1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

THỰC TRẠNG áp DỤNG PHÁP LUẬT và GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN đối với vấn đề ĐĂNG ký kết hôn có yếu tố nước NGOÀI tại THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH

32 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Áp Dụng Pháp Luật Và Giải Pháp Hoàn Thiện Đối Với Vấn Đề Đăng Ký Kết Hôn Có Yếu Tố Nước Ngoài Tại Thành phố Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hôn nhân và Gia đình
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 71,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1 1 Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài Đối với mỗi chúng ta, khái niệm “kết hôn” không quá xa lạ hay nói cách khác là vô cùng gần.

Trang 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ

NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài

Đối với mỗi chúng ta, khái niệm “kết hôn” không quá xa lạ hay nói cách khác là

vô cùng gần gũi, được sử dụng phổ biến trong đời sống thường ngày cũng như trong cácvăn bản quy phạm pháp luật

Tuy nhiên dưới mỗi góc độ nghiên cứu và theo nhu cầu sử dụng từ ngữ trong từnghoàn cảnh mà khái niệm này được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau

Theo Từ điển Tiếng Việt (Dictionary of Vietnamese), “kết hôn” được hiểu là

“chính thức lấy nhau làm vợ chồng”1 Còn theo Từ điển Luật học: “kết hôn là việc nam

và nữ xác lập quan hệ vợ chồng khi thỏa mãn các điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân”2

Dưới góc độ xã hội, kết hôn là việc nam, nữ lấy vợ, lấy chồng khi đã trưởng thànhtheo quan niệm của xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật Nam, nữ có vợ cóchồng là sự kiện đánh dấu họ đã trưởng thành về mặt thể chất, trí tuệ và trách nhiệm đốivới gia đình và xã hội Người đã có vợ, có chồng có nghĩa vụ phải tiếp bước truyềnthống, phong tục, tập quán về gia đình và thực hiện chức năng cao quý là sản sinh ra thế

hệ kế tiếp nhằm duy trì dòng họ, thân tộc và góp phần phụng sự quốc gia, dân tộc.3

Dưới góc độ pháp lý, theo khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

“kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của luật này

về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Đây chính là cách hiểu mang tính pháp lý

được nhà làm luật thể hiện cụ thể thông qua quy định tại luật chuyên ngành nhằmđảm bảo cách hiểu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật Và cũng là cách hiểu

mà nhóm tác giả thống nhất hiểu khi sử dụng từ ngữ này trong nội dung tiểu luận

1Trung tâm Từ điển học (2015), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 639.

2Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư Pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp, tr 410.

3Nguyễn Văn Tiến, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Chương IV, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia

Việt Nam, tr.152.

Trang 2

Đối với khái niệm “kết hôn có yếu tố nước ngoài”, pháp luật Việt Nam chưa cóvăn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa về cách hiểu thống nhất đối với thuật ngữnày Tuy nhiên căn cứ vào khái niệm “quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài” được hiểu

là “quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” và khái niệm “kết hôn” được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 định nghĩa tại Điều 3, từ đó có thể kết luận: kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng

ký kết hôn, trong đó ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định

cư ở nước ngoài hoặc việc kết hôn được xác lập theo quan hệ pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài, trước cơ quan có thẩm quyền ở nước ngoài.

Các trường hợp được xem là kết hôn có yếu tố nước ngoài:4

- Người Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam, trước cơ quan nhànước có thẩm quyền của Việt Nam;

- Công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam hoặc trước cơquan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài;

- Công dân Việt Nam mà một hoặc hai bên định cư ở nước ngoài kết hôn với nhautại Việt Nam hoặc tại nước ngoài;

- Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài kết hôn với công dân ViệtNam hoặc với người nước ngoài tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài;

- Công dân Việt Nam với người nước ngoài kết hôn với nhau tại nước ngoài, trước

cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài (hai bên kết hôn đều là công dân Việt Nam nhưngcăn cứ xác lập quan hệ vợ chồng là ở nước ngoài)

4Lê Thị Mận, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Chương IX, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt

Nam, tr.516.

Trang 3

1.2 Đặc điểm kết hôn có yếu tố nước ngoài

Dựa vào khái niệm trên có thể rút ra một số đặc điểm của kết hôn có yếu tố nướcngoài sẽ giống với đặc điểm của quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài như sau:

Thứ nhất, chủ thể tham gia kết hôn có ít nhất một bên là người nước ngoài, ngườiViệt Nam định cư nước ngoài

Theo Điều 3 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thìngười nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam Như vậy, người nước ngoài cóthể bao gồm người có quốc tịch nước ngoài hoặc người không mang quốc tịch

Bên cạnh đó, theo Điều 3 của Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 thì người Việt

Nam định cư ở nước ngoài sẽ bao gồm “công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài” Cũng theo quy định trên thì khái niệm người gốc

Việt Nam định cư ở nước ngoài là người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh raquốc tịch của họ được xác định theo nguyên tắc huyết thống, vậy thì cha đẻ hoặc mẹ đẻ,ông nội hoặc bà nội, ông ngoại hoặc bà ngoại của họ đã từng là người có quốc tịch ViệtNam

Như vậy, đối tượng để xác định kết hôn có yếu tố nước ngoài không chỉ xác địnhdựa trên yếu tố quốc tịch mà còn dựa trên yếu tố nơi cư trú Trong bối cảnh hội nhậpquốc tế, rất nhiều vấn đề đã được toàn cầu hóa cho nên số lượng cộng đồng người ViệtNam ở nước ngoài ngày càng nhiều Chính vì vậy đây là cơ chế xác định đối tượng chủthể nhằm bảo vệ quyền lợi của người mang quốc tịch Việt Nam và những người ViệtNam định cư nước ngoài

Thứ hai, giữa các bên là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập quan hệ theopháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài

Trên cơ sở chủ động hội nhập, tham gia ký kết và công nhận các quy tắc chungcủa cộng đồng quốc tế, nhằm tiến bộ và phát triển thì việc kết hôn có yếu tố nước ngoàikhông chỉ được điều chỉnh bởi các quy định trong nước mà còn được điều chỉnh bởi cácquy định quốc tế chung, thậm chí là được điều chỉnh bởi cả quốc gia khác Việc kết hônphát sinh hay xác lập ở nước ngoài, trước cơ quan thẩm quyền ở nước ngoài khôngđương nhiên được công nhận tại Việt Nam, trừ trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt

Trang 4

Nam là thành viên có quy định và đương nhiên công nhận hành vi kết hôn đó với nhữngđiều kiện xác định.

1.3 Điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài

Điều kiện kết hôn là những tiêu chí được nhà làm luật đặt ra nhằm yêu cầu nhữngchủ thể kết hôn phải có Bên cạnh đó thì có những điều kiện được đặt ra mà chủ thểkhông được có những điều kiện đó thì mới có thể kết hôn

Điều kiện kết hôn có thể nói là đã tồn tại từ rất lâu với những tiêu chí khác nhau,tùy thuộc vào rất nhiều các yếu tố như lãnh thổ, tôn giáo, chính trị, văn hóa, phong tục,tập quán, … Như vậy, mỗi quốc gia vào từng giai đoạn, từng thời điểm lại có những điềukiện kết hôn khác nhau, thậm chí trong một quốc gia mỗi thời kỳ lại quy định khác vềđiều kiện kết hôn Ví dụ như ở một số quốc gia vẫn công nhận hôn nhân đồng giới(Brasil, Argentina, Hà Lan, ) và được cho là hợp pháp còn ở Việt Nam thì không, điều

đó được thể hiện qua quy định tại khoản 2 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.Nhưng không thể nói sự xuất hiện hay thay đổi các điều kiện kết hôn là yếu tố cản trởnhững chủ thể đến được với hôn nhân mà điều kiện kết hôn được quy định nhằm bảo vệ,bảo đảm quan hệ hôn nhân và gia đình Những quy định đó được xác lập và thay đổikhông chỉ dựa vào các ngành pháp lý hay ngành y học mà còn dựa vào tâm lý học, xã hộihọc, … đồng thời còn chịu sự tác động từ tôn giáo, phong tục tập quán, truyền thống củamỗi dân tộc Chính vì vậy điều kiện kết hôn mới được xác lập và thay đổi sao cho phùhợp với tâm sinh lý của con người, phù hợp với quyền và nghĩa vụ mà pháp luật đặt ra,phù hợp quan điểm chính trị của quốc gia, phong tục tập quán của dân tộc, …

Hiện nay xu thế toàn cầu hóa đang phát triển, những điều kiện kết hôn có yếu tốnước ngoài theo đó cũng được thay đổi Tuy nhiên sự thay đổi này là chưa đủ vì giữa cácquốc gia vẫn có những sự khác biệt rất lớn Chính vì vậy cần có sự trao đổi giữa các quốcgia nhằm điều chỉnh vấn đề này Thông thường, để thống nhất việc chọn luật áp dụng,các nước ký các điều ước quốc tế trong đó quy định điều kiện kết hôn của các bên sẽ dopháp luật của nước mà các bên chủ thể điều chỉnh.5 Trong các hiệp định tương trợ tư

5Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb, Hồng Đức –

Hội Luật gia Việt Nam, Chương IX, tr.518.

Trang 5

pháp mà Việt Nam là thành viên thì các quy phạm xung đột hướng tới việc chủ thể mangquốc tịch của quốc gia nào thì áp dụng điều kiện của quốc gia đó.

Căn cứ để xác định điều kiện kết hôn đối với các chủ thể theo Điều 126 Luật Hônnhân gia đình năm 2014 như sau:

- Đối với việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của nướcngoài thì công dân Việt Nam phải đáp ứng được các điều kiện kết hôn mà pháp luật ViệtNam quy định còn công dân nước ngoài phải tuân thủ các điều kiện kết hôn theo phápluật nước mà họ mang quốc tịch

- Đối với việc kết hôn được tiến hành trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền củaViệt Nam thì khi kết hôn thì công dân phải tuân theo các điều kiện pháp luật của nước mà

họ mang quốc tịch, đồng thời nếu như là người nước ngoài thì phải tuân điều kiện màpháp luật Việt Nam quy định

Các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 bao gồm: điều kiện về tuổi tác, điều kiện về ý chí chủ thể, điều kiện về hành vi dân

sự và các trường hợp cấm kết hôn

1.3.1 Điều kiện về tuổi kết hôn

Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thìtuổi kết hôn của nam là từ đủ 20 trở lên, nữ từ đủ 18 trở lên

Điều kiện này được xây dựng dựa trên những yếu tố phù hợp với điều kiện tâmsinh lý con người, khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân và gia đình, lịch

sử lập pháp, …

Thứ nhất, về tâm sinh lý con người Đây có thể coi là yếu tố quan trọng nhất quyếtđịnh khả năng kết hôn của con người Về mặt sinh học, cơ thể con người lúc đó mới pháttriển đầy đủ, đủ khả năng thực hiện chức năng gia đình Nam nữ xác lập quan hệ hônnhân để thực hiện chức năng cơ bản của gia đình là duy trì nòi giống Đến độ tuổi này,nam và nữ mới đạt sự phát triển hoàn thiện Một số nghiên cứu chỉ ra rằng: Các bà mẹsinh con trước tuổi 18 thường hay gặp các vấn đề về sức khỏe Không những thế, việc

Trang 6

quy định độ tuổi như vậy còn gắn liền với khả năng phát triển về tư duy nhận thức, gắnvới mức độ độc lập, tự chủ của chủ thể để thực hiện các chức năng gia đình.6

Thứ hai, về khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân và gia đình Kếthôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân và gia đình Chính vì vậy để thựchiện quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân thì đòi hỏi vợ chồng phải có khả năng, tráchnhiệm Khả năng và trách nhiệm không chỉ đòi hỏi về mặt tâm sinh lý mà còn đòi hỏi vềkinh nghiệm và kỹ năng nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tốt nhất củamột người làm chồng làm vợ, làm cha làm mẹ, …

Thứ ba, độ tuổi kết hôn mà Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định có sự

kế thừa từ các luật trước đó và phù hợp với yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội Điều kiện về

độ tuổi kết hôn nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên còn Luật Hôn nhân và giađình năm 2014 thì quy định độ tuổi nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên.Đây có thể coi là sự nới lỏng cho các chủ thể thực hiện kết hôn trên điều kiện về mặtpháp lý

1.3.2 Điều kiện về ý chí của chủ thể

Điều kiện này được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình

năm 2014: “Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định” Đây là một sự tiến bộ của

Luật Hôn nhân và gia đình Điều kiện này được thể hiện qua hành vi có mặt tại thời điểmđăng ký kết hôn, hoàn thành thủ tục kết hôn theo quy định của pháp luật Sở dĩ khi kếthôn không thể thiếu điều kiện này bởi vì tiêu chí để xây dựng điều kiện này là dựa trêncác quy tắc của pháp luật quốc tế về quyền con người nói chung và các nguyên tắc trongLuật Hôn nhân và gia đình nói riêng

Thứ nhất, điều kiện này là yếu tố quyết định sự tồn tại lâu dài trong hôn nhân cũngnhư đảm bảo sự hạnh phúc trong gia đình Hôn nhân là nhu cầu tất yếu của xã hội loàingười tuy nhiên đi kèm theo đó là các nghĩa vụ mà các chủ thể kết hôn phải thực hiệnkhông phải chỉ vì chính họ mà còn vì những chủ thể khác có liên quan, thậm chí là ảnhhưởng đến các lĩnh vực của đời sống Chính vì vậy, yếu tố bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

6 https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t7038-ban-ve-do-tuoi-ket-hon-theo-quy-dinh-cua-luat-hon-nhan-va-gia-dinh-2014.

Trang 7

trong hôn nhân đòi hỏi rất nhiều từ sự tự nguyện của mỗi chủ thể trong quan hệ hôn nhân

và gia đình

Thứ hai, điều kiện này là sự tiến bộ của các nhà lập pháp, xóa bỏ những tàn tíchcủa chế độ phong kiến lạc hậu, những tư tưởng sai lệch Có rất nhiều phong tục tập quántồn tại trong các thời kỳ trước và kèm theo đó là những tư tưởng đi ngược với sự pháttriển, phải kể đến là trọng nam khinh nữ, năm thê bảy thiếp Đây có thể coi là những yếu

tố ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ hôn nhân và gia đình

1.3.3 Điều kiện về năng lực hành vi dân sự

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì điều kiện về năng lực hành vi dân

sự là một trong những điều kiện quan trọng để hợp pháp việc kết hôn Căn cứ theo điểm ckhoản 1 Điều 8 Luật này quy định cả hai bên nam và nữ tại thời điểm kết hôn không bịmất năng lực hành vi dân sự Theo khoản 1 Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm

2014 về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài có nói rõ: Trong việc kết hôn giữa côngnhân Việt Nam với người nước ngoài thì mỗi bên phải tuân theo pháp luật nước mình vềđiều kiện kết hôn Vậy nên điều kiện cả hai bên nam và nữ tại thời điểm kết hôn không bịmất năng lực hành vi dân sự tại thời điểm kết hôn cũng đúng với trường hợp kết hôn cóyếu tố nước ngoài

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi củamình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015).Người thành niên – là người từ đủ mười tám tuổi trở lên – có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ trừ trường hợp được quy định tại các Điều 22, 23 và 24 của Bộ luật dân sự năm 2015

Và trong các trường hợp loại trừ của năng lực hành vi dân sự đầy đủ đó thì Điều 22 Bộluật này quy định về mất năng lực hành vi dân sự Cụ thể theo khoản 1 Điều 22 Luật này

có định nghĩa như thế nào là mất năng lực hành vi dân sự như sau: “khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích

Trang 8

liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự”.

Như vậy, để kết luận một người là mất năng lực hành vi dân sự cần hội tụ đủ 3điều kiện:

+ Người này trước đó có năng lực hành vi dân sự nhưng do bị bệnh tâm thần hoặcmắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình

+ Được người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan, tổ chức hữu quan yêu cầuTòa án tuyên bố tình trạng mất năng lực hành vi dân sự

+ Tòa án ra quyết định tuyên bố người này mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sởkết luận của giám định pháp y tâm thần

Pháp luật quy định về điều kiện bị mất năng lực hành vi dân sự thì không được kếthôn là bởi vì: Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là sự

tự nguyện Mà người bị tuyên là mất năng lực hành vi dân sự thì không thể nhận thứcđược việc kết hôn, không thể làm chủ được quyết định nên để người mất năng lực hành vidân sự kết hôn là vi phạm vào nguyên tắc tự nguyện trong hôn nhân và gia đình Việc đểngười mất năng lực hành vi dân sự kết hôn còn ảnh hưởng đến gia đình sau này,vợ/chồng, con cái vì họ không có khả năng chăm sóc con cái hay nâng cao cuộc sống giađình Gánh nặng sẽ đè lên người còn lại và điều đó ảnh hưởng nặng đến chất lượng cuộcsống và ảnh hưởng đến xã hội Chính vì lẽ đó mà dù kết hôn có yếu tố nước ngoài haykhông có yếu tố nước ngoài đều phải tuân thủ theo điều kiện trên khi áp dụng pháp luậtViệt Nam

1.3.4 Các trường hợp cấm kết hôn và chung sống như vợ chồng

- Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợchồng với người đang có chồng, có vợ;

- Cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người có quan hệ thânthuộc;

- Cấm kết hôn giả tạo;

- Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn

Trang 9

1.4 Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

1.4.1 Khái niệm đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: “đăng ký kết hôn” là ghi vào sổ đăng ký kết hôn để chính thức công nhận nam nữ là vợ chồng trước

Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật này có quy định khác” Vậy nên việc kết hôn có yếu tố nước

ngoài được tiến hành tại cơ quan nhà nước Việt Nam thì phải đăng ký kết hôn theo thủtục của Luật này để quan hệ hôn nhân có giá trị pháp lý

Dựa vào khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 định nghĩa vềquan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài và những phân tích trên thì ta có thể đưa ra khái

niệm về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài như sau: “Đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc ghi vào sổ đăng ký kết hôn để cơ quan nhà nước có thẩm quyền chính thức công nhận nam nữ là vợ chồng trước pháp luật, mà trong đó có ít nhất một bên tham gia

là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.

1.4.2 Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

7Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, Nhà xuất bản từ điển Bách

Khoa, Hà Nội.

Trang 10

Theo Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định:

- Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng kýkết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ởtrong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định

cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoàivới công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài

- Trường hợp người nước ngoài cư trú tại Việt Nam có yêu cầu đăng ký kết hôn tạiViệt Nam thì Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên thực hiện đăng

- Trường hợp người nước ngoài có yêu cầu đăng ký kết hôn với nhau tại Việt Namthì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nơi đăng ký thường trú của một trong hai bên, thực hiệnđăng ký kết hôn; nếu cả hai bên không đăng ký thường trú tại Việt Nam thì Ủy ban nhândân cấp tỉnh, nơi đăng ký tạm trú của một trong hai bên thực hiện đăng ký kết hôn

- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan đại diện lãnh sự và cơ quan khác được ủyquyền thực hiện chức năng lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài (sau đây gọi là Cơ quanđại diện) thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, nếuviệc đăng ký đó không trái với pháp luật của nước sở tại

Trường hợp công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài kết hôn với nhau thì Cơquan đại diện thực hiện đăng ký kết hôn, nếu có yêu cầu

Từ đó có thể thấy việc phân quyền cho các cơ quan Nhà nước thực hiện việc đăng

ký kết hôn có yếu tố nước ngoài được quy định hết sức cụ thể và chi tiết, tạo thuận lợi

Trang 11

cho công dân trong việc xác định cơ quan có thẩm quyền về việc tiến hành đăng ký kếthôn có yếu tố nước ngoài đồng thời sự phân quyền rõ ràng tránh được trường hợp chồngchéo về mặt thẩm quyền khiến việc giải quyết trì trệ hoặc không đảm bảo quyền lợi hợppháp của người tiến hành đăng ký cũng như tồn đọng hồ sơ trên thực tế.

1.4.3 Trình tự đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài

Theo Điều 38 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định trình tự thủ tục đăng ký kết hôn cóyếu tố nước ngoài:

- Hai bên nam, nữ nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy xác nhận của tổ chức y

tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâmthần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình cho cơquan đăng ký hộ tịch Người nước ngoài, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài phảinộp thêm giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân, bản sau hộ chiếu hoặc giấy tờ có giátrị thay hộ chiếu

- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định tại khoản 1Điều này, công chức làm công tác hộ tịch có trách nhiệm xác minh, nếu thấy đủ điều kiệnkết hôn theo quy định của pháp luật thì Phòng Tư pháp báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhândân cấp huyện giải quyết

- Khi đăng ký kết hôn cả hai bên nam, nữ phải có mặt tại trụ sở Ủy ban nhân dân,công chức làm công tác hộ tịch hỏi ý kiến hai bên nam, nữ, nếu các bên tự nguyện kếthôn thì ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch Haibên nam nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, traoGiấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ

- Chính phủ quy định bổ sung giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn, việc phỏngvấn, xác minh mục đích kết hôn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn; thủ tục cấp giấyxác nhận tình trạng hôn nhân cho công nhân Việt Nam để kết hôn với người nước ngoàitại cơ quan có thẩm quyền của người nước ngoài ở nước ngoài nhằm bảo đảm quyền, lợiích hợp pháp của các bên

Trình tự thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theo Nghị định126/2014/NĐ-CP được tiến hành như sau:

sau:

Điều 20 quy định hồ sơ đăng ký kết hôn gồm: một bộ hồ sơ bao gồm các giấy tờ

Trang 12

2 Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân hoặc tờ khai đăng ký kết hôn có xác nhận

tình trạng hôn nhân của công dân Việt Nam được cấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngàynhận hồ sơ; giấy tờ chứng minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do cơ quan cóthẩm quyền của nước mà người đó là công dân cấp chưa quá 06 tháng tính đến ngày nhận

hồ sơ, xác nhận hiện tại người đó là người không có vợ hoặc không có chồng Trườnghợp pháp luật nước ngoài không quy định việc cấp giấy tờ xác nhận tình trạng hôn nhân

Trang 13

thì thay bằng giấy tờ xác nhận tuyên thệ của người đó hiện tại không có vợ hoặc không

có chồng, phù hợp với pháp luật của nước đó

3 Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoàicấp chưa quá 06 tháng, tính đến ngày nhận hồ sơ, xác nhận người đó không mắc bệnhtâm thần hoặc bệnh bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ được hành vicủa mình

4 Đối với công dân Việt Nam đã ly hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nướcngoài, người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền củanước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận ghi vào Sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ởnước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam

5 Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú (đối với công dân Việt Nam cư trú ở trongnước), thẻ thường trú hoặc thẻ tạm trú hoặc chứng nhận tạm trú (đối với người nướcngoài thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam kết hôn với nhau)

Ngoài ra, tùy vào từng trường hợp mà các bên còn phải nộp các loại giấy tờ tươngứng khác theo quy định của pháp luật

Thủ tục nộp và tiếp nhận hồ sơ được quy định tại Điều 21 gồm:

+ Hồ sơ đăng ký kết hôn do một trong hai bên kết hôn nộp trực tiếp tại Sở Tưpháp, nếu đăng ký kết hôn tại Việt Nam hoặc Cơ quan đại diện, nếu đăng ký kết hôn tại

Cơ quan đại diện

Trang 14

+ Cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ trong hồ sơ, nếu hồ sơđầy đủ và hợp lệ thì viết phiếu tiếp nhận hồ sơ, ghi rõ ngày phỏng vấn và ngày trả kếtquả.

Trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ, không hợp lệ, cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫnhai bên nam, nữ bổ sung, hoàn thiện Việc hướng dẫn phải ghi vào văn bản, trong đó ghiđầy đủ, rõ ràng loại giấy tờ cần bổ sung, hoàn thiện; cán bộ tiếp nhận hồ sơ ký, ghi rõ họtên và giao cho người nộp hồ sơ Trường hợp người có yêu cầu nộp hồ sơ không đúng cơquan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 19 của Nghị định này thì cán bộ tiếpnhận hồ sơ có trách nhiệm hướng dẫn người đó đến cơ quan có thẩm quyền để nộp hồ sơ.Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn cũng được nhà làm luật đề cập tại Điều22:

- Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam không quá 25 ngày, kể từngày Sở Tư pháp nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí

Trường hợp Sở Tư Pháp yêu cầu cơ quan công an xác minh theo quy định tạikhoản 2 Điều 23 của Nghị định này thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 10 ngày

- Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Cơ quan đại diện không quá 20ngày, kể từ ngày Cơ quan đại diện nhận đủ hồ sơ hợp lệ và lệ phí

Trường hợp Cơ quan đại diện yêu cầu cơ quan trong nước xác minh theo quy địnhtại khoản 2 Điều 25 của Nghị định này thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 35ngày

Trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn tại Việt Nam được quy định tại Điều 23:

- Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, Sở Tư pháp có trách nhiệm:

1 Phỏng vấn trực tiếp hai bên nam, nữ tại trụ sở Sở Tư pháp để kiểm tra làm rõ vềnhân thân, sự tự nguyện kết hôn, mục đích kết hôn và mức độ hiểu biết của hai bên nam,

nữ về hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh cá nhân của nhau; về ngôn ngữ, phong tục tập quán,văn hóa pháp luật về hôn nhân và gia đình của mỗi nước Trường hợp cần phiên dịch đểthực hiện phỏng vấn thì Sở Tư pháp chỉ định người phiên dịch

Trang 15

Kết quả phỏng vấn phải được lập thành văn bản Cán bộ phỏng vấn phải nêu rõ ýkiến đề xuất của mình và ký tên vào văn bản phỏng vấn; người phiên dịch nếu có phảicam kết dịch chính xác nội dung phỏng vấn và ký tên vào văn bản phỏng vấn.

2 Nếu kết quả phỏng vấn cho thấy hai bên kết hôn chưa hiểu biết về hoàn cảnhcủa nhau thì Sở Tư pháp hẹn ngày phỏng vấn lại, việc phỏng vấn lại được thực hiện trongthời hạn 30 ngày kể từ ngày phỏng vấn trước

3 Nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ đăng ký kết hôn; trường hợp nghi vấn có khiếu nại,

tố cáo việc kết hôn thông qua môi giới nhằm mục đích kiếm lời, kết hôn giả tạo, lợi dụngviệc kết hôn để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, kết hôn vì mụcđích trục lợi khác hoặc xét thấy có vấn đề cần làm rõ Về nhân thân của bên nam và bên

nữ hoặc giấy tờ trong hồ sơ đăng ký kết hôn thì Sở Tư pháp xác minh làm rõ

- Trường hợp xét thấy vấn đề cần xác minh thuộc chức năng của cơ quan công anthì Sở Tư pháp có văn bản nêu rõ vấn đề cần xác minh, kèm theo bản chụp hồ sơ đăng kýkết hôn gửi cơ quan công an cùng cấp đề nghị xác minh

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của Sở Tư pháp,

cơ quan công an xác minh vấn đề được yêu cầu và trả lời bằng văn bản cho Sở Tư pháp

Nếu hết thời hạn xác minh theo quy định tại Điều này mà cơ quan Công an chưa

có văn bản trả lời thì Sở Tư Pháp vẫn hoàn tất hồ sơ, đề xuất ý kiến trình Chủ tịch Ủy bannhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định, trong đó nêu rõ vấn đề đã yêu cầu cơ quan Công

an xác minh

- Sau khi thực hiện phỏng vấn hai bên nam, nữ, nghiên cứu, thẩm tra hồ sơ kếthôn, ý kiến của cơ quan Công an (nếu có), Sở Tư pháp báo cáo kết quả và đề xuất giảiquyết việc đăng ký kết hôn, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định kèm theo bộ hồ sơđăng ký kết hôn

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trình của Sở Tưpháp cùng hồ sơ đăng ký kết hôn, nếu xét thấy hai bên nam, nữ đáp ứng đủ điều kiện kếthôn, không thuộc trường hợp từ chối đăng ký kết hôn quy định tại Điều 26 của Nghị địnhnày thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký Giấy chứng nhận kết hôn và trả hồ sơ cho

Sở Tư pháp để tổ chức lễ đăng ký kết hôn Trường hợp từ chối đăng ký kết hôn, Ủy ban

Trang 16

nhân dân cấp tỉnh có văn bản nêu rõ lý do gửi Sở Tư pháp để thông báo cho hai bên nam,nữ.

- Trường hợp kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau mà hai bên định cư ởnước ngoài, kết hôn giữa người nước ngoài với nhau tại Việt Nam thì không áp dụng biệnpháp phỏng vấn quy định tại khoản 1 điều này

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về vấn đề đăng ký kết hôn có yếu tố nước

ngoài tại thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1 Thuận lợi khi áp dụng pháp luật về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài tại

Thành phố Hồ Chí Minh

Việt Nam đang ngày càng hội nhập quốc tế, mở rộng quan hệ ngoại giao Đây làyếu tố giúp cho việc áp dụng các điều kiện kết hôn cũng như đăng ký kết hôn có yếu tốnước ngoài dễ dàng và thuận lợi hơn Việt Nam đã ký kết nhiều điều ước quốc tế về quan

hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài hay các Hiệp định tương trợ tư pháp về cácvấn đề dân sự, gia đình và hình sự với nhiều quốc gia (như Cộng hòa Cuba, Cộng hòaBalan,…) Từ đó, tạo được nhiều điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam ở nướcngoài có thể thực hiện được việc kết hôn dễ dàng mà không gặp các vấn đề tư pháp; đồngthời cũng là sự khuyến khích cho người nước ngoài đang định cư, sinh sống ở Việt Namtiến hành các thủ tục đăng ký kết hôn mà không phải lo lắng về các thủ tục tư pháp

Làm cho sự kì thị chủng tộc, rào cản về pháp lý, thủ tục về visa, sự cản trở đa dạng

về nghề nghiệp văn hóa và lối sống không thể tồn tại, phát huy tốt quyền tự do của conngười về mọi mặt

Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài được giao cho Uỷ ban nhândân cấp huyện, không còn là thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã tạo nhiều

Ngày đăng: 31/12/2022, 18:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w