Phần 1 của cuốn sách Việt Nam văn học sử: Giản ước tân biên (Tập 3) giới thiệu đến bạn đọc những nội dung về: văn học hiện đại giai đoạn 1862-1907; sự suy tàn của Hán học và Hán văn; bước đầu của văn quốc ngữ; văn học hiện đại giai đoạn 1907-1932; sự hình thành của tiểu thuyết mới;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1at NHƯ
“VIỆT NAM VĂN HOC tt
GIAN ƯỚC TAN BIEN
VĂN HỌC HIỆN `
1862 1945
Trang 2LOI DAN 15
‘CHOONG 1 SỰ 'SUY TÂN CỦA HÁN HỌC VÀ HÁN VĂN
Học thuật và khoa c& sau năm 1863 17 Vide trước
tác bằng chữ Hán 19 Ảnh hưởng của tán thư tân văn
Trang hoa 21 :
CHƯƠNG I1_— NHỮNG NHÀ VĂN NÔM CUỔI CŨNG
tần nôm sau ngày vòng quốc 25 Vấn thời thé
(Bài Hữu Nghĩa — Nguyễn Đình Chiêu — Tôn Thợ Tường
— Phan Văn Trị — Nguyễn Văn Giai — Nguyễn Thị Bích
— Phan Bội Châu — Phan Chu Trinh) 37 Vần nhản lạc
và trào phủng (Dương Khuê — Chu Mạnh Trính —
Nguyễn Khuyều — Trân TẾ Xương — Nguyễn Văn Lạc) 41
Trang 3Chữ quốc ngữ (Nguồn gắc chữ Việt la tình — Cô AI,
de Rhodes va cuốn tự điển của ông — Chữ quốc ngữ sau
AI de’ Rhodes — Kết luận về chữ quốc ngữ) 58 Những bước đầu của văn quốc ngũt (Trước khi người Pháp đền — Sau khi người Pháp đền) 64 Trương Vĩnh Hý (Cuộc đời — NHÀ bác học ~ Nhà chính trì — Nhà vấn)
67 Văn quốc ngữ của Trương Vĩah HỶ (Phin văn
cũ — Phần văn mời 76 Huỳnh Tịnh Của và pho quốc am tự vị của ông 80 Hết luận về sự manh nha văn quốc ngữ & Nem Rỳ 81
THIÊN THỨ HAI GIAI ĐOẠN 1907 — 1932 LỠI DẪN 89
1— KHÁI QUẤT VỀ GIẢI ĐOẠN ¡907 — 1932 Hoàn cảnh và từ trào (Phong trào duy tân Đồng Kinh
— Bỏ đuốc duy tần vào tay bọn tần học — Sự phân động dung hòa của phải Nam Phong) 9l Mấy yếu tính của giai đoạn văn học (Một giai đoạn gây dựng côn hướng nhiều về quá khử — Vai trò tiên phòng của bảo chỉ —
Sự khuynh hưởng vẽ biến kháo và học thuật — Sự quan trọng của dịch thuật — Ngôn ngữ văn học của giai đoạn)
100, CHƯƠNG TL.— NGUYỄN VĂN VĨNH — ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ
Than thế Nguyễn Văn Vinh 104 Nha báo tiền phong 105 Đông Dưỡng tạp chỉ 107 Tư tưởng
duy tân cấp tiến của Nguyễn Văn Vĩnh 110 Người
chiến sĩ của quốc ngữ 116 Nhà văn dich 120,
Trang 4Kết luận về Nguyễn Văn Vĩnh về Đông Dương tạp
chỉ 122
CHƯƠNG 1II—- PHAM QUỲNH — NAM PHONG TẠP CHÍ
Lược thuật thèn thể Phạm Quỳnh 125 Nam Phong
tạp chỉ (Gốc gác và trường hợp ra đời — Blục dich —
Nội dụng tờ bảo — Các giai đoạn của từ bảo -— Các cây
bàt 126, Văn nghiệp của Phạm Quỳnh (Phân loại và
1838 Tư tưởng bảo
thủ (Con người bảo thủ — Cái gì là quốc tủy — Bảo
liệt kè — Luận chung về giá trị)
thủ với tiến hồa) 187 Chủ nghĩa quữe gia (Làm văn
hỏa và giáo dục troờc — Việc suy tôn Truyện Kiểu —
Vụ xich mích với òng Nghề Ngô — Giai đoạn vận động
chỉnh trị — Từ lý thuyết đền thực hành) 146, Vide xay
dựng một nền học mới (Việt văn quốc ngữ — Học
ting Việt = Luyện văn xuôi và văn nghị luận — Dùng
chữ Hân Vitcm — Soạn tự điền và văn pháp — Ban
VỆ quốc học — Học tập và thâu thải Tây phương — Dựng
một khoa cổ điền học Việt Nam) 170 Nhà văn Phạm
Quỳnh (Nhà khảo luận ¬- Nhà phố bình — Nhà du kỷ
— Văn Pham Quỳnh) 232 Mết luận về Phạm Quỳnh
và tạp chỉ Nam Phong 2H
CHƯƠNG Iv CÔNG VIỆC BIÊN KHẢO VÀ PHÊ BÌNH
Xét chung về biên khảo trong giai đoạn này (Một
giai đoạn phổn thịnh vẻ biên khảo —~ Bitn khảo về
kinh học tritt học — Biên khảo về sử học và cận loại —
Biền khảo về văn học) 248 Phan Kể Bính (Cuộc đời
va van nghiệp — Sách Nam Hải và Hưng Đạo — Việt
Nam phong tục — Việt Hân văn khảo) 257 Nguyễn
Hữu Tiên (Các tác phẩm dịch thuật — Việc biển khảo
về văn và sử Việt Nam) 272 Trần Trọng Kim (Thân
thề và văn nghip =— Trần Trọng Kim nhà giáo duc
mới — Vidi Nam sử lược — Nho giáo — Kết luận về
Trần Trọng Kim) 262 Phan Khôi (Cuộc đời làm bảo
Trang 5CHUONG
va viét văn của Phan Khôi Ở Pham Khôi nói chuyện thơ Ở Phan Khôi phản kháng Nho giáo Ở Phan Khôi xây dựng văn mới) : 314,
V SỰ THÀNH HÌNH CỦA TIỂU THUYÊT MỚI
Từ truyện nôm đến tiều thuyết (Loại tiểu thuyết
Ở Tiểu thuyết với truyện nôm -~ Phong trào tiểu thuyết dịch Ở Một đạo sử văn nghệ mới: Phạm Quỳnh) BI8
Những bước đầu của tiều thuyết mới : Những
thiên ký sự (Nguyễn Bá Trắc Ở Nguyễn Đôn Phúc Ở_ Đông Hồ ~~ Tương Phố Ở Tân Đà) 325, Những đoắn
thiên của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tén (Tác
phẩm của Nguyễn Bá Học Ở Mồi trường cúng tư tưởng
Ở Nghệ thuật và văn chương Ở Tác phầm của Phạm Duy Tôn Ở Vài nhận xét vẻ những đoán thiền của Phạm Duy Tôn) 346 Tiều thuyết đài: Tổ Tâm, Quả đưa
đổ (Tiều thuyết Tổ Tâm của Hoàng Ngọc Phách Ở Hoàn cảnh và chủ ý Ở Nghệ thuật mới Ở Người đương thời voi TS Tam Ở Tiểu thuyềt Quả dưa đồ của Nguyễn Trọng Thuật Ở Tư tưởng của tác giả Ở Nghệ thuật vả văn
Ởể Kết luận) 3đã, Tiều thuyết miền Nam : Hồ Biều
Chánh (Sự tiền bộ của tiêu thuyết ở miễn Nam Ở Tác
phẩm của Hồ Biểu Chánh Ở Tắnh cách chúng về kỹ thuật Ở Bức tranh xã hội miễn Nam Ở Nha vin đạo lý Ở Văn
Hổ Biểu Chánh) 376,
CHƯƠNG VIỞ THO VA CAC NHÀ LAM THƠ TRƯỚC 1942
Những tỉnh cách chung của thắ ca trong giai đoạn
nảy (Một giai đoạn ôn tập lại tất cả các thể loại Lich
triểu Ở Tình mrạng đỉnh đồn về nghệ thuật Ở Điểm qua
các khuynh hướng và các nhà the) 390 May nha tho
cố thắ nghiệp (Đoàn Như Khuê Ở Trấn Tuấn Khải Ở Tương Phố Ở Đông Hó) 399 Một gạch nổi sang Thơ" mới : Tân Đà (Cuộc đới hoạt động cho văn học của Tân
Trang 6CHƯƠNG
Đà — Những khuynh hưởng tư tưởng trong thơ Tần Đà
— Nhà thơ lõng mạn — Hình thừc trong thơ Tin Da) 407,
THIEN THU BA GIAI ĐOẠN 1932 — 1945 1— KHÁI GUAT VỀ GIẢI BOẠN !932 ~ 1945
Hoàn cảnh và tư trảo (Sự biền thải tong giai ting
xã hội — Sự canh củi phong hóa và thẩm quan — Sự
diễn tiền của giai đoạn) 419 Mấy yếu tính của giai
đoạn (Sự ly khai vời những bin tam học thuật quốc gia
— Sự phát triển của tiểu thuyềt và thơ — Ảnh hưởng
tăng gia của văn học Pháp — Sự canh cải trong ngôn
ngữ văn học) 496
CHƯƠNG i1— Ty LỰC VĂN ĐOẰÀN MẤY TIỂU THUYẾT GIÁ
TỰ LỰC
Tự lực văn đoán (Người sảng lập ; Nguyễn Tường Tam
— Từ từ báo đền văn đoản — Quan điểm của nhóm về
xã hội và nhân sinh — Téa chi và đường lôi sing tác
của văn đoàn =— Những cở quan truyén bá của văn đoàn
— Tổng luận về Tự lực văn đoàn) 430 Nhất Linh
(Nho phong, Người quay tơ hay l4 giai đoạn cựu sho —
& Pháp về, từ Tháng ngày qua đền Nẵng thú —¬ Đoạn
tuyệt, Lạnh lòng, giai đoạn luận để dữ dội — Đôi Bạn,
Bườm trắng, trở vẽ phô diễn tâm tư) 447 Nhải Hưng
(Những tiêu thuyết về di dnh — Những tiều thuyết về
gia đình Việt Nam — Những tập đoàn thiên và đoàn
kịch) 463 Thế Lữ' (Những truyện kịnh dị của Thê Lữ
— Những truyện lãng mạn núi rừng — Những truyện
trình thảm), 478 Thạch Lam (Nhà văn có khuynh hướng
Trang 7
xã hội — Nhà văn mô tả những trạng thải tình cảm —
Nhà văn chuyên vế đoàn thiên) 489,
¡— NHỮNG TIỂU THUYẾT GIÁ VIẾỆ CHƠ NHÀ TAN DAN
Nha Tan dan 501, Nguyễn Công Hoan (Những truyện
ngân của Nguyễn Cong Hoan — Những truyện đài —
505, Vũ Trọng Phụng (Những phòng
Cây bút tả chân)
êu thuyết — Nhà
sự của Vũ Trọng Phụng —— Những văn xã hội — Cây bức tả chin) St, Lan Khai (Tiểu
huyệt đường rừng —
thuyết lịch sử của Lan Khai Tiều tỉ
Tiêu thuyết phong tực, xã hội — Văn Lan KhaQ 52L,
Lê Văn Trương (Mây khuynh hướng cốt truyện ~~ Con
người hùng và những lý thuyềt của Lê Văn Trương — Giá trị nghệ thuật — Văn Lê Văn Trương — Kết luận
532, Mấy tiều thuyết gia khác
g — Trương Tửu — Ngọc Giao — Đức Tuần — Nguyễn Triệu
về Lê Văn Trương)
(Vũ Bằng = Nguyên Hồn Lưu Trọng Lư — Bai Luậo ð41,
1y THƠ VÀ CÁC NHÀ LAM THO SAU 1932
tho the méi — Tht aio 12 thơ mời
— Sự đổi mới về thể cách — Các nhà Thơ mới 1932 —~
546 Thé Liv 586 Leu Trong Lu 561 Kuan
ð75 Tủ Mỡ 583 Những nhà
The mới (Phong
19463e+
Điệu, 567 Huy Cận
thơ: khác (Quách Tân — Bai Đức Tuân — Nguyễn Giang —
n — Thai Can — Vũ Định Liên — Nguyễn Nhược phập — LẺ Văn Bài — Tein Huyển Trân — Nguyễn Bình
— Thàm Tâm — T.T Kho ~ Han Mặc Tử — Chữ Tan Viên — Phạm Huy Thông — Thanh Tịnh — Té Hanh)
lan Seo
vy MỆT VĂN LOẠI MỚI : THOẠI KICH MHỮNG NHÀ VIẾT KỊCH ĐẦU TIÊN
Từ tuồng hát ta đến hịch bản tay 299 VIỆC dự
nhập thoại hịch & giai đoạn trước 661 Một kịch
Trang 8CHƯƠNG VI— BỘ MẶT ĐẶC BIỆT Cla MAY NAM 1940 — 1945
Từ hồi còi báo động đến cơn gió phục hưng 610,
Sự thành lập cáo nhóm, Nhóm Tri Tân 615 Nhóm
Thanh Nghị 620 Nhóm Hân Thuyên 62L Sự trối
đậy của văn học miền Nam 629 Sw phat triền
của biên khảo và phê bính 632 Tình hình sáng
tác Việc tiếp tục những đường lõi eũ; Nguyễn Tuân,
Vũ Hoàng Chương 610 Ý hướng đối mới trong
tiểu thuyết Truyện xã hội và tranh đấu 645 Những
néo đi mới của thơ (Thơ tá chân quê hương — Thơ
hùng trắng — Thơ thuấn tủy Xuân Thủ — Thơ triệt ~—
Kịch thơ) 650
Trang 9.PHẦN THỨ TƯ
_VĂN HỌC HIỆN ĐẠI
1862-1945
Trang 11
Thowe lich sử săn học ta khoảng I862-1907 này chính là một giai đoạn sừa chấm đứt Văn học lịch triểm uừa mở Tân cho Văn học hiện đại, túc là một
dhời chuyền tiếp vậy Hiột thời chuyền tiếp mà léo đài đến thé là bởi sự cách biệt quả lên giữa hai
lờ lên, hai thé gidi, hai van mink, Gia di dit véi
ching ta, vide tiép xtc voi Tédy phuwong lúc đầu lại
là một điều cưỡng bách, nên việc từ bè những nến nếp sanh hoạt, suy tơ, điển tà theo một ý thức hệ từ
ngắn xwa đề đối mới đã diễn ra từng bước chệm chap,
Cũng bởi một lý do tất thật tê nữa là cuộc chỉnh phục của người Pháp na đến mình mất nước va di tào con đường canh tân lã lấn hối kéo đài Sam khi
bị cdt mat Nam kỳ (1865) nước Việt Nam phong kiền
con sing gần hai chục nếm độc lập uê chánh trị tà van
hỏa, Rải sau khi cẢ đất nước bị thin tink (1884), vite
bình định của người Pháp, việc thành lập một cơ câu thống trị, việc thực hiện những liên lạc khả đi cho
phép cufc sing chung, tất cà đồi hồi hơn hai chục năm nữa Thành ra, từ khi tổng súng làu Tây nd & Da nang (859) cho đến khỉ trong nước người mình ñết đường
tựa quậy về quân sự, mới khua chuồng gỗ mố mẻ
hội duy lớn (1907) một nha thể kỳ đã trồi qua,
Trang 12Những người làm vdn học còn là nha gia sống giữa
làng nho cà Tuy nhiên bồi những nguyền nhân nội
tại — ở ngày thời gian nước còn độc lập — ăn học
lịch triểu đã vào tuổi suy của nó Nho học mà triển
Nguyễn phục hưng đến dà di uào can đường kính điền
cẩn cỗi VỀ uăn nôm tì sau con gió Thừa Lê, tình
trạng bày ra đình đền, nêu không nói là suy sứt Rồi
họa ngoại xâm ập đền Triểu đình và sĩ pha không
cừu được nước, Học thuật, uấn chương đồ theo với
thành tri, Chit Han, van Han mốt dẩn địa tị, mà cấu
ném của nhà nho cũng di dén 1di thoi Van hoc lich
triểm thể những hơi tần ngay trên đi Bắc,
Tronc khi ấy th ở Nam kỳ là đất méi, chwa nhiềm sâu những truyền thông quốc gia, lại bị người
Pháp chiêm trước và coi làm thuậc địa, thì hành một
chink sách trực trị một cảnh tượng canh tân đế sớm
bay ra Một nên văn học mới manh nha ở đây với
sự truyền bà một thử uần tự mời, chữ quốc ngữ Tuy
mhiên, miễn Nam cũng không tự đứng ra làm cuộc
cách mạng văn học được, mà phải đợi cho sau khi thê
lực Tây phương trên ra Đắc, uấn học cũ bị lay động
lận gốc rỄ nổ, diệt đổi mới tà kiến thiết mới thật sự
bắt đếu,
Trang 13
CHƯƠNG ï
SU’ SUY TAN CIA HAN HQC VA HAN VĂN
L HOC THUAT VA KHOA CỬ SAU NAM 1863 Năm 1862 nước ta mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Ba năm sau
(1865) cả lạc tỉnh vào tay người Pháp, Hai mươi nấm sau nữa (1885)
toàn thể giang sơn Việt Nam khuất phục dưới bóng cò Lang sa Lịch
sử: Việt Nam theo cơn vong quốc bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới lạ so với từ xưa Việc canh tân, việc Âu hỏa rồi ra sẽ, đứa chứng
ta đi rất xa Tuy nhiên buổi đầu eñng phải một thời gian khả lâu để cho cái x8 hội cũ kỹ ngàn xưa chuyền mink Nhất là ở địa bạt học thuật,
nền Han học truyền thống lịch triều đồi hỏi cả nửa thể kệ đề suy tàn Nam :Kỳ mất rồi (1865) việc học, việc thỉ ở phần còn lại của nước Nam vẫn không có gì thay đổi.Những bản điều trần của
Nguyễn-trường-Tộ (1898 - 1871) v8 chink trị và bọc thuật (1863) không
gây được tiếng vang nào Cho đếu sau cơn «ngỗa giải », vua Dực Tông
bắng, Trung và Bắc nhận lấy số phận « bảo hộ», chủ quyền đã về tay người, song phần vì ta vẫn chưa thức tỉnh trên đường canh tân, phần
vì người Pháp lúc đầu muốn lợi dụng những giả trị sẵn có đề đễ dang
jung lac lop trí thức nho gia, thì phục nhân iâm, nên khoa ca Han
bọc sang đến các đời vua Kiến-Phúc Thành-Thải vẫn tiếp tục đền đặn
Đời Thành-Thải mở đến 7 khoa Hội, thổ thức thi cử y như cựu lệ
(từ khoa 1889 đến khoa 1907) Mãi đến năm 1906 một hội đồng cải cách
giáo dục mới ra đời, sửa đồi việc học, việc thi Chương trình gồm 3
bậc Ở xã thôn các thầy đồ day chữ Hán, dạy cả quốc ngữ nữa đề luyện học trỏ đi thí Tuyền sinh Ở các trường phủ huyện của các quan Giáo Huấn, học trò (đã đỗ Tuyền sinh) học chữ Hán và quốc ngữ đề
đi thi Khỏa sinh, Ở các trưởng tỉnh, các quan đốc học đạy học trô (đã
Trang 14
Thị Hương cãi cách (áp dụng khoa đầu uẫm Du
đề có 4 trưởng : Trường nhất ra õ đạo vău sách (hối về
luân lý, NaucBắc sổ, Đông dương chữ trị, hình luật) Trưởng nhì thí
hai bai ludn chit Hau g bathi 3 bài luận quốc ngữ và mật bài
tình nguyên dịch Pháp văn ta quốc ngữ Trưởng từ là nhúc hạch, ra
Trên cùng Thi Hội và Thì Đình cái cách (âu dụng khoa đầu
năm Ðuy-Tân 1~— 1810) có 4 kỳ sách (ð bài Rinh, 2
n,# bài Bắc sử và 1] nhì: một bài chiếu
hoặc bài Dụ và một bai sé thu, i bai vin Blu, @én ding Wi Kim vin —
Ky ba: mdt bai ludn cbt Hán và 3 bài luận quốc agữ — Kỷ bốn :10 đạo
những người Hnh nguyện thi chữ Pháp (1
ngữ, đầu bài đo tỏa Khâm sứ ra) Lối chí
bằng điềm từ @ đến 20, Đanh hiệu phong cấp cần cứ theo số điểm,
Cộng các điểm thi Hội và Đình rồi chia làm 6 thành, được 20 điềm
là bài Kinh nghĩa bái cô đều đã bị bãi bổ, chỉ côa lại bài vẫn sách (rong
đó không phải chỉ hồi về Tử Thư, Ngũ Kính và sử Tầu như thông lệ về
trước, mà hỏi về Yiệt sử cùng các Khoa học mới của Thái Tây như cách
trí, địa dư, thời sự), và mấy thể công văn, tất cả cũng như bài luận, viết
hằng Kim văn tức là văn xuôi chữ Hán,
2— Vin quốc ngữ và Pháp ngữ bất đầu có một chỗ ngồi trong
Những bài luận quốc ngữ ở các
in ra bling chit Han
chỉ id pha thuge
chương trinh tuy
khoa đầu tay đòi hỏi v
Môn Pháp văn thủ ở Hương cũng như Hội đền « bất nguyện giả bất
*ởng quốc ngữ m
cưỡng »,
Trang 15&SƑ SUY TÀN CỦA HÁN HỌC VÀ HÁN VĂN 19
Song con duy tàn đã thôi, chế độ cải cách này không tôn tại
được bao lâu Ở Bắc Rỷ (hi Hương cón được bài khoa nữa (1912 và 1915) vôi bãi bỏ, Ở Trung Kỷ thì Hương côn được thêm 1 khoa 1918 nữa để đưa điến khoa Hội chót vào năm 1918, Với khoa Màn Ngọ nãy, chế độ khoa
cũ Hản học cáo chung sau tâm thị
kỹ rười ngự trị trong học thuật và
phong tục nước fa (Năm 1075, vua Lỷ Nhân Tôn mở khoa Tam trưởng,
fy lA khai sảng ra nha khoa)
H.— VIỆC TRƯỚC TÁC BẰNG CHỮ HÁN
Han vũn ở địa hạt biên viết eling vậy, cũng côn sống sót trong một
thời gian khả đài, Trừ ở miền Nam ngưới Pháp trực tiếp cai trị, công
van
sto 18 di nhiên phải đăng chữ Pháp, côn ở Bắc và Trung, Hán
tự vẫn tip tue la ther vin ty truyền đạt mệnh lệnh của chính phổ cho đến hết thế kỹ 19: Nhất là tùng với triều đình Huế thì nó són đông vai
văn tự chỉnh thức cho mãi đến ngày BẢo Đại về nước (1939),
Quốc sử quản tiến tục những công trình biên khảo :
1
đười đời Tự Đửe nhưng mãi đến năm Riến Phúc (1884) mỏi hoàn thành
Bộ Khâm định Việt sử Thông giảm Cương tnụe tuy soạn ra
nhưng các nhà biên khảo đã bố qua 6 tỉnh Nam Ky coi như đất đã
nhướng cho người Pháp rồi San đó đến năm 1909, Tổng tài Cao Xuân
Dục đem bộ Đại Nam nhất thông chí cũ đọn lại, nhưng chỉ chép về các
tỉnh thuộc xả Trung Kỳ má thôi,
ở
tiếp tục sáng tác cho hủng riêng của mình
hạt thí văn, các nhà nho, các bậc khoa cổ lẽ đi nhiên vẪn
thấy những
thi vẫn tập : QuŠ sơn tập của Tam Nguyên Ngư
tập của Tiến sĩ Dương Lâm, Nam chí tập của Hoàng giáp Nguyễn
in Khuyến, Đường lâm
Thượng Hiển Tủy nhiên ở vườn văn Hán cuối mùa này, cảnh sắc tiêu điền, Có lẽ không ai nghĩ đến đua tài cũng Lý, Đỗ, Ấu, Tô nữa Ngướ
Trang 16
0 ` GIAI ĐOẠN 1862-1907
ta làm văn thù tạc, hiểu hỉ nhiền bơn Đi vào những bài có chút cẩm
hứng cá nhân thí chính là tiếng thơ của thời ly loạn, tân sự vong quốc
thất thời, thô lộ ra trong lời nghẹn ngho hoặc chân nẵn
Đương thế LÀi thứ hà sở: dụng 2 Lão lại quan đới thượng da làm, Loạn lụ xuân sắc chân 0ð lại
Da khề nhân tình tầng bất kham-
Mấy cầu trên của Nguyễn Khuyến (trong bài Xaân nhật thị chư
nRÖ đỗ tóm tất cái tầm sự yếm thế của nhiều nhà nho trong cơn vong
Song trước nạn nước, nhiều nbà nho khác đứng lên hãng bài mua
đại sự và đăng cầu thơ chữ Hảo đề kỷ thác chỉ khí hoặc tayến truyền
trong quốc dân, Đó cũng là một khuynh hướng đặc biệt của Hán vẫn
dưới ngòi bút nho gia thời này, GIẢI nguyên Phản bội Châu từng viết
mấy thiên « Huyết thư » (au cầu huyết lệ thơ, Hải ngoại huyết thụt
Ngục trung thư) để cỗ động lông yêu nước của dân chúng, Trong cuộc
đời bôn ba, một lần tử biệt anh em, ông đã có bài lưu giấn rất bí trắng
này :
Sink vi nam tử g&a vi ky, Khang héa can khén tự chuyén di-
U bach nién trang ta hữu ngã
KHI thiên tdi hạ cánh 0ô thùu, Giang son id hi sinh đồ nhuế, Hiền thành liêu nhiên tung diée si- Nguuện trực trường phong đồng hải khú
Thiên trùng bạch lãng nhất tồ phi-
Phỏ bảng Phan chu Trinh và Trần quý Cáp sốt sắng thức tỉnh trước,
nhiệm vụ quật cường mà thấy triều đình n mè cứ kéo đài mãi lối khoa
cử hỗ lào, đã gởi nỗi bất binh vào bài thơ rất truyều tụng này:
Thể cục hồi đều dĩ nhất không
Giang sơn sô lệ khấp anh hùng
Vạn đân nô lệ cường quuần hạ,
Bái cỗ uăn chương lúu mộng trung
Trường thừ bách niên cam tháa mnạ› `
Trang 17
so suy rAn CUA HAN HOC VA HAN VAN „
Bất tri ha nhi xuất lao lung
Chữ quân dị tất oâ tâm huuết, Đăng hướng tư oăn nhất khán thông
Đỏ là thử văn chương nhất thời cẩm hừng song giọng khí khải con rung động t
Ngoài rủ cũng nền ghỉ nhận một chuyỂn hướng tuy ngắn ngôi của
Hản vấn ở nước tạ trước khí rút lai, ấy Hị sự chuyền hưởng qua
ngành văn mới và bảo chu
HI—- ẢNH HƯỚNG CỦA TẤN THỨ TÂN VAN TRUNG HOA
Ái cũng biết Hân học của nước ta là từ Trung hoa đem sang nay
công phả các thành trị cổ cựu A Đồng diễn ra khắp noi, tại Việt-Nau
tại Nhật-Bản, tại Trang-Hoa, Riéng & Trung Hou, sau Nha phiến chiến tranh (1840-1843) đến loạn Thải binh (180-1865) rồi cuộc tấn công Anh, Pháp liên quân (1860), triều đỉnh nhà Thunh cử phải mỗi bàn lùi thêm
tree thể lực củu Tây phương Nhất là san chiến tranh Triền tiên phải
thua đà Nhật nhướng cho Nhật đầo Đái loan (1895), các nước Tây phương bên xông vio yên sách đổi đại, giành khu ảnh hung, Người ta nói đến
ST phu Tau thấy nước Nhật dng tân biển pháp mã chồng cường think nên muốn bắt chước Tiến sĩ Khang hữu Vì dàng thơ lên vuù
Trang 18
Quang Tự nói các lẽ cần phải duy tân, Hữn Ví lại nhóm họp những sĩ
tử, khai hội diễn thu
trò là Lương khải Siêu viết trong báo Thời vụ ở Thượng hÃI những
vết về các phép cải cách cho được giần mạnh Học bài lận về thời sự với một giọng văn «ó sức mạnh lột đổi được bộ
óe nhân thần cần côi cña mấy trăm triện dân Đầu» Ảnh hưởng phe đuy
tân mở rộng trong quầ# chúng Dư luận ng hộ càng ngày cảng sỏi nồi
Năm Qnang Tự 34 (1598) vua Thanh mới triệu Khang hữnVi vào bệ
kiến, cho làm quan đề cũng mựn việc biến pháp Cuậc «Mada Tuất chính
biến » này rồi ra kết quả eïng chẳng ra sao Triền đình nhà Thanh bị
¡ lại, và Khang, Lương
những thế lực th cựu thúc đẩy lại phần đột
mới thoát khối bị chém đần Song đó
phải nhanh chân chạy sung Nhậ
cũng là bước đầu trên con đường đồi mới cña Trung Hoa đề đưa đến
cách mạng Tân Hợi sau này (1911), Và thầy trỏ Khang, Lương, tủy không
lam được gi về chính trị những đã gây được những ảnh hưởng rất quan
trọng Ở phạm ví học thuật và tr trởng, Họ đều Hà những nhà nho thấm
nhnần cái Hán học truyền thống, nhưng trước thôi cuộc diễn biến, đã
nhận ra những nhược điểm của nền học thuật ấy và ra sức hỗ hào
cãi cách,
Theo những lời kêu gọi của họ va didi sy thie bach cha dir
Inin cha tinh thế, cáo nhà cần: quyền nước Tầu phải tim cách canh tân
học thuật Năm 1898 sua Thanh hạ chiếu bố lối văn bát cỗ trong các
k thilấy sách luận về thời vụ thay vào và thiết lập trường Đại Học mới
đầu tiên ở kinh đỏ, Năm 1906 lại hạ chiến
những khoa Hương và Hội,
Ce quan học chính các tỉnh tử nay chỉ chuyên tròng nom việc cáo
học đưởng, Chế độ khoa cÏỉ ở Tầu khổi lên từ Tủy Đường đến
đây, sau hơn ngàn năm, chấm đứt đồ được Uuợy thế bằng chế độ học
hiệu Những trường học mới được thiết lập không phải đề nghiên cứu
kinh sở cổ điền nữa, mà đề học ngoại ngữ ngoại vũn, và đào tạo
những chuyên viên thực dụng : Trường Đồng Văn quản ở Kinh đỏ (chuyên
dạy ngôn ngữ các nước), trường Quảng Phương Ngôn quản ở Thượng
Hai, trong Thuyén Chinn học hiện ổ Phúc Kiến, Thương sự học đường
ở Thiện Tân, Vũ bị học đường ở Hồ Bắc, Đông thời một ngành vẫn học
mới xuất hiện, đó là phiên địch và báo chỉ
Người đi đầu trong việc phiên dich An văn là Nghiêm
Phúc Ông đã đem Husley (Hách Từ Lè) và nói chung triết hoe Tay
Trang 19Sữ SỦY TÀN CỦA HÁN VĂN VÀ HÁN HỌC 3
Phương giới thiệu với người Fâu tí trước vẫn tưởng người Tủy phương chỉ có súng Ông binh thuyền chứ không có thánh kiểu chứ từ, Đến Lâm Tự phiên địch hơn trâu tiều thuyết Anh, M¥, Pháp, Nga, Na Uy,
"Thuy SẼ, BÍ, Tây Ban Nha, Rồi Mã Quân Vũ, Tô Man Thù dịch thí văn
của Byton, Gocthe Người Tầu đọc các sách phiên địch Ay mới bất
phổ biến tư
Lương Nhải Siêu Ông sáng lắp ở Thượng Hải tờ Thới vụ bảo, có Tế đây
là tứ bảo đầu tiền ở Tâu, sau chay sang Nhật, lại ra tờ Tâu Dan ting đão hiều vẫn học và văn mình Tay Phuong hen Song vid
tưởng mới cậy vào bảo chỉ nhiều hơn, Người đL +
bao Ong lại côn lầm nhiều
nâu hoặc vận động mà nhất lí về học thuật, cái Hâu học tà núnh hấp
thụ của Tầu tử ngàn nẩm, trước khí rút HỆ côn truyên sàng nước tinh
lan sông biến chuyển cuối cũng cla nó Tân (hư vá vấu mới Tâu được
truyền sang nước ta, CA wot lop oho sĩ nước tá thời bẩy giờ đều ham
mé tim học ở đó những kiểu vẫn mới về Tây phương cũng như những
tư tưởng duy tần cáu thiểi trước thối cuộc Cải Hâu học tuy mới nhưng cuối múa này tất nhiều chẳng đủ lực để tạo vũ tác phầm song
Trang 20anh bdo chí bằng Hản vău này da đề
lại vất tích cả ở trong nước, Tờ báo đầu tiên ở Bae Ky, Bai Nam Bong
‘Vin (do nha Kiwi: liege xuất bần năm 1890) chính bằng Hản văn, Năm 1905
tờ Đại Việt Tân bảo ra đới một nửa là chữ Hán, Cho điến nấm 1917 tờ Năm
Phong ra đối còn một phần quan trọng chữ Hán do các ký giả nho gia Phan
hôi, Nguyễn bá Trạc đấm nhiệm Nhưng khoa cổ bổ röi, Hản bọc cũng
bổ, độc giả hiểm đĩa, Phần Hán văn ở báo Nau Phong cử thu hep, ming
dần, rồi một sớm biến mất,
Từ đầy, cây bút thí văn chit Hán Lrong tay nguồi Việt đi đần
vào chỗ chết Nói đúng nỏ còn sống một thời gian, bùng bại, sa doa,
š trên hè phố trước đây mỗi ngày
trong những tiệu đốt trưởng hiến hĩ,
Tốt đến Hoặc nó rút lui vào trong phạm ví cô quạnh cũa những nhà
tra không trí âm, nhiều khí muốn mài lại nghiên mực cạn,
Trang 21
CHUONG II
NHỮNG NHÀ VAN NOM CUO CUNG
i— VAN NÔM SAU NGÀY VONG QUỐC
Sau ngày vong quốc, cũng với chữ Hàn, chữ Nómi cũng cón lồn lại
một thới gian đái, lâm thử văn tự phổ cập cho người mình viết quốc
văn, từ trong việc biên chép nhật dụng đến việc sáng tác thí vin Do
đó chúng ta có trong văn học sử phản văn Nôm giao thời này với những
nha văn Nôm cuối cũng,
Tất nhiên chúng ta nghiên cửu và xếp loại vâu học không cấu
né & hinh thite chit vit Vau Nom ở đây chỉ có nghĩa là Việt vẫn Lịch triệu, Thứ chữ ấy đành rằng tự nó không đỗ đề phân định sắc thái của
của họ, Nửa sau thế kỹ 19 náy, Việt vẫn vẫn đo ngói bút nho gia viết ra
với tư tưởng và tấm lý của họ, tuy cỏ chịu ảnh hưởng của thới cuộc mời, song vẫn giữ những đướng nét chỉnh yếu cố hữu, Chẳng phải chỉ thứ chữ bọ viết vẫn la chữ
hình thức, văn học họ sảng tác côu tiếp tực rất gin, rất thẳng, văn học cổa các thế-hệ vẫn gia tiền bối,
ởm, mà nói chúng, nội dung cũng như
Xét tính hinh văn nốm vào giai đoạn chối múa này, ở một mặt người ta có thể nói đến một bước phát triền rõ rệt, Hân học sửy kêm, tứ
địa vị đếu lực lượng, Xã hội loạn lạc đầy nho gia thất thể vào cuộc sống
binh-đân đôi khi eơ-ege, Những yếu tổ Lịch triền coi làm điêu kiện thuận
lợi cho việc phát triều văn Nóm ấy, ta thấy by ra đây hơn cä mọi giải
đoạn về trước C Âu nôm na ví vậy mù Thành câu đầu lưỡi của cả những
Trang 22
bảo khoa giáp Không kề việc ngoại xâm đưa đến sự nầy nở một tỉnh
thần quốc gia làm cho người ia càng cớ khuynh hướng trổ về với ngôn
nat cla dan tộc của đồng bào
Tuy nhiên nhìn từ một nu}
khảe thì thấy văn Nom ổ vào gia-doạn
suy tàn cña nỏ, Văn Nôm nho gìa do Hún văn mà ra Gài mạch nước bẩy
lân nuôi nắng nó nay đến lúc bị cắt đứt bị khô kiệt Quốc văn nếu có vì
những yếu tố về thời cuộc, về dân tộc mà đôi hồi nhát triển; tất phải
mổ ra một hướng khác Các văn sĩ nho gia sắp sửa đóng trọn vai tuồng
thuật~ nHững thành công vính quang của thời Lè mạt, Nguyễn sơ — không
thấy xuất hiện nữa Truyện Kiều là «tiếng hải của chim thiên nga» Hình
thức ngừng tiến triển, Bài hát nói của Nguyễn công Trứ là bước tiến
cuối cùng của thể cách văn Nom, Sang nira sau thế ky 19, ngay những
trong nhào lạc, Nhất là bài thơ Đường luật bắt cú hay tứ tuyệt được sống
lại một thời thịnh bảnh, Tóm lại trừ một cnốn Hạnh Thục ca của
Nguyễn thị Bích được hơn ngàn câu còn toàn là những loại ngắn, để,
hợp với sự cẩm hứng và cất bút trong một lúc,
Cảnh tượng suy tần lại bày ra rõ hơn ở nội dung, Từ tưởng nho gia dén đây kém tầm thước và mất hết lực lượng Nguyễn Công Trứ,
Nguyễn Dn, Củo bá Nhạ đã đem cảtâm-hồa và thức lực họ trút vào tác
phầm Những niềm tín cũng như những nỗi khổ của họ, họ đã nói lên
dứt khoát, với tất cả mhiệt tỉnh Qna hậu bán sau của thế kỷ, cơn đổ vỡ
chánh trị kéo theo cơn đổ vỡ học thuật Những giá Hị tư tưởng ngìn
xựa, những tiêu chuẩn cho đạo lý hoặ
chân lý đi đến sụp đỗ, Chữ Trung, chữ Hiến nho giá chẳng côn gì thiêng Hệng nữa Một họn
công nhiên phá rào nhấy ra hợp tác với địch Nhiền người
khác tuy không theo song bụng đầy hoài nghĩ và chán nắn, Những thu
Bữ cực thái lai, thiên đạo tuần hoàn, tư tưởng cốt cản trong báo nhiêu
Trang 23
NHỮNG NHÀ VĂN NÔM CUỒÖI CÙNG : 27
CA hhững cẫm hứng thanh thoát êm đềm đã để ra một Mai Đình,
`xnột Bich Cân cũng đến chỗ khô cạn Người ta có mộng chăng thì toàn là
những mộng nặng nề chếc lát mà một tiếng ếch bên tai một con gid
tần lạnh lẻo đỗ làm thức tỉnh trườc thời cuộc bị đát, Ở tư tưởng Lão
Trang, chỉ côn lại những mảnh xụn, yếm thế không khí phách, hưởng
Tạc không nghệ thuật đề nuôi dưỡng một khuynh hướng cần nhàn tro
ráo và phù phiếm Tứ tưởng Phật lại cảng bày ra tàn 1q Trước kia
Phat giao ty khong gi quyết được xắn đề nhân sinh nhưng ciing thôi
một luồng gió thanh cao vào Cũng Oản, vùo truyện Kiều, Tời đầy nó
mất cả giá trị mân lý và chân lý, Chẳng còn vẫn gia nào dám đem lẽ sắc
không, thuyết luận hồi đề đựng tác phẩm Nhã nho chỉ thấy chùa trơ với
am quanh, Đối với Tôn-thọ-Tường, cửa "Thiền la nei mit ui cha bon lần
Tóm lại theo rồi văn Nôm đến giai đoạn này ta thấy không côn
gì hứng thủ nữa “Fất nhiên, đi vào tiều tiết, có thổ vẫn thấy đó đây
mệt vài thành công vụn vặt, nhưng nói chung Quốc văn nho gia đã hết
Thực lượng, cạn cẩm hứng, giảm nghệ thuật Chu lục bát đề ký sự một cách
lạt phéo Bai tho Đường đề chữi đời một cách khinh bạc guối cũng
như văn đi xuống Văn Ném vào lúc giao thời này chỉ đăng lưu ÿ về
mnắt chứng tích lịch sử
Wiềm điềm các nhàvẫn nôm chối cùng và sắng tác của họ, có thể
nhận ra mấy khuynh hưởng san day:
Văn thời thế; Bùihữn-Ngbĩa —
"Tường ~— Phan-vắn-Trị — Nguyễn- vĩ
dyễn-đình-Chiều ~- Tôn-thọ=
Nguyễn-thị-Bích — Phan-bội Chin —Phan-cho-Trinh
Van nhan Ige: Drong-Khué — Chn-mgnb-Trinh
Văn trào phủng : Nguyễn-Khuyến — Trắn-tế-Kương — Ngnyễn- vấn
Lac
II VAN THOT THE Những ảng văn thuộc khuynh hướng này có liên lạc mật thiết xởi tỉnh thế nước nhà trong cơn vong quốc, Tác giả hoặc thuật Tại
Trang 24
nhiên đất Nam Kỷ mất rồi hai ông còn sống khá lâu và thỉnh thoẳng
ác với trước đều mang hồi quang
vẫn sáng tác, Những sáng tác này kị
của thời thế đổi thay, cà những khí tác giả chỉ nhằm ghỉ chép một công
việc, một tỉnh cẩm riêng tây,
Bài-hữu-Nghĩa còn đề lại mấy bài thơ chữ Hán như bài Tự án
nhân Ong làm đề ting ong Đỗ-hữu-Phương và Tòn-thọ-Tưởng đã can
thiệp với người Pháp cho ông được tha (năm 1868, vì liên can tôi phong
trào văn thân, bị bất giam ở Gia Định) Kết luận co chu:
Người hối lê còn kẰ( gặp gổ,
Đăn làng dàng đá, hãu cho bền
bài Quan Công thất thÄ Hạ Bì ca tụng tiết nghĩa Quan Vĩ ở Hạ BỊ, hẳn
đề se sánh với chính mình tny bị bất mà không thay đổi lòng trung với
vua, Bởi vì
MMội đạo cương thường nai gánh nặng
Ngàn năm bia miệng d8 người rao
Ta thấy đại Kbái là thái độ điền hình của nhà nho trọng đạo lý và
trong Hắc vong quốc chỉ biết đem cải đạo lý ấy ra đề giữ mình thôi,
Nguyễn đình Chiều đã có một thái độ tích cực bơn, vi dan vì
nước hơn, Ông đã đau lòng thương sót đân đen trong cơn bình lứa ;
Bề nhà lũ trả lơ xơ chau:
Mất tà bầu chim đáo dác bay- ` Bến Nghề của tần lan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhum màu mâu,
về Ba Trị rồi, mặc dần dui ma ng đã đem hết khẩ năng
Trang 25Cuộc trung nghĩa hai năm lâm đại trông, nhần nhọc 0Ì nước,
nào hiềm Hững thị tiếng phí — Cỗi gên hà một chức chịu lãnh bình, Tây tất theo thầu, chưa chắc đâu thằnh đâu bại
hắc lá khóc nườc nhà cơn bấn loan hôm mãi uẵng châu thua
buồn nhiều nỗi khảe nhôi — Than là than bờ cỗi lắc qua phân ngdy thang
trồng :òHa ngơ ngồa một phương từ dại CT6 Trương Định)
Ong ca tung can trưởng của đâm nghĩa quân vò đanh +
Ngoài cật cô một mạnh áo uẫi, não đợi mang bao tấn bần ngôi — Trong tay cầm một ngọn lầm nông, chỉ nàt sắm dao tu nên gỗ
Hỗa mai đảnh bằng rơm con củi, cũng đổi xong nhà dạy đạo kia — Gươm đeo đúng làm lưỡi đao phag cũng chèm rời đầu quan
Chi nhọc quan Quân giảng trống kỹ trồng gìuc; đẹp rào lưới
tới, coi giặc cũng như không — Nào sợ thằng Tây bẵn đạn nhỗ đạn lo, aô
cửa xông ảo liều mình như chẳng cô
Ké dam ngang người chém ngược làm cho ma là, ma nỉ kinh hồn — Bọn hè trước lã ò sau, trồi kệ tầu thiếc tần đồng sùng nồ (TẾ nghĩa
sĩ Cần Giuộc)
Ông kể tội ác của quân cướp nước +
Phạt cho đến người hèn kẻ khô, thâu của quag treo — Tội chẳng `
tha con nit dan ba, dBt nha bat vat
Trang 26
40 GIẢI DOAN 1862-1907 ©:
KB muti mily nim trời khốn khó, bị khảo bị tủ bị dầu bị giết, ể
giả nghe nào siết đâu đâu — Đem ba tác hơi món bỗ liều, hoặc sốïg `
hoặc biền hoặc núi hoặc rồng, quen lạ thâu đều rơi nước mốt (Điếu sĩ
đáp của Ngư và Tiều những đoạn văn còn sực nức cải khí khẢI của
người kiên trinh với quá khú
Ta hãy nghe Goan Tha ani này:
Dầu đai mà giữ đạo nhà,
Còn hơn có mắt ông cha không thờ‹
Đầu dat ma tron danh nhor Con hon cé mdi an do tank rink
Dầu đai mà đăng trọn mình,
Còn hơn có mất đồi hình tác rầu
Sáng chỉ theo (hái tha cầu, Đạc ngang chẳng đoái trên đầu cá ai- Sâng chỉ đấm sắc tham tài,
° kung lòng nhân dục mang tại quả trời
Sáng chỉ sàm nịnh theo đời, Nag vinh mai nhục theo đời thị phi
Sáng chỉ nhân nghĩa bỏ di, Thảo ngau chẳng biết lối nghì thiên luân
Đất nước đã mất, nhà nho vẫn nhất định ôm lấy cái hồn xưa của
ông cha, chống lại sửc công phá của văn mính vậi chất xâm lãng,
Trang 27Nam-Kỷ trước thời cuộc qua hai ông Tôn-thọ-Tường
và Phan-văn-Tr{ đi đến chía rẽ, biên lộ ra thánh cuộc «bút chiến» và đề
lại những chứng tích thí
Tônthọ-Tường (1896-1877) người lung Bình-Dương phả Tân-
Bình tỉnh Gia-Định vốn dòng đối thế nhiệt Thân phụ, là Tỏn-thọ-Đức
đỗ Cử nhân, làm qnan đến Tuần phủ (Bình-Thuận Khánh-Hỏa) mất nằm
1840 Cậu cla Tường: thuế nhổ đã có tiếng hay thơ, tài học, ăn chơi
Nhưng công danh Rhông may mắn, năm 1885 thì Hương rồi, ra Huế dựa
vào công lao liên tổ (òng tổ họ Tôn đi từng giúp vua GÌ
bên ba ở Xiêm) để xin tập ấm lâm quan, Nhưng triều định chỉ cho một
võ chức, ông không bằng lòng, từ đó có ý bất mãn, Trở vẽ Nam ông thôi
không thi nữa, Có chuyện kề ông không thêm thi nhưng làm bài gà cho
một thí sinh ở Gia-Định để lấy tiền xùi vi vậy mộtIần bị bất giải về kinh,
song vua Tự-Đức lần tài nên tha cho về San đó hết đường tiến thân, ông
sống thong tha, tim quan Hing trong thủ vui, Ông chiên tập văn hữu, lập
ra Bach-Mai thi xã lấy chùa Cây Mai ở Chợ Lớn làm trụ sở Giữa lúc
đỏ thì quân Pháp đỗ bộ vào đảnh Saigon, chiếm 3 tỉnh miền đông Nam
Ky (1862) Tôn-thọ-Pưởng ra giáp việc cho «tân trao», được hỗ làm Trỉ
phủ Tân Bình Năm sau (1863) ông theo Phan-thanh-Giẩn làm kỹ lục
phải bộ qua Pháp chuộc đất, Khi về, hỏi chức cũ Đến năm 1871 thing
„Độc phả sứ, được cử đậy Hán văn trường Hin bd Nim 1873 theo
;phải đoầu Pháp sang công cần bên Tần 2 tháng, Năm 1876 theo lãnh sự Pháp De Kergaradee ra
Long khi côn
Thi win Tỏn-thọ-Tưởng để lại hiện côn:
— Mấy bài thơ đề vịnh phong cảnh hoặc tao ngộ: Vịnh chita edy Mai, Thỉ trượt (9, Lai kinh thọ tội (?) những không chắc là của ông,
— Những bài ông mượn nhân vật trong truyện hoặc sử đồ ký tháo tầm sự: Tốn pha nhân qng Thạc, Thân thể nàng Kika, Từ Thủ qng Tảo
— Mười bài liên hoàn tự thuật ở đó ông biện bạch cho đường lối
chính trị của ống khi đó,
Trang 28Phan-văn-Trị người làng Hưng-Thạnh, huyện Bảo An tỉnh Vĩnh
tong, đậu Cử nhân năm 1849 (Tr-Đức 2), không ra làm quan, Người ta
biết rất ít về cuộc đời của ông Chỉ biết ông thường giao du với các:
đanh sĩ Nam Kỳ thời bấy giờ như Huỳnh-mẫn-Đạt, Nguyễn- -định-Chiều,
iPhap sang, ông
Bùi-hfta-Nghĩa và cả Tôn-thọ-Tưởng nữa Đến khi ngi
đứng vào phe bất hợp tác, hủ về ở ña tại Phong Điền (Gần Thơ) đây bộc
và chết tại đó Thi văn ông đề lại gồm có :
— Những bài vịnh vật, vịnh cảnh, như Vịnh côn mèo, Hật lúa, Cái cối,
Vịnh phong cảnh An Giang, thưởng có khuynh hướng khẩu khí, tính cbất
đạo lý
— Những bài có liên quan đến thời thế tức là những bài ông qhút
chiến» với Tôn-thọ-Tưởng
Cuộc bút chiến ấy diễn ra nhu thế nào ? Bấy giờ, san khi người
Pháp chiếm Nam Kỷ, nho sĩ ta chia lam hai phe, phe ra hợp tác với tần
trào đứng đầu có Tôn-thọ-Trởng, phe hất hợp tác đứng đầu có Pham-
văn-Trị Phe trên lúc đần còn rụt rẻ, song chính quyền Pháp ngày thêm
vững vàng Khắp nơi lửa tất khỏi tan, Ho dần đần bước lên địa vị và
đồn phe phần đối vào thải độ khứng chịu Tuy nhiên ho vẫn có mặc
cẩm đắc tội, tự thấy là đối tượng khinh dễ cña công luận vô hình Do
i the tung
đó Tôn-thọ-Tường vốn có thi văn tặc thường làm những b
ra dư luận đề bộc bach nổi lỏng và tự biện hộ Những bài Ấy ném ra
cỏ ngay tiếng họa từ hàng ngũ bất hợp tác với Phan- vin-Tri đứng
đầu, Như Tỏn-thọ~ "Tưởng mượn tầm sự Tôn phú nhãn quy Thục để tự
bènh vực :
AI 08 nhắn nhũ Cha-công- Cần
Đà mất làng anh được bụng chồng Phan-văn-Trị cũng đùng luôn đề tài ấy đề tìm chỗ đập lại : Anh hỡi Tâa Quyền anh có biết
Trai ngau thè chúa gái thè chồng
Có khi Tòn đưa ra những vần biểm hóc như ở bài Từ Thứ quy Tào :
Hiển đâu dám sánh kẻ cầu vot
Muaét xat lang ai ndy min mat
Trang 29Ngôi bút Cử Trị đâu có chịn thua ;
Đứa ghả rưầi, đứa lác 0oi,
Đao nhiêu xiêm áo cũng tro mat
Song chỗ sôi nổi nhất cla cuộc bút chiến là quanh 10 bài
Tự Thuật của Tôn Người ta không bóng gió nữa mà nói thẳng vào
sự thật, Tản đem sức mạnh của Tây Phương ¿a để thuyết phục bọn kháng chiến « đải đột » :
Miệng cọp băm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đân con trẻ chó thấu lau
Phan họa lại :
Đừng mượn oát hềm rụng nhái BÀI, Lang ta sdt dé ha Inng lay
Tôn côn khoe nào lỏng thương đân và thiện chí của mình :
Trẻ đại giếng sâu lòng chẳng nổ,
Đường xa ngàu lối tuồi không chờ
Phan họa lại :
Người tí mảng lò danh chang chát,
Địáa ngu luống ấợi tuồi không chờ,
Nào trách nhiệm khó khăn của mình khi bước ra:
Hai bén vai génh ném gting ning, Trầm tạ chuông lreo một sợi mành
Phan họa lại :
Khe sâu tụng tịnh dụng thoàn nhỏ,
Chuông nding to gan buộc sợi mành
Nào lòng ngay thẳng và ý báo quốc của mình :
Trăng giữa ba thu mâu công tả
Hoa trong chín hạ nẵng công tươi
Phan hoa Iai:
Ngọc lanh nhudm vét cot khong lich Thợ dựng lL màu nhưệm chẳng tươi,
Trang 30Tên lại lên tiếng cảnh cáo đối phương :
Hay dé chuuện đời còn rối tắm, Múa mau xin hâu chế bần chần-
Phan đáp lại khoe ý chỉ bất Khuất:
Thấu máu gặp thời ta sẽ động:
Muốn nên viéc lớn đám bền chin
Đại đề qua những lời đối đáp giữa 2 người đại biểu cho bai phe
ta nhận thấy tâm sự và tie tưởng của họ, Tên biết mình cãi cho một đường
Tối khó cãi nên không đấu nỗi giọng khắc khoải chún chường, đôi khi
cả nỗi hổi tiếc eshấm mắt đưa chân lỗi đạo hằng », mà ví CÓ € trưởng
mình biết một mình mình hay
san những đành
hợp giảm khinh » thì cũng chỉ một mình
Còn Phan Ở vào edi thé dS an noi hon, dé ding nip
ại những mũi tên cười cợt hay xt
từ lờa đạo nghĩa nuôn đời mà bắn Ì
p trường đạo đức
vA Song có điền là cã hai người cùng đứng trên mot
Phan đã đánh mà Tòn cïùu vậy, Cho nên cũ cho đường
g» mà hình như ông chủ trương, Tôn chưa ý thức
được hết tầm vóc và hiện nẵng của nó, Sau này miệt nh
Nguyễn văn Vĩnh có thể cãi cho đường lỗi ấy một cách #
éi đúng ra thì đây cũng chẳng p
ng nói khúc giải
trong hon, manh mé how
cãi Gọi là bút chiến cũng quả đẳng, Không phải là tiế
súc động cña tình cẩm, của giáo điền, Trong
n, những nghĩa
ä về phía
¡ không
của lý luận mà là tiếng nói
những lôi lẽ cña Tôn, côn có những tn ÿ không núnh Bie
gi boi thn rút vào phạm vì cầu thơ ước thúc 1ỷ khó lĩnh hộ
Phan thị bối œ ất đối dị, đối đối nann che nên nhiều kh
trảnh khối cái tật «đối chả
ời Pháp kế tiếp diễn ra ở Bắc và Trung Ky, F p
Cuộc xâm lắng của ngự
ø có cuộc bút
¡ thể rõ rệt vào văn học, Ở đây tuy không
ác,không ai đán: múa mép văn chương bệnh vực minh,song cơn đỗ vỡ của đất nước cũng đã Khối hứng
cho nhiều người cầm bút ghi chép sự nhận xét h phẩm bình của họ
Trang 31NHỮNG NHÀ VĂN NÓM CUÔI CŨNG 3ã
quản chúng Ông Hoàng xuân Hãn có sứu tập được một số những sảng
tác Ấy, Có bài nhục Hả Thánh thất thÏ ca (song thất lục bát, 263 câu) kế
Tại những biến cố tử đần :
Năm Qui Dậu Tay vies odo ii, Ngwoi Bde Ky ray mới biết Tay °
Ré nhau xem séc thdu ngdy,
Bem quan v8 ding & ray trong Thi
e-nht An-Nghiép (Traneis Garaier) hạ thành, Nguyễn tri Phương tuẫn tiết, Rồi Co đến giúp ta phản công Hai bên kỷ hòa óc
Giáp Taất, Rồi Hoàng Điện ra trấn Há-Nội đề lại mất thành năm 1883, Bài này chính là một bài vẻ, ác giả vỏ đanh, văn chương mộc mạc vụng
về, phẩn ảnh tâm tư người dân trung lưu tuy đau buôn về chuyện tất
thành, nhưng cũng đây sợ sệt đối với thế giặc, lo âu vì loạn lạc và rất hoang mang trong tính thế dilật nhà bà chỗ biết trông chỗ nào»
ảng văn do những ngôi bút nho gia học thức, có Tập trường cao hơn lôi lế điệu tyện hơn, Nhữ 8 bài Hà Thánh thất thà ân, thơ luật, bắt củ, điểm đầu và định an§ ông quan lớn có trách nhiệm
Nhắc cân Thái lính oới Héng mao»
Hứa quấc quan Đề khẳng Rhải sao,
That cB chan còn dương đến đất,
Trầm mình đầu lại gối lên cao
Rẻ lưng tìm thuốc rơi đâu quách:
Tuột số gươm ra cất chẳng vdo-
Tủ bất Lẻ rồi ngơ ngần mãi,
Quay theo quan Ấn trẻ Äường nào
Lại có một bài điểu Tồng Đốc Hoàng Điện theo thé hat noi, lới lẽ bắc học nghiềm trang, Song trong những ảng văn này hậu nhân chú ÿ nhất đến bài Hà Thành thối thủ chỉ công quả ca cũng gọi lá Chính khí ea
của một nhân vật quen biết ở Hi-Nội khi ấy là Nguyễn văn Giai Tác
Trang 32trời đất và bậc nghĩa sĩ trung thần và i4 cân kết đề tác
nhà vúa mà tổ lông kỳ vọng, côn có thể chía làm hai phần chính Phần
trên ca ngợi người anh hùng tuẫn tiết Hoàng Diệu, phần đưới tác gid
đốc nỗi bực tức vào bọn gian thần như Đề Đốc Lẻ Trinh, Tuần Phủ
Ton thất Bá, Văn chương đầy giọng câm khải,
HoànÊ bữu Xứng, Án
có chỗ bí trắng như nói về Hoàng Diệu ;
Một cơn giá (hẪm mưa sầu, Đúc nung gan sắt giải giầu lòng son
Chữ trung đã sắp 0uông tròn,
Quyết đem gởi edi lần hin cả câu
Trời cao bề rộng đất đầu:
Nói Nàng sông Nhị chấn nàu làm ghi
Có chỗ mỉa mai sâu sắc như nói về Tôn thất Bá :
Kia Tên thit Ba Niét cong
Kim chi ngọc điệp vén giồng téa nhdn+
Đá quốc lậc lại gương thần, Cũng nên hết sức binh luận mới là
Nước nón là nước non nhào
ÁN nào bán rễ một lòa Thăng Long
Ang vin na ợc truyền tạng hơn cã phần vi cây bút nôm
giản đị và điêu luyện của tác giá, phần vì lòng trung trực yêu chính
khí ghét gian là bộc lộ trong lôi lẽ, chẳng kém chỉ bài Chính khi ca cña
Văn thiên Tưởng đòi Tổng xưa,
4 Nguyễn thị Bich (1830-1909)
Bà là người huyện Án Phước, đạo Ninh Thuận tỉnh Phan Rang, con
ơn, năm 19 tuổi vào cnng, được
gái quan Bố chánh Nguyễn nhượ
xua Tự Đúc quý mến vì thông mính hay chữ Khi vua chết (1883)
bà lâm thư ký cho Lưỡng Cang (Từ Du và Trạng Ý,m y của
vua Ty Đức), phàm ý chỉ thư trát đều đo tay bà soạn
Trang 33trổ về, có soạn một khúc điễn ca, loạn đư Hành Thực quốc Âm ca,
Đây 1à một ang văn chương thới thế, kề lại mội giải đoạn lịch số nước nhà qua những biến cổ xây ra ở Huế khi đó, Gọi là Hạnh Thục là lấy
a Đường mỉnh Hoàng xưa kia
tích v ảnh loạn An lộc Sơn chạy vào đất Thục, ÿ cũng nhụt vna Hàm Nghỉ bữy giờ phải chạy ra Quảng Trị, Bài gồm 1086 chu lạc bát số thể cha làm 4 phần chính ;
1) Tác giả tóm hược lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến khi
bị nước Pháp xâm lãng (can 1-6)
3) Kế là các biến động xây ra ở Hus: wna Ty Bie mat, Nguyễn .vẫn Tưởng và Tón l
chuyến quyền phế lập via, cách chức ngự
sử Phan dink Phang, giới phụ chính Trần tiểu Thánh, ty hiếp các hoàng thần quốc thích, ngưới Pháp đánh Thuận Án vũ sách nhiễu ở Hug 97-544)
3) Sau đỏ là vụ âm mưu chống Pháp cña quyda thin Ton-that- Thuyết, mộ quân khởi nghĩa, lập đồn Tân ở Sở Quảng Trị, Bồi đến 4-7-1885 đem quản đánh vào tỏa Kham sir va trai Phap & Mang ca Thit trận ông màng vua Mâm Nghỉ đi trốn, Các bà Thái hậu, Hoàng
4) Sau đó tính thể din dân văn hỏi: Ngnyễn n-Tướng ra
hàng Thải Hàn trổ lại kinh thành, Sau khi đưa đây Nguyễn-văn- Tưởng,
ngưới Pháp lập lại triểu chính, Vua Đồng Khánh và Thành Thái lần
het lan ngôi,
Ban vé noi dung Hanh Thue ca, dug Ngu
n-tưởng-Phượng có phê
binh cải quan niệm lịch sử œ trị loạn xoay vẫn » của táe giả, cho rằng
cải quan niệm ấy thầu bí và ngày nay đã lạc hận, lại công kích thải độ
Bh đã mạt sát Tây sơn (Ngng Tdg thiết cứ Đạo cuồng ngược đân) quả đề cao vua Ty Đức (Trị øì bằm sản năm chảy,
nằm trong hệ thông ÿ thức cỗ truyền cña Nho gia Nguyễn thần khí ấy
Trang 34"Thêm vào quan điềm cña một phụ nñ,tầm nhìu có lẹp, suy xét bằng thiên
kiến và tình cảm, thở vua với một tỉnh thần gia nỏ tỳ thiếp, Lại từ nhố
sống nơi khuê các, chân yếu tay mềm, tới đó bỗng dựng bị đây vào cơn
phong trần, nên thường có tâm lý sợ khổ ghét loạn vũ cầu an trên hết, `
Vêf con người như vậy dĩ nhiên chẳng thề đổi hỏi một thái độ tranh
đấu tích cực, một quan niệm ái quốc
Béo phù lại cá quú quan,
Ấk là tình phục trị hoàn như xưa
và vui lòng đón nhận cải hòa bình giả tạo của người Pháp đem lại:
— Kủ nguyên Thành Thái đăng quang:
Thần dân đẹp dạ lan bang out long
_— Xã gần cần đội ơn nhè:
Ở ăn buôn bán báu giờ đồng an
Về văn chương tác phầm của Nguyễn Thị Hích cũng không đẳng
1reo cao lắm, Câu lục bát có phần lửu loát song không Ở trên câu về
bao nhiêu , Cỏ Khể coi như một bài vẻ thời
dưới một ngôi bút có học thức và kinhnghiệm vẫn điệu hơn người binh đân vỏ danh đổi chút,
„Cũng hơn một điều là tác giả biết rất rảnh thời sự mà bà dẫu kề, mà
Các văn gia trên tuy đã động đến thoi cuge và bày tổ quan điểm
winh nhưng thưởng chỉ đứng ở lập trường quan sát C những người
nhầy hẳn vào võng hoạt động, chống Pháp bằng vũ bi hoặc chính trị
xù trong cuộc đời tranh đấn của họ, đời khi cầm bút gì
lại những kỳ niệm, hoài bão Văn thôi thể khi đó có những nét tấm từ sống trai khắc
Trang 35
NHỮNG NHÀ VĂN NÔIt CUỒI CŨNG 39
sản, thường là nỗi đau đớn bí phẫn Đề bất đầu có thể dẫn ngay
hợp Phan-thanh-Giản, thất thủ 3 tĨnh miền Tây rồi, chỉ biểi
đồ đền ơn vua nợ nước, Ông tuyệt cốc 13 ngày, rồi trước khi chấm đốt
trường
ly cải chết
cuộc đời bằng liều độc được, lầm bài thơ luyệt mạng san đây :
Trời thời bất lợi lại người hòa,
Hé đề ngồi coi phải nói ra»
Lam & ơn 0ua đền nợ nước;
Banh cam gánh nặng ruồi đường xa
Lên ghềnh xuống thác thương con trễ, Wượt biền treo non cám phận già»
Cũng tưởng một lời an hến cấi,
Nao hay ba tinh lại chầu bax
Nguyễn-bữu-Huân, Thủ-khoa Huần, lập chiến khu ở Dong-Thap- Mười đề kháng Pháp Nằm 1863 ông thất trận, bị bất và bị đây di ‘Cou Lon, Ihe an đường cỏ làm bài cảm làc như sau ;
Muén oiệc cho hay số ở trời, Cái thân chìm nồi biết là nơi
May Hi ten don ra tay thử, Ngàn đậm non sông dẹo gói chơi
Chân rượu Tân đình nào luộn diệc:
Câu thơ cổ quốc chẳng ra lời, Cang thường bởi biết mang nên nặng,
Hỗ đẳng làm trai chác nợ đời
Thuộc vào một lớp sau là hai nhà nho cách mạng Phan-bội-Châu,
Phan-chu-Trinh
Phan-bội~Châu (1867— 1940) biệt hiệu Sào Nam Tử, người làng Sa
Nam xã Đông-Liệt tính Ngh-Án, đậu Thổ Khoa kỷ thí Hương ở Nghệ
An năm 1960, sau giác ngộ con đường cách mạng củu quốc, nền từ
khoa hoạn, chủ du Nam-Bắc, họp, đồng chỉ đề chống Pháp, Năm 1905 ông
trốn qua Tần rồi Nhật, tổ chữc một đẳng cách mang hai ngoại, gổithơ
Trang 36văn Về nước hỗ hào thank niên xuất ngoại tham gia Theo bước bôn ba
cách mạng, ông lừng lang thang ở Tầu ở Nhật, có lần ông bị nằm ngục
ở Quảng Châu, có thời lưu ngụ ở Xiêm, Thí văn làm ra trong lúc cẩm
hứng, ngoài phần bằng chữ: Hán đã nói đến ở chương trên còn lắm bài
nôm mà sau đây là một bài ghí lại những ngày ngồi tù ở Quẵng-Châu:
Vẫn là hào kiệt nẩn phong lưu,
Chạu mỗi chân thì hâu ở là,
Đã khách không nhà trong bến biên;
Lại người cá lội giữa căm châu
Đủa lau âm chặt kồ kính tế,
Mở miệng cười lan cuộc oán thô
Thân nọ dẫn cần còn sự nghiệp, Bao nhiều nguụ hiểm sợ gì đâu
# không gây dw
Chương trình và công việc của ông rồi cũ: ve kết
quả gì tích cự ở trong nước Ông vẫn än nâu ổ hải ngoại cho đến 1995
ở Thượng Hải (rong tỏ giới Pháp) đưa về Hà
bị người Pháp bất đượ
Nội kết án cấm cố, bị giam lổng ở Huế và đến năm 1910 ông từ trần,
_Phan-châu-Trinh (1872 —- 1926) biệt hiệu Tây Hồ người làng Tây
e phil Tan Ký, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ Cổ nhân năm 1860 và Phó Bằng 1801,
Cũng như Phan bội-Châu, ông giác ngộ cách tuạng, từ bố khoa hoạn,
nhưng òng khác Phan bội Châu ở lập trưởng Phan bội Châu chủ
trương đánh người Pháp bằng võ lực còa Phan chì Trình muốn tranh
- đấu công khai bằng chính trị Năm 1908 nhần vụ dàn chúng miền Nam
Trung Việt kháng thuế, ông bị ghép vào tội vải dâu làm loạn, bị áo tử
sau nhờ hội Nhân quyền Pháp can thiệp được khối chết, nhưng
đi Còn đảo Năm 1910 được tha về nước it lân rồi qua Pháp, tiếp
đôn đầy ÿ khẳng khải như sau :
Lam trai đứng giữa đấi Côn Lên,
Léng lay làm cho lẻ núi non
Xéch búa đánh lan năm lâu đăng
F i i I
Trang 37
NHỮNG NHÀ VĂN NÔM CUÔI CÙNG +
Ra tay dap 68 may tram hon,
Tháng nghy bao quân thân sành sấi,
Mưa nắng chỉ sàn dạ sắt son
Những kẻ od trời khi lê bước, Gian nan nÀo xd siz con cons
HI— VĂN NHÂN LẠC VÀ TRÀO PHÚNG
Việc nước mất nhà tan tất nhiền phải khua động đến cội rễ tầm
tư của tất cả một lớp nho sỉ cuối thể kỷ XIX này, Mũu sắc thôi thế đã
hiện rõ trong văn họ như ta thấy ở trêu Trong những nhà vẫn nghiên
cứu dưới đây, màu sắc thỏi thế ấy thật ra không bao giỏ thiến vắng,
nhưng lần chim vào một thái độ cầu nhàn hưởng lạc đề Hìng quên hoặc
hiện ra đười một hính trke khác, đưới nụ cưới trào phúng chua cay,
ÿ Đương Khuẽ (1839-1902)
Ông người làng Văn Định phủ Ứng-Hóa tỉnh Hà Đồng, gia trung hiển
đạt nhiều giữa buổi Tày
ang, Thông mình, hay chữ, ông đỗ Tiến sĩ năm
1868 được vua Tự-Đức bỗ Tri phẩ Bình Giang, Hoạn lộ cũng lắm bước
m Có lặn ví thiêu bạc kho mà đương chức Bồ chính giảng làm
Những tác phẩm Đương Khuẻ đề lại phần nhiều là những bài hát
nói, lới em di, uyền chuyển, ddi hic duyên đáng Ling le Ông rất sánh
nghề hát & đảo, ngoài cải sở trường về lối Huu bài hát, côn nỗi tiếng đánh
trồng chầu hay Nha phê bình Nguyễn tưởng Phượng có viết về òng những điều chỉ lý: «Sinh vào lúc Nho học tàn cuộc, quốc gia mất chủ
quyền nèn cũng như bạn đồng thôi
la Chu manh Trinh, ông lấy the
rượu cả xưởng, giỏ mắt trăng trong để tiều khiển », Đại đề những bai
ea của ông nông nàn cải chủ nghĩa nhân lạc Ấy, Wiếng động Hương
tích, ông hàn hoạn tự nhủ :
Lang thi-tika còn đâu hơn đấu nhỉ, Chẳng Bồng lai Nhược thầu cũng Thăn-tiêns
Trang 38tại là lên , khi Gỗi Bao Ngo (HOt tte lục thất niên Hồn sự, Trãi trăng hoa
chưa trả nợ hương nguyền ) Gặp khi đè vỡ: đồng lụt
Yên Đỗ còn lo chuyện thuế cao gạo kém, ỏng nghề Vận Đình thị không,
làm Ngự sử trong triềt
GIẢI ĐOẠN 1663-1907
Rã ràng Đệ nhất Nam thiên, Mang di sợ đề quiin-tién mất lòng, 7 That thi đề âá chơi chung!
Song không phẩi òng chỉ chơi cảnh núi, chơi động, hay « chơi giảng »
ya con wa nhất sành nhất chơi cô đầu Khi « Gặp có đầu cũ » (Hồng hồng
khi Tiễn Đào Cần (Tình thư một bức, Hồi tình nhân rằng
Khi Tặng Bảo Của (Quân phí ần dậi, Cờ làm sao ai eke
,„ ông Tam Nguyên
ống thấy nước lạt eñng lại là một dịp chơi:
Cá tôm là bạn nước là nhà
Sen nhật quanh sân mẫu đóa hoa:
Chay lut chi em 08 đó chùa >
Giá thụ lại dạo khúc tà bà‹
Cái tồn chỉ hành lạc đề cho quên hết, quên những lỗi lầm về trước
quên những ti nhục bây giờ, được diễn tả một cách thành thật và can
đâm trong bài Mag rấi sau đây :
Nội tải một mau là máu lao
Dù khán dé dai cũng bia trầm © Việc đã rồi nghĩ lắm lat them đầm:
Liếc gươm trí cất giặc phiền từ đó:
Năm khênh ngâm thơ cho 0ợ ngủ:
Ngài rù uống rượu dới con chơi:
Na phạm con ba đứa mũi chưa chữi
Tiêu khiền dẫn mẫu cô đào nổi-
Ngaài tại dy tha hồ ai gọi
Năng ngựa trâu nâng cũng ngựa lrâu-
Nào đâu đã hẳn hon daa!
2 Chu-manh-Trinh (1862 — 1905)
Ông người làng Phú Thị, phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên Gha từng
, Ông đỗ GIẢI nguyên năm 3ð tuổi, đệ tam giáp
Trang 39
Tiến sĩ năm 31 tuổi (1892) Đỗ đại khoa r
(Hà Nam), lâm quan được mất
được bổ Tri phủ Lý Nhân
y tháng, phải cáo qnan về cư tang thân phụ,
sau đó được cử lâm Ấn sát Hà Nam, rồi Hung Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Năm 1903 cáo qnan về hưu, 2 năm sau thọ bệnh mất,
Chn-mạnh-Trinh 14 một nhà nho có cốt cách tại tỉ phong nhấ Các nghề chơi như cầm kỳ thi họa đếu giỏi cả Ông say mê nhất thú
hát Ä đáo Nhà phê bình Nguyễn-tướng- Phượng đã thuật và xét về ông
như sau;«'Pny xnất thân ở cửa Không sản Trính, Ghnanạnh-Trinh đã
sống một đới phóng tảng, say mê hái ä đáo, mang â đáo đi trầy hội chúa, đặt bài ca xưởng hạa trên sông Ông côn hưng công đên thờ bá Tiên- Dung (một tỉnh sử ngân xưa) và mở hội vai chơi một thẳng về địp
khánh thánh, chính tay ông chọn các mỹ nữ làm quân cớ người Ông
đã bị nhà nho đương thời kết tội phạm vào đanh giáo Lối vui chơi
phóng ting fy cing dé bide Lý do thứ nhất: Con một quan ngự sử,
Chuauanh-Trinh đã chịu một giáo dục nghiệm khắc Thân phụ qua đới ong khong con bị sự bé buộc của lễ giáo nữa Ông đã như được giải phóng khổi cái luận lý khắc khổ vá tự đo hưởng lạc, Ly do thứ hai lá lý đo xã hột Trước nạn vong quốc, sĩ phú hoang mang buôn tải Trừ một số gia nhập phong trao cần vương giải phóng dan tộc, côn thì đượn những
tư tưởng bí quan tiêu cực (Nguyễn Khuyến) hay thỏa hiệp với tần triệu
vôi phỏng túng chơi bởi, trốn lần vào những thanh âm,hình sắc,khoái lạe»-‹
tao, bởi bản chất của ông là một bắn chất nghệ sĩ Cũ như những chí tiết
về tiều sử thì ông ưa thủhát á đào lâm song phân sáng tác này của
ông không có gí cả Thi văn ông để lại có thê thú về hai đề tái là phong
cảnh Hương Sơn và cân truyện nàng Kiên,
a) Nhà th chùa Hương
Chu mạnh Trính trong khi lam quan và lúc đã cáo về thưởng wa di du
ngoạn các nơi danh thẳng Ông thích nhất cảnh chùa Hương tích (ở huyện
Mỹ Đức, tĩnh Hà-Đông), Chính ông đã dự vào ban trắng tú chữa ngoài (chùa 'Thiên-Trú) lại tự tay vẽ kiểu Chúa lá xong, ông cùng văn hữu đẳng
Trang 40sơn đề vịnh, lại với con hát làm bài cho hát, Hiện nay còn lưu lại về đề
tài Chùa Hương này 3 ảng văn của òng : bài hát Hướng Sơn phong cảnh
và bài Hương Sơa nhật trình, Hương sơn nhật trình là một khúe lạc bắt
138 câu kê cuộc hành trình từ Ha Noi qua Hà Đông, phủ Ứng Hòa và tới
chùa Ngoài, chùa Trong ngược đường ra về, Có thể coi như một bài
đu ký Lời văn có chỗ giản đị, nôm aa, theo khuynh hương kề truyện
bình din:
Ta t& hai chit Nam v6,
Tráng xa đã thấu bến đà xên xao
Người thì ra hé thi vao, Gặp nhau mừng rỡ đón chào vai thay Những cũng có chỗ bỏng bảy trau chuốt đầy những bi thuật thi gia:
Chuông cùng gác bông non tê,
Ding cho wér hii Ist gề chùa trong
Lin Khe yén of at nồng:
đến là bat ngái xe trong la nhường
Giữa dòng đâu nước lặng gương,
Mượn chèo ngư phủ đưa đường Đào Nguyên
La cho uta bén mii thuyền,
Mà trầm não gới ngàn phiền sạch không
Đầu trời man mắc xa trông,
Biét đâu nước Nhược non Bằng là đâu
Bài hát nói Phong cảnh Hương Sơn (Bầu trời cảnh bụt ) cũng là
một kỷ công của một cây bút thơ kiêm bút họa
Hồi đầu thế ký này chùa Hương đã ik một trung tâm hành bương
và vấn cảnh cho vô số thi sĩ văn nhân đất Nhiều bài đề vịnh đã
được làm ra trong những địp ấy, Song tất cả đều thua bà
bát trên của
ho Chu Về kiểu my, điệu uyễn chuyền, câm tưởng tươi mắt, tất cả mang
đấu ấn một bút pháp độc đáo,
b) Nhà thơ' của Truyện Kiều
Ở Hưng-Yên là quê hương Chu-mạnh-Trính khi ấy có Tuần Phủ
Lê-Hoan có cao hứng muốn làm như những nhà hào hoạn bên Tầu mới