có Lhể hiện ra dé dang
qua ngay một lần so thầm : 4.—- Đề tài hay nội dung có thể đề cập đến những việc xây ra ở đất Việt Nam, trong lịch sử Việt Nam Như truyện Tống Trần kê sự tích
một ông Trạng đời vua Lê Thánh Tông ngưới ở huyện Phù Hoa gần cña Laộc (chỗ sông Luge Ăn thông với sòng Nhị Hà) Truyện Phương
Hoa kề mối nhân duyên giữa bai người họ Trần và họ Trương ở xứ
Thanh Hoa (tức ah Thanh Hóa) Truyện đích cáu lấy bối cảnh ở ngay đất Thăng Long với chùa Ngọc Hồ (ở đường Sinh Lừ, Hà nội bây
giỏ), đình Quảng van (chợ Cửa Nam bay gio), đền Bạch mã (còn ở phố tràng Buầm bây giờ)
4 Chúng ta thấy luân lý của Tổng nho với tôn ty và cấm đoán
nghiêm khắc xuống tới đây đã ‘ed nên mềm déo để thích nghỉ với