Phần 2 của cuốn sách Việt Nam văn học sử: Giản ước tân biên (Tập 1) tiếp tục giới thiệu đến bạn đọc những nội dung về: các loại Hán văn như thi văn, truyện ký, truyện ngắn truyền kỳ, truyện dài lịch sử, công văn, hịch tướng sĩ văn, sử ký, biên khảo,... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1cận-Thể, Trong mỗi thê có mấy lối chính, kẽ về số chữ Ngũ ngôn (mỗi
câu năm chữ) và 7nấi ngồn (mỗi cầu bẩy chữ), kề về số câu : Bái cú đám
chu) va Té-tagét (bốn câu), Bài nào số cầu đài hơn thế thì gọi là Trưởng-
thiên (nếu là cỗ thề) hoặc Bải-tuật (nếu là cận thể),
, Rat gần với thị hoặc coi nhự
từ khúc, Từ-khúe 33 ah (hay nhạc p
gieo văn được rộng (có thể |;
chỗ điện thơ tự do, câu d
van trong bài) và nhất là khde thí ở
|
ây còn gọi là lối Trường dodn ci)
: Con Van X (trong đề mục Thí
i Văn-(tuền của cũ-nhân) chỉ mấy lối t
i DAL KY 2% bai Bi af bai Tw JF bai Lua
vin & trên hoặc trong những tập
jêu-tác khác thi như bài Phú #S
n ?â 1, Trừ bài phú nếu lâm theo
1ê Kỹ là bài ghỉ chép sự thật, nhân mật v
Bi hey win bia la bai vin 3 kj
Te hay tra là
lếc gì sẩy ra hoặc một cuộc du lịch
niệm một người, mộtviệc hay một công việc gì,
bài răn kề nguyên úy mật vigc gl, tang tổng người náo hay là bài
nổi triim ở đầu một quyền sách Luận là bài văn xuôi đẹm tr tưởng và học thức đề bàn
vẻ một đồ mục (Trong Quấc săn cụ thể của Bai Ky)
Trang 2
Đường thể thì có vẫn có đối (những khác thí ở chỗ câu xếp thành liên
ani age bist), con các bài kia thưởng đều viết bằng tấn văn,
Những loại ấy, đại đề nho-gia ta cũng là học theo mẫu mực ở cáo
yin-gia Trung-Hoa ma viết ra, Có điều nên chú ÿ là những quy tắc về
các loại ấy nguyên đo người Tàn đặt ra đề làm văn Tàu Song tiếng
Xiệt ta cũng don dm và ảa thanh nhật tiếng Tâu, thành ra khi đọc chữ
Tiân — đã đọc theo lối Việt Âm của ta — chúng ta vẫn có thể theo đúng
âm điệu, nhận ra và thưởng thức được nhạc tính của thanh vận, Do đó
mà nho SĨ 11 có Sự dé dang va hing thủ ngầm nga va lam thi van
chit Han
Văn gia ta xưa đã sáng the đổ các loại kề trên Song phần tiều tác
tan-vin thì không quan trọng Phần từ và phú cũng íL oi Duy có loại
thi là được nhà nho ưa chuộng và lãm ra nhiều hơn cä Cho nén chương
này tuy đề ra thi vin mA riéng hướng vào địa hạt của thơ,
ti NHÀ NHO NĂNG-THỊ
Thơ chit Han rất phát triền trong cổ văn học nước la Các nhà
nho xưa đầu là những học giả «năng thi» Khuynh hướng ấy gây nên
hết ngay cái chế độ giáo dục đã đào tạo các cụ Những
cuốn giáo khoa đồng ấu như Tam-t inh, Minh-đạo giahuấn, đều
xiết bằng câu ngắn ba bốn chữ, thường có đối, cô văn, thành ra vỡ:
lông ãi học đã bọc thơ rồi Phần đồ cho trẻ em học dễ nhớ, phần đề
rèn Iyện cho học trô ngay tử còn nhổ một giác quan bén nhạy với
đối, với vần là hai yếu tố sẽ ngự trị các lối vẫn cử nghiệp sau nầy,
tổi vì sự, giáo dục cÑng cổ một mục đích thực tiễn là sửa soạn cho
khoa cử Gbo nên lớn lên, vào bậc trung tập, đại tập thì đã rành việc
đếm chữ, gieo vẫn, đánh thanh Bài thơ trở thành một bài tap
thường xuyên, cũng như các bài phú, kinh nghĩa, văn sách, cho người
học trò sửa soạn đi thí Rồi san này hoặc đỗ đạt ra lam quan, hoặc
lại về day hoc, các nhà nho đều coi bài thí như một thể thức trang
nha, cao thượng đề điến ý đạt tỉnh và có thê xử đụng trong mọi trường
hợp cña cuộc đời
“hoàn Viên sử gia rong ruỗi ngoại quốc làm thơ sứ trình, Gặp cảnh bất mãn,
làm thơ thác chỉ: Thấy sự động lỏng, làm thơ cẩm hoài Và tất cÃ
những dịp gắp gỡ, tiễn đưa, thăm hồi, người ta làm thơ tha tae Công
dụng của thơ trong nếp sống clÑa người trí thức xưa,
xem vậy quả thật
Trang 3là rộng rãi, phổ cập, Và thưởng không một nhà nho nào, nhất là một
bậc khoa cũ, qua đời mà không đề lại một hai thi tận gom góp tất c những sảng tác yêu dấn ca mình khi sinh tiền, Có thể nói không ngoa
là Ở nước ta xưa có bao nhiều bậc khoa cũ là có bấy nhiên thi gia và
trong mỗi nho nghiệp là một thí nghiệp |
Nhfing thi tip con hra lại bole dank hoặc thực trong cáe thư tịch
vB sau hay văn sử bây giờ chắc chỉ là một số ít, Côn bao nhiêu sáng tác
khác, vì những điền kiện chỉ phổi chung công việc viết lách của nho
la xưa, như đã nêu ra ở cuối thiên trên, đã bị chòn vài trong quả khứ,
Ở đây chẳng có thể nghiên cứu tất cả các thí nghiệp dy, vi van sử thiếu tài liệu, hoặc chỉ vi chính mình thiếu biều biết, mà cũng vi chương hạn không cho phép, chúng tôi đành chỉ đưa các ban di xem qua một lượt đạo chơi một vòng cái vườn thơ chữ Hàn ấy của cỗ nhân đề chúng ta
cùng nhận ra một vài khuynh hưởng, ghi lại một vải bóng hình,
Hi—- VÀO VƯỠM THƠ HẦN LỊCH TRIỂU,
Sử chép rằng năm Thiên phúc thứ 7 đời Lê-Đại-Hành (năm 987)
gư Đỗ Pháp Thuận được vua cử đi, giả làm anh lái đô, đón tiếp sử nhà
Tống là Lý Giác Trên con đỏ Giác ngắm trời ngắm dit nay hing doc:
th để đã cđ)
Nga nga lưởng ngà nga,
we ứ @ REA
Ngướng điện hướng thiên nha
Kếu kếu một đôi kếu,
Đền trời ngửa mặt trông
Trang 4
THI VAN rot
Nước biếc nồi lông trắng:
Sáng xanh bơi chân hồng
Hải Thạch dịch
Hai cầu vẫn vôi và ngẫu hứng ấy tuy nhiên cỏ một giá trị lịch sử
lớn lao Nó đánh đấu bước đầu tiền người mình biết thuật chấp chẳnh
chữ Hản theo vần, điệu Trung Hoa, tức là biết lãm thơ, mà thị tài lại
được chính người Tàu chứng thực và tán thưởng, Song Đỗ Pháp Thuận
là một thầy chùa, Đời Định và Yiềo Lẻ, chỉ các nhà sư là có học Sang
lý rồi Trần, khoa cử thiết lập, Hản học mở mạng; nhà nho xuất
hiện Vườn thơ chữ Hân của chúng ta mời vọt nhành đâm bỏng, Lần
oác triều san, nho học ngày thêm cũng cố, thơ từ môn thí cử trở thành
ngón khai hoài, khiền hứng, câu thù tạc nhật dụng trong giới irí thức,
cộng dạng phô cập, số lượng nhiều Không nho s‡ não không có sáng tác,
không triều đại nào mã văn học sử: không lưu lại những tập thơ Han,
Tuy nhiên xét tre ong lịch sử, ta thấy có ba thời ky tho chữ Hán
đặc biệt thịnh đạt hơn cả Ấy Tà đời Trần, đời Hồng Đức và đời Thịnh
Nguyễn Trong các dy thi-nghé sé di phat đại, trước nhờ ở sự hiểu
thượng của quân vương, sau nhờ ở không khí quốc gia tương đối thanh
bình, tắt cả thuận tiện đề gây nên một phong trào sảng tác chung quanh
triều đình giữa giới thượng quan trí thức
Đời Trầu 3, các vua và vương hầu đa số là những lao nhân ta
ngâm vịnh và sáng tác Lại gắp khi giác Nguyễn đầy lưi rồi, an ninh trổ
lại, trăm: họ âu ca, văn phong đức, thí gia nầy lên trong khắp làng
nho Song những thí tập đời ấy bị thất lạc cả Chỉ có một số bài về sau
trê Như vậy đều h những câu tốc cảnh mà sáng tác Tuy nhiền xem trong Quên-giâm
loại-hàm, thấy chép đời Đường, Lạc Tân Vương nấm 7 tuồi có làm bài thơ Vink con
ngỖng như sau +
gg fã tụ Nga nga ngà |
th BW 3% ĐÁ Khúc hạng hưởng thiên cas
a SB ik * Bạch mao phù lục thủy,
=< oP R Hồng chường bát thanh ba
Nhu vay có le mấy câu trên cha bai người công chỉ là phống tác cồ nhân
4 Trước đời Tiần, dưới triều LÝ (1010 — 1225) trong thời kỳ toàn thịnh của
Trang 5
Trước hết, trong thơ của cáo vua, các nhà sư ta thấy phẳng phất
ái hương vị thiền gia, ý nghĩa triết lý sắc không của đạo Phật Như bài thơ LiỂu ngộ sau đây của vua Trần Thánh Tôn,
đã lưu lại bài thơ:
Boan Văn Khám cũng lưu lại vải bài
Sang dời TRẤN (1225 — 1400) day là danh sách các thì gia có đề lại thỉ tặ Trước hết các vua Túi Tên (1218 —1277), Thánh Tên (1240— 1299), Nhén Tân (1258 = 1308), Anh Ton (1267 — 1330), Minh Tân (1300—~ 1357), Aghệ Tân (21 — 1394) đều có Ngự tgp Ngoai ra Trin Quang Khai (241 — 1294) có Lạc đẹp tập (Tập thw cha người vai v6i đạo), Cha Vin da (mất năm 1370) có Tin Âu lập (Tiều
Ân là bit hiệu tác giả), Nguyễn Trang Ngạn (1289 — 1370) cá Giới-hiển lập: (Giới hiền là biệt hiệu tac gid), Pham Sw Manh o6 Higp-thach tap (Higp-thach là biệt biện
và cũng là tên làng tác giả), Trữn Ngugận Đần (1320— 13903 có Băng.HÀ ngọc hắc
lập CŨấp thơ của ông Đăng-Hồ — hiện tie gid — viết È nơi động ngọoồ, Nguyễn Phi
Khanh có Nhị Khê lập (Nhị Khả la biệu của tác giả cũng là lên [ang tác giả), #3 Tán
Thếc có Thảo nian liệu lăn lập (Tip thư thảo ra lúc nhàn tổi và bất chước các thị bá
xưa, Hiệu sin Sf nghĩa đen Íà bất chước nhấn mặt, Do tích xưa Tây Thí mỗi khi
han mit thi cing đẹp, các cô gái khác bàn bắt chước để
mong được đẹp như Nghĩa
bóng là bẩL chước biệt tác xưa mà lầm ra những bài vựng về) ý Đạo Tái (1254 — 1334) tức sự Huyền Quảng có Ngọc tiên tập (coi ngọc)
Aem quốc sen là Nam để cư vẫn thuyền tụng và Thượng thư,
Trang 6Cửa khồ muôn trùng 0ượt nhẹ lệnh
Động tựa hang khng gào giá láp
Tính nhớ đầm lạnh rọi trăng thanh- Ngũ huyền câu ay từng nghe hiểu, Thập tự đường kia chẳng rễ quanh:
Al héi ta gi tide the ay,
Mau trên trời biếc nước trong bình
A nôi: Hơn bến chục nếm nảy ta đế lừng đem một tấm lòng thành mã theo
đạo Chả đích là nhầy thoát ra ngoài muôo lần then khóa của nhà lao (ý
nái cồi trần)
Ta đã thấy được bai mặt của đạo là khi động thì như gió gào vơi hang trêng, khi tính
thi nhờ trăng rọi nơi hồ lạnh Ta bằng tự mình Am biểu thấu năm điều huyền bí đếy
trong kinh Phận Đến nay thi di ở giữa chế đường ngang lối đọc, ta cũng không Him
Hạ sốa và chỉ theo chính đạo của tac Nếu có ai bội thấm đạn ở lòng ta biển hóa
— như thể nào, thì ta bà lãi tầng đạo ấy lúc động và VƯƠN t3 thì nhự mây man mác trên
trời xanh, lúc tính và tha lại thì như nước chứa im trong bình kín,
Trang 7Cành xuân nhị tuyết phong
Chứng lrời mâu giải nĩi,
Trạng nguyên Lý Đạo Tái đậu Trạng rồi về đi tu, lấy pháp hiệu
là Huyền Quang, những bài thơ ơng làm ra thưởng cĩ khí tượng cao
Siên đổi khi lại đượm về phiêu dật my lé
Như bài Trên chủa Bảo-Khảnh :
5
mùa xuân chưa sâu Qức lề vào khoảng tháng hai) núi phủ mây trơng ngọn gần ngọn ? Mặt đất quanh co gap ghềnh, rêu mọc căng thêm cũ, Bay giả vào lúc
Xa- Đường mọc hoa chỗ cĩ bĩng, chỗ thì khơng Ta thốt nghĩ muơn việc ở đơi chẳng qua
như nước chiy xuơi, cĩ gì cịn lại đầu ; trăm năm một kiếp người, nào aÏ đã giác ngs,
chi một mình tự nhà lịng mình thơi, Ta đứng lại đựa vào lan cau, đưa ngang chiếc địch
mà thồi lên một điệu Ảnh trống sáng rọi vào đấy áo tà và lịng tạ
Trang 8Cả hoang mâu khỏi thú quê nhà,
Quan Bắc lầu Nam bồng xế là:
Xuân chẳng ai nhìn khơ cụt hứng,
Giá đồng lễ ngắt mẫu cảnh hoa Hải Thạch dịch
Hay bài Vịnh máa {ha som:
Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh:
Trúc đường vong thích hương sơ tận,
Nhất nhất tùng chỉ vỗng nguyệt mình Đềm chía hơi mái lợi bình phong,
Cay béo tha v8 tng nhe rung
Quén thé nha tre, hương mới tất, Canh thưa ken lưới đón trăng trong:
Hải Thạch dich
Song cài không khí tổa ra từ những trang sử oanh liệt đời Trần phải là
cái không khí hùng tráng, chúng ta có thể cảm thấy trong những sảng lác
của các võ tướng thờ Throng trong Tran Quang Khai trong trận
đánh Nguyễn, khi đã khôi phục được kinh thành, có những câu bất RỂ ¡
Trang 9
Van cô thử giang san,
Chương dương cướp giáo giặc, Ham bb bét quân thà,
Thai-biah nén gang sé, Non née ấu nghìn thu,
Trần Trọng Him dịch
Phạm Ngũ Lão đã biều đương cai chỉ trai thời loạn trong bài thuật
hoài đầy khẳng khải :
hee be eR Hoành sáo giang sơn cáp kỹ thu,
Tn thinh nhan gian thuyét vi hau
Ngẹn đáo nón sông trải may thaw,
đá quân hùng hồ at sao Ngàu
Công danh ơí đề còn Đương nợ, Luéng then tai nghe chuyén oũ hầu
Tà Yõ tướng mà lại là thi nhân, ông đã khóe bậc Ân nhân va tri
kỷ là Hưng Đạo Vương (mất năm 1300) bằng những lời hùng hồn, thống thiết #
Trang 10
THỊ VĂN
KA BRE - Trường-lạc chung thanh hưởng nhất tray,
aR HR FR 8 Thu pbong tiéu-tan bit thing bi
a EA de BR Cứu trùng mình giám kim di hi,
Thành đài muôn dặm bing déu rbi 1
Lé sa mua mdu séng xudi chdy,
May nhia mdy sầu lết déng coi!
6 Ý nó Hưng đạo vương đã qua ở
ng chuông nềi lên trên cung Trường Lạc (cung vua Tiần) báo hiệu
Lại theo gi thu xào sạo mà tổn mất bay đi, người nghe
thấy; nối buồn khôn xiết Đối với vua, vương vẫn là một edi gương trong, thÌ nay gương
ấy mất tải, Đối với nước, vương vẫn là một vạn lý trường thành thì nay thành ấy đồ
rồi, Mưa phê tối một giải sông đài, tưởng như chỉ là khóc ngài bằng buyết lệ Mây thấp
sát đường đi (phức đạo là đường kép có hai lối đỘ tường như vì sầu não mà nhấu
đài may Riêng tả, ngắng lên trông những lởi khuê tảo (zšn chương hay) ý tứ phiên dae
mã ngài đá lặng tạ, ta cảng thấy biện ra trong những hàng thơ đó, mối tình ngư thủy
thấm thiết giữa ngài với tạ
Trang 11
Thơ ngự rành-rành ghi chuuện thực, Tình sâu cá nước đúng như lời 1
Thì Nham dịch
Không khí hàng tráng ấy về cuối đôi Trần, ta còn thấy sống lại
cùng với kỷể-niệm chiến thắng trong thí phầm của những văn quan
Nhữ bài thơ sau đây của quan Hành-khiển Phạm Sư Mạnh đời Trần Dụ
tôn lâm ra nhân mật buổi phụng chiếu đi điềm Ngũ-lộ-quân, qua núi
Trang 12THỊ VĂN rog
Duyệt bình lên núi nhà chơi,
Nghần đầu muốn đợt kìa trời mênh mang Chim bing bay tit biền Nam,
Chiu ving nhật, trái Đăng nham đẳng nhìn:
Yân-sơn trời thấp muốn 0ín,
Nai Đầu Voi vdt chín nghìn nhận cao- Tăng lằng mâu phủ Tủ-Liêu,
Tian Kù-Sinh biểt Rm theo chén nào, Bạch Đăng ầm nồi ba-dào
Tưởng thuyền Ngô chúa dào dào đang bơi
Hos Bang dich
3 thơ tuy nhiên phẳng phất hoài cỗ, ngã sang nhân tấn Khuynh-
hướng nhân dật, ngâm phong lỏng nguyệt, đu cảnh hứng tình, thương
kim điểu cỗ là khuynh hưởng ưa thích của các thí sĩ nho gia đời Trần
Chúng ta có thể dẫn mấy bài tiều biều, Bài sau day tả Cảnh chiều hôm của
“Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chì:
+ # 3 @ É
Không thủy phù yên sắc:
& RRA MR Xuân lam phát thủy văn
® 64 2 #8 Tưởng ô đề lạc chiếu,
Đá nhan téng quy van
ghìn trời muôn dậm Ta tường thấy chữa bảng È ngoài côi biền Nam, Hong khi đứng
đón mặt trời mọc ở tước quà nứi bên Đông, Trời trên oti Yên Phụ thì gắn tường nhực
nấm được và núi Đần Voi thì cao vút đến chín ngần nhận (mỗi nhận là 8 thước) Nhìn
mây trên đình Từ-tiêu (tức dink adi Yea Từ) chồng chập thành tổng, tá nghĩ đến ông
Án Kỹ Sích (là người xưa đã lên núi Yên Tử tà tiên) và muốn được gấp ông mà hỏi
Song tạ chỉ nghe thấy tiếng sóng sông Bạch Đăng (b gần đố) vỗ ào ào mà trong trí lại
tường tượng ả chiến thuyền của Ngõ Vương Qấc Nạo Quyền) đương đuổi
quân Nam Hán,
Trang 13
RA BAL Ngư hỏa tiền khe hiện,
Trên không khói nồi xanh xanh, |
ˆ Nước xuân sống gon lin tin bóng chiều
Đầu tường ác lặn qua kêu, Ngoài đồng chìm nhẹn bau theo máu oề
Léa chai le Idi bên khe, Cách sông vdng odng xa nghe giọng tiều
Buin trông quản khách đìu hìu, Tang làng mượn chén nữa chiều như say
Trang 14Sắc nan xanh tốt như bịa, Khách du sao chẳng liệu oề cho nhanh- Giữa dòng bóng tháp long lanh, Lung trời đá hễ tènh rành miệng hang
Cuộc đời giấc mộng hoàng lương
Thân nhàn mới rõ bước đường lầm xưa-
Mông mệnh trời đất ngũ hồ,
La thăm lắm đá điểu đồ ngồi câu-
Hoa Bang dịch
Chu Van An, vi cobit thé su bidu» cia doi Tran, cao quan vé 6
núi Phượng-Hoàng, đã bày tổ thái độ cầu nhàn và vui đạo trong bài
Vịnh ngày quân Nguyên đân nàp:
Trang 15Thân chẳng quên non mâu trắng nồi
Tâm không gợn súng, giếng xưa trong,
Là tram nia tat hoi tra nguội, Một tiếng chỉm khe tỉnh giấc nồng
Hải Thạch dịch Tay nhiên say mẻ giấc mộng Lầo Trang, nhà thơ không đến
nỗi quên đút thế sự Ngôi nhà Trần một phen điên đảo vì cải họa Dương Nhật Lễ 8, Chu Văn An giữa nơi tnyền thạch, đi đứng bồn chồn, ngẫm cảnh âm đạm:
Âm đạm thiên sơn phong cánh sầu,
Tiên trầm vạn cô vân vô tích
Thái tế Nguyễn Trác cùng Thiên Minh công chúa đem gia nd ban đêm vào giết Nhật
Lễ những y tốn được rõi phục thù tâm nã giá hết Nhạ Lễ lẻ toan nhân địp thanh
toán hết cả tôathất nhả Trần Cung Định Vương trấn lên Đã giang sấu đem quần
tiến về kính thành, phế Nhật Lễ, lên ngài tức vua Trần Nghệ Tân (1370) Chu Văn
Aa hay tìn Cung Định Vương đá đẹp yên và lẩy lại ngôi, mừng rổ chống gây di bái
yết rồi lại xin về heo Trần Hàm Tấn)
Trang 16THI VAN 13
GRR GH RR Da-digu b&t minh sơn tịch tịch
& A to # #ứ Uf
Ky độ trả trừ hành phục hành,
2 & FR BE Bình vu võ tận xuân sinh bích
Vườn thông thăm thấm trôi hầu tối,
Cả ngụt như rêu đá lẫn lộn
Tờ mờ ngàn núi giỏ thêm buần,
Chim lỈm muôn xưa mâu sạch lối
Mea but hoa bay may ring khe, Rang im téag vdng dan chim néi- Máu hân ngâp-ngùng đứng lại đi Đồng bằng bái ngái, xuân nênh nie
Trlin Ham Tến dịch
“Thành ra tâm muốn lặng yên như mặt giếng khơi mã khong ding
yl con bị khuấy động bởi niềm ái quốc ưu quan Ay cũng là cái cốt cách,
cái tâm địa chung của nho gia từ trườc VÀ về sau, tư tưởng vẫn phân
đổi bên xuất bên xổ; thân tuy cư giang hỗ mà lâm ton lang miéu,
Vv - THỜI KỲ THỊNH ĐẠT THỨ HAI: ĐỜI HỒNG ĐỨC
“thôi kỷ thịnh đạt thứ hai, thời Hồng Đức, mang hính đầu một vị
anh quân, vua Lẻ Thánh Tên Lên ngồi sau một con khủng hoảng thừa
kế, vua hết sức làm việc đề sửa sang chính, trị, chỉnh đốn vũ bị, đành
Chiém đẹp Lão, mổ rộng bờ cõi Lại đặc biệt mở mang Hán học, khuyến
khích khoa cổ, đề cao đanh giáo, gây nên cho đới Hồng Đức một văn
phòng còn đư hưởng mãi về sau, Là một anh quân, đóng thời lại là một
thi sĩ, Lề Thánh tồn ưa ngâm vình, làm thơ, xưởng ra một phong trào
sáng tac hao hứng ngay giữa triểu đướng, Vua cũng vấn thần lập ra mội
héi Tao dan có 28 nhà thơ gọi là Nhi-thap-bat ta Những sáng lác của
“Tao:đan, nhất là của vị nguyên-súy Hoàng đế, rất nhiêu, nay còn lại
mấy tập: Minh lương cầm tú, Quặnh ngền cầu ca Xudn van thi tap CB tam
bách nịnh 9
9 Minh lượng cầm tả: (ý nói lới thơ đẹp như gấm vóc, xướng họa giữa vua
sóng tôi hay) soạn vào dip vua thân chỉnh Chiêm Thành (I4ƒ0 — {4713 QuảnÀ ngễn
Trang 17elu ca do chính vna Lê Th
cũng khuyết thưởng hay hu
nguyệt lộ phong sương chỉ trạng
lai câu äy (trong bài từựa tập Quỳnh uyễn ảnh tôn viếU nói lên cái chủ trương khiêm
tổn của Tao đàn, đồng thời cũng vạch ra hai khuynh hưởng chính yếu
trong những thị phầm của vưa tôi nhà Lê thời ấy, Đỏ là: khuynh hướng
giáo huấn và khuynh hướng nhân đật,
Nhà vua xướng thơ và bề tôi hoạ vận, Văn chương của vua thong |
là thử văn « lập giáo thủy thế của để Yoong» Thi dụ ngay bài đầu trong
Quỳnh uyên củu ca, đồ là Phong niền 3È 2P (năm được mùa) :
Tủa táa ngoạn phư pháp lệnh thẳng,
sứ ca (chin bai hat ở vườn Quỳnb) cá bài tựu
mỗi đề tồi có mội bài của vua và nhiều bài
thơ mây mùa xuân) soạn năm
phong cảnh núi, sông, biền,
ø vua viết năm i494 gỗm chín đề tài,
họa của văn thần Xuấn sần tải lập (tập
1496 trong đó phần nhiều là các bài đề vịnh những động vua đã thưởng lãm, Cô đâm back vink (sith bài thơ
vịnh về tlm lòng của Rgười xưa) là một tập thơ vịnh oft Tau
Ngoài Lê Thánh Tên với Tao Ban, Nguyễn Trãi ụ 389 — 1442)
Thanà (1413 — 1463) 06 Tr
hầu mây) —
đời Lê bồi đầu lại côn các thi gia khác nhự ;
có Ứ% trai lập (Ức trả Tà tên hiệu tác giả) — Trinh
dc khả tập (khe trú) — Daãn Hành có Ván bite lận
Nguyễn Vĩnh Tích cá Tin sơn lập (núi tiên ở),
10 Ý nức + nối tiếp lời Vụs Tài do:
canh cá đề trăn bảo nhau, i Dao Đường (Nghiên), Hứa Nạu (Thuấn)
ĐỀ: chước cách thí gia đời Tổng đổi Ngạy, cũng nhan lâm
thơ ca tụng về Pguyệt lệ phong sương,
Trang 18ee tH RoR 8 8 Cầm nguyên bảo noắn hưu trưng ứng:
Túc dạ cần cần di chién cang -
Nhân đức bạn ra oẫn một niềm,
Trời cho lúa được cà mùa chiêm
Áo xiêm đoan sĩ ơn nên hậu,
Xăng xích ngoan phu phép phải nghiêm
Gương Hạ, Ấn kía soi lại kế:
Công Văn, Vã trước mở càng thêm
Dén đen no ấm nhiều điềm tốt, Chăm chấm lo toan sáng lới đêm
Hỏi Thạch dịch
Bề tôi Nguyễn Xung Xác phụng binh: « Cách thể toàn vẹn một
cách hồn nhiên, điệu ÿ vừa mình chính vừa thanh nh » (cách thể bồn
toàn, điện ‡ chỉnh nhã) Hai ông Thân Nhân Trung va Đỗ Nhuận phụng
bình :« Trong suốt bài, ÿ chuyền vận quang mình, lời sắp đặt thuần thục,
nghĩa lý thâm tháo, thú vị đu trường » Quần thần phụng bình rồi lại
phang họa Bài họa của Thân Nhân Trung:
li Ý! mua nói: Việc truyền bá dạo đức, thí hành nhân chính, ta tín rổng
tá chưa lêm được đấy đủ, vậy mà trời thương bạn phúc, cho trong aude được mùa luôn,
Tông cách trị nước ta vẫn lo trọng đạng người biền tai, đề kế sí doan chính được vinh
liêu, áo mão xuê xoang Còn đổi với bọn cản đế thì lấy pháp luật mà trối buộc nghiêm
khóc Tả liên luôn sơi gương giáo huấn đồi Hạ, khuôn phép đời Ân (vua Thành Thang):
Và mỗi ngây lò mở mang thêm công nghiệp vấn võ của tiên để Tuy rằng dân chúng
ao ấm và có những điềm lành biện ra, song ta lại cầng ngày dem la lãng và siéng ning
trong viện ĐỊ nước
Trang 19Ke ho oP # gw Thứ tích hàm hỉ để nghiệp hoãng
ek Pf boo © Rh
Trị hiệu dé long tam da than,
RR wk aw gl?
Ue dan cin chinh nhật căng căng
Động trời, đức đã mọi điều hay
Điềm được mùa màng đã thấu đâu, Xếu tối soi hình, dàng đức Bink, Đăng cay nghề nói, gỗ theo đâu
Cẩn trừ dựng mốt luận thường ving, Mot viée thank céng nghiệp lon xdy, THỊ hiệu càng thêm, cùng bận dạ,
Lo dan chăm chấm suất đêm ngay
Hỏi Thạch dịch
ĐA Ế nói: Đức vua hay tốt ở mọi về nên đã động đến trời, Trởi mới bạn cho
những điềm lành và che được mùa Mất vua soi thấu mại sợ xấu tết khác nào tấm greg biog kim logic Tai cua lại chịu nghe lời can gián (như thuốc đổng) khác nào Sty gỗ chịu theo dấy mực Chữa đạo tị nước (cầu tri) bay ra được, làm cho luận thường vững chắc Mọi công việc đều thành biệu khiếu sự nghiệp vua rộng lớn, Việc
chính trị cằng tổ ra có nhiều kết quả tốt thì vua cũng cần thận và hàng ngay now nếp fo cho đến và siêng năng trong chính sợ
Trang 20lã Ý nói: Vua có mọi cái hay nên trời bạn cho xuậng hiệp với điềm lành,
khiến nơi đồng quê lứa tất và được mùa luôn Sự think tr} mỗi ngày một
thêm, gió
Qức thời đết) làm cho đoạt được boa lợi Điềm lành thưởng ứng, mưa xuống thẳng
êm ä như đây (úc là không có bão lấp Mwa cb elu: Phong bat mink dita, ot bat phá khối BOR MG He OS WEAR nghia là gió không động cành; toưa không vỡ đấu
Ý nối mưa gió êm đềm không làm bại mùa mảng) Kho lứa nhà nước cổ dw, dự trữ
được cho Ở năm ăn dùng Bổn bề không có mỗi lo, +
wy nghiệp vua to táo Sẽ thần
(lin bet) sau chép đến dời nầy phải viết ba chữ lớn : Hong Đức Thụy (điềm tốt đời
Hồng Đá) và như vậy ông Ngô Cũng (một sẽ thần đời nhà Đường) xưa vẫn hết sức
ea tụng đời Đường là chỉ Hị chẳng lồ ra cạn hẹp hay sao Gì không biết về sạn còn có
đời Hồng Đức là thịnh tị hon)
Trang 21
Giá chẳng cành rung, đời chí trị, Mua oh day trút, triệu niền phong
Chín năm cá thác thừa kho chứa, Bến lề không lầm cũng nghiệp chưng
Lan bat ghi to « Hing Dite Thay 9, Đáng che Đường sử chỉ khoe ngéng
Hải Thạch dịch
“pe Vua ngu phè: «Lới lễ xuôi thuận biết rằng khí hòa, câu nỏi đoạn
chính biết rằng tâm địa khiêm tốn » (Từ thuận trí kỳ khí hòa,`ngôn
đoan trí kỹ tốn tâm),
Mấy thí dụ dẫn trên đề cho ta có một ý niệm về cái không khí xướng
họa trong Tao Đàn Vua tôi đối đáp, sự nhầm bình trong nhiều trường
hợp không khối cỏ điều tán tụng nhan đề đẹp lòng nhau, Song một nhận
xét chưng là đề tài vua đưa ra đều cỏ tính cách đạo lý, chỗ ý xây dựng
khuyến miễn Khuyến miễn ngay với chính mình, Tuy thiên bạ thai
bình, dân chúng no ấm mà vua khôngtự mãn vẫn đêm ngày Jo lắng trị
nước Chỗ khác, bài Quản đạo, nói rồ hơn về cải dao lam vua:
oe & RB 2 wee
Thanh tâm quả đục tayệt dư điền
Chánh dựng nước bền mong nết rối
Tâm thanh dục ít dét chơi săn,
Hải Thọẹch dịch
Tự khuyến miễn rồi lại rằn đậy bề tôi, như trong bài Thân tt:
a F 7t &# oO A ở Nội ninh ngoại phủ hồi thiên lực,
Trang 22
Le trerée vui sau, lòng @ thé,
Ngoài yén trong trị, sức hồi thiên
Hỏi Thạch dịch
Vậy một khuynh-hướng chỗ yấn trong những sảng lÁc của Tao-
Đân Hồng-Đức là khuynb-hướng giáo-huấn hay đạo lý Ý thơ biều dương
phép trị nước yên đân cũng Iuân-lý chính-trị trong kinh sách của đạo
nhơ mà đời Hồng Đức bất đầu nhiễm ảnh hưởng sân xa
#, đ Hiều biên cán ngữ liêu tâm thiết,
Ban sém giọng hờn, lâm Sự rối
Dưới trăng hương ngất mộng hồn thơ
Hải Thạch dịch
Cũng có khi cao kỷ, bùng kiến, biểu lộ chỉ khí của bậc anh hùng như bài Đề động Hồ công sau đây: os
ta Ý nói: Hoa Mai có sắc đẹp, da như mớ đônấ: mà cam chịu ở chỗ vắng về
dịch mịch, Lưng es nhỏ như bố thất bằng giải Họa trắng, làm người tá phải ngạc nhiên
verve minh mai (c8 1a gly) tong trồng Sáng sốm lại gần tưởng như thấy lời nổi cán than
của hoa khêu gợi cho lòng khách phải xót xa Song bạn đếm dưới HÃng thì nảo có
một chút hương bay nào được gởi vào trong mộng của khách đấux
Trang 23
Vong cing van hai hữu vô gian,
Khuôn thông kháa tạc núi muôn trằng,
Của động thénh thênh giá dễ rung
Cuộc thế công đanÀh mơ trởng hão,
Bau tién phong nguyét thi vui cùng
Hal châu rơi đất nghị rồng hóa,
Gigt ngọc luôn trồi rõ suối trong
ÄMuốn cỡi giá lên chơi dink ndi,
Tréng may trông nước tít chừng kháng
Thiện Đình dịch
18 Ding HE Cing & núi Xuân đải (Thank-Héa) gọi vậy vì tuo truyền có Hồ Công hiện ra ở đó Trong Liệt Tiên trụ luận có chép sự tích ông liên nầy, bán thuốc
ở chợ Trường-An, đeo một cái hồ bên hông, tối đến thì vào trong bồ năm nghỉ, Có
Phi-Trang-Phong Hy lầm lạ, hang ngây đáng bánh cho FÍà Công,
cho cùng vào hồ thì thấy š trong riêng một cảnh
Phí-TràngPhòng được Hồ Công đạy phép tu luyến, ban cho một cái gây xút đất và
một hôm nếm gầy ấy ở xứ Cát-Bi, hóa ra rong ma bay di,
một hôm nẵn nì xin hoi đất với lâu đài tráng lạ Sau
Trang 24
ret
Song nói chung tu-twéng cha nhà vua vẫn cốt yếu là cái từ tưởng
ôn hậu của bậc thai bình thiên tử, ngắm cảnh non sông mà nghĩ nhiều
hơn đến sự sinh boạt và hạnh phúc của thần đân, như trong bai Phong
RAR RF
Biên manh cửu lạc thừa bình hóa,
+ # # 2® 1Ỳ HN
Từ thập dư niên bất thức bình
Chọn son ngọc chuối ngất cao phong,
La liệt như sao núi trdp tring
Ca mudi lst din nghề sẩn có,
Chiếm mùa thuế ruộng nhẹ như không
Lá xả lớp sóng sườn non 0ỗ,
Len lồi con thuyền kếm đá thông
Hơn bến mươi năm nhuần đức hóa,
Thea bình nào biểtcuộc bình những
mu
16 An bang nay là tỉnh Quảng Yên và deo Hai Ninh Hai câu 3, 4 đứng
nghĩa + Cá và muổi ở day rất nhiều (shu dit) người dân bam thích khai thác những
mối lợi ấy, đất không cố tuộng Húa nên đánh thud nhọ
Trang 25Vi— THO! KY THINH BAT THO BA: NGUYEN TRIỀU
Thời kỹ thịnh đạt thứ ba của lịch sk the Han Ở nước ta là thời thịnh Nguyễn, nhằm ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Nhà Nguyễn
khởi lên từ ngôi chúa ở Nam Hà, sau khi thống nhất đất nước rồi cũng
thi hành một chính sách Iấy văn trị làm gốc : mốt mang Hán học, khuyến
khích khoa cổ, đề cao danh giáo Nội tỉnh tuy chẳng được thanh bình
như những năm Hồng Đức ngày trước, song nước Nam đưới triều Minh
Mạng thật là cường thịnh Biên giới mở rộng hon bio giỏ hết, chính lệnh tập trung vào một triều đình vững vàng Vua chăm lo việc nước
đồng thời sing thượng thi thư, ưa thú ngâm vịnh Đình thần hỏa theo
và khắp nơi trong nước từ Nam ra Bắc, nho sĩ thi nhân hưởng ứng Ta
thấy giữa nơi triều đường sống lại cái tục lệ vua tôi xướng họa, không
khí thí đàn thời xưa, Nhất là đến đời Tự Đức thì “tỏa Nội các thành ra
một cái trường thơ văn, chọn các nhà văn học vào đấy đề họa thi làm
Quanh năm ngày
tháng nhóm lại bàn chuyện thơ văn Trên vua thì lấy thơ văn bay dé
ma ding ng: đưới tôi thi được dấu khuyên đấu điềm và lời phê binh
cÑa Yua làm vinh điện Xem ban Luận âm cang kỷ của ông Nguyễn Thuật 1
từ vào nội các hầm Tự Đức 24 (1871) đến nằm 35, kề trên mười nằm
rất được lòng vưa tin dùng mà xem trong tập chép những lới vua, mười
phần đến chín phần nói về việc thơ văn, Có một việc sai sứ sang Tàu rất quan trọng đến ngoại giao cũng đem làm tài liệu ngâm vịnh »
Xết quả của cả chính sách trọng văn cùng phong tục yêu thơ ấy là đề
+› Nguyễn Thuật hiệu Hà-ĐìnÀh đế tiến sĩ khoa Mậu Thìn đời Tự Đức (1869),
auan đến Hình Bộ thượng thư Luân ấm cúng Ay ft WH AY AGA «kink chp những
lời nói sa vua»
Trang 26
cho văn học sử chữ Hán thời này rất nhiều sảng tác thì ca Gác vua
Minh Mạng, Thiệu lrị, Tự Đức đều có tác phẩm « ngự chế » Các hoàng
thân như Miễn Thầm, Miễn Trinh, các quan đại thần như Hà Tôn Quyền,
Phan Thanh Giân, các danh nho hay chữ như Cao Bá Quát, Nguyễn Văn
Siên đều đề lại những thí tập ®
Ket nội đụng các sáng tác thời này, ta thấy thí ca tuy lâm ra nhiều song vẫn ở trong mấy khuynh hưởng quen thuộc Thơ cửa các vna
thường có tính cách đạo lý,nói lên ý nghĩa luận lý chánh trị trong
nho học hoặc Dbiễu đương tài trí anh mình của bậc thiên tử Thơ của các
ong hoàng như tập Vĩ đã của Tuy-lý-vương Miễn-Trính hay tập Thương
sơn của Tùng-thiện-vương Miễn-Thầm phần lớn là thơ thà phụng và thơ
nhàn tân, thuật lại những buổi triều hội, cùng thọ hoàng Ân, hoặc những,
địp thầm viếng bà con, đạo chơi thưởng cảnh trong cuộc đời nhàn nha
phong lira nhiing adi khi cling trống rỗng buồn tế của đời vương giả
Pén các thi tập của các đại thần đanh nho thì thường nói lên, thuật lại
cuộc đôi, sự nghiệp của họ qua những biến cố trọng yếu, Như Hà Tôn
r Ba Lắng về có tập Mộng Dương, Phạm Phú Thứ đi sứ Pháp
về cỏ lập Tây Phả Đỏ là lối thơ sử trình, thơ nhật ký
Nhà Nguyễn dười ba ông vua trên tuy coi làm «thịnh thế » song
sự thịnh trị tất nhiên chẳng được như về đời Hồng Đức Vua Lê Thánh
4 Đây là các thi van gia thoi NGUYEN cing tée phầm đề lại: Vua Minh Mệnh (1791 — 1840) có 2 tp: Ngự chế tài tập và Ngự chế tấu bình Nam kỳ dặc khẩu
thi tập v Vua Thiệu Trị (T811 — 18A7) có ba tập! Ngự chế danh thắng đồ hài thi lập;
Ngự chế Bắc tuần {Ài tập và Ngự chế Vũ công HH tập Vua Tự Đức (1829 — 1883)
có 23 tập ! Ngự chế Việt sẽ tồng sịnh và Tự Đúc thánh chế thi dn Hoang thin
Miễn Thắm tức Tầng Thiện Vương (1819 — 1870), biện Thương Sen, con thứ TÔ vaa
Minh Mạnh có Thương Sơn tì tập, Nạp bí lập; Hoàng thân Miễn Trình tức Tuy
Lự Vương (1820 — 1897) hiện Vi-Dã con thứ TÍ vua Minh Mệnh có Vi.Dãá hợp lập:
Danh sĩ ngoài Bác thì Nguyễn Văn Siu (1799—= 1872) có Phương đình thí tập, săn lập
Cao Bá Quái (chết năm 1854) hiệu Chu Than có Chu-thiin thi tép - Hà Tên Quyền
(1198 — 1639) tự Tến Phả có Téa phủ tài lận, Mộng đương lập ¡ Nguyễn Tự Giản
(1823 — 1890) số Thạch nông tùng thoại, Yên thỀu thí thảo (the đi sứ Tần) Ngoài
xa cũng nên ghí nhận phong trào thơ nồi đậy ờ Nam hà ngay từ buồi Nguyễn Sơ với
Gia định tam gia tức là: Trịnh Hoài Đức (1765 —— 1825), Lê Quang Định (1760 —
1813) và Agố Nhân Tính, kế đến các nhà khoa bằng abut Phan Thanh Gian (1796 —~
1867) higu Lurong KAé c6 Lương Khả Hư săn tháo ì Phạm Phú Thứ (1820 — 1881) có
Già niên thì nắn tập và Tâp phu thi thản ¡ Nguyấn Thông (1827 — 1894) hiệu K2 Xuyên
Trang 27
th dem it 8 dank nho tài tnấn trong thiên bạ mà súc đưỡng ở một
triều định có hòa khí có kŸ cương Đởi Nguyễn tuy bề trên văn phong rire rd, song tình trạng ổ đưới bay ra lục duc, suy vi Giác giã chỉnh chiến không ngót, Trong giới nho sĩ lãnh đạo thì bao nhiêu mầm mống
chia rẽ, bao nhiêu tâm sự bất bình! Do đó mà thơ thời này chẳng phải
chỉ có khuynh hướng giáo huấn xây dựng hoặc ưu du lạc quan như về
lội khuynh hướng bí thời phan thé
và thể hiện nơi một thi tài bậc nhất thời
đưới ngòi bút thoát sáo của ông khi thì cái
ah vật như trong bài Thanh trì phiém du
đời Hồng Đức, Cũng cần kề đến m phát sinh ngay ở triền đường
ấy là Cao Bá Quát, Ta thấy
Yên trì vạn lý tam
Đầm Thanh chia bigt dug, Nuée Nat wét chink &hám
Bat ring may vang nượt,
Trot lâm khái đã tầm,
Trang 29
Diện hậu tâm quy thần tham thương:
Đi ấu nhiều người cồn liếng tang, Tiều Ấn, Ức Thai gương sáng choang
Trượng phu sống kháng hau phơi gan bà hạm dì đời phù
cương thường,
Ngồi nhìn lang sói nhông đầu đường,
Đầu bạc áo gấm nhơ cổ hương
lại không hau mài mực mỗi mộc phí hịch định bẩn phương,
Nhà thấp nín hơi chụi đầu sang,
Tuồi già chết co bán phấn hương
Nếu khi dễ dười đất gấp hai cụ, Mặt đầu làng thẹn: ôi thẩm thương 1
Hỗi Thụch dịch
Đôi khi ta còn thay trong tho Cao Chu Than tựa như ngày nay
ta nói một khuynh hướng tả chân xã hội Như trong bài Đạo pháng ngã phu, ông thuật việc ông gặp một người học trỏ tứng đói lên kinh đô kiếm
kế sinh nhai không được:
# T š # #
Lính đính vọng quy lệ,
9 Bai nay (đây trích có phần dưới) làm đề tiễn một người bạn là Nguyễn Trức
Khe di nhậm chức Tri phá š Thường Hú Thường Tín (HÀ Đăng) là đất đã sản xuất ra
Chu Văn Aa và Nguyễn Trải cho nên đấy dem sự nghiệp của hai ông mà khích lệ bạn Triểi hạm là bề gẫy song sd Do tích Chủ Văn đời Hán Thành-để đòi vua chém gian thần, vua không nghe lại sai người duồi ra, ông nhất định không ra, níu chặt lấy song
của làm gẫy song Đương đạo sài lang chỉ bạn quan lại gian tham bạo ngược Trương
Cương đời Hán-có cấu : Sài lang đương dạo, an ấn đề lụ (láng sói còn đầy đường,
bồi chỉ đến chần cáo) Bạch đu trú cầm : Xưa có câu! Phú quý bất quy cổ hương
như j cầm dẹ hành (giàu sang mà không về làng cũ thì như thề mặc áo gấm đi đêm),
Nãi cách khác làm nên lớn mã xênh xang về làng Ìlà một đồn vinh hạnh Nhất là khí
tuồi đã giả Đáy Cao Bá Quát cho là mật điều ê-nhục Thuấn ‡ ma mặc ¡ Thuẩn là cái
mộc, cái lá chấn đề đó, cẩn khi đánh nhau 7ƒ là chỗ tay cầm Mài mực ngày vào chế
tay cầm của cái mộc (tức là đương lúc xung trận) đề viết tờ hịch, nói lên cái kh;
hàng tráng và cũng là cái Hài văn vũ hiêm toàn AMỊ tầm: hai ông giả tức Tiều Ân
Trang 30
Duc ngén thanh lũ can-
"Càng kế phải quag ves
Đường mâu nghìn dâm khơi
Ngàu hai cố chiếc tráp,
Ngàu ba nhị đái dài Gặp ai sẵn tươi lình, Muén noi nhưng nghẹn lẻi
Trang 31
Ôi thôi bác ngững lệ,
Cang ta ding bữa chơi
Thăm nắm trong quán trọ,
Thang dung nào mẫu ai
Thong thả ding ogi nuốt,
Kiền khân láo ẩm già
# chỗ búa ly tối gạy,
vé than thé minh, lai được tin đường ngoài lụt lội đói rét dân tỉnh cơ cực ;
4 Những thăng là cái bướu, chế thịt dự, phần từ thừa vệ ích, Hai sâu 3 va 4
# nói! Đem thân minh lầm mật phần tứ thừa, vô ích cho quốc gia ; lánh
vết, šg nda
Trang 32
Dén cùng, tại chửa qua-
Thái bình không một chước, Luỡng thẹn thân nho gia
Hải Thạch dich
Tém lại thơ Cao-Cha-Thần xứng đáng một sự nghiên-cửu đặc biệt
'Tuy văn tài ông cũng là kết quả đào tạo trong cái văn phong chung của
đời Thịnh Nguyễn song tư tưởng và cảm hứng của ông thật ra ngoài
khuôn sáo tầm thường
Phong trào sáng tác thời Thịnh Nguyễn ngoài ra còn một điền mới
mẻ đặc-sắc, ấy là sự tham dự của phải nữ, Không phải về trước, triều
'Trần, triều Lê không có trường hợp cung nữ, vương phí biết làm thơ
Hán, hoặc tiều thư quan gia có tài xưởng họa, song phải đợi đến thôi
Thịnh Nguyễn các nàng Ban, ả Tạ Việtc-Nam mới xuất biện đông đảo
Cũng bởi trên hết sự hiếu thượng của quân vương mà ảnh hưởng
bất đầu gieo rắc ngày trong nội phủ Vna Minh-Mệnh có ha bà con
gai : Nguyệt-Đình, Mai-Am và Huộ-Phố đều nỗi dank nữ sĩ Bà Huộ-Phố
thông kính sở, thạo nữ tắc, nữ nhạc, phàm cũng-từ nhạc phủ đều có
thề đặt bài, Những trứ danh «năng thi» nhất là bà Mai-Am, Mai-Am
nữ~-sĩ có bài tho Ue-mai sau day :
Trang 33hi #8 don w Duc bả tân từ viễn tương tặng,
RA @ A Re BS
Mi nhân nyền tại thủy chỉ mi
Đồ râm đêm qua giá bếc đưa, Gác con lạnh lếo lựa canh thùa
Quan san tiếng sáo buần Xoang cũ
§ Đại ƒ bài thơ nổi lần lòng nhớ hoa Mai của nisi Mai JA hoa của mùa đông
tên đêm qua nghe giớ bắc xào xạc thồi ở nơi bờ rậm mà thất sinh lòng tưởng ' nhóc,
Rồi một mình ngồi khuya nơi gác nhỏ lạnh lêo, phó cả tim hn cho kỷ niệm xưa, Nghe
tổng sáo nồi lên ở nơi quan sơn xã xăm mà buốn vì khúc cũ Gara có khúc sáo ? Aai
hoa lec) Nhớ lại ngày tước đã từng hẹn với Mai ở bên sông noi be giậu (È Cả sơn
bên Tây hồ, nhà xử sỉ Lâm Bồ 06 trồng nhiều Mai, đi ngàng bà giêu thấy ngất hương
thom) Từ bấy đến nay vì xa cách luôn nên không được tỉn tức gì về Mai (Thơ Đường, Trương Duyệt có câu + Khá tuế Kinh nam Mai lợ luyẾt ; Kim niền KẾ bắc tuyết
pha Mai) Mà chỉ có những lức mộng thấy Mai & noi cối nguyệt thầm máy (Nguyệt địa sân giai nổi cảnh tin ¥ oi La Phi Boi Tổng, Lục Du vịnh Mai cố câu ;
Nguyét địa bán giai, âm đoạn trường: Tự tâm" thầu giải thuông cô phương), Nay
mến đem bài từ mới làm nảy đề gồi tặng Mai song Mại vận & chế bến nước xa xếm khiến người chỉ trông nhớ hoài như trông nhó một mỹ nhên mà sả cá tìm đến được (Tại thấu chỉ ng lếy chứ: trong thơ Khiêm hà, Tần phong Kinh Thị Aỹ
nhân chỉ hoa Mai Caa Khải đời Minh vịnh Mai só câu : Tnuki mình lâm ha mg
Trang 34
“Thiện, Tuy Lý, Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giãn nối bút phê bình
hết lời ca ngợi Lại được cả giới vẫn nhân Trang Hoa bay giờ
thưởng
thức và đề tựa, Có bản ia ra xề sau có đến sáu người Tàu
đề tựa trong
đó có những edu tan bing abo: « Loi tho trong tréo ma co man, dep dé
mã có phép, bài trường thiên không bài nào không
kbéo, câu đoằn củ
không cầu nào không hay »
Ngoài ra ở giới thượng quan, trong những gia đình quyền quỷ?
son gái theo đôi bút nghiên cũng thành một phong
thượng Như quan
Bổ chánh Nguyễn Nhược Sơn người Bình thuận có bai cô con
gái Nguyễn Thi Bich, Nguyễn Thị Huyền đều nỗi đanh về thì nghệ, sau
được vua
“Tự Đức vời vào phong chức "Tài nhân Nguyễn Thị Huyền
buổi nhập triều bái yết đã ứng đề vua ra mà làn ngay bài thơ Vịnh mai
Hạt châu điềm nhị hương còn đượm,
Nụ ngọc liền cành sắc chửa phai
Trang 35
Sém dé hoa khôi xa nức tiếng,
Lo la owdn cấm gói đưa tươi,
‹ l Giá đưa chín bệ thêm ngào - ngạt;
Magn chén maa xuân chee got cười,
Thiện Đình dịch
được vua khen: « Nữ nhỉ mã có thí cốt,
Nguyễn Thị Bích, khi vua Tự Đức đã
tung đấm nhiệm nhất thiết mọi công v:
80 tuổi, ưa ngâm vịnh, làm thơ, lời th
trong bài Đếm thanh đi thuyền choi gua
+ thiét tai nha ngoc phun chan»
thăng hà, thì theo hầu Lưỡng
iệc từ hàn, Bà sống lâu đến trên
lơ Thường cao nh, thanh tú như bến Lợi nông:
Leu điềm màn sương hoa lim dém, Trúc lồng đâu nước `báng long lanh
Non xe thẳng, lến rêu in hư,
Trang 36
Ruộng phẳng liền nhà lúa tốt xanh
Dura sb chờ trăng, trăng mới mọc,
Gà kêu điểm có chơi sang canh-
Thiện Đình dịch
ViL— TIẾNG THƠ TRONG NHỮNG THỜI LY LOẠN
Ngoài ba thời ký ấy — thới Trần, thời Hồng Đức và thới thịnh
Nguyễn — côn ở các thới khác, phổi chăng thơ chữ Hán đêu không có
hoặc lá vô giá trí, Không phải, Suốt trong lích sử xưa, có bao giờ lang
Hán học vắng tiếng thơ, lúc nào mã nhà nho chẳng ngâm nga chẳng đề
vịnh Khác chẳng lãở ba thới kỹ gọi là thịnh đạt ấy, nhớ ở một không
khí quốc gia thanh bính, học thuật phát đạt, nhờ ở sự hiếu thượng của
quân vương, sự hưởng ứng của giới thượng quan trí thúc, nên đã có
một phong trao thi dua sang tac nồi lên ở bê mặt và đúc kết lại trong
nhiều tác phẫu, Côn ra Ở cáo thời khác, những thới vua chúa hôn mô,
hoặc non sóng ấm đạm, người ta vẫn lâm thơ nhưng lạng lẽ, đơn chiếc
“Tiếng thơ khi ấy tất nhiên chẳng phải lá tiếng reo phụ họa giữa buổi
thịnh thế, mà thường là tiếng than lễ loi của những lâm sự sĩ phú âm
thầm sáu muộn
Lịch sử nước ta đã trải qua nhiêu thới hôn âm ñy và tiếng thơ
trong những thời ấy để đề lại nhiều điệu bí thiết cũng đáng đề chúng
ta nghe qua Cuối đới Trần là vụ họ Hồ tiểm ngòi, rồi tất cả đất nước
chim ngập đưới lần sóng ngoại xâm cia quan Minh Bang Dung sau
những cố gắng tuyệt vọng đề vẫn hồi tính thế, đã thổ lộ can trường
trong bai Thadt hodi bi trang nay:
Trang 37Việc đời man mác tuầt già thải,
Đi rộng trời cao chén ngậm ngài, Gặp gỡ thời cơ mau những bẻ,
Tan tanh si thế luống cay ai
Phe vua bung những mong xoay dal, Gội giáp sông kia khé Đạch tràt, Đầu bạc giang sơn thù chưa trả, ong tuyền mấu độ bóng trăng soi,
Tên Đà dịch
Lý Tử Tấn đời sau đã khen rằng :« Không phải hệ sĩ hào kiệt tất
không làm nổi CARERS RB) y Việc kháng Minh phục quốc đưa tới
một tay hào kiệt khác cũng là kể sĩ mà lại là thi gia: Thái học sinh
Nguyễn Trãi Cuộc đời của ông là một tấm gương trừng hiến, và cũng
đà một sương thành công và toại nguyện nếu không có những ngày về cuối, tự guân bồn mê, chính trị đồ nát, dng phải lại về ần ở Côn sơn và
hay ký thác vào những vẫn thơ buồn bã nhữ bài Gởi cha bạn sau đây:
LAMM RB +
loạn hậu thân bằng lạc điệp không,
X *È ở # # ww
Thiên biên thư tín đoạn chính hồng
7+ Đài thời nói lên tự tưởng của người anh bùng mật lộ, thấy sự bại rồi nên chỉ mượn chén cuồng ngâm, ĐỀ điếu chỉ nhứng người như Trần Đình, Hàn Tín xuất
thân mồ heo bán chợ, đi edu kiếm cơm mổ gặp thời lâm nên công nghiệp Tây Bink 14 từa đồ bình khí, Người xưa có câu : Dye tân thiên ha tay giáp lính là muốn 'kếo sông
Thiên há xuống đề lấy nước at tha sạch bính giáp, ý nói muốn đem đại cuộc thái bình che đất nước, Lang tuyền Ik tên một thanh gươm guy Bei nguyệi ma là mãi (hei
#ươm) có trăng đeo vào, Tôi vào, tức là đưới ánh trăng,
Trang 38Vị đạo sinh nhai tự chuyền bồng
Sau con loạn lạc bạn bè thưa, Thư tin bén trời odng nhen dea
Vườn cũ ba canh mưa lẫn mộng, Quê người bến oách dế ngâm thơ
Quản Ninh còn è Liêu đông mỗi,
Đã Lão nào quên VỊ bắc xưa
Bạn cũ hỏi thăm nhò nói hộ, Sinh nhai lần quần lựa guồng lơ,
Hỏi Thạch dịch
Giọng tiêu tao, đôi khi đồ ra oản than, song tt tưởng xẫn không
quên nước quân Yua : 7
lank loan An lạc sơn đời Đường Minh Hoàng Liên đồng lã chế Quản Nành lánh loạn
Hàng Cân đời Hán Hiến để,
Trang 39
— 34 # # H8 # £ Nhất sinh sự nghiệp thù kham tiếu,
& FR 6 ho
Doanh đắc hư danh lạc thế gian
Ngày tháng v6 tink lần tóc bạc, Vua cha chưa báo lắc lòng san
Một đời sự nghiệp buồn cười nhí, Äna được trên đời tiéng cén con
Ae RR RR mR
Tạa ủng hàn khâm da bất miền
` Việc cũ qua rồi thời khó gặp,
Ơn trên nhớ mãi chết chưa đần
Cả đời ôm ấp lồng lo trước, Ngồi khoác chăn đơn thức suối đêm,
Cuối đời nhà Lê, lại mét va thoán đạt — đo họ Mạc — đưa đất nước
từ đỏ Vào một cuộc phân tranh kéo đài đến hai thế kể rưỡi 9% Trong
thời Ấy, tuy Bắc Nam cũng có lúc hưu bính,' có cẢ những buổi tương
® Đây là những nhà thơ văn trong thời Nam Bắc phân tranh Về đời MẠC (1327 — 1592): Nguyễn Bình Khiêm kiện Bạch Vân cư sĩ (1491 — 1385) có Bạch Vấn
am đập Về đời CHÚA TRỊNH (1592 — 1789): Phùng Kiắc Khoan (1528— 1613),
Đăng Thụ (1649 — 1735), Nguyễn Đăng Đạo (1631 — 1719), Neuydn Công Hãng
((680— 1732), Hồ Sĩ Đống (1739 —-1785) đều có những tập thơ sử hình ; Ngớ Thệi
Trang 40
THỊ VĂN
đổi thịnh trị, như ở Bắc dưới chúa “Trịnh Sâm, ở Nam dưới chúa Nguyễn
Phúc Khoát, song thường xuyên lA cải không khí loạn ly bình cách
Vũ thần đảo chỉ, Văn nho ngồi mơ một xã hội thanh binh mà chẳng
được, thường chỉ côn thái độ đào Ăn hoặc cầu an, Đời Mạc, Trạng
Nguyễn BÌnh Khiêm lui về Bạch vận am, lấy lý số đề tự an ôi về thời
cuộc và làm thơ yếm thế, cầu nhàn :
Ure hiệu Tuyết Trai (1709 — 1736) số Tuyết Trai thị lập ¡ Đăng Trin Cin ob Chink
pit ngim bide ; Ngé thất St hiện Ngp Phong (1726 —~ 1780) có Anh ngén thi te, Neo
phong odn tap ; Bui Huy Bich higa Tin -Am (1744 — 1816) có Nghệ an thị tập,
1820) có Thanh hiển lập, Bắc hành li lập Ngoài ra thời nầy: the
Han méi moc lên
& giền Nam, gitng son cba CHÚA NGUYÊN ¡ Mạc Thin Tích (chết năm 1781) 26
Hà tiên thận sinh, Nguyễn Cư Trinh hiệu Đạm Ẩm (1716 — 1767) có những bài hea
tập thơ Hiến và Đạm am sấn tap