1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Văn học sử Việt Nam: Giản ước tân biên (Tập 3): Phần 1

411 50 2
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn học sử Việt Nam: Giản ước tân biên (Tập 3): Phần 1
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Sách giáo trình
Năm xuất bản 1862-1945
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 411
Dung lượng 8,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần 1 của cuốn sách Việt Nam văn học sử: Giản ước tân biên (Tập 3) giới thiệu đến bạn đọc những nội dung về: văn học hiện đại giai đoạn 1862-1907; sự suy tàn của Hán học và Hán văn; bước đầu của văn quốc ngữ; văn học hiện đại giai đoạn 1907-1932; sự hình thành của tiểu thuyết mới;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

at NHƯ

“VIỆT NAM VĂN HOC tt

GIAN ƯỚC TAN BIEN

VĂN HỌC HIỆN `

1862 1945

Trang 2

LOI DAN 15

‘CHOONG 1 SỰ 'SUY TÂN CỦA HÁN HỌC VÀ HÁN VĂN

Học thuật và khoa c& sau năm 1863 17 Vide trước

tác bằng chữ Hán 19 Ảnh hưởng của tán thư tân văn

Trang hoa 21 :

CHƯƠNG I1_— NHỮNG NHÀ VĂN NÔM CUỔI CŨNG

tần nôm sau ngày vòng quốc 25 Vấn thời thé

(Bài Hữu Nghĩa — Nguyễn Đình Chiêu — Tôn Thợ Tường

— Phan Văn Trị — Nguyễn Văn Giai — Nguyễn Thị Bích

— Phan Bội Châu — Phan Chu Trinh) 37 Vần nhản lạc

và trào phủng (Dương Khuê — Chu Mạnh Trính —

Nguyễn Khuyều — Trân TẾ Xương — Nguyễn Văn Lạc) 41

Trang 3

Chữ quốc ngữ (Nguồn gắc chữ Việt la tình — Cô AI,

de Rhodes va cuốn tự điển của ông — Chữ quốc ngữ sau

AI de’ Rhodes — Kết luận về chữ quốc ngữ) 58 Những bước đầu của văn quốc ngũt (Trước khi người Pháp đền — Sau khi người Pháp đền) 64 Trương Vĩnh Hý (Cuộc đời — NHÀ bác học ~ Nhà chính trì — Nhà vấn)

67 Văn quốc ngữ của Trương Vĩah HỶ (Phin văn

cũ — Phần văn mời 76 Huỳnh Tịnh Của và pho quốc am tự vị của ông 80 Hết luận về sự manh nha văn quốc ngữ & Nem Rỳ 81

THIÊN THỨ HAI GIAI ĐOẠN 1907 — 1932 LỠI DẪN 89

1— KHÁI QUẤT VỀ GIẢI ĐOẠN ¡907 — 1932 Hoàn cảnh và từ trào (Phong trào duy tân Đồng Kinh

— Bỏ đuốc duy tần vào tay bọn tần học — Sự phân động dung hòa của phải Nam Phong) 9l Mấy yếu tính của giai đoạn văn học (Một giai đoạn gây dựng côn hướng nhiều về quá khử — Vai trò tiên phòng của bảo chỉ —

Sự khuynh hưởng vẽ biến kháo và học thuật — Sự quan trọng của dịch thuật — Ngôn ngữ văn học của giai đoạn)

100, CHƯƠNG TL.— NGUYỄN VĂN VĨNH — ĐÔNG DƯƠNG TẠP CHÍ

Than thế Nguyễn Văn Vinh 104 Nha báo tiền phong 105 Đông Dưỡng tạp chỉ 107 Tư tưởng

duy tân cấp tiến của Nguyễn Văn Vĩnh 110 Người

chiến sĩ của quốc ngữ 116 Nhà văn dich 120,

Trang 4

Kết luận về Nguyễn Văn Vĩnh về Đông Dương tạp

chỉ 122

CHƯƠNG 1II—- PHAM QUỲNH — NAM PHONG TẠP CHÍ

Lược thuật thèn thể Phạm Quỳnh 125 Nam Phong

tạp chỉ (Gốc gác và trường hợp ra đời — Blục dich —

Nội dụng tờ bảo — Các giai đoạn của từ bảo -— Các cây

bàt 126, Văn nghiệp của Phạm Quỳnh (Phân loại và

1838 Tư tưởng bảo

thủ (Con người bảo thủ — Cái gì là quốc tủy — Bảo

liệt kè — Luận chung về giá trị)

thủ với tiến hồa) 187 Chủ nghĩa quữe gia (Làm văn

hỏa và giáo dục troờc — Việc suy tôn Truyện Kiểu —

Vụ xich mích với òng Nghề Ngô — Giai đoạn vận động

chỉnh trị — Từ lý thuyết đền thực hành) 146, Vide xay

dựng một nền học mới (Việt văn quốc ngữ — Học

ting Việt = Luyện văn xuôi và văn nghị luận — Dùng

chữ Hân Vitcm — Soạn tự điền và văn pháp — Ban

VỆ quốc học — Học tập và thâu thải Tây phương — Dựng

một khoa cổ điền học Việt Nam) 170 Nhà văn Phạm

Quỳnh (Nhà khảo luận ¬- Nhà phố bình — Nhà du kỷ

— Văn Pham Quỳnh) 232 Mết luận về Phạm Quỳnh

và tạp chỉ Nam Phong 2H

CHƯƠNG Iv CÔNG VIỆC BIÊN KHẢO VÀ PHÊ BÌNH

Xét chung về biên khảo trong giai đoạn này (Một

giai đoạn phổn thịnh vẻ biên khảo —~ Bitn khảo về

kinh học tritt học — Biên khảo về sử học và cận loại —

Biền khảo về văn học) 248 Phan Kể Bính (Cuộc đời

va van nghiệp — Sách Nam Hải và Hưng Đạo — Việt

Nam phong tục — Việt Hân văn khảo) 257 Nguyễn

Hữu Tiên (Các tác phẩm dịch thuật — Việc biển khảo

về văn và sử Việt Nam) 272 Trần Trọng Kim (Thân

thề và văn nghip =— Trần Trọng Kim nhà giáo duc

mới — Vidi Nam sử lược — Nho giáo — Kết luận về

Trần Trọng Kim) 262 Phan Khôi (Cuộc đời làm bảo

Trang 5

CHUONG

va viét văn của Phan Khôi Ở Pham Khôi nói chuyện thơ Ở Phan Khôi phản kháng Nho giáo Ở Phan Khôi xây dựng văn mới) : 314,

V SỰ THÀNH HÌNH CỦA TIỂU THUYÊT MỚI

Từ truyện nôm đến tiều thuyết (Loại tiểu thuyết

Ở Tiểu thuyết với truyện nôm -~ Phong trào tiểu thuyết dịch Ở Một đạo sử văn nghệ mới: Phạm Quỳnh) BI8

Những bước đầu của tiều thuyết mới : Những

thiên ký sự (Nguyễn Bá Trắc Ở Nguyễn Đôn Phúc Ở_ Đông Hồ ~~ Tương Phố Ở Tân Đà) 325, Những đoắn

thiên của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tén (Tác

phẩm của Nguyễn Bá Học Ở Mồi trường cúng tư tưởng

Ở Nghệ thuật và văn chương Ở Tác phầm của Phạm Duy Tôn Ở Vài nhận xét vẻ những đoán thiền của Phạm Duy Tôn) 346 Tiều thuyết đài: Tổ Tâm, Quả đưa

đổ (Tiều thuyết Tổ Tâm của Hoàng Ngọc Phách Ở Hoàn cảnh và chủ ý Ở Nghệ thuật mới Ở Người đương thời voi TS Tam Ở Tiểu thuyềt Quả dưa đồ của Nguyễn Trọng Thuật Ở Tư tưởng của tác giả Ở Nghệ thuật vả văn

Ởể Kết luận) 3đã, Tiều thuyết miền Nam : Hồ Biều

Chánh (Sự tiền bộ của tiêu thuyết ở miễn Nam Ở Tác

phẩm của Hồ Biểu Chánh Ở Tắnh cách chúng về kỹ thuật Ở Bức tranh xã hội miễn Nam Ở Nha vin đạo lý Ở Văn

Hổ Biểu Chánh) 376,

CHƯƠNG VIỞ THO VA CAC NHÀ LAM THƠ TRƯỚC 1942

Những tỉnh cách chung của thắ ca trong giai đoạn

nảy (Một giai đoạn ôn tập lại tất cả các thể loại Lich

triểu Ở Tình mrạng đỉnh đồn về nghệ thuật Ở Điểm qua

các khuynh hướng và các nhà the) 390 May nha tho

cố thắ nghiệp (Đoàn Như Khuê Ở Trấn Tuấn Khải Ở Tương Phố Ở Đông Hó) 399 Một gạch nổi sang Thơ" mới : Tân Đà (Cuộc đới hoạt động cho văn học của Tân

Trang 6

CHƯƠNG

Đà — Những khuynh hưởng tư tưởng trong thơ Tần Đà

— Nhà thơ lõng mạn — Hình thừc trong thơ Tin Da) 407,

THIEN THU BA GIAI ĐOẠN 1932 — 1945 1— KHÁI GUAT VỀ GIẢI BOẠN !932 ~ 1945

Hoàn cảnh và tư trảo (Sự biền thải tong giai ting

xã hội — Sự canh củi phong hóa và thẩm quan — Sự

diễn tiền của giai đoạn) 419 Mấy yếu tính của giai

đoạn (Sự ly khai vời những bin tam học thuật quốc gia

— Sự phát triển của tiểu thuyềt và thơ — Ảnh hưởng

tăng gia của văn học Pháp — Sự canh cải trong ngôn

ngữ văn học) 496

CHƯƠNG i1— Ty LỰC VĂN ĐOẰÀN MẤY TIỂU THUYẾT GIÁ

TỰ LỰC

Tự lực văn đoán (Người sảng lập ; Nguyễn Tường Tam

— Từ từ báo đền văn đoản — Quan điểm của nhóm về

xã hội và nhân sinh — Téa chi và đường lôi sing tác

của văn đoàn =— Những cở quan truyén bá của văn đoàn

— Tổng luận về Tự lực văn đoàn) 430 Nhất Linh

(Nho phong, Người quay tơ hay l4 giai đoạn cựu sho —

& Pháp về, từ Tháng ngày qua đền Nẵng thú —¬ Đoạn

tuyệt, Lạnh lòng, giai đoạn luận để dữ dội — Đôi Bạn,

Bườm trắng, trở vẽ phô diễn tâm tư) 447 Nhải Hưng

(Những tiêu thuyết về di dnh — Những tiều thuyết về

gia đình Việt Nam — Những tập đoàn thiên và đoàn

kịch) 463 Thế Lữ' (Những truyện kịnh dị của Thê Lữ

— Những truyện lãng mạn núi rừng — Những truyện

trình thảm), 478 Thạch Lam (Nhà văn có khuynh hướng

Trang 7

xã hội — Nhà văn mô tả những trạng thải tình cảm —

Nhà văn chuyên vế đoàn thiên) 489,

¡— NHỮNG TIỂU THUYẾT GIÁ VIẾỆ CHƠ NHÀ TAN DAN

Nha Tan dan 501, Nguyễn Công Hoan (Những truyện

ngân của Nguyễn Cong Hoan — Những truyện đài —

505, Vũ Trọng Phụng (Những phòng

Cây bút tả chân)

êu thuyết — Nhà

sự của Vũ Trọng Phụng —— Những văn xã hội — Cây bức tả chin) St, Lan Khai (Tiểu

huyệt đường rừng —

thuyết lịch sử của Lan Khai Tiều tỉ

Tiêu thuyết phong tực, xã hội — Văn Lan KhaQ 52L,

Lê Văn Trương (Mây khuynh hướng cốt truyện ~~ Con

người hùng và những lý thuyềt của Lê Văn Trương — Giá trị nghệ thuật — Văn Lê Văn Trương — Kết luận

532, Mấy tiều thuyết gia khác

g — Trương Tửu — Ngọc Giao — Đức Tuần — Nguyễn Triệu

về Lê Văn Trương)

(Vũ Bằng = Nguyên Hồn Lưu Trọng Lư — Bai Luậo ð41,

1y THƠ VÀ CÁC NHÀ LAM THO SAU 1932

tho the méi — Tht aio 12 thơ mời

— Sự đổi mới về thể cách — Các nhà Thơ mới 1932 —~

546 Thé Liv 586 Leu Trong Lu 561 Kuan

ð75 Tủ Mỡ 583 Những nhà

The mới (Phong

19463e+

Điệu, 567 Huy Cận

thơ: khác (Quách Tân — Bai Đức Tuân — Nguyễn Giang —

n — Thai Can — Vũ Định Liên — Nguyễn Nhược phập — LẺ Văn Bài — Tein Huyển Trân — Nguyễn Bình

— Thàm Tâm — T.T Kho ~ Han Mặc Tử — Chữ Tan Viên — Phạm Huy Thông — Thanh Tịnh — Té Hanh)

lan Seo

vy MỆT VĂN LOẠI MỚI : THOẠI KICH MHỮNG NHÀ VIẾT KỊCH ĐẦU TIÊN

Từ tuồng hát ta đến hịch bản tay 299 VIỆC dự

nhập thoại hịch & giai đoạn trước 661 Một kịch

Trang 8

CHƯƠNG VI— BỘ MẶT ĐẶC BIỆT Cla MAY NAM 1940 — 1945

Từ hồi còi báo động đến cơn gió phục hưng 610,

Sự thành lập cáo nhóm, Nhóm Tri Tân 615 Nhóm

Thanh Nghị 620 Nhóm Hân Thuyên 62L Sự trối

đậy của văn học miền Nam 629 Sw phat triền

của biên khảo và phê bính 632 Tình hình sáng

tác Việc tiếp tục những đường lõi eũ; Nguyễn Tuân,

Vũ Hoàng Chương 610 Ý hướng đối mới trong

tiểu thuyết Truyện xã hội và tranh đấu 645 Những

néo đi mới của thơ (Thơ tá chân quê hương — Thơ

hùng trắng — Thơ thuấn tủy Xuân Thủ — Thơ triệt ~—

Kịch thơ) 650

Trang 9

.PHẦN THỨ TƯ

_VĂN HỌC HIỆN ĐẠI

1862-1945

Trang 11

Thowe lich sử săn học ta khoảng I862-1907 này chính là một giai đoạn sừa chấm đứt Văn học lịch triểm uừa mở Tân cho Văn học hiện đại, túc là một

dhời chuyền tiếp vậy Hiột thời chuyền tiếp mà léo đài đến thé là bởi sự cách biệt quả lên giữa hai

lờ lên, hai thé gidi, hai van mink, Gia di dit véi

ching ta, vide tiép xtc voi Tédy phuwong lúc đầu lại

là một điều cưỡng bách, nên việc từ bè những nến nếp sanh hoạt, suy tơ, điển tà theo một ý thức hệ từ

ngắn xwa đề đối mới đã diễn ra từng bước chệm chap,

Cũng bởi một lý do tất thật tê nữa là cuộc chỉnh phục của người Pháp na đến mình mất nước va di tào con đường canh tân lã lấn hối kéo đài Sam khi

bị cdt mat Nam kỳ (1865) nước Việt Nam phong kiền

con sing gần hai chục nếm độc lập uê chánh trị tà van

hỏa, Rải sau khi cẢ đất nước bị thin tink (1884), vite

bình định của người Pháp, việc thành lập một cơ câu thống trị, việc thực hiện những liên lạc khả đi cho

phép cufc sing chung, tất cà đồi hồi hơn hai chục năm nữa Thành ra, từ khi tổng súng làu Tây nd & Da nang (859) cho đến khỉ trong nước người mình ñết đường

tựa quậy về quân sự, mới khua chuồng gỗ mố mẻ

hội duy lớn (1907) một nha thể kỳ đã trồi qua,

Trang 12

Những người làm vdn học còn là nha gia sống giữa

làng nho cà Tuy nhiên bồi những nguyền nhân nội

tại — ở ngày thời gian nước còn độc lập — ăn học

lịch triểu đã vào tuổi suy của nó Nho học mà triển

Nguyễn phục hưng đến dà di uào can đường kính điền

cẩn cỗi VỀ uăn nôm tì sau con gió Thừa Lê, tình

trạng bày ra đình đền, nêu không nói là suy sứt Rồi

họa ngoại xâm ập đền Triểu đình và sĩ pha không

cừu được nước, Học thuật, uấn chương đồ theo với

thành tri, Chit Han, van Han mốt dẩn địa tị, mà cấu

ném của nhà nho cũng di dén 1di thoi Van hoc lich

triểm thể những hơi tần ngay trên đi Bắc,

Tronc khi ấy th ở Nam kỳ là đất méi, chwa nhiềm sâu những truyền thông quốc gia, lại bị người

Pháp chiêm trước và coi làm thuậc địa, thì hành một

chink sách trực trị một cảnh tượng canh tân đế sớm

bay ra Một nên văn học mới manh nha ở đây với

sự truyền bà một thử uần tự mời, chữ quốc ngữ Tuy

mhiên, miễn Nam cũng không tự đứng ra làm cuộc

cách mạng văn học được, mà phải đợi cho sau khi thê

lực Tây phương trên ra Đắc, uấn học cũ bị lay động

lận gốc rỄ nổ, diệt đổi mới tà kiến thiết mới thật sự

bắt đếu,

Trang 13

CHƯƠNG ï

SU’ SUY TAN CIA HAN HQC VA HAN VĂN

L HOC THUAT VA KHOA CỬ SAU NAM 1863 Năm 1862 nước ta mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ Ba năm sau

(1865) cả lạc tỉnh vào tay người Pháp, Hai mươi nấm sau nữa (1885)

toàn thể giang sơn Việt Nam khuất phục dưới bóng cò Lang sa Lịch

sử: Việt Nam theo cơn vong quốc bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới lạ so với từ xưa Việc canh tân, việc Âu hỏa rồi ra sẽ, đứa chứng

ta đi rất xa Tuy nhiên buổi đầu eñng phải một thời gian khả lâu để cho cái x8 hội cũ kỹ ngàn xưa chuyền mink Nhất là ở địa bạt học thuật,

nền Han học truyền thống lịch triều đồi hỏi cả nửa thể kệ đề suy tàn Nam :Kỳ mất rồi (1865) việc học, việc thỉ ở phần còn lại của nước Nam vẫn không có gì thay đổi.Những bản điều trần của

Nguyễn-trường-Tộ (1898 - 1871) v8 chink trị và bọc thuật (1863) không

gây được tiếng vang nào Cho đếu sau cơn «ngỗa giải », vua Dực Tông

bắng, Trung và Bắc nhận lấy số phận « bảo hộ», chủ quyền đã về tay người, song phần vì ta vẫn chưa thức tỉnh trên đường canh tân, phần

vì người Pháp lúc đầu muốn lợi dụng những giả trị sẵn có đề đễ dang

jung lac lop trí thức nho gia, thì phục nhân iâm, nên khoa ca Han

bọc sang đến các đời vua Kiến-Phúc Thành-Thải vẫn tiếp tục đền đặn

Đời Thành-Thải mở đến 7 khoa Hội, thổ thức thi cử y như cựu lệ

(từ khoa 1889 đến khoa 1907) Mãi đến năm 1906 một hội đồng cải cách

giáo dục mới ra đời, sửa đồi việc học, việc thi Chương trình gồm 3

bậc Ở xã thôn các thầy đồ day chữ Hán, dạy cả quốc ngữ nữa đề luyện học trỏ đi thí Tuyền sinh Ở các trường phủ huyện của các quan Giáo Huấn, học trò (đã đỗ Tuyền sinh) học chữ Hán và quốc ngữ đề

đi thi Khỏa sinh, Ở các trưởng tỉnh, các quan đốc học đạy học trô (đã

Trang 14

Thị Hương cãi cách (áp dụng khoa đầu uẫm Du

đề có 4 trưởng : Trường nhất ra õ đạo vău sách (hối về

luân lý, NaucBắc sổ, Đông dương chữ trị, hình luật) Trưởng nhì thí

hai bai ludn chit Hau g bathi 3 bài luận quốc ngữ và mật bài

tình nguyên dịch Pháp văn ta quốc ngữ Trưởng từ là nhúc hạch, ra

Trên cùng Thi Hội và Thì Đình cái cách (âu dụng khoa đầu

năm Ðuy-Tân 1~— 1810) có 4 kỳ sách (ð bài Rinh, 2

n,# bài Bắc sử và 1] nhì: một bài chiếu

hoặc bài Dụ và một bai sé thu, i bai vin Blu, @én ding Wi Kim vin —

Ky ba: mdt bai ludn cbt Hán và 3 bài luận quốc agữ — Kỷ bốn :10 đạo

những người Hnh nguyện thi chữ Pháp (1

ngữ, đầu bài đo tỏa Khâm sứ ra) Lối chí

bằng điềm từ @ đến 20, Đanh hiệu phong cấp cần cứ theo số điểm,

Cộng các điểm thi Hội và Đình rồi chia làm 6 thành, được 20 điềm

là bài Kinh nghĩa bái cô đều đã bị bãi bổ, chỉ côa lại bài vẫn sách (rong

đó không phải chỉ hồi về Tử Thư, Ngũ Kính và sử Tầu như thông lệ về

trước, mà hỏi về Yiệt sử cùng các Khoa học mới của Thái Tây như cách

trí, địa dư, thời sự), và mấy thể công văn, tất cả cũng như bài luận, viết

hằng Kim văn tức là văn xuôi chữ Hán,

2— Vin quốc ngữ và Pháp ngữ bất đầu có một chỗ ngồi trong

Những bài luận quốc ngữ ở các

in ra bling chit Han

chỉ id pha thuge

chương trinh tuy

khoa đầu tay đòi hỏi v

Môn Pháp văn thủ ở Hương cũng như Hội đền « bất nguyện giả bất

*ởng quốc ngữ m

cưỡng »,

Trang 15

&SƑ SUY TÀN CỦA HÁN HỌC VÀ HÁN VĂN 19

Song con duy tàn đã thôi, chế độ cải cách này không tôn tại

được bao lâu Ở Bắc Rỷ (hi Hương cón được bài khoa nữa (1912 và 1915) vôi bãi bỏ, Ở Trung Kỷ thì Hương côn được thêm 1 khoa 1918 nữa để đưa điến khoa Hội chót vào năm 1918, Với khoa Màn Ngọ nãy, chế độ khoa

cũ Hản học cáo chung sau tâm thị

kỹ rười ngự trị trong học thuật và

phong tục nước fa (Năm 1075, vua Lỷ Nhân Tôn mở khoa Tam trưởng,

fy lA khai sảng ra nha khoa)

H.— VIỆC TRƯỚC TÁC BẰNG CHỮ HÁN

Han vũn ở địa hạt biên viết eling vậy, cũng côn sống sót trong một

thời gian khả đài, Trừ ở miền Nam ngưới Pháp trực tiếp cai trị, công

van

sto 18 di nhiên phải đăng chữ Pháp, côn ở Bắc và Trung, Hán

tự vẫn tip tue la ther vin ty truyền đạt mệnh lệnh của chính phổ cho đến hết thế kỹ 19: Nhất là tùng với triều đình Huế thì nó són đông vai

văn tự chỉnh thức cho mãi đến ngày BẢo Đại về nước (1939),

Quốc sử quản tiến tục những công trình biên khảo :

1

đười đời Tự Đửe nhưng mãi đến năm Riến Phúc (1884) mỏi hoàn thành

Bộ Khâm định Việt sử Thông giảm Cương tnụe tuy soạn ra

nhưng các nhà biên khảo đã bố qua 6 tỉnh Nam Ky coi như đất đã

nhướng cho người Pháp rồi San đó đến năm 1909, Tổng tài Cao Xuân

Dục đem bộ Đại Nam nhất thông chí cũ đọn lại, nhưng chỉ chép về các

tỉnh thuộc xả Trung Kỳ má thôi,

tiếp tục sáng tác cho hủng riêng của mình

hạt thí văn, các nhà nho, các bậc khoa cổ lẽ đi nhiên vẪn

thấy những

thi vẫn tập : QuŠ sơn tập của Tam Nguyên Ngư

tập của Tiến sĩ Dương Lâm, Nam chí tập của Hoàng giáp Nguyễn

in Khuyến, Đường lâm

Thượng Hiển Tủy nhiên ở vườn văn Hán cuối mùa này, cảnh sắc tiêu điền, Có lẽ không ai nghĩ đến đua tài cũng Lý, Đỗ, Ấu, Tô nữa Ngướ

Trang 16

0 ` GIAI ĐOẠN 1862-1907

ta làm văn thù tạc, hiểu hỉ nhiền bơn Đi vào những bài có chút cẩm

hứng cá nhân thí chính là tiếng thơ của thời ly loạn, tân sự vong quốc

thất thời, thô lộ ra trong lời nghẹn ngho hoặc chân nẵn

Đương thế LÀi thứ hà sở: dụng 2 Lão lại quan đới thượng da làm, Loạn lụ xuân sắc chân 0ð lại

Da khề nhân tình tầng bất kham-

Mấy cầu trên của Nguyễn Khuyến (trong bài Xaân nhật thị chư

nRÖ đỗ tóm tất cái tầm sự yếm thế của nhiều nhà nho trong cơn vong

Song trước nạn nước, nhiều nbà nho khác đứng lên hãng bài mua

đại sự và đăng cầu thơ chữ Hảo đề kỷ thác chỉ khí hoặc tayến truyền

trong quốc dân, Đó cũng là một khuynh hướng đặc biệt của Hán vẫn

dưới ngòi bút nho gia thời này, GIẢI nguyên Phản bội Châu từng viết

mấy thiên « Huyết thư » (au cầu huyết lệ thơ, Hải ngoại huyết thụt

Ngục trung thư) để cỗ động lông yêu nước của dân chúng, Trong cuộc

đời bôn ba, một lần tử biệt anh em, ông đã có bài lưu giấn rất bí trắng

này :

Sink vi nam tử g&a vi ky, Khang héa can khén tự chuyén di-

U bach nién trang ta hữu ngã

KHI thiên tdi hạ cánh 0ô thùu, Giang son id hi sinh đồ nhuế, Hiền thành liêu nhiên tung diée si- Nguuện trực trường phong đồng hải khú

Thiên trùng bạch lãng nhất tồ phi-

Phỏ bảng Phan chu Trinh và Trần quý Cáp sốt sắng thức tỉnh trước,

nhiệm vụ quật cường mà thấy triều đình n mè cứ kéo đài mãi lối khoa

cử hỗ lào, đã gởi nỗi bất binh vào bài thơ rất truyều tụng này:

Thể cục hồi đều dĩ nhất không

Giang sơn sô lệ khấp anh hùng

Vạn đân nô lệ cường quuần hạ,

Bái cỗ uăn chương lúu mộng trung

Trường thừ bách niên cam tháa mnạ› `

Trang 17

so suy rAn CUA HAN HOC VA HAN VAN „

Bất tri ha nhi xuất lao lung

Chữ quân dị tất oâ tâm huuết, Đăng hướng tư oăn nhất khán thông

Đỏ là thử văn chương nhất thời cẩm hừng song giọng khí khải con rung động t

Ngoài rủ cũng nền ghỉ nhận một chuyỂn hướng tuy ngắn ngôi của

Hản vấn ở nước tạ trước khí rút lai, ấy Hị sự chuyền hưởng qua

ngành văn mới và bảo chu

HI—- ẢNH HƯỚNG CỦA TẤN THỨ TÂN VAN TRUNG HOA

Ái cũng biết Hân học của nước ta là từ Trung hoa đem sang nay

công phả các thành trị cổ cựu A Đồng diễn ra khắp noi, tại Việt-Nau

tại Nhật-Bản, tại Trang-Hoa, Riéng & Trung Hou, sau Nha phiến chiến tranh (1840-1843) đến loạn Thải binh (180-1865) rồi cuộc tấn công Anh, Pháp liên quân (1860), triều đỉnh nhà Thunh cử phải mỗi bàn lùi thêm

tree thể lực củu Tây phương Nhất là san chiến tranh Triền tiên phải

thua đà Nhật nhướng cho Nhật đầo Đái loan (1895), các nước Tây phương bên xông vio yên sách đổi đại, giành khu ảnh hung, Người ta nói đến

ST phu Tau thấy nước Nhật dng tân biển pháp mã chồng cường think nên muốn bắt chước Tiến sĩ Khang hữu Vì dàng thơ lên vuù

Trang 18

Quang Tự nói các lẽ cần phải duy tân, Hữn Ví lại nhóm họp những sĩ

tử, khai hội diễn thu

trò là Lương khải Siêu viết trong báo Thời vụ ở Thượng hÃI những

vết về các phép cải cách cho được giần mạnh Học bài lận về thời sự với một giọng văn «ó sức mạnh lột đổi được bộ

óe nhân thần cần côi cña mấy trăm triện dân Đầu» Ảnh hưởng phe đuy

tân mở rộng trong quầ# chúng Dư luận ng hộ càng ngày cảng sỏi nồi

Năm Qnang Tự 34 (1598) vua Thanh mới triệu Khang hữnVi vào bệ

kiến, cho làm quan đề cũng mựn việc biến pháp Cuậc «Mada Tuất chính

biến » này rồi ra kết quả eïng chẳng ra sao Triền đình nhà Thanh bị

¡ lại, và Khang, Lương

những thế lực th cựu thúc đẩy lại phần đột

mới thoát khối bị chém đần Song đó

phải nhanh chân chạy sung Nhậ

cũng là bước đầu trên con đường đồi mới cña Trung Hoa đề đưa đến

cách mạng Tân Hợi sau này (1911), Và thầy trỏ Khang, Lương, tủy không

lam được gi về chính trị những đã gây được những ảnh hưởng rất quan

trọng Ở phạm ví học thuật và tr trởng, Họ đều Hà những nhà nho thấm

nhnần cái Hán học truyền thống, nhưng trước thôi cuộc diễn biến, đã

nhận ra những nhược điểm của nền học thuật ấy và ra sức hỗ hào

cãi cách,

Theo những lời kêu gọi của họ va didi sy thie bach cha dir

Inin cha tinh thế, cáo nhà cần: quyền nước Tầu phải tim cách canh tân

học thuật Năm 1898 sua Thanh hạ chiếu bố lối văn bát cỗ trong các

k thilấy sách luận về thời vụ thay vào và thiết lập trường Đại Học mới

đầu tiên ở kinh đỏ, Năm 1906 lại hạ chiến

những khoa Hương và Hội,

Ce quan học chính các tỉnh tử nay chỉ chuyên tròng nom việc cáo

học đưởng, Chế độ khoa cÏỉ ở Tầu khổi lên từ Tủy Đường đến

đây, sau hơn ngàn năm, chấm đứt đồ được Uuợy thế bằng chế độ học

hiệu Những trường học mới được thiết lập không phải đề nghiên cứu

kinh sở cổ điền nữa, mà đề học ngoại ngữ ngoại vũn, và đào tạo

những chuyên viên thực dụng : Trường Đồng Văn quản ở Kinh đỏ (chuyên

dạy ngôn ngữ các nước), trường Quảng Phương Ngôn quản ở Thượng

Hai, trong Thuyén Chinn học hiện ổ Phúc Kiến, Thương sự học đường

ở Thiện Tân, Vũ bị học đường ở Hồ Bắc, Đông thời một ngành vẫn học

mới xuất hiện, đó là phiên địch và báo chỉ

Người đi đầu trong việc phiên dich An văn là Nghiêm

Phúc Ông đã đem Husley (Hách Từ Lè) và nói chung triết hoe Tay

Trang 19

Sữ SỦY TÀN CỦA HÁN VĂN VÀ HÁN HỌC 3

Phương giới thiệu với người Fâu tí trước vẫn tưởng người Tủy phương chỉ có súng Ông binh thuyền chứ không có thánh kiểu chứ từ, Đến Lâm Tự phiên địch hơn trâu tiều thuyết Anh, M¥, Pháp, Nga, Na Uy,

"Thuy SẼ, BÍ, Tây Ban Nha, Rồi Mã Quân Vũ, Tô Man Thù dịch thí văn

của Byton, Gocthe Người Tầu đọc các sách phiên địch Ay mới bất

phổ biến tư

Lương Nhải Siêu Ông sáng lắp ở Thượng Hải tờ Thới vụ bảo, có Tế đây

là tứ bảo đầu tiền ở Tâu, sau chay sang Nhật, lại ra tờ Tâu Dan ting đão hiều vẫn học và văn mình Tay Phuong hen Song vid

tưởng mới cậy vào bảo chỉ nhiều hơn, Người đL +

bao Ong lại côn lầm nhiều

nâu hoặc vận động mà nhất lí về học thuật, cái Hâu học tà núnh hấp

thụ của Tầu tử ngàn nẩm, trước khí rút HỆ côn truyên sàng nước tinh

lan sông biến chuyển cuối cũng cla nó Tân (hư vá vấu mới Tâu được

truyền sang nước ta, CA wot lop oho sĩ nước tá thời bẩy giờ đều ham

mé tim học ở đó những kiểu vẫn mới về Tây phương cũng như những

tư tưởng duy tần cáu thiểi trước thối cuộc Cải Hâu học tuy mới nhưng cuối múa này tất nhiều chẳng đủ lực để tạo vũ tác phầm song

Trang 20

anh bdo chí bằng Hản vău này da đề

lại vất tích cả ở trong nước, Tờ báo đầu tiên ở Bae Ky, Bai Nam Bong

‘Vin (do nha Kiwi: liege xuất bần năm 1890) chính bằng Hản văn, Năm 1905

tờ Đại Việt Tân bảo ra đới một nửa là chữ Hán, Cho điến nấm 1917 tờ Năm

Phong ra đối còn một phần quan trọng chữ Hán do các ký giả nho gia Phan

hôi, Nguyễn bá Trạc đấm nhiệm Nhưng khoa cổ bổ röi, Hản bọc cũng

bổ, độc giả hiểm đĩa, Phần Hán văn ở báo Nau Phong cử thu hep, ming

dần, rồi một sớm biến mất,

Từ đầy, cây bút thí văn chit Hán Lrong tay nguồi Việt đi đần

vào chỗ chết Nói đúng nỏ còn sống một thời gian, bùng bại, sa doa,

š trên hè phố trước đây mỗi ngày

trong những tiệu đốt trưởng hiến hĩ,

Tốt đến Hoặc nó rút lui vào trong phạm ví cô quạnh cũa những nhà

tra không trí âm, nhiều khí muốn mài lại nghiên mực cạn,

Trang 21

CHUONG II

NHỮNG NHÀ VAN NOM CUO CUNG

i— VAN NÔM SAU NGÀY VONG QUỐC

Sau ngày vong quốc, cũng với chữ Hàn, chữ Nómi cũng cón lồn lại

một thới gian đái, lâm thử văn tự phổ cập cho người mình viết quốc

văn, từ trong việc biên chép nhật dụng đến việc sáng tác thí vin Do

đó chúng ta có trong văn học sử phản văn Nôm giao thời này với những

nha văn Nôm cuối cũng,

Tất nhiên chúng ta nghiên cửu và xếp loại vâu học không cấu

né & hinh thite chit vit Vau Nom ở đây chỉ có nghĩa là Việt vẫn Lịch triệu, Thứ chữ ấy đành rằng tự nó không đỗ đề phân định sắc thái của

của họ, Nửa sau thế kỹ 19 náy, Việt vẫn vẫn đo ngói bút nho gia viết ra

với tư tưởng và tấm lý của họ, tuy cỏ chịu ảnh hưởng của thới cuộc mời, song vẫn giữ những đướng nét chỉnh yếu cố hữu, Chẳng phải chỉ thứ chữ bọ viết vẫn la chữ

hình thức, văn học họ sảng tác côu tiếp tực rất gin, rất thẳng, văn học cổa các thế-hệ vẫn gia tiền bối,

ởm, mà nói chúng, nội dung cũng như

Xét tính hinh văn nốm vào giai đoạn chối múa này, ở một mặt người ta có thể nói đến một bước phát triền rõ rệt, Hân học sửy kêm, tứ

địa vị đếu lực lượng, Xã hội loạn lạc đầy nho gia thất thể vào cuộc sống

binh-đân đôi khi eơ-ege, Những yếu tổ Lịch triền coi làm điêu kiện thuận

lợi cho việc phát triều văn Nóm ấy, ta thấy by ra đây hơn cä mọi giải

đoạn về trước C Âu nôm na ví vậy mù Thành câu đầu lưỡi của cả những

Trang 22

bảo khoa giáp Không kề việc ngoại xâm đưa đến sự nầy nở một tỉnh

thần quốc gia làm cho người ia càng cớ khuynh hướng trổ về với ngôn

nat cla dan tộc của đồng bào

Tuy nhiên nhìn từ một nu}

khảe thì thấy văn Nom ổ vào gia-doạn

suy tàn cña nỏ, Văn Nôm nho gìa do Hún văn mà ra Gài mạch nước bẩy

lân nuôi nắng nó nay đến lúc bị cắt đứt bị khô kiệt Quốc văn nếu có vì

những yếu tố về thời cuộc, về dân tộc mà đôi hồi nhát triển; tất phải

mổ ra một hướng khác Các văn sĩ nho gia sắp sửa đóng trọn vai tuồng

thuật~ nHững thành công vính quang của thời Lè mạt, Nguyễn sơ — không

thấy xuất hiện nữa Truyện Kiều là «tiếng hải của chim thiên nga» Hình

thức ngừng tiến triển, Bài hát nói của Nguyễn công Trứ là bước tiến

cuối cùng của thể cách văn Nom, Sang nira sau thế ky 19, ngay những

trong nhào lạc, Nhất là bài thơ Đường luật bắt cú hay tứ tuyệt được sống

lại một thời thịnh bảnh, Tóm lại trừ một cnốn Hạnh Thục ca của

Nguyễn thị Bích được hơn ngàn câu còn toàn là những loại ngắn, để,

hợp với sự cẩm hứng và cất bút trong một lúc,

Cảnh tượng suy tần lại bày ra rõ hơn ở nội dung, Từ tưởng nho gia dén đây kém tầm thước và mất hết lực lượng Nguyễn Công Trứ,

Nguyễn Dn, Củo bá Nhạ đã đem cảtâm-hồa và thức lực họ trút vào tác

phầm Những niềm tín cũng như những nỗi khổ của họ, họ đã nói lên

dứt khoát, với tất cả mhiệt tỉnh Qna hậu bán sau của thế kỷ, cơn đổ vỡ

chánh trị kéo theo cơn đổ vỡ học thuật Những giá Hị tư tưởng ngìn

xựa, những tiêu chuẩn cho đạo lý hoặ

chân lý đi đến sụp đỗ, Chữ Trung, chữ Hiến nho giá chẳng côn gì thiêng Hệng nữa Một họn

công nhiên phá rào nhấy ra hợp tác với địch Nhiền người

khác tuy không theo song bụng đầy hoài nghĩ và chán nắn, Những thu

Bữ cực thái lai, thiên đạo tuần hoàn, tư tưởng cốt cản trong báo nhiêu

Trang 23

NHỮNG NHÀ VĂN NÔM CUỒÖI CÙNG : 27

CA hhững cẫm hứng thanh thoát êm đềm đã để ra một Mai Đình,

`xnột Bich Cân cũng đến chỗ khô cạn Người ta có mộng chăng thì toàn là

những mộng nặng nề chếc lát mà một tiếng ếch bên tai một con gid

tần lạnh lẻo đỗ làm thức tỉnh trườc thời cuộc bị đát, Ở tư tưởng Lão

Trang, chỉ côn lại những mảnh xụn, yếm thế không khí phách, hưởng

Tạc không nghệ thuật đề nuôi dưỡng một khuynh hướng cần nhàn tro

ráo và phù phiếm Tứ tưởng Phật lại cảng bày ra tàn 1q Trước kia

Phat giao ty khong gi quyết được xắn đề nhân sinh nhưng ciing thôi

một luồng gió thanh cao vào Cũng Oản, vùo truyện Kiều, Tời đầy nó

mất cả giá trị mân lý và chân lý, Chẳng còn vẫn gia nào dám đem lẽ sắc

không, thuyết luận hồi đề đựng tác phẩm Nhã nho chỉ thấy chùa trơ với

am quanh, Đối với Tôn-thọ-Tường, cửa "Thiền la nei mit ui cha bon lần

Tóm lại theo rồi văn Nôm đến giai đoạn này ta thấy không côn

gì hứng thủ nữa “Fất nhiên, đi vào tiều tiết, có thổ vẫn thấy đó đây

mệt vài thành công vụn vặt, nhưng nói chung Quốc văn nho gia đã hết

Thực lượng, cạn cẩm hứng, giảm nghệ thuật Chu lục bát đề ký sự một cách

lạt phéo Bai tho Đường đề chữi đời một cách khinh bạc guối cũng

như văn đi xuống Văn Ném vào lúc giao thời này chỉ đăng lưu ÿ về

mnắt chứng tích lịch sử

Wiềm điềm các nhàvẫn nôm chối cùng và sắng tác của họ, có thể

nhận ra mấy khuynh hưởng san day:

Văn thời thế; Bùihữn-Ngbĩa —

"Tường ~— Phan-vắn-Trị — Nguyễn- vĩ

dyễn-đình-Chiều ~- Tôn-thọ=

Nguyễn-thị-Bích — Phan-bội Chin —Phan-cho-Trinh

Van nhan Ige: Drong-Khué — Chn-mgnb-Trinh

Văn trào phủng : Nguyễn-Khuyến — Trắn-tế-Kương — Ngnyễn- vấn

Lac

II VAN THOT THE Những ảng văn thuộc khuynh hướng này có liên lạc mật thiết xởi tỉnh thế nước nhà trong cơn vong quốc, Tác giả hoặc thuật Tại

Trang 24

nhiên đất Nam Kỷ mất rồi hai ông còn sống khá lâu và thỉnh thoẳng

ác với trước đều mang hồi quang

vẫn sáng tác, Những sáng tác này kị

của thời thế đổi thay, cà những khí tác giả chỉ nhằm ghỉ chép một công

việc, một tỉnh cẩm riêng tây,

Bài-hữu-Nghĩa còn đề lại mấy bài thơ chữ Hán như bài Tự án

nhân Ong làm đề ting ong Đỗ-hữu-Phương và Tòn-thọ-Tưởng đã can

thiệp với người Pháp cho ông được tha (năm 1868, vì liên can tôi phong

trào văn thân, bị bất giam ở Gia Định) Kết luận co chu:

Người hối lê còn kẰ( gặp gổ,

Đăn làng dàng đá, hãu cho bền

bài Quan Công thất thÄ Hạ Bì ca tụng tiết nghĩa Quan Vĩ ở Hạ BỊ, hẳn

đề se sánh với chính mình tny bị bất mà không thay đổi lòng trung với

vua, Bởi vì

MMội đạo cương thường nai gánh nặng

Ngàn năm bia miệng d8 người rao

Ta thấy đại Kbái là thái độ điền hình của nhà nho trọng đạo lý và

trong Hắc vong quốc chỉ biết đem cải đạo lý ấy ra đề giữ mình thôi,

Nguyễn đình Chiều đã có một thái độ tích cực bơn, vi dan vì

nước hơn, Ông đã đau lòng thương sót đân đen trong cơn bình lứa ;

Bề nhà lũ trả lơ xơ chau:

Mất tà bầu chim đáo dác bay- ` Bến Nghề của tần lan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhum màu mâu,

về Ba Trị rồi, mặc dần dui ma ng đã đem hết khẩ năng

Trang 25

Cuộc trung nghĩa hai năm lâm đại trông, nhần nhọc 0Ì nước,

nào hiềm Hững thị tiếng phí — Cỗi gên hà một chức chịu lãnh bình, Tây tất theo thầu, chưa chắc đâu thằnh đâu bại

hắc lá khóc nườc nhà cơn bấn loan hôm mãi uẵng châu thua

buồn nhiều nỗi khảe nhôi — Than là than bờ cỗi lắc qua phân ngdy thang

trồng :òHa ngơ ngồa một phương từ dại CT6 Trương Định)

Ong ca tung can trưởng của đâm nghĩa quân vò đanh +

Ngoài cật cô một mạnh áo uẫi, não đợi mang bao tấn bần ngôi — Trong tay cầm một ngọn lầm nông, chỉ nàt sắm dao tu nên gỗ

Hỗa mai đảnh bằng rơm con củi, cũng đổi xong nhà dạy đạo kia — Gươm đeo đúng làm lưỡi đao phag cũng chèm rời đầu quan

Chi nhọc quan Quân giảng trống kỹ trồng gìuc; đẹp rào lưới

tới, coi giặc cũng như không — Nào sợ thằng Tây bẵn đạn nhỗ đạn lo, aô

cửa xông ảo liều mình như chẳng cô

Ké dam ngang người chém ngược làm cho ma là, ma nỉ kinh hồn — Bọn hè trước lã ò sau, trồi kệ tầu thiếc tần đồng sùng nồ (TẾ nghĩa

sĩ Cần Giuộc)

Ông kể tội ác của quân cướp nước +

Phạt cho đến người hèn kẻ khô, thâu của quag treo — Tội chẳng `

tha con nit dan ba, dBt nha bat vat

Trang 26

40 GIẢI DOAN 1862-1907 ©:

KB muti mily nim trời khốn khó, bị khảo bị tủ bị dầu bị giết, ể

giả nghe nào siết đâu đâu — Đem ba tác hơi món bỗ liều, hoặc sốïg `

hoặc biền hoặc núi hoặc rồng, quen lạ thâu đều rơi nước mốt (Điếu sĩ

đáp của Ngư và Tiều những đoạn văn còn sực nức cải khí khẢI của

người kiên trinh với quá khú

Ta hãy nghe Goan Tha ani này:

Dầu đai mà giữ đạo nhà,

Còn hơn có mắt ông cha không thờ‹

Đầu dat ma tron danh nhor Con hon cé mdi an do tank rink

Dầu đai mà đăng trọn mình,

Còn hơn có mất đồi hình tác rầu

Sáng chỉ theo (hái tha cầu, Đạc ngang chẳng đoái trên đầu cá ai- Sâng chỉ đấm sắc tham tài,

° kung lòng nhân dục mang tại quả trời

Sáng chỉ sàm nịnh theo đời, Nag vinh mai nhục theo đời thị phi

Sáng chỉ nhân nghĩa bỏ di, Thảo ngau chẳng biết lối nghì thiên luân

Đất nước đã mất, nhà nho vẫn nhất định ôm lấy cái hồn xưa của

ông cha, chống lại sửc công phá của văn mính vậi chất xâm lãng,

Trang 27

Nam-Kỷ trước thời cuộc qua hai ông Tôn-thọ-Tường

và Phan-văn-Tr{ đi đến chía rẽ, biên lộ ra thánh cuộc «bút chiến» và đề

lại những chứng tích thí

Tônthọ-Tường (1896-1877) người lung Bình-Dương phả Tân-

Bình tỉnh Gia-Định vốn dòng đối thế nhiệt Thân phụ, là Tỏn-thọ-Đức

đỗ Cử nhân, làm qnan đến Tuần phủ (Bình-Thuận Khánh-Hỏa) mất nằm

1840 Cậu cla Tường: thuế nhổ đã có tiếng hay thơ, tài học, ăn chơi

Nhưng công danh Rhông may mắn, năm 1885 thì Hương rồi, ra Huế dựa

vào công lao liên tổ (òng tổ họ Tôn đi từng giúp vua GÌ

bên ba ở Xiêm) để xin tập ấm lâm quan, Nhưng triều định chỉ cho một

võ chức, ông không bằng lòng, từ đó có ý bất mãn, Trở vẽ Nam ông thôi

không thi nữa, Có chuyện kề ông không thêm thi nhưng làm bài gà cho

một thí sinh ở Gia-Định để lấy tiền xùi vi vậy mộtIần bị bất giải về kinh,

song vua Tự-Đức lần tài nên tha cho về San đó hết đường tiến thân, ông

sống thong tha, tim quan Hing trong thủ vui, Ông chiên tập văn hữu, lập

ra Bach-Mai thi xã lấy chùa Cây Mai ở Chợ Lớn làm trụ sở Giữa lúc

đỏ thì quân Pháp đỗ bộ vào đảnh Saigon, chiếm 3 tỉnh miền đông Nam

Ky (1862) Tôn-thọ-Pưởng ra giáp việc cho «tân trao», được hỗ làm Trỉ

phủ Tân Bình Năm sau (1863) ông theo Phan-thanh-Giẩn làm kỹ lục

phải bộ qua Pháp chuộc đất, Khi về, hỏi chức cũ Đến năm 1871 thing

„Độc phả sứ, được cử đậy Hán văn trường Hin bd Nim 1873 theo

;phải đoầu Pháp sang công cần bên Tần 2 tháng, Năm 1876 theo lãnh sự Pháp De Kergaradee ra

Long khi côn

Thi win Tỏn-thọ-Tưởng để lại hiện côn:

— Mấy bài thơ đề vịnh phong cảnh hoặc tao ngộ: Vịnh chita edy Mai, Thỉ trượt (9, Lai kinh thọ tội (?) những không chắc là của ông,

— Những bài ông mượn nhân vật trong truyện hoặc sử đồ ký tháo tầm sự: Tốn pha nhân qng Thạc, Thân thể nàng Kika, Từ Thủ qng Tảo

— Mười bài liên hoàn tự thuật ở đó ông biện bạch cho đường lối

chính trị của ống khi đó,

Trang 28

Phan-văn-Trị người làng Hưng-Thạnh, huyện Bảo An tỉnh Vĩnh

tong, đậu Cử nhân năm 1849 (Tr-Đức 2), không ra làm quan, Người ta

biết rất ít về cuộc đời của ông Chỉ biết ông thường giao du với các:

đanh sĩ Nam Kỳ thời bấy giờ như Huỳnh-mẫn-Đạt, Nguyễn- -định-Chiều,

iPhap sang, ông

Bùi-hfta-Nghĩa và cả Tôn-thọ-Tưởng nữa Đến khi ngi

đứng vào phe bất hợp tác, hủ về ở ña tại Phong Điền (Gần Thơ) đây bộc

và chết tại đó Thi văn ông đề lại gồm có :

— Những bài vịnh vật, vịnh cảnh, như Vịnh côn mèo, Hật lúa, Cái cối,

Vịnh phong cảnh An Giang, thưởng có khuynh hướng khẩu khí, tính cbất

đạo lý

— Những bài có liên quan đến thời thế tức là những bài ông qhút

chiến» với Tôn-thọ-Tưởng

Cuộc bút chiến ấy diễn ra nhu thế nào ? Bấy giờ, san khi người

Pháp chiếm Nam Kỷ, nho sĩ ta chia lam hai phe, phe ra hợp tác với tần

trào đứng đầu có Tôn-thọ-Trởng, phe hất hợp tác đứng đầu có Pham-

văn-Trị Phe trên lúc đần còn rụt rẻ, song chính quyền Pháp ngày thêm

vững vàng Khắp nơi lửa tất khỏi tan, Ho dần đần bước lên địa vị và

đồn phe phần đối vào thải độ khứng chịu Tuy nhiên ho vẫn có mặc

cẩm đắc tội, tự thấy là đối tượng khinh dễ cña công luận vô hình Do

i the tung

đó Tôn-thọ-Tường vốn có thi văn tặc thường làm những b

ra dư luận đề bộc bach nổi lỏng và tự biện hộ Những bài Ấy ném ra

cỏ ngay tiếng họa từ hàng ngũ bất hợp tác với Phan- vin-Tri đứng

đầu, Như Tỏn-thọ~ "Tưởng mượn tầm sự Tôn phú nhãn quy Thục để tự

bènh vực :

AI 08 nhắn nhũ Cha-công- Cần

Đà mất làng anh được bụng chồng Phan-văn-Trị cũng đùng luôn đề tài ấy đề tìm chỗ đập lại : Anh hỡi Tâa Quyền anh có biết

Trai ngau thè chúa gái thè chồng

Có khi Tòn đưa ra những vần biểm hóc như ở bài Từ Thứ quy Tào :

Hiển đâu dám sánh kẻ cầu vot

Muaét xat lang ai ndy min mat

Trang 29

Ngôi bút Cử Trị đâu có chịn thua ;

Đứa ghả rưầi, đứa lác 0oi,

Đao nhiêu xiêm áo cũng tro mat

Song chỗ sôi nổi nhất cla cuộc bút chiến là quanh 10 bài

Tự Thuật của Tôn Người ta không bóng gió nữa mà nói thẳng vào

sự thật, Tản đem sức mạnh của Tây Phương ¿a để thuyết phục bọn kháng chiến « đải đột » :

Miệng cọp băm rồng chưa dễ chọc,

Khuyên đân con trẻ chó thấu lau

Phan họa lại :

Đừng mượn oát hềm rụng nhái BÀI, Lang ta sdt dé ha Inng lay

Tôn côn khoe nào lỏng thương đân và thiện chí của mình :

Trẻ đại giếng sâu lòng chẳng nổ,

Đường xa ngàu lối tuồi không chờ

Phan họa lại :

Người tí mảng lò danh chang chát,

Địáa ngu luống ấợi tuồi không chờ,

Nào trách nhiệm khó khăn của mình khi bước ra:

Hai bén vai génh ném gting ning, Trầm tạ chuông lreo một sợi mành

Phan họa lại :

Khe sâu tụng tịnh dụng thoàn nhỏ,

Chuông nding to gan buộc sợi mành

Nào lòng ngay thẳng và ý báo quốc của mình :

Trăng giữa ba thu mâu công tả

Hoa trong chín hạ nẵng công tươi

Phan hoa Iai:

Ngọc lanh nhudm vét cot khong lich Thợ dựng lL màu nhưệm chẳng tươi,

Trang 30

Tên lại lên tiếng cảnh cáo đối phương :

Hay dé chuuện đời còn rối tắm, Múa mau xin hâu chế bần chần-

Phan đáp lại khoe ý chỉ bất Khuất:

Thấu máu gặp thời ta sẽ động:

Muốn nên viéc lớn đám bền chin

Đại đề qua những lời đối đáp giữa 2 người đại biểu cho bai phe

ta nhận thấy tâm sự và tie tưởng của họ, Tên biết mình cãi cho một đường

Tối khó cãi nên không đấu nỗi giọng khắc khoải chún chường, đôi khi

cả nỗi hổi tiếc eshấm mắt đưa chân lỗi đạo hằng », mà ví CÓ € trưởng

mình biết một mình mình hay

san những đành

hợp giảm khinh » thì cũng chỉ một mình

Còn Phan Ở vào edi thé dS an noi hon, dé ding nip

ại những mũi tên cười cợt hay xt

từ lờa đạo nghĩa nuôn đời mà bắn Ì

p trường đạo đức

vA Song có điền là cã hai người cùng đứng trên mot

Phan đã đánh mà Tòn cïùu vậy, Cho nên cũ cho đường

g» mà hình như ông chủ trương, Tôn chưa ý thức

được hết tầm vóc và hiện nẵng của nó, Sau này miệt nh

Nguyễn văn Vĩnh có thể cãi cho đường lỗi ấy một cách #

éi đúng ra thì đây cũng chẳng p

ng nói khúc giải

trong hon, manh mé how

cãi Gọi là bút chiến cũng quả đẳng, Không phải là tiế

súc động cña tình cẩm, của giáo điền, Trong

n, những nghĩa

ä về phía

¡ không

của lý luận mà là tiếng nói

những lôi lẽ cña Tôn, côn có những tn ÿ không núnh Bie

gi boi thn rút vào phạm vì cầu thơ ước thúc 1ỷ khó lĩnh hộ

Phan thị bối œ ất đối dị, đối đối nann che nên nhiều kh

trảnh khối cái tật «đối chả

ời Pháp kế tiếp diễn ra ở Bắc và Trung Ky, F p

Cuộc xâm lắng của ngự

ø có cuộc bút

¡ thể rõ rệt vào văn học, Ở đây tuy không

ác,không ai đán: múa mép văn chương bệnh vực minh,song cơn đỗ vỡ của đất nước cũng đã Khối hứng

cho nhiều người cầm bút ghi chép sự nhận xét h phẩm bình của họ

Trang 31

NHỮNG NHÀ VĂN NÓM CUÔI CŨNG 3ã

quản chúng Ông Hoàng xuân Hãn có sứu tập được một số những sảng

tác Ấy, Có bài nhục Hả Thánh thất thÏ ca (song thất lục bát, 263 câu) kế

Tại những biến cố tử đần :

Năm Qui Dậu Tay vies odo ii, Ngwoi Bde Ky ray mới biết Tay °

Ré nhau xem séc thdu ngdy,

Bem quan v8 ding & ray trong Thi

e-nht An-Nghiép (Traneis Garaier) hạ thành, Nguyễn tri Phương tuẫn tiết, Rồi Co đến giúp ta phản công Hai bên kỷ hòa óc

Giáp Taất, Rồi Hoàng Điện ra trấn Há-Nội đề lại mất thành năm 1883, Bài này chính là một bài vẻ, ác giả vỏ đanh, văn chương mộc mạc vụng

về, phẩn ảnh tâm tư người dân trung lưu tuy đau buôn về chuyện tất

thành, nhưng cũng đây sợ sệt đối với thế giặc, lo âu vì loạn lạc và rất hoang mang trong tính thế dilật nhà bà chỗ biết trông chỗ nào»

ảng văn do những ngôi bút nho gia học thức, có Tập trường cao hơn lôi lế điệu tyện hơn, Nhữ 8 bài Hà Thánh thất thà ân, thơ luật, bắt củ, điểm đầu và định an§ ông quan lớn có trách nhiệm

Nhắc cân Thái lính oới Héng mao»

Hứa quấc quan Đề khẳng Rhải sao,

That cB chan còn dương đến đất,

Trầm mình đầu lại gối lên cao

Rẻ lưng tìm thuốc rơi đâu quách:

Tuột số gươm ra cất chẳng vdo-

Tủ bất Lẻ rồi ngơ ngần mãi,

Quay theo quan Ấn trẻ Äường nào

Lại có một bài điểu Tồng Đốc Hoàng Điện theo thé hat noi, lới lẽ bắc học nghiềm trang, Song trong những ảng văn này hậu nhân chú ÿ nhất đến bài Hà Thành thối thủ chỉ công quả ca cũng gọi lá Chính khí ea

của một nhân vật quen biết ở Hi-Nội khi ấy là Nguyễn văn Giai Tác

Trang 32

trời đất và bậc nghĩa sĩ trung thần và i4 cân kết đề tác

nhà vúa mà tổ lông kỳ vọng, côn có thể chía làm hai phần chính Phần

trên ca ngợi người anh hùng tuẫn tiết Hoàng Diệu, phần đưới tác gid

đốc nỗi bực tức vào bọn gian thần như Đề Đốc Lẻ Trinh, Tuần Phủ

Ton thất Bá, Văn chương đầy giọng câm khải,

HoànÊ bữu Xứng, Án

có chỗ bí trắng như nói về Hoàng Diệu ;

Một cơn giá (hẪm mưa sầu, Đúc nung gan sắt giải giầu lòng son

Chữ trung đã sắp 0uông tròn,

Quyết đem gởi edi lần hin cả câu

Trời cao bề rộng đất đầu:

Nói Nàng sông Nhị chấn nàu làm ghi

Có chỗ mỉa mai sâu sắc như nói về Tôn thất Bá :

Kia Tên thit Ba Niét cong

Kim chi ngọc điệp vén giồng téa nhdn+

Đá quốc lậc lại gương thần, Cũng nên hết sức binh luận mới là

Nước nón là nước non nhào

ÁN nào bán rễ một lòa Thăng Long

Ang vin na ợc truyền tạng hơn cã phần vi cây bút nôm

giản đị và điêu luyện của tác giá, phần vì lòng trung trực yêu chính

khí ghét gian là bộc lộ trong lôi lẽ, chẳng kém chỉ bài Chính khi ca cña

Văn thiên Tưởng đòi Tổng xưa,

4 Nguyễn thị Bich (1830-1909)

Bà là người huyện Án Phước, đạo Ninh Thuận tỉnh Phan Rang, con

ơn, năm 19 tuổi vào cnng, được

gái quan Bố chánh Nguyễn nhượ

xua Tự Đúc quý mến vì thông mính hay chữ Khi vua chết (1883)

bà lâm thư ký cho Lưỡng Cang (Từ Du và Trạng Ý,m y của

vua Ty Đức), phàm ý chỉ thư trát đều đo tay bà soạn

Trang 33

trổ về, có soạn một khúc điễn ca, loạn đư Hành Thực quốc Âm ca,

Đây 1à một ang văn chương thới thế, kề lại mội giải đoạn lịch số nước nhà qua những biến cổ xây ra ở Huế khi đó, Gọi là Hạnh Thục là lấy

a Đường mỉnh Hoàng xưa kia

tích v ảnh loạn An lộc Sơn chạy vào đất Thục, ÿ cũng nhụt vna Hàm Nghỉ bữy giờ phải chạy ra Quảng Trị, Bài gồm 1086 chu lạc bát số thể cha làm 4 phần chính ;

1) Tác giả tóm hược lịch sử Việt Nam từ đời Hồng Bàng đến khi

bị nước Pháp xâm lãng (can 1-6)

3) Kế là các biến động xây ra ở Hus: wna Ty Bie mat, Nguyễn .vẫn Tưởng và Tón l

chuyến quyền phế lập via, cách chức ngự

sử Phan dink Phang, giới phụ chính Trần tiểu Thánh, ty hiếp các hoàng thần quốc thích, ngưới Pháp đánh Thuận Án vũ sách nhiễu ở Hug 97-544)

3) Sau đỏ là vụ âm mưu chống Pháp cña quyda thin Ton-that- Thuyết, mộ quân khởi nghĩa, lập đồn Tân ở Sở Quảng Trị, Bồi đến 4-7-1885 đem quản đánh vào tỏa Kham sir va trai Phap & Mang ca Thit trận ông màng vua Mâm Nghỉ đi trốn, Các bà Thái hậu, Hoàng

4) Sau đó tính thể din dân văn hỏi: Ngnyễn n-Tướng ra

hàng Thải Hàn trổ lại kinh thành, Sau khi đưa đây Nguyễn-văn- Tưởng,

ngưới Pháp lập lại triểu chính, Vua Đồng Khánh và Thành Thái lần

het lan ngôi,

Ban vé noi dung Hanh Thue ca, dug Ngu

n-tưởng-Phượng có phê

binh cải quan niệm lịch sử œ trị loạn xoay vẫn » của táe giả, cho rằng

cải quan niệm ấy thầu bí và ngày nay đã lạc hận, lại công kích thải độ

Bh đã mạt sát Tây sơn (Ngng Tdg thiết cứ Đạo cuồng ngược đân) quả đề cao vua Ty Đức (Trị øì bằm sản năm chảy,

nằm trong hệ thông ÿ thức cỗ truyền cña Nho gia Nguyễn thần khí ấy

Trang 34

"Thêm vào quan điềm cña một phụ nñ,tầm nhìu có lẹp, suy xét bằng thiên

kiến và tình cảm, thở vua với một tỉnh thần gia nỏ tỳ thiếp, Lại từ nhố

sống nơi khuê các, chân yếu tay mềm, tới đó bỗng dựng bị đây vào cơn

phong trần, nên thường có tâm lý sợ khổ ghét loạn vũ cầu an trên hết, `

Vêf con người như vậy dĩ nhiên chẳng thề đổi hỏi một thái độ tranh

đấu tích cực, một quan niệm ái quốc

Béo phù lại cá quú quan,

Ấk là tình phục trị hoàn như xưa

và vui lòng đón nhận cải hòa bình giả tạo của người Pháp đem lại:

— Kủ nguyên Thành Thái đăng quang:

Thần dân đẹp dạ lan bang out long

_— Xã gần cần đội ơn nhè:

Ở ăn buôn bán báu giờ đồng an

Về văn chương tác phầm của Nguyễn Thị Hích cũng không đẳng

1reo cao lắm, Câu lục bát có phần lửu loát song không Ở trên câu về

bao nhiêu , Cỏ Khể coi như một bài vẻ thời

dưới một ngôi bút có học thức và kinhnghiệm vẫn điệu hơn người binh đân vỏ danh đổi chút,

„Cũng hơn một điều là tác giả biết rất rảnh thời sự mà bà dẫu kề, mà

Các văn gia trên tuy đã động đến thoi cuge và bày tổ quan điểm

winh nhưng thưởng chỉ đứng ở lập trường quan sát C những người

nhầy hẳn vào võng hoạt động, chống Pháp bằng vũ bi hoặc chính trị

xù trong cuộc đời tranh đấn của họ, đời khi cầm bút gì

lại những kỳ niệm, hoài bão Văn thôi thể khi đó có những nét tấm từ sống trai khắc

Trang 35

NHỮNG NHÀ VĂN NÔIt CUỒI CŨNG 39

sản, thường là nỗi đau đớn bí phẫn Đề bất đầu có thể dẫn ngay

hợp Phan-thanh-Giản, thất thủ 3 tĨnh miền Tây rồi, chỉ biểi

đồ đền ơn vua nợ nước, Ông tuyệt cốc 13 ngày, rồi trước khi chấm đốt

trường

ly cải chết

cuộc đời bằng liều độc được, lầm bài thơ luyệt mạng san đây :

Trời thời bất lợi lại người hòa,

Hé đề ngồi coi phải nói ra»

Lam & ơn 0ua đền nợ nước;

Banh cam gánh nặng ruồi đường xa

Lên ghềnh xuống thác thương con trễ, Wượt biền treo non cám phận già»

Cũng tưởng một lời an hến cấi,

Nao hay ba tinh lại chầu bax

Nguyễn-bữu-Huân, Thủ-khoa Huần, lập chiến khu ở Dong-Thap- Mười đề kháng Pháp Nằm 1863 ông thất trận, bị bất và bị đây di ‘Cou Lon, Ihe an đường cỏ làm bài cảm làc như sau ;

Muén oiệc cho hay số ở trời, Cái thân chìm nồi biết là nơi

May Hi ten don ra tay thử, Ngàn đậm non sông dẹo gói chơi

Chân rượu Tân đình nào luộn diệc:

Câu thơ cổ quốc chẳng ra lời, Cang thường bởi biết mang nên nặng,

Hỗ đẳng làm trai chác nợ đời

Thuộc vào một lớp sau là hai nhà nho cách mạng Phan-bội-Châu,

Phan-chu-Trinh

Phan-bội~Châu (1867— 1940) biệt hiệu Sào Nam Tử, người làng Sa

Nam xã Đông-Liệt tính Ngh-Án, đậu Thổ Khoa kỷ thí Hương ở Nghệ

An năm 1960, sau giác ngộ con đường cách mạng củu quốc, nền từ

khoa hoạn, chủ du Nam-Bắc, họp, đồng chỉ đề chống Pháp, Năm 1905 ông

trốn qua Tần rồi Nhật, tổ chữc một đẳng cách mang hai ngoại, gổithơ

Trang 36

văn Về nước hỗ hào thank niên xuất ngoại tham gia Theo bước bôn ba

cách mạng, ông lừng lang thang ở Tầu ở Nhật, có lần ông bị nằm ngục

ở Quảng Châu, có thời lưu ngụ ở Xiêm, Thí văn làm ra trong lúc cẩm

hứng, ngoài phần bằng chữ: Hán đã nói đến ở chương trên còn lắm bài

nôm mà sau đây là một bài ghí lại những ngày ngồi tù ở Quẵng-Châu:

Vẫn là hào kiệt nẩn phong lưu,

Chạu mỗi chân thì hâu ở là,

Đã khách không nhà trong bến biên;

Lại người cá lội giữa căm châu

Đủa lau âm chặt kồ kính tế,

Mở miệng cười lan cuộc oán thô

Thân nọ dẫn cần còn sự nghiệp, Bao nhiều nguụ hiểm sợ gì đâu

# không gây dw

Chương trình và công việc của ông rồi cũ: ve kết

quả gì tích cự ở trong nước Ông vẫn än nâu ổ hải ngoại cho đến 1995

ở Thượng Hải (rong tỏ giới Pháp) đưa về Hà

bị người Pháp bất đượ

Nội kết án cấm cố, bị giam lổng ở Huế và đến năm 1910 ông từ trần,

_Phan-châu-Trinh (1872 —- 1926) biệt hiệu Tây Hồ người làng Tây

e phil Tan Ký, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ Cổ nhân năm 1860 và Phó Bằng 1801,

Cũng như Phan bội-Châu, ông giác ngộ cách tuạng, từ bố khoa hoạn,

nhưng òng khác Phan bội Châu ở lập trưởng Phan bội Châu chủ

trương đánh người Pháp bằng võ lực còa Phan chì Trình muốn tranh

- đấu công khai bằng chính trị Năm 1908 nhần vụ dàn chúng miền Nam

Trung Việt kháng thuế, ông bị ghép vào tội vải dâu làm loạn, bị áo tử

sau nhờ hội Nhân quyền Pháp can thiệp được khối chết, nhưng

đi Còn đảo Năm 1910 được tha về nước it lân rồi qua Pháp, tiếp

đôn đầy ÿ khẳng khải như sau :

Lam trai đứng giữa đấi Côn Lên,

Léng lay làm cho lẻ núi non

Xéch búa đánh lan năm lâu đăng

F i i I

Trang 37

NHỮNG NHÀ VĂN NÔM CUÔI CÙNG +

Ra tay dap 68 may tram hon,

Tháng nghy bao quân thân sành sấi,

Mưa nắng chỉ sàn dạ sắt son

Những kẻ od trời khi lê bước, Gian nan nÀo xd siz con cons

HI— VĂN NHÂN LẠC VÀ TRÀO PHÚNG

Việc nước mất nhà tan tất nhiền phải khua động đến cội rễ tầm

tư của tất cả một lớp nho sỉ cuối thể kỷ XIX này, Mũu sắc thôi thế đã

hiện rõ trong văn họ như ta thấy ở trêu Trong những nhà vẫn nghiên

cứu dưới đây, màu sắc thỏi thế ấy thật ra không bao giỏ thiến vắng,

nhưng lần chim vào một thái độ cầu nhàn hưởng lạc đề Hìng quên hoặc

hiện ra đười một hính trke khác, đưới nụ cưới trào phúng chua cay,

ÿ Đương Khuẽ (1839-1902)

Ông người làng Văn Định phủ Ứng-Hóa tỉnh Hà Đồng, gia trung hiển

đạt nhiều giữa buổi Tày

ang, Thông mình, hay chữ, ông đỗ Tiến sĩ năm

1868 được vua Tự-Đức bỗ Tri phẩ Bình Giang, Hoạn lộ cũng lắm bước

m Có lặn ví thiêu bạc kho mà đương chức Bồ chính giảng làm

Những tác phẩm Đương Khuẻ đề lại phần nhiều là những bài hát

nói, lới em di, uyền chuyển, ddi hic duyên đáng Ling le Ông rất sánh

nghề hát & đảo, ngoài cải sở trường về lối Huu bài hát, côn nỗi tiếng đánh

trồng chầu hay Nha phê bình Nguyễn tưởng Phượng có viết về òng những điều chỉ lý: «Sinh vào lúc Nho học tàn cuộc, quốc gia mất chủ

quyền nèn cũng như bạn đồng thôi

la Chu manh Trinh, ông lấy the

rượu cả xưởng, giỏ mắt trăng trong để tiều khiển », Đại đề những bai

ea của ông nông nàn cải chủ nghĩa nhân lạc Ấy, Wiếng động Hương

tích, ông hàn hoạn tự nhủ :

Lang thi-tika còn đâu hơn đấu nhỉ, Chẳng Bồng lai Nhược thầu cũng Thăn-tiêns

Trang 38

tại là lên , khi Gỗi Bao Ngo (HOt tte lục thất niên Hồn sự, Trãi trăng hoa

chưa trả nợ hương nguyền ) Gặp khi đè vỡ: đồng lụt

Yên Đỗ còn lo chuyện thuế cao gạo kém, ỏng nghề Vận Đình thị không,

làm Ngự sử trong triềt

GIẢI ĐOẠN 1663-1907

Rã ràng Đệ nhất Nam thiên, Mang di sợ đề quiin-tién mất lòng, 7 That thi đề âá chơi chung!

Song không phẩi òng chỉ chơi cảnh núi, chơi động, hay « chơi giảng »

ya con wa nhất sành nhất chơi cô đầu Khi « Gặp có đầu cũ » (Hồng hồng

khi Tiễn Đào Cần (Tình thư một bức, Hồi tình nhân rằng

Khi Tặng Bảo Của (Quân phí ần dậi, Cờ làm sao ai eke

,„ ông Tam Nguyên

ống thấy nước lạt eñng lại là một dịp chơi:

Cá tôm là bạn nước là nhà

Sen nhật quanh sân mẫu đóa hoa:

Chay lut chi em 08 đó chùa >

Giá thụ lại dạo khúc tà bà‹

Cái tồn chỉ hành lạc đề cho quên hết, quên những lỗi lầm về trước

quên những ti nhục bây giờ, được diễn tả một cách thành thật và can

đâm trong bài Mag rấi sau đây :

Nội tải một mau là máu lao

Dù khán dé dai cũng bia trầm © Việc đã rồi nghĩ lắm lat them đầm:

Liếc gươm trí cất giặc phiền từ đó:

Năm khênh ngâm thơ cho 0ợ ngủ:

Ngài rù uống rượu dới con chơi:

Na phạm con ba đứa mũi chưa chữi

Tiêu khiền dẫn mẫu cô đào nổi-

Ngaài tại dy tha hồ ai gọi

Năng ngựa trâu nâng cũng ngựa lrâu-

Nào đâu đã hẳn hon daa!

2 Chu-manh-Trinh (1862 — 1905)

Ông người làng Phú Thị, phủ Khoái Châu tỉnh Hưng Yên Gha từng

, Ông đỗ GIẢI nguyên năm 3ð tuổi, đệ tam giáp

Trang 39

Tiến sĩ năm 31 tuổi (1892) Đỗ đại khoa r

(Hà Nam), lâm quan được mất

được bổ Tri phủ Lý Nhân

y tháng, phải cáo qnan về cư tang thân phụ,

sau đó được cử lâm Ấn sát Hà Nam, rồi Hung Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Năm 1903 cáo qnan về hưu, 2 năm sau thọ bệnh mất,

Chn-mạnh-Trinh 14 một nhà nho có cốt cách tại tỉ phong nhấ Các nghề chơi như cầm kỳ thi họa đếu giỏi cả Ông say mê nhất thú

hát Ä đáo Nhà phê bình Nguyễn-tướng- Phượng đã thuật và xét về ông

như sau;«'Pny xnất thân ở cửa Không sản Trính, Ghnanạnh-Trinh đã

sống một đới phóng tảng, say mê hái ä đáo, mang â đáo đi trầy hội chúa, đặt bài ca xưởng hạa trên sông Ông côn hưng công đên thờ bá Tiên- Dung (một tỉnh sử ngân xưa) và mở hội vai chơi một thẳng về địp

khánh thánh, chính tay ông chọn các mỹ nữ làm quân cớ người Ông

đã bị nhà nho đương thời kết tội phạm vào đanh giáo Lối vui chơi

phóng ting fy cing dé bide Lý do thứ nhất: Con một quan ngự sử,

Chuauanh-Trinh đã chịu một giáo dục nghiệm khắc Thân phụ qua đới ong khong con bị sự bé buộc của lễ giáo nữa Ông đã như được giải phóng khổi cái luận lý khắc khổ vá tự đo hưởng lạc, Ly do thứ hai lá lý đo xã hột Trước nạn vong quốc, sĩ phú hoang mang buôn tải Trừ một số gia nhập phong trao cần vương giải phóng dan tộc, côn thì đượn những

tư tưởng bí quan tiêu cực (Nguyễn Khuyến) hay thỏa hiệp với tần triệu

vôi phỏng túng chơi bởi, trốn lần vào những thanh âm,hình sắc,khoái lạe»-‹

tao, bởi bản chất của ông là một bắn chất nghệ sĩ Cũ như những chí tiết

về tiều sử thì ông ưa thủhát á đào lâm song phân sáng tác này của

ông không có gí cả Thi văn ông để lại có thê thú về hai đề tái là phong

cảnh Hương Sơn và cân truyện nàng Kiên,

a) Nhà th chùa Hương

Chu mạnh Trính trong khi lam quan và lúc đã cáo về thưởng wa di du

ngoạn các nơi danh thẳng Ông thích nhất cảnh chùa Hương tích (ở huyện

Mỹ Đức, tĩnh Hà-Đông), Chính ông đã dự vào ban trắng tú chữa ngoài (chùa 'Thiên-Trú) lại tự tay vẽ kiểu Chúa lá xong, ông cùng văn hữu đẳng

Trang 40

sơn đề vịnh, lại với con hát làm bài cho hát, Hiện nay còn lưu lại về đề

tài Chùa Hương này 3 ảng văn của òng : bài hát Hướng Sơn phong cảnh

và bài Hương Sơa nhật trình, Hương sơn nhật trình là một khúe lạc bắt

138 câu kê cuộc hành trình từ Ha Noi qua Hà Đông, phủ Ứng Hòa và tới

chùa Ngoài, chùa Trong ngược đường ra về, Có thể coi như một bài

đu ký Lời văn có chỗ giản đị, nôm aa, theo khuynh hương kề truyện

bình din:

Ta t& hai chit Nam v6,

Tráng xa đã thấu bến đà xên xao

Người thì ra hé thi vao, Gặp nhau mừng rỡ đón chào vai thay Những cũng có chỗ bỏng bảy trau chuốt đầy những bi thuật thi gia:

Chuông cùng gác bông non tê,

Ding cho wér hii Ist gề chùa trong

Lin Khe yén of at nồng:

đến là bat ngái xe trong la nhường

Giữa dòng đâu nước lặng gương,

Mượn chèo ngư phủ đưa đường Đào Nguyên

La cho uta bén mii thuyền,

Mà trầm não gới ngàn phiền sạch không

Đầu trời man mắc xa trông,

Biét đâu nước Nhược non Bằng là đâu

Bài hát nói Phong cảnh Hương Sơn (Bầu trời cảnh bụt ) cũng là

một kỷ công của một cây bút thơ kiêm bút họa

Hồi đầu thế ký này chùa Hương đã ik một trung tâm hành bương

và vấn cảnh cho vô số thi sĩ văn nhân đất Nhiều bài đề vịnh đã

được làm ra trong những địp ấy, Song tất cả đều thua bà

bát trên của

ho Chu Về kiểu my, điệu uyễn chuyền, câm tưởng tươi mắt, tất cả mang

đấu ấn một bút pháp độc đáo,

b) Nhà thơ' của Truyện Kiều

Ở Hưng-Yên là quê hương Chu-mạnh-Trính khi ấy có Tuần Phủ

Lê-Hoan có cao hứng muốn làm như những nhà hào hoạn bên Tầu mới

Ngày đăng: 30/12/2022, 16:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm