1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đối chiếu hệ thống âm vị trong tiếng lào

15 145 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đối Chiếu Hệ Thống Âm Vị Trong Tiếng Lào
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 204,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Đối chiếu hệ thống âm vị trong tiếng Lào MỤC LỤC 1 Giới thiệu chung về ý nghĩa và tầm quan trọng của ngôn ngữ học đối chiếu và lĩnh vực đối chiếu đã chọn 1 2 Quá trình hình thành và phát triển.

Trang 1

Đề tài: Đối chiếu hệ thống âm vị trong tiếng Lào

Trang 2

MỤC LỤC

1.Giới thiệu chung về ý nghĩa và tầm quan trọng của ngôn ngữ học đối chiếu và

lĩnh vực đối chiếu đã chọn 1

2.Quá trình hình thành và phát triển của NNH ĐC 1

3 Nhiệm vụ và phương pháp của NNH ĐC 3

3.1 Đối với ngôn ngữ học đại cương 3

3.2 Đối với ngôn ngữ học mô tả 3

3.3 Đối với loại hình học 4

4.Chuyển di ngôn ngữ trong so sánh đối chiếu 2 ngôn ngữ 4

5 Đối chiếu hệ thống âm vị trong Tiếng Việt và Tiếng Lào 5

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

1.Giới thiệu chung về ý nghĩa và tầm quan trọng của ngôn ngữ học đối chiếu và lĩnh vực đối chiếu đã chọn

Đối chiếu các ngôn ngữ cho khả năng xác định không chỉ các dữ kiện và hiện tượng

có các chức năng tương tự trong các ngôn ngữ được đối chiếu, mà còn xác định vị trí của chúng trong các hệ thống theo chức năng Ví dụ, khi đề cập đến hệ thống các phương tiện mang nghĩa chỉ hành động, có thể nói rằng trong tiếng Anh tiếp tố -er chắc chắn là hạt nhân của hệ thống chức năng các phương tiện tạo ra danh từ chỉ vật mang hành động, hơn nữa, tiếp tố này có khả năng to lớn trong việc tạo lập các danh

từ trên cơ sở một động từ bất kì Trong tiếng Việt, nhân tố được dùng để tạo từ chỉ người hành động thường là từ riêng biệt và được gọi là từ tố, ví dụ "viên" trong các từ nhân viên, sinh viên, viên chức và v.v

Nghiên cứu đối chiếu ngữ pháp trong văn bản khoa học giải quyết các quan hệ tương đồng và không tương đồng về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ khoa học Trong phân tích đối chiếu ngôn ngữ, các hiện tượng ngôn ngữ càng giống nhau thì càng có nhiều tương đồng về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ được đối chiếu Ví dụ, khi đối chiếu tiếng Việt với tiếng Hán hoặc với tiếng Thái thì mức độ giống nhau nhiều hơn là đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Nga hoặc tiếng Bun Trong trường hợp đối chiếu các ngôn ngữ rất khác nhau về loại hình thì sẽ tìm thấy nhiều điểm khác nhau về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ Sự khác nhau này có tính hệ thống, khái quát (thanh điệu trong tiếng Việt, cách trong tiếng Nga v.v.) Nếu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh thì sẽ tìm thấy nhiều điểm giống nhau hơn trong ngôn ngữ (cùng là các ngôn ngữ phân tích tính, trật tự câu rõ ràng v.v.) Trong các ngôn ngữ khi đối chiếu luôn tồn tại sự không tương đồng về ngữ pháp, ngữ nghĩa hoặc tuyến dẫn xuất nghĩa phái sinh Ví dụ, từ loại tiếng Việt và tiếng Anh có sự không tương đồng về số lượng

và loại hình

Trang 4

2.Quá trình hình thành và phát triển của NNH ĐC

Ngôn ngữ học gồm ba ngành chính:

+ Thời kì đầu: Chỉ miêu tả ngôn ngữ (Ngôn ngữ học miêu tả);

+ Đến cuối thế kỉ XIX: So sánh các ngôn ngữ (Ngôn ngữ học so sánh);

+ Cuối thế kỉ XIX đến nay: Ngôn ngữ học lí thuyết

Ngôn ngữ học đối chiếu là một phân ngành của Ngôn ngữ học so sánh.

+ Ngôn ngữ học đối chiếu: Phát triển mạnh và trở thành một lĩnh vực nghiên cứu độc

lập từ những năm 50 của thế kỉ trước, do nhu cầu khắc phục lỗi trong quá trình học ngoại ngữ Tuy nhiên, việc đối chiếu các ngôn ngữ với nhau đã được tiến hành từ lâu

Vì vậy, ngày nay người ta thường phân biệt 3 thời kì phát triển của Ngôn ngữ học đối chiếu:

* Thời kì thứ nhất (từ những năm 80 của thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX): Phát triển

ở Đức, Pháp sau đó ở Nga Đối tượng đối chiếu là từ vựng và ngữ pháp Kết quả là sự

ra đời của các cuốn từ điển nhiều thứ tiếng (ví dụ: “Thư mục về các ngôn ngữ đã biết

và các nhận xét về những điểm giống nhau và khác nhau giữa chúng” của các nhà

ngôn ngữ học Đức Về ngữ pháp, cuốn ngữ pháp của Port-Royal được xây dựng trên

cơ sở phân tích đối chiếu các tiếng Hy Lạp cổ, tiếng Do Thái cổ với tiếng Latinh và tiếng Pháp trở thành một mẫu hình cho việc miêu tả các ngôn ngữ

* Thời kì thứ hai (thế kỉ XIX): Ngôn ngữ học đối chiếu hòa vào ngôn ngữ học so

sánh-lịch sử Thời kì này, ranh giới giữa các nghiên cứu so sánh-lịch sử, loại hình học

và đối chiếu chưa được phân biệt rõ ràng Mục đích nghiên cứu đối chiếu hay so

sánh-lịch sử là nhằm xác định các dòng họ hoặc các nhóm ngôn ngữ.

* Thời kì thứ ba (từ đầu thế kỉ XX): Ngôn ngữ học đối chiếu nói riêng và ngôn ngữ

học nói chung phát triển mạnh mẽ do nhu cầu học và sử dụng ngoại ngữ tăng lên

Trang 5

Thời kì này, ngôn ngữ học đối chiếu gắn bó chặt chẽ với ngôn ngữ học miêu tả Tuy nhiên, người ta không chỉ kết hợp các nghiên cứu đối chiếu với miêu tả ngôn ngữ mà còn kết hợp với nghiên cứu loại hình và nghiên cứu so sánh-lịch sử

Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong quá trình phát triển của ngôn ngữ học so sánh Tuy nhiên, theo cách hiểu hiện nay thì ngôn ngữ học đối chiếu khác với ngôn ngữ học so sánh ở chỗ: nó bao quát nhiều ngôn ngữ , bất luận ngôn ngữ đó có loại hình giống nhau hay khác nhau, có cùng nguồn gốc hay khác nguồn gốc Ngôn ngữ học đối chiếu hình thành trong quá trình tìm kiếm một cách dạy và học ngoại ngữ nhanh hơn và hiệu quả hơn Như vậy, các yêu cầu của việc học và dạy ngôn ngữ là nhân tố quan trọng dẫn đến sự hình thành của ngôn ngữ học đối chiếu

3 Nhiệm vụ và phương pháp của NNH ĐC

3.1 Đối với ngôn ngữ học đại cương

Nhờ kết quả của ngôn ngữ học đối chiếu, ngôn ngữ học đại cương trong nhiều trường hợp có thể điều chỉnh, bổ sung và kiểm chứng các khái niệm, phạm trù VD: phạm trù loại trong lịch sử nghiên cứu của ngôn ngữ học đối chiếu cho rằng phạm trù này đồng nhất với phạm trù logic ví như danh từ đồng nhất với phạm trù sự vật, động từ đồng nhất với phạm trù hành động Có thời kỳ, đồng nhất phạm trù này với phạm trù hình thái có sự nhầm lẫn như vậy là vì tại từng thời kỳ các cứ liệu của ngôn ngữ học đối chiếu chỉ khái quát hoá nên được những kết luận như vậy

3.2 Đối với ngôn ngữ học mô tả

Ngôn ngữ học mô tả có nhiệm vụ là nghiên cứu cấu trúc hệ thống của ngôn ngữ (ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp) Ngôn ngữ học đối chiếu có tác dụng nhất định đối với ngôn ngữ học mô tả:

Trang 6

–Cung cấp cứ liệu cần thiết cho ngôn ngữ học mô tả.

– Kiểm định xem sự mô tả có chính xác hay không? Ví dụ những cứ liệu đối chiếu cho thấy trong các ngôn ngữ đơn lập, nhiều ngôn ngữ có thanh điệu nên khi ta được nghe một ngôn ngữ nào đó mới lạ, ta có thể pháp đoán ngôn ngữ đó có thanh điệu hay không?

3.3 Đối với loại hình học

Nhiệm vụ của loại hình học là so sánh đối chiếu ngôn ngữ để phân loại về mặt loại hình còn ngôn ngữ học đối chiếu không có nhiệm vụ như vậy, nhưng trong nhiều trường hợp, các cứ liệu của ngôn ngữ học đối chiếu cho phép kiểm chứng, bổ sung, làm sáng tỏ hơn những đặc điểm của loại hình học Ví dụ nghiên cứu loại hình âm tiết của TV trong đối chiếu với ngôn ngữ châu Âu Dù mục đích phải là phân loại loại hình học nhưng vẫn phải so sánh TV với ngôn ngữ châu Âu để nghiên cứu và đưa ra kết luận

4.Chuyển di ngôn ngữ trong so sánh đối chiếu 2 ngôn ngữ

Chuyển di ngôn ngữ là yếu tố chủ đạo trong quá trình hình thành ngôn ngữ trung gian bởi vì người học cần sử dụng những tài nguyên ngôn ngữ có sẵn để tạo lập ngôn ngữ trung gian, và những nguồn tài nguyên đó đều xuất phát từ ngôn ngữ mẹ đẻ Vì vậy, chuyển di ngôn ngữ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai

Theo tác giả Dulay, Burt và Krashen (1982) đưa ra hai cách để định nghĩa về chuyển

di ngôn ngữ Một là nhìn từ khía cạnh tâm lý học, đó là sự ảnh hưởng của những thói quen cũ khi một người bắt đầu học những ngôn ngữ mới Quan điểm thứ hai từ khía cạnh ngôn ngữ học xã hội cho rằng những tác động ngôn ngữ xảy ra khi hai ngôn ngữ tiếp xúc với nhau, với ba ví dụ là: sự vay mượn, sự chuyển mã và cố tật (hay hoá

Trang 7

thạch (fossilization) – một lỗi nào đó lặp đi lặp lại, lâu dần trở thành tật và không thể khắc phục được)

Theo Odlin (1989) định nghĩa chuyển di ngôn ngữ là “sự ảnh hưởng tích cực và tiêu cực do sự giống và khác nhau giữa ngôn ngữ đích và các ngôn ngữ đã được tiếp nhận khác gây ra”

Còn Nguyễn Văn Khang (2014) thì cho rằng: chuyển di là một sự lệch chuẩn thường thấy do giao thoa gây ra Đó là do sự ảnh hưởng xuất phát từ sự giống nhau và khác nhau giữa ngôn ngữ đích và bất kì ngôn ngữ nào đã được thụ đắc chưa hoàn hảo trước đó

5 Đối chiếu hệ thống âm vị trong Tiếng Việt và Tiếng Lào

Bước 1: Miêu tả

a Miêu tả hệ thống âm vị trong Tiếng Việt

- Hệ thống âm đầu

Tiếng Việt có 22 phụ âm đầu, bao gồm:

/b, m, f, v, t, t’, d, n, z, ʐ, s, ş, c, ʈ, ɲ, l, k, χ, ŋ, ɣ, h, ʔ/

Bảng hệ thống âm đầu tiếng Việt

Trang 8

- Hệ thống âm đệm

Âm đệm /w/ có chức năng làm trầm hoá âm sắc của âm tiết.

- Hệ thống âm chính

Tiếng Việt có 13 nguyên âm đơn và 3 nguyên âm đôi làm âm chính:

/i, e, ε, ɤ, ɤˇ, a, ɯ, ă, u, o, ɔ, ɔˇ, εˇ, ie, ɯɤ, uo/

Bảng hệ thống nguyên âm tiếng Việt

- Hệ thống âm cuối

Ngoài âm cuối /rezo/, tiếng Việt còn có 8 âm cuối có nội dung tích cực, trong đó

có 6 phụ âm /m, n, ŋ, p, t, k/ và hai bán nguyên âm /-w, -j/.

Bảng hệ thống âm cuối tiếng Việt

Trang 9

- Hệ thống thanh điệu

Tiếng Việt có 6 thanh điệu

Trang 10

- Quy luật hình thành thanh điệu tiếng Việt

Trong quá trình lịch sử phát triển của mình, nhóm ngôn ngữ Việt Mường đã có một

chuyển đổi quan trọng mang tính quy luật: ban đầu chúng là những ngôn ngữ/ phương ngữ không thanh điệu, về sau hệ thống thanh điệu xuất hiện và có diện mạo như ngày nay Chuyển đổi mang tính quy luật này thường được các nhà nghiên cứu gọi là quy luật hình thành thanh điệu và do A.G Haudricourt giải thích từ năm 1954.

Sơ đồ dưới đây cho chúng ta biết rằng sự xuất hiện các thanh xảy ra là do các biến đổi của âm cuối (rụng đi) và phụ âm đầu (lẫn lộn vô thanh với hữu thanh)

Bản chất của quá trình này là vấn đề đường nét các thanh điệu có liên quan đến cách kết thúc âm tiết Bản chất của quá trình này cũng là sự xuất hiện âm vực của từ

và sau đó là độ cao của thanh điệu nhằm giải quyết mối tương ứng hữu thanh và vô thanh lẫn lộn.

Đầu công nguyên

(không thanh)

Thế kỉ thứ VI (ba thanh)

Thế kỉ XII (sáu thanh) Ngày nay

Trang 11

Đầu công nguyên

(không thanh)

Thế kỉ thứ VI (ba thanh)

Thế kỉ XII (sáu thanh) Ngày nay

SƠ ĐỒ VỀ NGUỒN GỐC CÁC THANH TRONG TIẾNG VIỆT

Tiếng Lào

Nguyên âm Lào là một trong ba phần tử cấu thành từ trong tiếng Lào đó là: Phụ âm, nguyên âm và dấu thanh

Nguyên âm Lào gồm có 28 nguyên âm, được chia thành 12 cặp nguyên âm ngắn và dài và 4 nguyên âm đặc biệt như sau: 12 nguyên âm ngắn (x ະ, xິ, xຶ, xຸ, ເ x ະ, ແ x ະ, ໂ x

ະ, ເ x າະ, ເ xິ, ເ xັຍ, ເ xຶອ , xົວະ), 12 nguyên âm dài (x າ, xີ, xື, xູ, ເ x, ແ x, ໂ x, xໍ, ເ xີ,

ເ x ຍ, ເ xືອ, xົວ) và 4 nguyên âm đặc biệt (ໄ x, ໃ x, ເ xົາ, x າໍ)

Ngoài ra, khi 2 nguyên âm kết hợp với nhau tạo thành một âm mới thì người ta gọi đó

là nguyên âm ghép hoặc nguyên âm hỗn hợp Trong tiếng Lào có 6 nguyên âm ghép tạo thành 3 cặp nguyên âm ngắn dài như sau: 18 nguyên âm đơn (xະ, x າ, xິ, xີ, xຶ, xື, xຸ,

Trang 12

xູ, ເ x ະ, ເ x, ແ x ະ, ແ x, ໂ x ະ, ໂ x, ເ x າະ, xໍ, ເ xິ, ເ xີ), 6 nguyên âm ghép (ເ xັຍ, ເ x ຍ,

ເ xຶອ , ເ xືອ, xົວະ, xົວ) và 4 nguyên âm đặc biệt (ໄ x, ໃ x, ເ xົາ, x າໍ)

Nguyên âm ngắn Phiên âm Nguyên âm dài Phiên âm

Các nguyên âm đặc biệt

Bước 2: Xác định tiêu chí đối chiếu

-Bảng chữ cái

- Nguyên âm

- Phụ âm

- Âm tiết

Bước 3: Đối chiếu

+Giống nhau

Cả hai đều là từ ngữ không biến âm

Trang 13

Trong tiếng Lào cà tiếng việt có những từ phát âm gần gần giống nhau như mẹ, mèo, mực viết, con mực, cà phê, tủ, ngu ngốc,…

Tiếng Lào có 5 thanh điệu tương đương với 5 thanh điệu của tiếng Việt, tuy nhiên có một thanh điệu được gọi là luyến lên - luyến xuống lại được biến đổi tùy từng trường hợp sử dụng phù hợp với ngữ cảnh và sắc thái biểu cảm để có lúc thì phát âm như thanh sắc nhưng cũng có khi lại được phát âm như thanh nặng của tiếng Việt tạo ra sự huyền diệu của tiếng Lào

+Khác nhau

Tuy nhiên, tiếng Việt và tiếng Lào có những âm riêng biệt, đó là cách bạn có thể phân biệt được hai thứ Ví dụ, tiếng Lào có âm L và âm R được cắt tỉa riêng biệt giống như ngôn ngữ châu Âu, trong khi tiếng Việt có nhiều loại nguyên âm riêng biệt hơn Ngoài

ra, tiếng Lào có vốn từ vựng tiếng Phạn mà tiếng Việt còn thiếu, với nhiều từ đa âm hơn

Tập lệnh Chữ nổi tiếng Thái và tiếng

Lào

Latin

+ Không có khoảng trống giữa các từ, chỉ có giữa các cụm từ hoặc câu trong tiếng Lào

+Các bảng chữ cái của Lào đã được cải cách nhiều lần trong 50 năm qua

+ Từ vựng của tiếng Việt chịu ảnh hưởng của Ngôn ngữ Trung Quốc

Trang 14

+ Ngôn ngữ duy nhất ở Đông Á sử dụng bảng chữ cái Latinh là tiếng Việt.

Vì phần lớn các Nguyên âm trong tiếng Lào và tiếng Thái giống nhau nên sự phát âm của 2 Ngôn ngữ này phụ thuộc chính vào các Nguyên âm này

+ Tiếng Việt văn hóa với cơ sở là tiếng Hà Nội có sáu thanh điệu là ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng Về mặt chính tả, trừ thanh ngang không dấu, chúng ta sử dụng dấu thanh (diacritics hay tone marks) cho năm thanh điệu huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng Ngoài ra về mặt đường nét, thanh điệu tiếng Việt có thể chia ra làm hai loại lớn là thanh điệu đi ngang, bằng phẳng (thanh bằng), và thanh điệu không bằng phẳng (thanh trắc) Thanh bằng có Thanh ngang và Thanh huyền, là những thanh mà khi phát

âm âm thanh đi ngang thoai thoải Trong nhóm thanh bằng này thì Thanh ngang có âm vực hay tần số âm thanh cao hơn Thanh huyền Cả hai đều phát âm thoải mái không căng thẳng Thanh trắc bao gồm 4 thanh còn lại là Sắc, Hỏi, Ngã, Nặng, có đường nét

và kiểu phát âm phức tạp

KẾT LUẬN

Xét về sự tương đồng về mặt ngôn ngữ, tiếng thuộc ngữ hệ Tai-Kadai Khả năng hiểu rõ lẫn nhau của hai ngôn ngữ này liên tục từ một phía đến một phần nào đó song ngữ, tùy thuộc vào nhóm dân tộc nào đang được nghiên cứu

Tiếng Khmer và tiếng Việt là thành viên của ngữ hệ Môn-Khmer Tiếng Việt là một ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Thái và tiếng Lào, trong khi tiếng Khmer thiếu âm sắc Tiếng Khmer được sử dụng ở Thái Lan như sổ đăng ký hoàng gia, được sử dụng

để xưng hô với gia đình hoàng gia Rất nhiều từ tiếng Khmer được sử dụng trong phương ngữ Thái chuẩn (hay còn gọi là tiếng Thái Bangkok) Tiếng Việt không quá gần với tiếng Lào Tuy nhiên, một số dân tộc sống rải rác ở Việt Nam có nguồn gốc Tai-Kadai Dân số nói tiếng Tai-Kadai thực sự trải dài lên phía bắc đến miền Nam Trung Quốc (người Choang và Đông ở Quảng Tây)

Trang 15

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phạm Thanh Tịnh (2014) Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Lào Hà Nội: Nxb Văn hóa – Thông tin

[2] Nguyễn Như Ý (2003) Từ điển giải thích thuât ngữ Ngôn ngữ học Hà Nội: Nxb Giáo dục

[3] Cao Xuân Hạo (2005) Sự tích bốn chữ “CHÍNH TRƯỚC PHỤ SAU” trong Việt ngữ học

[4] Tạ Văn Thông (2018) Chuyện “Chiếc, Cái, Con…” và tâm sự của nhà ngữ pháp

[5] Đọc thêm: Mai Ngọc Chừ (vc) Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục,

H 1997, trang 91–105

Ngày đăng: 28/12/2022, 13:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w