1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Văn học sử Việt Nam: Giản ước tân biên (Tập 1): Phần 1

91 11 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn học sử Việt Nam: Giản ước tân biên (Tập 1): Phần 1
Trường học Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Sách giáo trình
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của cuốn sách Việt Nam văn học sử: Giản ước tân biên (Tập 1) giới thiệu đến bạn đọc những nội dung về: văn học truyền khẩu như truyện cổ tích, tục ngữ, ca dao; văn học lịch triều Hán văn; học thuật chữ Hán; tư tưởng Hán học qua các triều đại;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

VĂN HỌC LICH TRIEU : a

Trang 2

= “SSE

PHAM THE NGU

VIỆT NAM VĂN HỌ( SỬ

GIÀN ƯỚC TAN BIEN

VĂN HỌC TRUYỀN KHẨU

HAN VAN

~ qude Hoc TUNG THU

Trang 4

Lời nội đầu

bộ rất cá giá trị, như bộ Việt Nam Văn học Toàn thư của

Ô Hoàng Trọng Niên, bộ Văn hạc Việt Nam của Ô.-

Phạm Văn Diệu đến là những công trình, tuy chưa hoàn

tật, song xem ra, chuẩn bị lâu năm, quy mô uĩ đại, tài

Hập sung thiệm, biền chép tính tê, có thề là sách than khảo quý giá cho ngay bậc học giả

Bỉ nhân tự xét đọc it, ‘thay hep, lại biằng hài

” ngại tìm, thật không đấm đua đồi è chỗ uyên bác

Chỉ là nhật nhạnh một ¡L điển chiết thừa », cô gắng đựng nên ở đây một cái nhật lõm giản di và ước lược uễ toàn

bộ nền ăn học nước nhờ, hẳu mong giúp ích phần nào cho |

đi sâu bào việc khảo cứu

Những dẫn chúng, thí dụ và chú thích thêm sào khiên cho bộ sách hơi nặng Song sự giản ức là cốt yêu ở cách nhàn các giai đoạn, nhận định các ân để, trình bày các

kiên thúc Cũng trong cách nhàn, nhận, va trình bày ậy,

có thể có it điểu không giéng & cdc sách về trước, cho

nên lợi lạm dung hai chữ Tân Biên,

Việc biên soạn cũng, nhớ vide in có đổi: phân nội

“pa, tét không tránh được những thd so’ mat Rat mong

“edie be cao minh lwong thie hode hạ cô chỉ bảo cho để

sửa chữa lại thì thật là vạn hanh,

Việt tại gác Thập Hồng

màu Thu năm Tân Sửa

Trang 5

NO! DUNG

VĂN HỌC TRUYỀN KHẨU

CHƯƠNG 1.— TRUYỆN CÔ tien

nghia văn hộc trong truyện cổ tích — Việc biên khảo

5 Ha 1819 -

Dinh nghĩa và biệt loại — Lai lịch tục ngữ — Ý nghĩa

của tục ngữ — Hình thức trong tực ngữ — Công dụng

Việc biến khẢo tục ngữ và ca đao sỐ 4a

PHAN He

VAN HOC LICH TRIEU

HAN VAN

THIEN THU NHAT

HỌC THUẬT CHU HAN

CHUONG I~ HAM HOC TRUYEN VAO NUGC TA 53-60 CHƯƠNG IH— TƯ TƯỞNG HÁN HỌC GUA CÁC TRIỀU

ĐẠI ca cu Ôn

Việc tổ chức giáo dục — Các sách học =— Các môn chí

— Thi cử và khoa danh — Kết luận, , „, , 74489

Trang 6

Từ học thuật đền trước tác — Thư tịch ở nước ta |

THIÊN THỦ HAI |

CÁC LOẠI HÁN VĂN nd

“Thi và Văn — Nhà nho năng thi —¬ Vào vườn thờ Hán |

“Thời kỳ thịnh đạt thứ hai: đời Hồng đức 98—iar ì

Thời Kỳ thịnh đạt thứ ba¿ Nguyễn triểu — Titng thơ

Truyện dài du ký: Thượng kinh kỳ sự của lấn Ông— i

Truyện dài lịch sử ; Hoàng Lê nhất thông chi của Ngô

"nổ éẻNẠNN a4 ị

y— CONG VAN Hịch tưởng sĩ văn của Trắn Quốc Tuần — Bình Ngô

đại cáo của Nguyễn Trãi — Chính Chiêm thành chiều

của lê Thánh Tôn, và ee ee ee TORRID

Biên khảo về sử ký — Biền khảo vẻ địa dư — Biện ì

WiII KẾY WAR

„ 280234

——

Trang 7

womans

MAY BIEU DAN

© Nhitng téi lige tham khdo dé vide sách này không ngoài những tài liga qudquen biét, cho nên xin miễn việc litt ké ta 3 đây Đặc gid néu mutn

Gi sào: công việc Âhảo cứu cú thể tìm xem ở các bảng thư mạc rết đẩy đã

nha viét tử đã đặt ra những danh từ khác nhau để phân biệt NRư nói vt

nhà Lê ủo Lê Hoàn bhai sang thi déu goi ia Tiến Lê Nhưng đến Hậu

Ea HH cá người cho là giai đoạn bắt đầu từ Đình định nương Lê Lei,

số người cho là bắt đến từ năm trung hung vé saw Dé trink se lim lip

sả cho được giản tiệm, trong sách này ức định như geu ; Nói vẽ nhà

Zé do Lé Hodn khai sing thi ding chữ Tiên L4 (rừ phí liêmsnăn đã gud

Tổ, khải phái thêm chữ Tiên vdo, nhw khi nói: Triển Diah-Lé.Ly ,.) Nấi

vế nhà Lê từ Lê Thái TẢ đến khi bị họ Mạc cườp ngôi Hà chỉ ding mét che

Tê, coi đó như giai đoạn chính yên của họ Lê làm vua, khỏi cẩn một tiếng

cht định néo Not vé nha Lé th Khí dựa vào họ Trịnh đủ lấy lại ngéi oua thi

sol ld Lé Trung lng (Hay cá hi cing giai đoạn ấp, cồn goi id

Đời Trịnh nữa) Lê quý hay Lé mại là những năm cHỔ của thời

Tê Trung-lưng, Think Lé, tức thời kỳ thịnh trị của nhà Lê là thời vừa tế

Thánh Tôn cẩm quyn

@ VE mdi tác giẢ nói đến trong bộ sách này, đêu có một tiểu truyện đủ lẻ 8ø sài hoặc lắng chính văn, hoặc bằng chú thích Một tác giả có khi được đấn

“trình uào nhiều chỗ khác nhau Tiêu truyện thường & oto chỗ nào mà giả tác

được dẫn trình nổi nhiều phẩn quan trọng của nắn nghiệp mink hơn cá,

Một bảng lanh mạc sào cuồi bộ sách sẽ chỉ rỡ các chỗ nói sẽ, từng tác giá

chỉ rõ chỗ có các tiểu truyện ay vd bd tác mot sự thiểu sót,

Trang 8

PHAN THU NHAT

VAN-HOC

TRUYEN - KHAU

Trang 9

I_ PHẨM LOẠI TRUYỆN CỔ TÍCH `

Những truyện cỗ ấy của dân la đại đề có thề: phân lâm xuấy

loại như Sau °

1.— Truyện thần tiên thuật Tại bãnh vì đị thường cña những

tiêu và: kết duyên với nàng Giảng-Hương; truyện Chủ Đồng Tử nghèo

Khó mã lấy được công chúa Tiên Dũng sau hái vợ chồng cũng lên trời;

truyện thần Kim Quy giúp vua Thục xây Loa thành; truyện Son-Tink,

2— Truyén mo quy nhw truyén quy-nhap-trang xác người chết

lg người ngũ say;

nhẹn thưởng trà trộn với người đề tác ny, tác áo, khác với các vị thần

Trang 10

8— Truyện loài vật là loại truyện mà nhân VẬI chính là loài vật,

nhw trong truyện người lẾy vợ cóc, người lấy vợ cá

4%, — Truyện phong tục tín ngưỡng là loại truyện cô Hiên quan đến mội tục lệ hay một tín ngưỡng của dân ta xưa Như truyện hai anh em họ Cao với người con gái làng bên chung quanh tục lệ

vua bếp của đân ta,

đã dải, hoặc một kể gian hoạt, lắm raru mô qny quái Như truyện

Điềm đối đáp sử: Tâu, Đặc biệt cổ một loại khôi hải bình dân với

tiếu lâm,

6Š — Truyện luận lý là loại truyện kề lại những việc hoặc thực hoặc hư, thưởng là hành vi của loài người, có khi liên can đến cả loai vật hay quỷ thần nữa, những đều nhắm một muc đích chính yếu

là đạy bảo người ta một bài họe Imân lý, Như truyện Lưu Bình,

« Ăn một quả trả "gần Vâng » ca ngợi người thật thà, ăn ngay ở thẳng,

chê trách kể độc ác nham hiểm,

thường hay oan trải những cuộc nhân đuyên kết cục một cách BE

thẳm và có khổ năng rung động người ta một cách mãnh Hột Như

Trang 11

iL LAI LỊCH TRUYỆN CỔ-TÍCH

A.— Xét về tính chất của đề tôi, những truyện cỗ tích tủy đôi

khi có nhiều phần tưởng-tượng song đều bất nguồn từ một trong những đữ kiện thật tế sau :

4,— Một sự vật trong Lhiền nhiền, như những truyện về ma quỹ

về loài vật ` 9.— Mội công việc Lhường ngày trong xã hội, như những truyện khôi hài truyện lận lý,

truyện về phong tục và tín ngưỡng

#%— Một sự kiện lịch sở, hoặc là lịch sử địa phương như những

truyện tình ái, truyện luần lý, hoặc là lịch sử chung của dân tộc như nhiều truyện thần tiền

8.— Xét về do lại sống tốc, thì nguồn gốc ban sơ tất nhiền là

ở dân chúng, Người bình đàn vô danh đã ghílại hay đặt ra từ những

thời rất xa xưa, vì khòng có văn tự đề biền chép nên người ta

chỉ biết nhờ lấy và truyền khầu cho nhau Nhưng kề từ khi đàn ta

mổ cửa thầu thải văn hóa bên ngoài, Hiản ty truyền vào, Hán học

mỞ mang, thì xéi về do lại những truyện cổ lích của ta, phải kể thêm hai yếu lố này :

được truyền bả ra dần gian, người đản được nghe một lần thấy

hay, nèn ghỉ nhớ để kề lại hoặc nguyên vẹn boặc thêm bớt, thay

đối chút ít, Do đồ mà chúng (a cd nhiều truyện cồ tích có nguồn gốc

ngoại lai, bác học Thí dụ nhị truyện Tấm Cảm là tir Ấn-bộ truyền

Rình là mượn ở sách Phật;

sang Rồ rệt hơn, lruyện Con rùa a

truyện GÁI quại mồ là mượn ở sự tích «Trang tử cổ bằần» Nhiễn truyện thần tiền quải đẫn lưu hành nơi bình đàn, ta thường cho là

von dĩ của ta, sự thải đòi khi chính là rút ở sách Tàn, ở Tình sử,

Trang 12

ổ Liêu trait, Nhất là khita đã lẤy nhiều tục lệ cla Tay Am cha

lâm của mình, Như trayén Lau Than Nguyễn Triện yg tục ăn Tất

hội vong nhân ngày rấm thắng bẩy,

những

việc đã say ra trên đất nước ta nhất là những truyện về

Câu truyện trong trí nhớ của người bình đân thường bất: đầu THỘE

Cách vô đanh +4 Ngày xưa có một người một người YỢ% THỘI người

người chép truyện, trong giai đoạn ký tái sau này, Có thể la Hgười

Xưa nữa,

sự nghiên cửu văn học,

———

i Thí dụ nhự cậu thuyện Quý nhập trang Ông Nghiệm.Toán thuật trong

Piệt Nam săn lạc sử trích gếu, Ông Thanh-Lang lai

mirza din tong KAéé thdo Vin

tuyện Tải điển trong Liêu Hai chỉ đị của Dã Tang Linh, 2s Truyện cỗ thành tác phầm là khi đã kinh 40+ ngồi bứt biên chép của Văn gia

thành hấn một sáng đác và tất nhiên không thề din vào đây lầm tác phẩm văn chương

bình dan và truyền khẩu,

Trang 13

Người bình đân ta xua có một cuộc sống tối lầm chật vật, Họ phải

cc nhọc về sự sinh hoạt vật chất, những không phải vì thế mà tình cẩm héo hon Họ có những bài ca, những điệu bát Đồng thời

họ có những cần truyện để giải buồn đề mua vũi Ở thôn quê xưa

là những ông bà già lắm trí nhớ, Và những giờ nhàn rối như

buổi làm lủa, người ta xúm động hút điếu thuốc, trống bắt nước

sảng tác và trình điễn nữa Khi đật giọng khí kề cả, nhặt khoan tây chỗ, lại

khéo thêm vào những điện bộ, những trùng mất nin hoi *Người

nghe chim chủ mi mê Hết truyện: người ta thể dai udo nuột cho

suưởng của anh chàng ngốc lấy được vợ liên, hoặc người ta cười rộ lên khi đỏ là một cầu truyện tiểu lâm Những truyện cổ ấy thường điễn

ra trong một thể giời hư-huyền với abững nhân vật kỳ-d{, những bước

đởi đÃẢo điên hay hạnh ngộ, đem lại cho người nghe, cùng với những

rùng động lâm thần, cầu trả lời về sự vật huyền bi hay là hình

ảnh cña những mẫu đòi phỏng khoáng mơ trớc

Nhưng sẵn phẩm văn học không phải chỉ là phương liện lợi dụng của cá nhân, Đứng từ guan điểm khách quan, né cén mang

Ạ C6 nhà triết học cho răng truyện cồ tích nhất là truyện thần tiên phát sinh bởi một nhu cầu đặc biệt của con người, nhất là con người ở giai đoạn cồ phác hoặc thơ

ấu, đề là nha củ sw huytn dige (besoin du merveilleux) Tréa kia 6 adi dén sự vay

mượn cồ tich& mwée ngoài Sự đó khòng sai Tuy nhiên đối khi người ta thấy ở bai địa

phương rất xã cách có những câu troyệp rất giống nhau (Như tuyện Tam Cam cha

ta, thường cho là mượn cha Aa.dg song ta théy cing rất giống truyện Cendrillon hay

La petite panloulle de vere của Peraulh) Có thề cho sang đó là bởi cũng phát sinh

xa do một nhụ cầu tâm lý, Về điềm này, Nguyễn văn Vĩnh diễn thuyết về truyện cð, đã có những nhận xét xác đáng như sau: ŒCâu truyện hoang đưởng LẨy lạp Cronos cũng cổ ở

bên Ủc-châu, Phichtu «Du địa phú? là một giai đoạn lịch st chung của nhiều nước

Nhiều truyện của Penauh, của Giìmm cũng thấy kề ở Viễn-đồng Những truyện thần quải

bình như lA một trạng thái cầo phải có và đầu đâu cũng có Người ta ngờ là có những

Mmật lệ nó cai quân tất cả những cái phát mình cha bí tưởng lượng loài người ấy»,

Perrault vin gia Phap (1628 - 1703), Grimm vin gia Bite (1758-1859) đều nồi danh về những tập truyện các ông thuật lại theo cồ tích trong nước

|

Trang 14

ta,

Những truyện cả Việt

lắm trí tưởng tượng, ngây thơ,

chất Phác, nhưng ©ồng giàn de thực tế, trào lộng, ranh tuãnh,

điều kiện ngặt nghẻo của một

Có bụng đạ hiền lành, thủy

chung, nhân hau, lại còn biết siêu lên

©Š hình ảnh cña đân tộc, của xã hội nước ta xa, mét

dan tộc tiến

một xg héi trai qua những bước thăng

nếp quỷ sĩ trọng nông, những

cũng những nguyên tắc tuân lý của đạo Phật, đạo Nho,

` ‡V.— VIỆC BIỂN KHẢO TRUYỆN CỔ TícH

Jưu truyền trong trí nhớ người bình đân mã thôi, lộc, nhưng ch‡ được lưu

Từ khi ching tq

biết dùng văn tự và có khuynh

hưởng về đưởng văn học, các

học Trong thời Hán học, các nhà

Nam trich quái của Trần thế Pháp

€Œ, Truyền Ry mạn lực của Nguyễn

Đữ Nữ sỹ Đoàn thị Điểm

đời Lê trung hưng biên tiếp theo Truyền

Kỳ của Nguyễn Dữ một tần tập S9Ì 1À Tục lrgšn Kj Qua thay kỳ

qhốc ng

> Col nhir eải vốn liếng quỷ

bản và thiêng liêng của đân

Nhiều

nhà sảnh ng

dich những truyện có tích cách thuần tity Viet Nam ra Phip

vin, Anh van dé giới thiệu với người

Trang 15

ngoai quéc 4 Không những biên chép, địch thuật, người ta còn nghĩ

đến việc cắt nghĩa nhiều truyện cổ, tìm ra đưới cái bề: ngoài kỳ quải, hoang đường một ý nghĩa duy lý có Hên quan đến nếp sống xác thực của đổi xưa Như người ta cất nghĩa đo lai «khoa học »

truyện Phù đồng Thiên vương Sự cắt nghĩa ấy đôi kbi làm mất tính cách thần tiến thơ mộng, thủ vị nghệ thuật của truyện cổ, nhưng

ma théa mia óc duy lý của thời đại, và tuy chưa thành công rõ rệt trong một luận án đặc sắc nào — như đối với tục ngữ ca đao — song cũng chứng tổ sự chú ý của lớp tân học đối với một đi bảo

của tiên nhân 8,

Như ông Vũ khắc Khoan đã viết lại truyện Lưa Nguyễn Nigp thién that di té lip trường

tr tưởng chống Cộng, hoặc nhiều nhà vấn khác đã đứng từ quan điềm hiện sinh boặc nhân

vị đề nghiên cfu những truyện cồ khác Ngoái ra rũng nên ghỉ nhận nhiều truyện cồ

tích tình ái đã được các nhà tân nhạc dùng làm đề tải sáng tác, đặt làm bài ca

Trang 16

1.— BỊNH NGHĨA VÀ BIỆT LOẠI -

dùng từ lâu trong đân chúng (chữ tae đây không có nghĩa là thỏ tục, tực fTu, mà lạ thông tục, thông thưởng), thí dụ :

màn,

An min Bhat nước,

Tết danh hon lành áo

Những câu nói ấy tha gon trong

năm, bẩy chữ <HỘI nhận xét

Xác đảng hay một điều khuyên răn chí lý, người nghe thấy

hay, nên

ghỉ nhớ và truyền khẩu cho nhau,

lân đần trở thành, thông tục, phổ cập

Cón phương ngôn s#- k3

ding trong một vùng, chớ không lưu hành khắp trong nước,

ngôn, chấm ngda Cách ngôn đổ

Ÿ' (sách là phương thức) là cấu nổi tiêu FA một phép tắc cho người đời noi theo, Thí dụ:

Tram hay không lãng tay Quơn‹

Có công mài sắt cá ngầu nên Rim

bảo hoặc ngắn ngửa Thí dụ ;

Ấn tổ nhai nói có aghi,

Ché thay tống cả mà ngã chân chào

Trang 17

Sau hết còn một loại tục ngữ đặc biệt gọi là thành ngit AI,

"Thành ngữ cũng là những lời nói thông tục nhưng tự nó chưa có một

nghĩa lÿ đầy đủ Đỏ chỉ là những cách nói (đes expressions) đã lập

thành, đằng để tả sự, tả vật, chó chưa biềun tổ rồ rệt một y phan

đoàn hay khuyên rắn nào, Thí dụ:

Chân lãm tay hin Nói hươu nói 0ượn,

Trong những thành ngữ, có một số câu điễn ỷ sở sánh hai sự vật

đề mô tả cho nồi bật Ấy là những cáu ðỈ hay (Ÿ ngữ yÙ it Thí dụ:

Đăng như bồ hòn

Nội như động đính cào cột

W— LAL KỊCH TỤC NGỮ Tuc ngữ, xét về lai Heh, có thé chia ra như sau:

I.— Những câu vốn lẻ tục ngữ; Những cần nỏi thường của đân

ta xua, chắc cũng do một người nào nỏi ra lần đầu tiền, rồi vì ý nỏ

xác ,đảng, lời nó gọn, nên người khác nghe thấy, nhờ ngay, san cử

thể nhắc lại mà truyền kbần tới bày giờ, nay ta công không biết

tảo giả la ai nữa, Những cầu về loại này chiếm phần đa số

2.— Những cñu vốn là thơ ca mê sau biến thênh tục ngữ;

Những cầu nguyen ở trong một bài thơ ca của một tác giả nào, vì

ý đúng lời hay nên người fa truyền tụng di, sau trở thành tục ngữ

Tht du cau : Ñai nên trời cổng chiều người là một cầu trong truyện Kiều

của Nguyễn-Du; câu : Thương người như thề thương (hân là một cân trong

Gia huấn ca của Nguyễn-Trãi,

3.— Những câu mượn ở tục ngữ nước ngoồi: Sau hết còn

ngôn, ngạn ngữ Tàu, cỏ khi chỉ là những câu văn địch, Thí đụ:

Ở hiền gặp lành (Tích thiện phùng thiện); Có công mãi sắt có ngày nên

kim (Ma chữ thành châm) Lửa cháy đồ thêm đầu (Hỗa thượng thiềêm dn);

,Màa rin qua mdi the (Ban mon vũ phủ) Có thể là xua kía nhà nho

học sách Hản đã đem điễn giải ra tiếng Việt làm lời giáo huấn cho

đân chủng, sau nghe quen mà thành tục ngữ ta Sự vay mượn ở ngoại

văn như vậy có thề ngày nay cỏn tiếp diễn Những câu nhữ; Thời gio

Trang 18

VAN HOC TRUYEN KHẨU

là năng bạc ¡ Muốn là được; Muộn cón hơn không; Giao giả gặt bão

chỉ mới xuất hiện gần đây và đều là địch ở Pháp văn, đã có khuynh

hướng trở thành tục ngữ cña ta,

IH— Ý NGHĨA CỦA TỤC NGỮ,

như sau ;

i— Những câu nhận xé? về khoa học thường thức :

2) Về thời tiết :

Chép ding nhay nhdy, gà gáu thời mưa

Mểng lên đồng, cầu tồng Bên lâu ¡ chẳng mưa đâu cũng

Ga To lon Ts +

Đứa Lai cà Láng; nem Đáng lương Bần 2,

©) Về nông vụ :

Nẵng lối dựa mua tối khoai

Cấu thưa hơn bùa kỹ

q) Về các lạp nghệ như ; Nghề thợ xây + Thương thu ha thếch 3,

Nghề buôn bản ; Đấu hàng tôi mới trải hàng bà,

Nghệ xem tướng : Quản từ làng chân, tiều nhân long bung

+, Tên bai làng thuậc tính Thái bình

2 La tite ting La ngi, thugetinh Hi đồng, Láng là làng Yên lãng (Hả dong) Bang 1a log Đình bảng (Bác nnh) và điểm là làng Bần yên nhân (Hưng yen), 3x Ý nối trong phấp xây cất cần phải lầm cho bên tiên thụ lại bên đưới thếch ray thì mới đứng võng,

4 ¥ adi trong phép dục một cái 18 đề tra cái mộng vào, nếu mộng quá lớn bề

dc thì có thề đồng vào được nhưng nếu quá lớn về bề ngang thì không tra vảo được,

nếu cổ đồng sẽ làm nết lỗ ra

Trang 19

2.— Nhing céu nhén xét v8 phong tyc xa-hdi :

Pháp tua thủa lệ làng, Sống ở làng sang ở nước, Cao nẩm ấm mồ

3.— Những cñu nhận xét về tâm ly người đời :

Yêu nên tốt, ghéi nên xấu,

No nén byt, đổi nên ma‹

Của người bồ tái, của ta lạt buộc

4 — Những câu dạy béo khuyén rain thuộc về luôn lý:

An quả nhớ kế trằng câu

Một câu nhịn là chín câu lành

Tết danh hơn lành áo

1V.— HÌNH THỨC TRONG TỤC NGỮ Tục ngữ sở dĩ được lưu truyền vì đễia vào trí nhớ người ta

Và sở dï để nhớ là trước bởi điễn tà một ỷ nghĩa sâu sắc, xác đáng, sau bởi về hình thức, chúng ngẩn gọa 0à có một âm điệu đặc sắc

Khân cho người ta vải, đại cho người 1a thương, để dể

9 — Những câu không có vần thì thường đặt thành hai xế đối nhau (thường chỉ cần chữ cuối vế đối nhau, có khi chỉ cần đối thanh)

Trang 20

Ăn qua nhé kd trong cây

Thương người như (hề thương thân,

Kiếm cải ba năm thiêu một giờ

Nhung loai câu này tất nhiên không thể dai qua (bẩy, hay tám

cbữ là cùng)

V.— CÔNG DỤNG CỦA TỤC NGỮ' Tục ngữ là một kho tảng kinh nghiệm và hiểu biét cha người Xưa về vũ trụ cũng như về nhân sinh Người bình dân thường dùng lâm những bai hoc trong nghề nghiệp, trong phép cư xử ở đổi, trong việc trau đồi tỉnh hạnh Cha khuyên con, lớn đạy nhỏ, vợ chồng, anh

em răn bảo nhau, thường đẫn những lời tục ngữ Có thể nói đỏ là

quyền sách khôn mổ ngỗ và lưu truyền trong giới bình dân từ xưa

đến nay,

Ở một mặt khác thì tục ngữ lại côn là kho tài liệu về

ngôn ngữ để xử dụng khi phát biều ÿỷ tưởng Người dân, đề diễn

tả ÿ nghĩ mình thường hay mượn lời tụó ngữ, nhất là những thành ngữ, những câu ví Như để nói ¥ trông lắm mong nhiều thì họ nói: Mong

hết nước hết cái ; trông như trông mẹ 0Ề chợ ; trông đứng trông ngôi ;

trồng môn can mắt Những cách nói ấy, giàn những hình ảnh quen

thuộc và cụ thể khiến cho ngòn ngữ bình đân có một ứnh cách gác

thực mạnh mể, một ý vị đậm đà,

Chính vì chỗ sở trường ấy nên sau này các nhà văn nôm làm

thơ, phủ, làm ca, vẻ thường bay thái thủ tac ngữ, thành ngữ bình

dan Thi dy mgt dean trong bai Phi Thay Đồ Nghệ:

Kẻ chưa biết bầm ông bầm cụ, tha hồ nói tựa pháo Yang—Nguài

đã quen tự thánh tự thần, tâng bốc lên như diều sáo, Hạc chưa biết chỉ hồ dã giả đã, khoe mành quán cŠ thông bim—Sẽ chưa từng chế hóa khắc sinh, đã múa mép lêu thư thong cáo,

bát xáo Tục ngữ khí đỏ trổ thành một kho văn liệu rất phong phú và được nhà văn nôm xưa tím tòi và trong dang ngang với những điền

Trang 21

thường điễn tẢ tí tưởng, tỉnh tình ca người bình dân Thí đụ:

Công cha như núi Thái sơn;

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn châu ra

Qua cầu ngã nên trông cầu,

Cầu bao nhiều nh‡p dạ sầu bấu nhiêu

Ca đao còn gọi là phong dao & 3+ Phong là gió Bởi vì mật bai

eä truyền vào một địa phương cỏ thể lan đi như một con giỏ và cầm

hóa tỉnh thần nhân đân theo một hướng tốt hay xấu Phong cũng là

phong tạc Bởi vì ngược lại, nghe ca đao có thể đoán biết phong tục

hậu, bac, tinh thin tốt xấu của một phương đân l

Ca dao khác tục ngữ ở chỗ, theo như định nghĩa, ca đao có thể

hất lên được tức là vần, điệu rỡ rệt hơn, âm hưởng êm ái hơn, Câu

thường đãi hơn Ở tục ngữ (mỗi câu nhiều chữ hơn và thường có

nhiều câu hợp lại thành bả), lời lế cũng thanh nhã hơn Ấy là về

1, Xưa bên Tàu, đời Thịnh Chu, Thiên từ đổi tuần thú các nước chư hầu thường sai quan lượm lặt những bài ca dao của từng địa phương Nhứng bài đó điển tả

từ tường tính tình của đân hay nhiều khiý kiến của dân đối với nhà cầm quyền, Thiên

tử xem đó đề biết chính giáo của mối địa phương đấc thất như thế nào mà thị bình sự

truất tắc (giáng chức, thăng chức), Như vậy có thề nối ca đảo xưa biểu thị đư luận

đân chứng, và ở một thời chưa cổ báo chí đề phần ảnh dư luận ấy, chink pha da cin

củ vào những lời ca đao của đân đề kiềm soát công việc của các viên chức thừa hành

,Ca dao xưa thật vậy có thề coinhư một thứ báo chí truyền khẩu của bình dan trong dé

bên cạnh phần sáng tác lại cồn rõ rật một phần nghị luận và théng tín (những bài về;

giv sim»)

Trang 22

hình thức; côn về nội dung thì tục ngữ thường là những nhận xét

thuộc phạm vi cia ly tri, con ca đao thưởng là tiếng nỏi của tỉnh

cẩm, Sự cách biệt nêu ra trên tuy nhiền đôi khi cũng khả tế vi và có

nhiều câu cỏ thể coi như ở vào biên giới Hai loại

Tồng dao $Ÿ 3Â là những bài hát riêng của trễ can, thưởng không

cỏ nghĩa lý rồ ràng, đôi khí chỉ là một mở chữ sắp thành câu có văn đề chúng theo nhịp điệu mà cử động nhảy chơi Thị đụ :

Rung răng rung: rẻ,

Dd trẻ di chat

Bi đến nhà trời, Lay eda lay mo

Ÿẻ là một loại bài ca đao có tích cách thoi sự, làm ra nhân một việc xấu, tốt gì sầy ra.Ở địa phương, gây xôn xao cho dư luận, Bài về thường có chủ ý phúng thích Thí dụ:

Lang ta lắm chuyện nực cười,

Có ông Nhiều Thục mặt thời để gaụ

Được cô can gái, gớm thau [

Mười chín tudi ray, tink da tring hoa Làng Thượng cho chỉ làng Nha

Trong ca dao lại còn có những bài gọi là cán đổ tả một sự một

vật gì mà không nói rõ ra, đồ người nghe phải đoán lấy, giải lấy,

Thi du:

Một mẹ đả được ngàn con,

3m mại chết hết chẳng còn một ai- Cần một ông lão sống đai,

Nhăn nhăn nhé nhỏ chẳng ai dám nhìn

(Giải là trăng sao và mặt trôi)

Sau hết còn có những câu ca đao đặc biệt gọi lÀ sẩm GR đoàn

định một việc tương lai về thời cuộc đưới những lời lễ bí ẩn, thường lưu hành trong dân chủng ngày xưa, Người ta đã giải nhiều

câu, như câu :

Đầu cha lấu làm chân con,

Mười bến năm tròn hết số thì thôi

Trang 23

la ứng vào việc nhà Tây son mắt ngôi sau 14 năm làm yna (Đầu chữ

Quang #-Quang Trung-lấy làm chân chữ Cảnh Ất —CẢnh Thịnh) 2

L¡_—- NGUỒN GỐC CA DAO VIỆT NAM

độ vô học, đù trong một xã bội bán khai, vyổn dĩ có tỉnh cấm, vốn

đŸ có hẳn nắng về nhịp điệu, nên khi trong lòng xúc động thường

học của bất kỷ dân tộc nào, trước khí tiến tới giai đoạn có vẫn tự,

văn học, trước khi có những sáng tác của các văn gia thi gia thì đã

có những bài hát tự nhiên, truyền khẩu, lưu hành trong dao chúng

những câu hát bình đân mà ng san đã ghỉ chép lại trong pho

và thích hợp

9 — Khí đân tộc ta đã biết dùng van ty, đã có văn học thì

'xa lạ đối đa số bình đản Nho SỈ học chữ Hán làm thơ lâm phú

Ngưới bình đân không biết chữ đành mượn những lới nêm na đề

4 Nhiều người che rằng những câu sấm chỉ là thứ văn chương tuyên truyền

của các nhà chính tả đương thời Người tá đã đồng những lời cả đao — đế huyền

đi nơi dân gian — đề vận động tỉnh thần din ching Cũng trong chà dich chính trị,

còn có mật vài bài ca dao đá có một nguồn gốc lịch sử khá Tt ky Như bài ï

Ai lên Phố Cá Đại đồng, Hải thấm cô Tá có chẳng hay chưa 2

Cé ching nấm ngoái năm xua, Nam nay chẳng bê như chưa cá chồng

mục đồng ở các làng họ côtồ chéc, đề những đồng chí từ miền xuôi lên nghe thấy

hát biết nơi đố có cơ sử mà đến bất liên lạc

Trang 24

chương riêng của giới binh đân Văn chương ấy lại bởi không có

thứ chữ thích hợp, tiện lợi, đỗ ghi chép, tất chỉ cậy nhờ phương

tiện trí nhớ mà tang trữ, lưu truyền, nên đặc biệt phát ra toàn những đời ca Chính vì vậy mà đặc biệt Ở nước ta, ca đao rất là đồi đào

vé số lượng cũng như về nội đụng

8 — Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên hoán toàn quy công

Sảng tác cà khoea đao ấy cho người bình đân xưa, nhất là người hình đân vô học Bởi vi trong cơ cấu xã hội nước ta xưa, không có

Sự phân chia giai cấp rõ rệt giữa hai giới, Rể sĩ sống giữa nơi bình

đân, mọc lên ở giới bình đân Ngược lại, người bình dan, dan chy

dân thợ, đa số được học, hiểu những sách vỡ lòng của nho sỹ VÌ được bọc hiểu cho nên họ cũng đem rất nhiều tư tuởng của nhỏ Sỹ

chữ nghĩa của sách vở Trnng Hoa gổi vào những bài ca đao của bọ, Mặt khác thì nho sỹ, trước khi thành đạt, ra làm quan trị nước, đều học hành, sinh hoạt ở thón quê Không kể đối với đa số là những

hân nho thì tất cả cuộc đời là gắn Hền với làng xóm, bên cạnh ngưới

lao động nông thôn mà họ chía số từ công việc thường nhật đến lối cẩm đường suy, Những dịp hội hé, những cuộc gặp gỗ, hát xướng,

họ đều ở đó Chính họ phải là tác giả bao nhiều câu ý hay lời đẹp sau đô được truyền cho anh thợ cày chị thợ cấy rồi đồ vào kho tàng

vô đanh của ca dao.3 Nguyên Du chẳng đã có những ngày niên

thiếu ở nhà quê đi hát phường vải, gà thơ cho bọn trai làng ? Điền hiền nhiên nữa : bao nhiêu cân Kiều đã thành ca đao Mà sự kiện vay mugn ấy côn tiếp diễn cho đến gần đây Đầu thế kỷ này, nhiều câu thơ của những nhà văn đã từ sách bảo quốc ngữ, bay đến truyền khẩu dân chúng Ở những vùng quê Thậm chỉ đã phải có những cuộc «bút chiến » đề đòi lại tác quyền 4,

$# Coi thêm lời chứ số 2bhang 25

4, Nẵư cuộc tranh luận giữa -haíông Hoa Băng và Nguyễn Hiến Lang (trong bdo

“Tủ Tân) về bái câu |

Căng người xe ngựa người gêu, Công em khế đãi em chiều em thương

mà ông trên dẫn làm ca dao và ông đưới nhất dịnh đòi trả về cho thì sĩ Tân Đà, Gao

đây ta còn thấy trường hợp th si Đảng bá Lâu lên tếng xác nhận lác quyền về

Trang 25

CA DAO 29

HlL— NOL RUNG CA DAO

Ga đao nước ta thật là phong phú và diễn tả đổ các trạng that

thiên nhiên hay xã hội và các tình ý trong lòng người, Ta có thé

theo ý nghĩa mà chia làm mấy loại chính nhw sau:

4 Những bài dạy các điều thường thức

a) VỀ thiên vin thoi tiết :

Tham đông kồnglâu dung may, *

Ai ot ð lại ba ngàu hay dif

b) Vé canh néng, san vat:

Thang chap la tháng trồng khoai

Tháng giêng trồng đệu thang hai tréng cd

Théng ba tht v& ruộng ra

Tháng từ lần mạ› mưa sa đầu đồng

2— Những bài tổ trọng thỏi x8 hội

a) TẢ tình cảnh các hạng người trong xã hội, như Cảnh chồng con :

Chồng em ná chẳng ra gi, T3 tâm sóc dia ná thì chơi hoang, Nải ra xấu thiếp hồ chàng

Né giận nó phd lan hoang cửa nha

đen, phương Tây có ráng đố, gió heo may lại

Trang 26

Hiếu thân hữu khồ phần nàn cùng al<-

bỳ TẢ một phong tục, một tín ngưỡng nơi bình đân, như

Công anh làm rễ Chương đài,

An hết mười một mươi hai nại cà

Giếng đâu tì dét anh ra,

Ko anh chữ khát dì cà nhà em‹

ngưỡng ngày tốt ngày xấu : Mong nim mười bến hăm ba,

Bi chơi cũng thiệt nữa là ấi buôn

Những hởi có liên lạc với một biển cổ trong lịch sử,

Nhà Bề nước châu cha hai,

Al 08 Gta định Đồng nai thì 08

về thời chúa Nguyễn)

(Nói về việc người Pháp lập vua Đồng Khánh ở Huế trong khi

Bắc và Nam vua Hàm Nghỉ vẫn được văn thân và dân chúng

ng hộ)

Nghĩ ta nâng nỗi thêm rầu,

Ở giảa Đăng Khánh hai đầu Hàm Nghi,

Tháng sáu có chiếu 0ua ra,

Cấm quần không đáp người Ía ngặt ngàng

Chẳng ải thì chợ chẳng đông,

Đi ra bác lội quần chồng mà mang

Trang 27

cA DAO gr i

(Nói về một mệnh lệnh — trong truyén JA cla vaa Mink Mang—

cấm đàn bà ngoài Bắc khi đó không được bận váy)

'Tất cả những câu sấm (đã định nghĩa và đẫn thị dụ ở trên) đều

có thể xếp vào loại ca đao lịch sử này

4— Những bởi tả tâm lý người đối

a) TẢ thế thái nhân tình :

Khả khăn ¿ chợ leo leo,

Ông cô bà bác chẳng điều hỏi saa

Giàu sang ở bên nước Lào,

Him tha rén cén tim dào cho Trấn

b) TẢ tư cách các hạng người như

Người anh hùng :

Làm trai cha đáng nên trai,

“Xuểng đâng đông tỉnh lên đoài đoài tan Bye nhan tan:

Nghéa ngao vut thé yén hà,

Mai là bạn cũ hạc là người quen

Ké khôn ngoạn :

Người khên đón lrước rào sad›

Đã cho người dại biết đâu mà đề

Chưa lối đã cội đi nằm,

Em coi giấc ngủ đáng trầm quan tiền-

8— Những bởi chủ ý khuyên răn về luận lý

Me day con:

Con ơi mẹ bảo con nay,

Học huân học bán cha tầu người ta

Con ding học thối chua ngoa,

Trang 28

Đà anh buôn bán lrâu trương thông hành,

Canh tư bước sang canh năm, Trình anh đậu học chứ năm làm chi

Nita mat chúa mê khoa thi,

6.— Những bời chủ ÿ khôi hỏi

Đồ phúng thích một hạng người nào ;

Ra đường oồng giá nghệng ngang,

Về nhà hỏi dợ cám rang đâu mẫu:

Cam rang tao dé cối xau,

Hồ chó ăn mất thì mầu dối ông

Đề bữn cợt nhau trong cuộc bất đối đáp :

Ba ding mot mé& dan éng, Đem dề mà bỏ gàa lồng cho kiến nó tha

Ba trăm một mụ đàn bà, Bem dề mà trải chiếu hoa cho ngồi

Cô khi chỉ đề gây một cái cười giải trì, vô tế:

Con mèo mà treo cay cau, Hải thấm chủ chuột di đâu nắng nhà Chủ chuột đì chp đường xa,

Mua mắm mua muối giỗ cha chú mào

Trang 29

Ta thấy từ những buỗi gập gh wom bai :

Hiâm qua lát nước đầu đình,

Đã quên cới áo trên cành họa sen

Bat duoc tht cho anh, xin, Hay la em đề làm tìn trong nhà

Tay bing chân mudi dia ging, Gang cau muối mặn la, đừng quên nhau

Rồi có thể là hạnh phúc bên nhan :

Đại tá nhớ thề con tims

Cùng ăn một lá cùng năm một nong:

Nhưng cũng có thể là biệt ly ngăn cách :

Thả rằng chẳng liểi cho cam, Bía ra kệ Bắc người Nam thém rau

Hay buồn hơn nữa là những nông nỗi trái đuyên :

Bay giờ đất thấp trời cao,

Như đải đũa lệch so sao cho bằng

Bội ước :

Đồng tiến Van lịch thích bến chữ dàng, Cầng anh gắn bá dới nàng đã lâu,

Bay gié¢ nàng lầu chồng đâu Ð

Quá lứa lờ thì :

Tua rua dé xế ngang đầu:

Em cần È lại làm làm giầu cho cha 2

Những bài hát loại huê tình hay phong tình này thường dùng

Trang 30

Nghiên cửa ca đao ta, người ta thường theo như trong Kinh Thi

ều mã người ta không muốn nói thẳng ra, Thị da:

Đầu ơi thương lẩu ð( càng, Tag rằng khác giống nhưng chung một đàn

nồi đây những tính ÿ đem điển tả ra Thí dụ ;

6, Cuge Adi trống quân thường tà chức ở các vùng nhà quá về địp Tết Trung Thu,

đồ các người đào anh trong lắng treo giải, Một "gười con trai và một Người con gái

ngồi đối diện nhan vừa hát vừa 86 vào một cái đây đề lẳy nhịp (day này căng thang

trong khoảng 2 cái sọc, ở giữa buộc vậo một tấm vấp hoặc cái thùng sắt tây chôn xuống

đất đề lấy gếng vang), Hai bên đối đáp, mượu những cầu hát sẵn có mã hiến báo thay

đồi cho hợp với tính ý mình, Đến khi nào một bên không hát được nữa là thua, bên kịa

đu, Yên phong) và Bắc giang (huyện Việt yên), Nhân các ngày hội chùa, trai gái mấy vũng

Ấy hẹp thành từng bạn đúe đương cuộc bát, họ xưng hồ với nhau là anh Hai, anh Ba, chị

tưậng gắn chùa, hoặc có khi mời nhan về nhà hát, lồi chú của giáo sự Đương quảng Hàm),

Trang 31

CA DAO

Con cà lấn lại bởi sông,

Gánh gạo đưa chồng tiếng khác nÌ non

Nàng ề nuôi cải cùng cons

Đồ anh Âi trầu nước non Cao bằng

Ré nhau xuống bỀ mà cua,

Đem dề nấu quả mo chua trên rừng-

Em ơi chua ngọt đã tùng, Non xanh nước biếc la đồng quên nhau

Vừa tf vừa búng;

đông kia có lạ gì cầu,

Đầu đâu có lạ gì nhau mà nhàn 3

Kiém cả ba lối:

Trào lên câu buổi hái hoa, ước xuống owen cả hái nụ lầm xuân

ÁNụ lầm xuân nô ra xanh biếc,

Em đã có chồng anh tiếc lâm thay:

Tiếc gì một lá trầu cay,

Sao anh chẳng hãi những ngàu còn không ?

Bầu giữ em đã có chồng, Như chim dào lồng nhớ cá cẩn câu

Trang 32

9.—-Số chữ : Câu ca đao thường dài hơn câu tục ngữ, Nhưng

trong một bài, số chữ các cân cũng không nhất định Ở miền Bắc,

ca đao cò khuynh hướng đi vào mấy điệu rõ rệt : Điện bốn chữ:

Lay iréi mira xuống

Lay awée lãi uống

Lay ruéng téi cay

Điện trên s4o didi tam:

Treo lan câu bưởi Adi hoa, Buée xudng won cd Adi ny tầm xuân.s‹

Điệu sảu tám có xen những câu bẩy chữ, tám chữ:

Tì thăng cũ như cánh hoa lài,

đa mươi sáu cánh, Hếc tai nd đêm

Sdng trang trong, sáng c ngoài thềm, Tại đâu ta cổi áo mền đắp chúng

Bém đông thắp ngọn đèn lồng, Xình dề cá nhé ta không hổi mình 2 Ởmiễn Nam ca đao thưởng tự do hơn, cầu cóc cầu chùng, có khi kéo dai trong những lời hò tưởng như bất tận Thí dụ :

Chữ cận là gần

Chữ diễn là xa

Tái dới anh cách trẻ tại mẹ cha không đành

Chữ dâu hiền con gái,

Câu rễ thảo con trai

Báu đầu đôi lúa trước mại,

Bé bau ơi | qua kink the song nhạc đễ nài công lao

Trang 33

êm Ai du đương, Đó là một thuộc tính cốt yếu của thì ca: Trong ea

nhw san: `

Van ở gót câu (gọi là cước nặn Hit 48)

Lay trời mưa xuống,

lấy nưác tôi uống

Van ở lưng cần (goi 1A yan van 46 4M):

Cá Thí cá Thì,

Cá đang đương thì cô kẹo dới ai 2

Cả từ kẹo uới cậu cai,

Vợ chồng thuyền chải kếa kẹt dưới sông

cứn võ hơn trong phần Văn học ký lái Đó là :

ThE tne bat

THẺ song thất lạc bat

€.— Những đặc sắc trong hình thức

người đân ít học lâm ra, Tuy nhiên, nghiên cứu nhiều bài, chúng 1a

vì chẳng thua kém gì ngôi but mgt văn gia đại lài

4 — Trong thề văn

Trong ca đạo có đã các lối văn tả cảnh, tẢ người, đạo tình,

đây là một vài nét đặc sdc

Tả vật thì hiện thực và ngộ nghĩnh như trong các câu đố :

Sông trên trừng trục, nước đục lữ đở,

Thăng lăn thing hap, thing thd dau lên

(Câu để về cái nồi kéo tơ 7.)

Trang 34

Miệng cười như thề hoa ngéu,

Cải khăn đội đầu như thề hoa sen

lối đối thoại ghẹo cọt thì mạnh mề, sắc são, chua ngoa như;

Đất dich thi dich lai day,

Bến thừng bên chảo xem dâu nao bén ? Nhà lần là củ bồ nâu,

Chị còn giát đứi nữa đầu chúng em- Vẫn thuật hoài trải lại thanh nhã, ém đềm, cao điện như trong nhiều câu t cảnh ngụ ý ngụ tỉnh ;

Vìsương cho núi bạc đầu,

Vì chưng mưa nắng cho rầu rỉ họa

Đềm qua chớp bề mưa nguồn, Tải người trí thức có buồn chăng di?

Ai ngờ đá nói nang oôi lại nồng

Dat byt ma ném chim trời,

Chim trời bau mất đất rơi oào chùa

Van thuật sự có những bài đầy tình hoại, khinh khoải:

Em là can gái đồng trính,

Em dị bán rượu qua dink ang Nghe

Ong Nghe cho linh ra ve

Tram lay éng Nghe tét da cd con

Trang 35

9— Trong cách hành van

CácH song hành :

K oui non nước cũng tai,

Khi buồn sáo thồi kèn đôi cũng buần

Vườn thượng uuồn thiếu chỉ chồi lan huệ,

Nội thượng lâm đâu thiểu lược mẫu đơn,

Đậu đừng nghĩ ngợi thệt hơn,

Riba tat nghe ling tiếng đền trí êm

Đần trì âm tiếng đơn tiếng kép

Reo nhặt khoản tiếng thiếp, tiếng chàng

b) Ta thấy những từ họa thuộc về Htf-học :

Tự lối nhân cách hóa thông thường :

Anh di dang Gy xa xa,

ĐỀ sm ôm bóng trăng là năm canh

Con mèo mà trae câu cau, Hải thăm chủ chuột di đâu oắng nhà

Đến lối lông ngữ tài tình :

Ba năm ăn ở trên thuyền, Bởi anh hàng muối cho nên mặn mà,

Trang 36

Xuống thuyền nhịp bầu, nhịp ba, Thách anh hàng trúng & ra đôi lòng, Những tỷ ngữ độc đáo ;

Dém qua mới gọi là đêm, đuột xói như muối dạ mềm như dựa

Mặt rễ như lồ ong bau,

Cái răng khấn khành như cầu rửa chân

Đầu đừng nghĩ ngợt thiệt hơn, Rita tại nghe lắng tổng đồn trt âm

Al v8 nhdn ho Hi Hoa,

Nhuận năm sao chẳng nhuận nà trống canh,

V~- VIỆC BIỂN KHẢO TỤC NGỮ ca DAO

Với bấy nhiêu giá trị về nội dung cũng như về hình thức, Chúng ta tưởng lề đĩ nhiền, các học giả xưa phải đã nghĩ đến việc

biên chép khảo cứu ea dao, Tuy nhiên công việc ấy có trễ trang, so

với truyện cỔ Một phần bởi nhiều nho sĩ xưa vốn có thành kiến coi

rế những câu nằm na, một phần có lẽ bởi ca đao đã thành văn mà

luôn luôn hiện hữu trong trí nhỏ đân chúng nêu không thấy cần lắm

việc ghi chép Phần nữa có lỗ bổi ca dao quá vụn vặt, tạp hợp,

thường không thành chương khúc rö rệt nên phải mất nhiều công phủ

sưu tầm sắp xếp Mãi đến cuối Lễ sang Nguyễn, ta mới thấy một

công trinh của Trần Danh An và Ngo Bình Thái #, Hai nhà nho này

3 Theo Nguyễn can Mộng tiền sính, câu nầy nói về chà nghĩa sắc không của Phật giáo,

9 Trần Danh Ấu biệu Liễu Am đã Nhị giấp tiến sĩ năm £787 doi La Chien

Trang 37

làng bác hee

Nhung ding bề hơn cả là gần đây, sang thời kỳ quốc ngữ, công

Ngoài công việc sao lục, gần đây, giới lân học côn em

trước đây thường hay bắt gặp trên tạp chí, bảo trương, đưới ngồi

cửa tâm lý người nhà quê Việt Nam qua các câu tục ngữ, tân đương

1Ô Không tường họ, tên thật Tập sách cha ông lại mang tên cà ba nhà phê bình

L1, Ngõ Giáp Bau để cù nhân năm 1891 làm đốc bọc Bắc Ninh

Phất cùng dự phần khảo chứ

Trang 38

Pháp trong những bài điễn thuyết, khảo luận Pháp văn !3, Gin day’

hơn, một công trình đáng chú ý nữa là cuốn Kink thi Việt nam của

Trương Tửu Tác giả đứng từ lập trường đuy vật sử quan, đã nhìn

Ta trong ca đao tục ngữ ta một hình thức văn học của giai cấp

bình dân để phẩn ứng, chống đối lại Ý thức hệ thống trị cổa nho Sỹ suốt trong lích sử nước ta xưa, lập-thuyết ấy có nhiều lách lạc sai suyễn, là điều ta sẽ xét rõ hơn trong phần Văn học hiện đại khi phê biah quan điềm đuy vật của ông và nỏi chung của cà Nhóm Hân Thuyên tà ông là một đại biều, Dù Sao, đỏ cũng là một cố gắng đáng kề của tác giá đề định một giá trị cho phần văn, học bình đân

hạc thuyết được đu nhập, các học giả nước ta chắc còn có thể dang Phau vin hoe fy làm Hài liệu cho những luận án tân kỳ khác,

Trang 39

Đề kết luận, chúng ta cần trở lại xác định và đào sâu mấy đặc tính

cốt yếu của nền văn học ấy,

cũng nghĩ đến sưu tầm ghi chép, nhưng đó chỉ là một công cuộc lồn

cồ thổa mãn thị hiếu của mấy học giả, còn ngoài ra, nơi bình đân,

-tất cả những thể thức văn chương ấy, đề truyền bá, để lưu truyền,

vẫn chỉ là đo phương tiện truyền khầu Không những khẩu truyền mà

còn là khần tụng, khần chiếm Đó không phải là thử.văn chương bất

biến, nằm ím trong sử sách đề thỉnh thoảng đem ra đọc trước đến,

Taà là thứ văn chương sống động, thường trực nơi trí nhớ, người ta

hang ngày đọc, ca, ủng nghiệm, thưởng thức và hơn nữa biến cải

tái tạo Do ỏ mã tính cách truyền khẩu đưa đến một hậu guả :

không nói về truyện cỗ vốn chưa có hình thức, nói ngay về tục ngữ

ca đao tuy đã thành văn mà thứ văn đó cũng không nhất định

Người đân khi kề khi hái vẫn có thể tự đo thay đổi, thêm bớt Câu

não không hợp tình hợp cảnh, chữ não la lòng hay xa xưa không hiểu

được thì bổ đi, đặt câu khác, kiếm chữ khác thế vào Một bằng chứng

là tục ngũ, ca đao của ta tuy đã có từ đời thượng cỗ mà đọc qua một

cuốn sưu tập như cuốn của Nguyễn văn Ngọc, ta hầu như không bất gặp

một chữ nôm cỗ nào, Trong khi những bài thơ nôm của các văn gia

đời Lê đời Mạc được ghỉ chép và lưu lại nay, đều nhan phẩn những

chữ nôm cổ ấy Văn chương truyền khẩu luôn luôn sống động và mới,

vì được lọc qua cái lọc «nhật dụng» của đám đông Nhất là phần

tặc ngữ ca đao, trừ một số: câu cỏ đấu vết lịch sử rö rệt, còn đều

Trang 40

không mang tình chất thoi gian, chỉ điễn tâ tính ý người ta một cách

đại đồng và vô ngã Một hậu quả khác nữa của tính cách truyền

khẩu là, như đã nỏi trên, sự truyền miệng chỉ trông cậy vào trÌ nhớ,

mà chỉ đễ nhớ những gì ngắn gọn, có vần có điện, cho nên trong nền văn học ấy phần văn vần tức tục ngỡ ca đao đặc biệt phát triển, rất phong

phú Ở số lượng cũng như ở nội dụng

San là tính cách bình đản Tất nhiền cũng có một số cân hay bài đo kể trí thức lam ra Song một điều rằng được dân chúng nhắc lại và truyền đi chứng tổ người đân tuy không sáng tác được, những biết hiểu, biết thưởng thức, tức là thu nhận vào trong phạm ví văn học của mình VÃ chăng đỏ là số ít ‹Ba số xuất ư trí sáng tác, tài chắp nối shất vần của người dan trung lưu thôn quê: anh thợ eây, chị

thợ cấy, người ging gánh, kể chèo lái Văn chương ấy bình din:&

xuất xử tà nhất l4 ở cách ứng đụng rộng rãi, phổ cập Trong nếp sống

của đân quê ta xưa, không kê những địp bội-hè, một vài vùng mới bày ra

trống quén,quan ho, mà thường nhật, khắp nơi,trong xóm,ngoài đồng, trên

đê, dưới rạch, từ sớm đến tối không lúc nào nông thôn ta xưa vắng những

tiếng hát lời ca, Bà già ru châu, trẻ nhổ nhậy chơi, mục đồng giọng trau, nông phn đẩy cay cho chi anh thợ cưỡi gỗ, cô lái cầm chèo, lúc nào cũng sẵn sảng ngân lên những câu có điệu có nhịp Điều đó chứng tổ sự

phong phú của ca đao, Nó cũng phân ảnh n ấy cốt tính của con Người

bình dân Việt Nam, Người đân ‡a có một tâm hồn chất phác trong sảng, đễ đề xúc động trước cảnh thiên nhiền hoặc tấn tuổng đời, cho

cho nên bay phát ra những lời cẩm thân, ty nuôi lấy một hồn thơ

đụng dị, Cũng lại là một con người có nhiều năng khiếu về địp điệu

YÀ xướng ca, «lỗ tai» rất bén nhậy với yếu tố âm hưởng nên để dang

ứng khẩu gieo vần Sau hết con người bình đân ấy cũng rất đảng phục

Ở trí nhớ kỳ điện Xưa kia, nơi làng quê, kuông một cô gái, không

một cậu trại nào không thuộc lòng vải ba chục bai hat hnê tinh

đề khi gặp gỡ đối đáp, không một bà gia nào là không dự sẵn trong

óc mươi, mười lắm câu truyện cô tích đề kề cho con cháu nghe Người

ta chuốc hồi và tích trữ những cầu đố, những bài vẻ Người ta xâm thập

cả những cuốu truyện của nho sĩ, Người ta thuộc lòng và kề vanh vách

thâu canh Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Kim Văn Kiều

'Trạng thái phong tục và tâm lý bình đân trên, thêm vào những

điều kiện lịch sử này: sự đu nhập một cải học ngoại lai, sự lơ là của

Ngày đăng: 30/12/2022, 16:33

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm