Chính phủ chỉ đạo phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để có các giải pháp phù hợp, nhất là các vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý công ty cổ phần, cơ chế duy trì và nâng cao quyền làm chủ
Trang 1Bộ Giáo dục và đào tạo
Trường Đại học Mỏ - Địa chất
NGUYỄN VĂN BƯỞI
Nghiên cứu CƠ chế quản lý kinh tế phù hợp TRONG công ty cổ phần khai thác than Thuộc tập đoàn
công nghiệp than - khoáng sản việt Nam
Chuyờn ngành: Kinh tế cụng nghiệp
Mó số: 62.31.09.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS.NGND Nhõm Văn Toỏn
HÀ NỘI - 2011
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận án là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Các đánh giá, kết quả nghiên cứu, kết luận khoa học của Luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác trước đó
Hà nội, Ngày 12 tháng 12 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Văn Bưởi
Trang 3Tác giả luận án xin chân thành cảm ơn các cán bộ Phòng Đào tạo Sau đại học trường Đại học Mỏ - Địa chất; các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo đồng nghiệp trong Khoa Kinh tế - Quản trị kinh doanh và Bộ môn Quản trị doanh nghiệp Mỏ, trường Đại học Mỏ - Địa chất, bạn bè và người thân đã động viên, khích lệ và giỳpđỡ tác giả trong suốt quá trình công tác, nghiên cứu và thực hiện Luận án
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN 6
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về cơ chế quản lý doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng 6
1.1.1 Khái quát về các công trình nghiên cứu 6
1.1.2 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được 8
1.1.3 Đánh giá về những kết quả nghiên cứu đạt được và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện 11
1.2 Cơ sở lý thuyết về quản lý doanh nghiệp và CTCP 13
1.2.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp 13
1.2.2 Khái niệm về CTCP và CPH DNNN 15
1.2.3 Cơ chế quản lý kinh tế trong các công ty cổ phần 21
1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phù hợp cơ chế quản lý kinh tế của CTCP khai thác than 26
1.2.5 Khái quát sự phát triển của các quy định pháp luật về CPH DNNN 311
1.3 Kinh nghiệm quản lý CTCP sau CPH của một số nước và những gợi ý cho Việt Nam 36
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý CTCP ở một số nước 36
1.3.2.Một số kinh nghiệm cải cách cơ chế quản lý CTCP của các nước trên có thểvận dụng vào Việt nam 43
Trang 51.3.3 Những bài học kinh nghiệm về cơ chế quản lý CTCP ở trong nước 44
Chương 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CƠ CHẾ QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC THAN THUỘC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN – KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 48
2.1.Giới thiệu khái quát về Vinacomin và ngành Than 48
2.2 Quá trình CPH các DNNN thuộc Vinacomin và việc chuyển đổi các CTCP khai thác than 53
2.2.1 Giai đoạn thí điểm CPH DNNN từ năm 1990 đến năm 1992 53
2.2.2 Giai đoạn chính thức CPH DNNN từ năm 1993 đến nay 53
2.2.3 Những thành công và hạn chế trong CPH các DNNN thuộc Vinacomin 55
2.3 Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các CTCP khai thác than 57
2.4 Phân tích thực trạng cơ chế quản lý các CTCP khai thác than trong Vinacomin 61
2.4.1.Thực trạng cơ chế quản lý công ty 61
2.4.2 Thực trạng cơ chế khoán chi phí trong các CTCP khai thác than 68
2.4.3 Thực trạng cơ chế quản lý tài chính của các CTCP khai thác than 74
2.4.4 Thực trạng quản lý vốn nhà nước ở CTCP khai thác than 84
Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ ĐỀ XUẤT CƠ CHẾ QUẢN LÝ PHÙ HỢP TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN KHAI THÁC THAN THUỘC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 90
3.1 Định hướng phát triển Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 90
3.1.1 Quan điểm phát triển 90
3.1.2 Mục tiêu chiến lược 91
3.1.3 Định hướng phát triển các lĩnh vực và ngành 92
Trang 63.2 Các quan điểm xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với các công ty cổ
phần khai thác Than trong Vinacomin 98
3.2.1 Xây dựng cơ chế quản lý cho các CTCP khai thác than phải phù
hợp với chủ trương phát triển ngành Than, pháp luật hiện hành trong nền
kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước 98 3.2.2 Xây dựng cơ chế quản lý cho các CTCP khai thác than phù hợp
phải đảm bảo sự chi phối của Vinacomin và phù hợp với đặc điểm tổ
chức khai thác than cũng như tận thu tối đa tài nguyên 99 3.2.3 Xây dựng cơ chế quản lý trong CTCP khai thác than phải tạo
điều kiện cho CTCP là một thực thể kinh doanh độc lập, phát huy tinh
thần tự chủ, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm của công ty cổ phần 100 3.2.4 Xây dựng cơ chế quản lý công ty phải đảm bảo cho chủ sở hữu
Nhà nước tôn trọng và đảm bảo các quyền của chủ sở hữu khác, phải
hành xử như một chủ sở hữu chuyên nghiệp 102
3.3 Đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế trong Công ty cổ phần
khai thác Than thuôc Vinacomin 104
3.3.1 Đề xuất hoàn thiện cơ chế quản lý giám sát và cải thiện năng lực
hoạt động của cơ quan quản lý và điều hành công ty cổ phần khai thác
than 104 3.3.2 Đề xuất căn cứ đưa ra chính sách cổ tức phù hợp với Công ty cổ
phần khai thác than trong Vinacomin 111 3.3.3 Đề xuất hoàn thiện cơ chế khoán chi phí phân xưởng trong các
công ty cổ phần khai thác than 114 3.3.4 Đề xuất nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý và
điều hành công ty cổ phần khai thác than 137
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 146
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AICPA Viện kế toán công chứng Mỹ, American Institute of Certified
Public Accountants
AK Chỉ tiêu độ tro của than
CBCNVC Cán bộ công nhân viên chức
CIEM Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DNTN Doanh nghiệp tư nhân
Trang 8KHKD Kế hoạch kinh doanh
KPCĐ Kinh phí công đoàn
KTKT Kinh tế kỹ thuật
KTTT Kinh tế thị trường
KTXH Kinh tế xã hội
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế, Organization for
Economic cooperation and Development
P/E Hệ số giá thị trường trên thu nhập của mỗi cổ phiếu
QTDN Quản trị doanh nghiệp
SCTX Sửa chữa thường xuyên
SPDD Sản phẩm dở dang
SXKD Sản xuất kinh doanh
TĐKT Tập đoàn kinh tế
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNHH1TV Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên
TNKS Tài nguyên khoáng sản
VINACOMIN Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Vietnam
national coal and mineral industries holding corporation limited
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2 So sánh kết quả hoạt động sau và trước CPH của các CTCP khai
Bảng 2.4 Thống kê tỷ suất cổ tức của một số CTCP khai thác than trong
Bảng 2.5 Hiệu quả hoạt động SXKD của các CTCP khai thác than 84
Bảng 3.1 Dự kiến một số chỉ tiêu kinh tế, sản lượng giai đoạn 2010 - 2020,
Bảng 3.2 Mục tiêu sản lượng than dến năm 2020 có xét đến triển vọng đến
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ , ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ phân loại các doanh nghiệp Việt Nam 14 Hình 1.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý Tập đoàn các Công ty Than -
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức kinh doanh của Vinacomin 48 Hình 2.2 So sánh chỉ tiêu hiệu quả sau so với trước CPH 58
Hình 2.4 Nhận thức của doanh nghiệp CPH về quản trị doanh nghiệp 65 Hình 2.5 Ý kiến đánh giá về doanh nghiệp CPH giống với DNNN 66 Hình 2.6 Ý kiến đánh giá về doanh nghiệp CPH giống với DNTN 67 Hình 3.1 Tác động của chính sách phân phối lợi nhuận đối với triển
Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy khoán chi phí 134
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) là một xu thế và mang tính toàn cầu Việc gia nhập các tổ chức kinh tế của khu vực và thế giới luôn là mong muốn của nhiều quốc gia Xu thế hội nhập này tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp, song nó cũng buộc các doanh nghiệp phải tăng cường khả năng cạnh tranh của mình để chiếm lĩnh và tạo thế đứng vững trên thương trường Giải pháp cổ phần hoá những DNNN mà Nhà nước không cần giữ 100% vốn là một nội dung quan trọng trong tiến trình đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN Mục đích cổ phần hoá (CPH) DNNN là để huy động thêm vốn, tạo thêm động lực thúc đẩy DNNN kinh doanh có hiệu quả, từng bước tăng cường khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp
Thực hiện chủ trương của Đảng về cải cách và sắp xếp lại DNNN Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cũng đã chuyển đổi được
52 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp thành công ty cổ phần (CTCP), với tổng
số vốn đem cổ phần hoá 829 321 trđ, chiếm khoảng 12% tổng số vốn nhà nước tại Vinacomin, cũng như thành lập mới 7 CTCP do Tậpđoàn nắm cổ phần chi phối Tínhđến năm 2010 Vinacomin có 34 CTCP do Vinacomin nắm cổ phần chi phối và
25 CTCP trực thuộc công ty con củaVinacomin [64]
Cổ phần hoá là vấn đề còn khá mới mẻ và không ít khó khăn, phức tạp Chính phủ chỉ đạo phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm để có các giải pháp phù hợp, nhất là các vấn đề liên quan đến cơ chế quản lý công ty cổ phần, cơ chế duy trì và nâng cao quyền làm chủ thực sự của người lao động và cổ đông trong doanh nghiệp,
cơ chế giám sát của các công ty cổ phần sau cổ phần hoá
Nghị quyết đại hội X của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu: “Khẩn trương hoàn thành một cách vững chắc kế hoạch sắp xếp đổi mới và phát triển DNNN theo hướng hình thành loại hình công ty nhà nước đa sở hữu, chủ yếu là các công ty cổ phần Thúc đẩy việc hình thành một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước
Trang 11mạnh, hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có một số ngành chính có nhiều chủ sở hữu, trong đó có sở hữu nhà nước giữ vai trò chi phối”[41,Tr 232]
Việc hình thành một loạt các công ty cổ phần (CTCP) và Tập đoàn kinh tế (TĐKT) theo mô hình công ty mẹ (CTM) và công ty con (CTC) có thể gọi là đổi mới với nền kinh tế Việt Nam Khi chuyển sang CTCP hoạtđộng theo luật CTCP, hầu hết các CTCP đều xây dựngđiều lệ và các quy chế hoạtđộng Tuy nhiên trong quá trình chuyểnđổi các DNNN sang CTCP, cũng như trong hoạtđộng thực tế của các doanh nghiệp chuyểnđổi còn lúng túng, và có những vấnđề bất cập cần phảiđược nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn, nhất là trong lĩnh vực khai thác than cóđặc thù là tài nguyên do Nhà nướcđộc quyền quản lý, cần phải tận dụng tốiđa và
sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên, cần phải có cơ chế quản lý phù hợp Vì vậy, việc xây dựng cơ chế quản lý kinh tế thích hợp cho loại hình doanh nghiệp này đang đặt ra bức xúc và hết sức cần thiết Có một số công trình nghiên cứu về cổ phần hoá
và hậu cổ phần hoá nhưng lại tập trung vào các chính sách của Nhà nước về CPH, kết quả CPH, hoặc cơ chế quản lý CTCP cho nhiều loại hình CTCP, chứ chưa có công trình nàođi sâu nghiên cứu các CTCP trong lĩnh vực khai thác than Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài:”Nghiên cứu cơ chế quản lý kinh tế phù hợp trong công
ty cổ phần khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” là hết sức cần thiết và có tính thời sự
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
Nghiên cứu có hệ thống, có phân tích để tìm ra lời giải cho những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng cơ chế quản lý kinh tế phù hợp trong các CTCP ở Việt Nam nói chung và CTCP khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nói riêng Thông qua kết quả thành công và tồn tại trong quá trình áp dụng, tìm nguyên nhân, những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp đổi mới cơ chế quản lý kinh tế phù hợp trong CTCP khai thác than thuộc Vinacomin, nhằm tăng thêm động lực, thúc đẩy CTCP khai thác than kinh doanh có hiệu quả, từng bước tăng cường khả năng cạnh tranh cho các CTCP khai thác than
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế quản lý kinh tế phù hợp trong
CTCP khai thác than thuộc Vinacomin
Phạm vi nghiên cứu của luận án là các cơ chế quản lý chủ yếu trong CTCP
khai thác than thuộc Vinacomin như: cơ chế quản lý công ty, cơ chế quản lý tài chính, cơ chế khoán chi phí phân xưởng, thời gian chủ yếu từ năm 2005 cho đến nay
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan phân tích về nghiên cứu và thực tiễn cơ chế quản lý kinh tế CTCP
- Phân tích thực trạng cơ chế quản lý kinh tế trong CTCP khai thác than thuộc Tậpđoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt nam
- Xây dựng các quan điểm, luậnđiểm khoa học làm cơ sở cho việcđề xuất hoàn thiện các cơ chế quản lý trong CTCP khai thác than
4 Phương pháp nghiên cứu
Các nội dung củađề tàiđược nghiên cứu giải quyết trên cơ sở sử dụng phương pháp duy vật biện chứng nghiên cứu lý thuyết kết hợp với khảo sát, phân tích thực tiễn thông qua các phương pháp chuyên môn: phương pháp tiếp cận hệ thống, phân tích thống kê, điều tra điển hình, phương pháp diễn giải và quy nạp
5 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng, hình, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được trình bày trong 3 chương:
Chương 1 Tổng quan các nghiên cứu về cơ chế quản lý công ty cổ phần
Chương 2 Phân tích thực trạng cơ chế quản lý trong công ty cổ phần khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Chương 3 Định hướng và đề xuất cơ chế quản lý phù hợp trong công ty cổ phần khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
6 Những đóng góp về mặt khoa học của luận án
Luận án đã hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về cơ chế quản lý đối với CTCP, các nhân tốảnh hưởng tới cơ chế quản lý CTCP khai thác than
Luận án đã nêu rõ kinh nghiệm quản lý các công ty cổ phần của một số nước trên thế giới và CTCP ở trong nước
Trang 13Luận án đã phân tích rõ thực trạng cơ chế quản lý trong các công ty cổ phần khai thác than thuộc Vinacomin
Luận án đã đề xuất xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý đối với các công
ty cổ phần khai thác than thuộc Vinacomin
7 Những điểm mới của luận án
- Bổ sung lý luận về CTCP, khái niệm về cơ chế quản lý doanh nghiệp, các nhân tốảnh hưởng tới sự phù hợp của cơ chế quản lý CTCP trong TĐKT
- Luậnánđưa ra các quan điểm nghiên cứu, luậnđiểm khoa học nhằmđịnh hướng cho việc hoàn hiện cơ chế quản lý phù hợp cho CTCP khai thác than thuộc Vinacomin
- Luậnánđã xây dựng nhữngđề xuất hoàn thiện bộ máy quản trị CTCP khai thác than, đề xuất tiêu chuẩn thành viên Hộiđồng quản trị (HĐQT), Ban kiểm soát (BKS) nhằm cải thiện năng lực hoạtđộng của cơ quan quản lý giám sát, cơ quan điều hành của CTCP khai thác than, làm cho chủ sở hữu Nhà nước bảo vệđược lợiích của Nhà nước vàđối xử công bằng với chủ sở hữu khác
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giao khoán, phương pháp tính toán các chỉ tiêu giao khoán và các giải pháp hoàn thiện cơ chế khoán chi phí, bộ máy quản trị chi phí trong CTCP khai thác than, nhằm nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự quản lý trong nội bộ CTCP khai thác than
- Đề xuất các căn cứ, quan điểm xây dựng chính sách cổ tức phù hợp trong CTCP khai thác than
8 Luậnđiểm khoa học của luậnán
Luậnđiểm 1: Cơ chế quản lý CTCP khai thác than phù hợp phải là công cụ
quản lýđiều hành doanh nghiệp hoạtđộng kinh doanh có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, đảm bảo cho người sở hữu vốn an tâm, người lao động tận tâm với doanh nghiệp trong lĩnh vực khai thác than
Luận điểm 2: Than là tài nguyên khoáng sản (TNKS) thuộc sở hữu Nhà
nước do Tậpđoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam quản lý (chủ mỏ), nên
Trang 14cơ chế quản lý kinh tế của CTCP khai thác than không hoàn toànđộc lập như các CTCP khác mà phải chịu sự chi phối của Tậpđoàn và tính tự chủ của doanh nghiệp
Luậnđiểm 3: Đặcđiểm của công nghệ khai thác than là diễn ra trong lòngđất
với chuyên môn hoá sâu theo công đoạn sản xuất, chi phí sản xuất cao và khó kiểm soát nên để hoạtđộng có hiệu quả thì cơ chế quản lý của CTCP khai thác than, giá thành sản phẩm phảiđược hạch toán theo công đoạn sản xuất vàáp dụng quản lý kế hoạch theo hình thức khoán chi phí
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ
CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về cơ chế quản lý doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần nói riêng
1.1.1 Khái quát về các công trình nghiên cứu
1.1.1.1 Công trình nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương
Đây là công trình nghiên cứu khá đồ sộ và toàn diện các vấn đề về CPH và hậu CPH tại Việt Nam Từ đầu năm 2005 Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) đã tiến hành nghiên cứu về hậu CPH DNNN tại Việt Nam Nghiên cứu này là sự kế tiếp và mở rộng của Nghiên cứu về CPH và hậu CPH DNNN ở Việt Nam tiến hành năm 2002 trong khuôn khổ hợp tác giữa Ngân hàng thế giới (WB) và CIEM
Nhóm nghiên cứu đứng đầu là Tiến sĩ Trần Tiến Cường - Trưởng ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp thuộc CIEM chủ trì thực hiện [40], [75]
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra 559 DN CPH có 422 doanh nghiệp trả lời Đây là các doanh nghiệp đã CPH tròn 1 năm, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên theo các tiêu chí về địa phương (doanh nghiệp đóng ở Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam), quy mô (doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ), lĩnh vực hoạt động, cũng như tính đại diện về cơ cấu cổ phần Nhà nước (chi phối, dưới mức chi phối và không có cổ phần Nhà nước) và về xuất thân của doanh nghiệp chuyển đổi ( doanh nghiệp Trung Ương, địa phương và đơn vị thành viên Tổng công ty), v.v với số lượng điều tra nêu trên và với cách thức tiến hành chọn mẫu, điều tra đúng trình tự, cho thấy đây là một công trình nghiên cứu lớn nhất về DNNN cổ phần hóa ở Việt Nam và kết quả nghiên cứu là đáng tin cậy
1.1.1.2 Công trình nghiên cứu của PGS.TS Lê Văn Tâm, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm 2004, nhóm nghiên cứu của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS TS Lê Văn Tâm làm chủ biên, đã cho xuất bản cuốn sách “Cổ phần hóa và
Trang 16quản lý doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hóa” [59], tác giả cuốn sách đã nêu tổng quan về CPH doanh nghiệp, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về CPH, thực trạng tiến hành về CPH DNNN và vấn đề quản lý DNNN sau CPH Trên cơ sở đó nhóm tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến trình CPH DNNN và hoàn thiện quản lý doanh nghiệp sau cổ phần
Các nghiên cứu của nhóm tác giả này cũng dựa trên kết quả điều tra 422 doanh nghiệp sau CPH của CIEM năm 2002 Và nhóm nghiên cứu cũng đã tiến hành thêm một cuộc khảo sát tại các doanh nghiệp không trả lời ở Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
1.1.1.3 Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Hà
Tác giả Hoàng Hà đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ của mình với đề tài
“Quá trình đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam từ 1986 đến nay - thực trạng và giải pháp” tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2005 [46] Tác giả tập trung nghiên cứu quá trình đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp mà Nhà Nước sở hữu 100% vốn điều lệ trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp, hoạt động SXKD vì mục tiêu lợi nhuận Nội dung nghiên cứu tập trung vào mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản của Nhà nước và quyền quản lý điều hành SXKD của DNNN, bảo đảm thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nước đề ra Thời gian nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2005 Trên cơ sở đó tác giả luận án đưa ra một số giải pháp chủ yếu, tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý DNNN ở Việt Nam Trong đó có đề cập đến việc nâng cao năng lực quản trị trong nội bộ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước
1.1.1.4 Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Hà Cường
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Hà Cường, với đề tài “Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt Nam theo mô hình Tập đoàn kinh tế” [38],đã được tác giả bảo vệ thành công tại Học viện Ngân hàng năm
2006 Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế quản lý tài chính của Tổng công
ty Hàng không Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế Thời gian nghiên cứu từ năm 1996 đến năm 2005 Tác giả luận án tập trung phân tích thực trạng cơ chế quản
Trang 17lý theo mô hình Tổng công ty của Tổng công ty Hàng Không Việt Nam, chỉ ra các yếu kém, bất cập của cơ chế quản lý tài chính theo mô hình Tổng công ty Từ đó tác giả luận án đề xuất giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Hàng Không Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế
1.1.2 Những kết quả nghiên cứu đã đạt được
1.1.2.1 Kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương
Nghiên cứu cho thấy hoạt động của các doanh nghiệp CPH có nhiều thay đổi tích cực , cải thiện được tình hình kinh doanh, các chỉ tiêu như vốn điều lệ tăng bình quân 44%, doanh thu tăng bình quân 13,6%, lợi nhuận sau thuế tăng 26,1%, tiền lương tăng bình quân 20,8% và đầu tư tài sản cố định tăng 23,1% so với khi còn là DNNN Tỷ lệ cổ tức đạt 17,11% gấp 1,5 lần so với năm trước CPH [ 40 ]
Nhóm nghiên cứu cũng cho thấy thay đổi về cơ chế điều hành doanh nghiệp Trước CPH, thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp là từ bên ngoài Sau CPH, thẩm quyền này thuộc về doanh nghiệp Vì thế, các quyết định này gắn với lợi ích của doanh nghiệp nhiều hơn và cũng tập trung và các mục tiêu kinh tế hơn Việc chuyển giao quyền quyết định từ cơ quan chủ quản ở bên ngoài doanh nghiệp sang HĐQT là cơ cấu bên trong doanh nghiệp đã có tác động tích cực hơn rất nhiều xét từ góc độ quản trị doanh nghiệp Đã có sự phân tách giữa sở hữu
và điều hành ngay trong nội bộ CTCP Việc phân tách này cùng với cơ chế giám sát
có hiệu quả đã hình thành các quyền và nghĩa vụ của cơ quan quản trị doanh nghiệp một cách rõ ràng và minh bạch
Nhóm nghiên cứu cũng chỉ ra các doanh nghiệp CPH không có những thay đổi lớn về nhân sự Có khoảng 80% - 90% CTCP vẫn giữ nguyên các chức danh quản lý chủ chốt như thành viên HĐQT, Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng,
kể cả các doanh nghiệp đã qua 2 - 3 lần bầu lại các chức danh này Có khoảng 70% CTCP có chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc công ty Việc ít thay đổi nhân sự cao cấp trong CTCP dẫn đến tư duy, trình độ quản lý và điều hành doanh nghiệp cũng ít thay đổi Nhiều nơi vẫn áp dụng như “chủ quản” DNNN, nhất là đối với Công ty mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối
Trang 18Nhận thức về mô hình doanh nghiệp CPH, khoảng 40% còn có sự đan xen giữa DNNN và doanh nghiệp tư nhân Điều đó cho thấy, mặc dù đã có những cải thiện đáng kể so với mô hình DNNN, nhưng các CTCP vẫn chưa kịp thích nghi với
mô hình tổ chức mới, chưa thoát hẳn phương thức hoạt động của DNNN vốn đã ăn sâu vào nhận thức của cán bộ quản lý và người lao động Đây là điểm cần lưu ý để hoàn thiện
1.1.2.2 Kết quả nghiên cứu của PGS.TS Lê Văn Tâm
Kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu do PGS.TS Lê Văn Tâm làm chủ biên cho thấy không có sự khác biệt về thống kê giữa các chỉ tiêu kết quả của doanh nghiệp đã trả lời và không trả lời Trong số các DNNN tiến hành CPH được hỏi thì 92,3% doanh nghiệp cho rằng việc tự chủ trong quản lý điều hành được tăng lên, 96,2% doanh nghiệp đánh giá tinh thần trách nhiệm của cán bộ quản lý tốt hơn và 88,5% doanh nghiệp cho rằng ý thức trách nhiệm của người lao động tốt hơn
Nhóm nghiên cứu đưa ra một số vấn đề quản lý nhà nước và quản lý nội bộ DNNN sau CPH, những bất cập còn tồn tại đối với DNNN sau CPH như: Người lao động và chủ sở hữu nhỏ trong CTCP dường như là người chủ “ hình thức” là do một
số cổ đông vẫn giữ thái độ e ngại trước lãnh đạo doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, cổ đông không nắm được các qui định pháp lý, về quyền hạn của cổ đông, của HĐQT, BKS, Giám đốc, cổ đông không được cung cấp đầy đủ thông tin nên họ không phát huy được các quyền hạn của mình và cảm thấy “ mình đứng ngoài cuộc”
Về tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp cũng còn nhiều tồn tại như:
- Nhiều CTCP không tuân thủ luật doanh nghiệp và điều lệ công ty Đáng chú ý là các CTCP vi phạm các qui định về vai trò và quyền hạn của HĐQT và Giám đốc
- Nhiều DNNN sau khi tiến hành CPH vẫn duy trì kiểu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp như trước Đội ngũ các bộ quản lý ít thay đổi nên một số nguyên tắc
và qui định của các DNNN không còn phù hợp với tình hình mới vẫn được áp dụng
Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý DNNN sau CPH:
Trang 19- Khi chuyển đổi thành CTCP, doanh nghiệp có sự thay đổi pháp lý, nhưng người lao động, người quản lý và các mối quan hệ giữa các thành viên trong công ty vẫn chưa chuyển biến kịp Để khắc phục vấn đề này cần phải tăng cường tập huấn, đào tạo bồi dưỡng người lao động cũng như lãnh đạo doanh nghiệp về quyền và nghĩa
vụ của cổ đông, của các bộ phận quản lý trong công ty
- Cần phân biệt quyền chủ sở hữu và quyền kinh doanh của doanh nghiệp
- Từng bước chuyển đổi, xóa bỏ sự phân biệt và tạo sân chơi bình đẳng cho các loại hình doanh nghiệp
1.1.2.3 Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác
- Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Hà đã tổng hợp, phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa những vấn đề thực tiễn của quá trình đổi mới hệ thống DNNN nói chung
và cơ chế quản lý DNNN nói riêng trong gần 20 năm qua ở nước ta Sau khi khẳng định những kết quả đạt được, luận án đã tập trung phân tích những tồn tại và nguyên nhân, từ đó đưa ra các giải pháp đồng bộ nhằm tiếp tục đổi mới cơ chế quản
lý DNNN ở nước ta Trong đó tập trung vào các giải pháp như:
+ Xác định rõ chức năng quản lý nhà nước đối với DNNN với chức năng quản lý, điều hành SXKD tại doanh nghiệp
+ Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ quản lý, điều hành DNNN + Tăng quyền tự chủ trong SXKD cho DNNN, trong đó cần đổi mới, hoàn thiện các cơ chế quản lý và các chính sách giao quyền tự chủ cho DNNN
- Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Hà Cường tập trung phân tích đặc điểm SXKD, cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt nam từ năm 1996 đến năm
2005 Luận án đánh giá một cách toàn diện những kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế, chỉ ra nguyên nhân tồn tại của cơ chế quản lý tài chính hiện tại cần được
bổ sung, hoàn thiện phù hợp với mô hình tổ chức của Tập đoàn Hàng không Việt nam Trên cơ sở đó, luận án đưa ra hệ thống các giải pháp đổi mới cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Hàng không Việt nam theo mô hình tập đoàn kinh tế, cụ thể:
+ Chuyển đổi từ cơ chế hành chính giao vốn sang cơ chế đầu tư tài chính theo mô hình công ty mẹ - công ty con
Trang 20+ Tăng quyền chủ động của các công ty con trong việc huy động vốn
+ Hoàn thiện cơ chế quản lý lợi nhuận
+ Phát triển các trung gian tài chính
+ Tăng cường cơ chế kiểm soát tài chính trong nội bộ tập đoàn
+ Nâng cao trình độ cán bộ quản lý
1.1.3 Đánh giá về những kết quả nghiên cứu đạt được và những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện
Theo tác giả, công trình nghiên cứu của CIEM là khá toàn diện và sâu sắc nhất, lớn nhất về CPH và quản lý doanh nghiệp sau CPH trong phạm vi toàn quốc, giai đoạn từ năm 2002 đến năm 2005 Công trình của nhóm nghiên cứu trường đại học Kinh tế quốc dân do PGS.TS Lê Văn Tâm đứng đầu chỉ là nghiên cứu bổ sung
về CPH và hậu CPH trên địa bàn Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu của nhóm này không có nhiều khác biệt so với kết quả nghiên cứu của CIEM, đa số các nhận định phù hợp với nhau, điều đó khẳng định thêm kết quả nghiên cứu của CIEM là đáng tin cậy, kết quả phản ánh được đúng tình hình thực tế Từ điều tra về hậu CPH, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra những tồn tại trong quá trình CPH và quản lý doanh nghiệp CPH Từ đó đề xuất đổi mới cơ chế và chính sách CPH Đây là những đóng góp quan trọng Các kết quả nghiên cứu trên gợi ý cho tác giả có thể vận dụng vào phân tích thực trạng và đổi mới cơ chế quản lý kinh
tế trong CTCP thuộc Vinacomin
Tuy vậy, công trình nghiên cứu của CIEM vẫn còn hạn chế như: Báo cáo chưa phân loại kết quả hoạt động của các doanh nghiệp CPH theo lĩnh vực hoạt động (lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực dịch vụ), theo quy mô của doanh nghiệp (doanh nghiệp nhỏ, vừa và lớn), doanh nghiệp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài hay tham gia hoạt động xuất khẩu Chưa phân tích cách thức mà những chủ sở hữu bên ngoài có thể tác động đến quản trị doanh nghiệp sau CPH Chưa phân tích về đặc điểm của các CTCP trong lĩnh vực SXKD, các CTCP mà tiền thân là DNNN đang hoạt động có những đặc điểm khác gì so với các CTCP khác, giữa CTCP mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối với các CTCP khác Đối với CTCP khai thác than
Trang 21thuộc Vinacomin, đa số được hình thành từ năm 2003 - 2009 (không thuộc đối tượng nghiên cứu của CIEM) và hầu hết do Vinacomin nắm cổ phần chi phối Các CTCP khai thác than hoạt động trong lĩnh vực đặc thù là Nhà nước độc quyền quản
lý tài nguyên khoáng sản nói chung, tài nguyên than nói riêng, Nhà nước giao cho Vinacomin trực tiếp quản lý tài nguyên than và khoáng sản Tài nguyên khoáng sản
là không tái tạo, vì vậy cần phải có sự quản lý có hiệu quả và hợp lý tài nguyên than chống tổn thất than, đảm bảo phát triển bền vững ngành Than, đáp ứng nhu cầu về than cho đất nước và đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Hoạt động khai thác than diễn ra trong lòng đất, chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện mỏ, địa chất và điều kiện tài nguyên than Vì thế, cơ chế quản lý CTCP khai thác than đòi hỏi phải có sự phù hợp: Đảm bảo sự chi phối của chủ sở hữu Nhà nước, thông qua Tập đoàn và đảm bảo phù hợp với đặc thù SXKD than, vừa phát huy tính sáng tạo, tự chủ, tự quản lý của CTCP Chính vì vậy mà các công trình nghiên cứu trên chưa hoàn toàn phù hợp, đòi hỏi phải nghiên cứu bổ sung theo đặc thù của ngành Than Việc nghiên cứu đề xuất cơ chế quản lý trong các CTCP khai thác than ở tầm vi mô là hết sức cần thiết và có tính thời sự
Đối với luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Hà cũng đạt được kết quả nhất định
và có giá trị tham khảo nhất định Tuy nhiên các giải pháp đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý DNNN ở Việt Nam, các giải pháp này tập trung vào cơ chế quản lý của chủ thể quản lý Nhà nước, đối với khách thể quản lý là DNNN Trong đó có đề cập đến việc nâng cao năng lực quản trị trong nội bộ doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước Đối tượng nghiên cứu của luận án chưa đề cập đến CTCP, cũng như chưa đề cập đến cơ chế quản lý nội bộ CTCP, trong đó có CTCP thuộc lĩnh vực khai thác than Điều đó cho thấy đề tài mà tác giả nghiên cứu là hoàn toàn mới và hết sức cần thiết
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Hà Cường có đối tượng nghiên cứu là Tổng công ty Hàng Không Việt Nam không phải là CTCP, vì thế cơ chế quản lý tài chính của Tổng công ty Hàng Không Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế không áp dụng cho CTCP nói chung, CTCP khai thác than nói riêng Công trình này ít có giá trị tham khảo
Trang 22Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên có đối tượng nghiên cứu là tất cả các DNNN, CTCP trong nền kinh tế Việt Nam, và được tập trung vào cơ chế quản lý Nhà nước đối với loại hình doanh nghiệp này, chứ chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý trong CTCP, đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về cơ chế quản lý trong CTCP khai thác than Điều đó có thể khẳng định, đề tài nghiên cứu của tác giả mang tính mới, độc lập, nghiêm túc, hết sức cần thiết và không có sự trùng lặp với một công trình nghiên cứu nào
1.2 Cơ sở lý thuyết về quản lý doanh nghiệp và CTCP
1.2.1 Khái niệm và phân loại doanh nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm về doanh nghiệp
Theo điều 4 của Luật doanh nghiệp năm 2005 [57,Tr6] thì: “ Doanh nghiệp
là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.Với khái niệm trên cần hiểu rằng mỗi doanh nghiệp bao giờ cũng là tổ chức của cộng đồng người, nhưng chỉ được gọi là doanh nghiệp trước hết nó là tổ chức kinh tế, nghĩa là một tổ chức gắn kết các thành viên với mục đích kinh tế (kiếm lời) là chủ yếu Doanh nghiệp có chức năng là sản xuất ra hàng hoá dịch vụ
và chức năng phân phối mục đích hoạt động của doanh nghiệp là kinh doanh(vì mục tiêu lợi nhuận) Mỗi doanh nghiệp được lập ra, hoạt động lâu dài và cũng có thể phá sản, giải thể do kết quả của sự phân công lao động xã hội, hiệu quả hoạt động của chúng trên thị trường, v.v Nhưng trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta, những hiện tượng này không thể diễn ra tự phát mà phải tuân theo những quy định của pháp luật[6,Tr2]
1.2.1.2 Phân loại doanh nghiệp ở Việt Nam
Phân loại doanh nghiệp là chia tổng thể các doanh nghiệp ra các nhóm, loại căn cứ vào một tiêu thức khách quan giúp ích cho một mục đích nghiên cứu nhất định Các tiêu thức được dùng trong thực tiễn chủ yếu là: Tính chất chủ sở hữu trách nhiệm tài chính của chủ sở hữu, thứ hạng và vai trò trong nền kinh tế, đặc điểm cơ cấu tổ chức Các doanh nghiệp ở Việt Nam được chia thành các loại theo hình 1.1.Trong số các doanh nghiệp ở Việt Nam, cần tập trung chú ý tới loại hình DNNN
Trang 23Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới thì “DNNN như là thực thể kinh tế thuộc sở hữu hay thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ mà phần lớn thu nhập của
họ được tạo ra thông qua việc bán hàng hóa, dịch vụ” Như vậy, theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới thì những doanh nghiệp được điều hành bởi một cơ quan của Chính phủ hoặc gián tiếp thông qua các DNNN khác, kể cả những doanh nghiệp trong đó vốn Nhà nước nắm một số ít, song Chính phủ vẫn có thể kiểm soát được việc phân phối các cổ phần còn lại Định nghĩa này do Jons lần đầu tiên đưa ra vào năm 1975 khi nghiên cứu DNNN ở Hàn quốc và từ đó trở đi được rất nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để phân tích DNNN[46,tr.5]
Ở Việt nam thì DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức CTCP hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn
DNNN có những đặc điểm sau:
Theo đặc điểm mô hình liên kết
CT hợp danh
CT TNHH nhiều thành viên
DN hạng đặc biệt
DN hạng I
DN hạng
II
DN hạng III
Tæng c«ng ty
C«ng ty
DN trách nhiệm vô hạn
DN trách nhiệm hữu hạn
Theo tính
chất CSH
Theo trách nhiệm tài chính của CSH
Theo thành phần và cách tạo vốn của CSH
Theo thứ hạng và vai trò trong nền kinh tế
Theo đặc điểm cơ cấu tổ chức
Hình 1.1 Sơ đồ phân loại các doanh nghiệp Việt Nam [6,Tr5]]]]
CTTNHH
1 thành
Trang 24- DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập
- Vốn, tài sản của DNNN là một bộ phận thuộc sở hữu Nhà nước
- DNNN là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân
- DNNN do Nhà nước tổ chức quản lý là đối tượng quản lý trực tiếp của Nhà nước
DNNN là những tổ chức kinh tế thuộc sở hữu nhà nước và là bộ phận cấu thành của kinh tế nhà nước DNNN đóng vai trò là công cụ kinh tế, một lực lượng vật chất trong tay Nhà nước để Nhà nước trực tiếp khống chế, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, theo chương trình kế hoạch, chiến lược kinh tế - xã hội
1.2.2 Khái niệm về CTCP và CPH DNNN
1.2.2.1 Khái niệm về CTCP và CPH
Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp năm 2005 [57, Tr81] Điều 77 của Luật đã qui định cụ thể: “công ty
cổ phần là doanh nghiệp trong đó:
a Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng cổ đông tối thiểu là 3 và không hạn chế số lượng tối đa;
c Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp cổ đông là người sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ đông sáng lập (trong thời hạn 3 năm kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận) chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông
e Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn.”
Cổ phần hoá là việc chuyển đổi các doanh nghiệp trước đó không phải là công ty cổ phần thành công ty cổ phần
Bản chất của CPH là chuyển đổi cơ cấu sở hữu, quan hệ giữa các chủ sở hữu doanh nghiệp Thể hiện về mặt pháp lý của CPH là sự chuyển đổi hình thức pháp lý của doanh nghiệp và các qui định điều chỉnh của pháp luật Cổ phần hoá doanh
Trang 25nghiệp nhà nước là việc chuyển hoá quyền sở hữu từ đơn sở hữu sang đa sở hữu Sự chuyển đổi này được thể hiện ở hai mặt: Một là: Điều này kéo theo sự thay đổi quyền quản lý, quyền sử dụng và tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa 3 quyền liên quan đến tài sản của doanh nghiệp Hai là: Thay đổi cơ chế hoạt động từ chỗ hoàn toàn bị Nhà nước chi phối sang tự chủ kinh doanh, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Những đặc điểm của CTCP
* Những lợi thế của CTCP trong nền kinh tế thị trường
- Công ty cổ phần có pháp nhân độc lập, có năng lực và chủ thể riêng, tồn tại độc lập và tách biệt với các cổ đông trong công ty Trong quá trình hoạt động, công
ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng chính tài sản của mình; với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo quy định của pháp luật, còn các cổ đông chỉ sở hữu cổ phần của mình trong công ty mà không có quyền nào khác đối với tài sản của công ty
- Cổ đông trong công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về số nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty trong giới hạn cổ phần mà mình sở hữu Cổ đông có quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong ban quản lý, ban kiểm soát và ban điều hành Ngoài ra cổ đông còn được quyền hưởng các lợi nhuận do công ty tạo ra, được chia tài sản của công ty khi giải thể, cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn
Khi một tổ chức hay cá nhân mua cổ phiếu của CTCP tức là họ đã dịch chuyển vốn của mình theo những phương thức nhất định vào CTCP và trở thành tài sản thuộc sở hữu của CTCP, nhưng cổ đông cần được hưởng những quyền và nghĩa
vụ phát sinh từ việc góp vốn Với tư cách là một pháp nhân, công ty có năng lực pháp luật độc lập, có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình theo quy định của pháp luật nên các quyền và nghĩa vụ của công ty hoàn toàn tách biệt khỏi các quyền và nghĩa vụ của cổ đông, vì công ty là chủ thể của quyền sở hữu công ty Vốn thuộc sở hữu công ty chính là giới hạn sự rủi ro tài chính của các cổ đông trên toàn bộ số vốn đã đầu tư của công ty, nên trách nhiệm của các cổ đông đối với
Trang 26nghĩa vụ của công ty được hạn chế trong phạm vi mà họ đã được đầu tư vào cổ phiếu của mình Xét về phương diện sự tách bạch về tài sản thì các cổ đông không
có quyền đối với tài sản của CTCP nên họ không chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của CTCP, CTCP phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình Đây là điểm khác nhau cơ bản về trách nhiệm của các chủ thể kinh doanh Tính chất chịu trách nhiệm hữu hạn trên đã thu hút mạnh mẽ các nhà đầu tư vào CTCP nhiều hơn so với đầu
tư vào các loại hình doanh nghiệp khác mà ở đó họ phải chịu trách nhiệm vô hạn
- Việc chuyển nhượng các phần vốn góp được thực hiện một cách tự do, hầu hết pháp luật về công ty của các nước trên thế giới đều quy định và cho phép chuyển nhượng một cách dễ dàng và tự do các loại cổ phiếu do CTCP phát hành từ
cổ đông sang chủ sở hữu mới Các cổ phiếu do công ty phát hành là hàng hóa nên các cổ đông khi sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng; hơn thế nữa trách nhiệm của các cổ đông chỉ giới hạn trong phạm vi giá trị các cổ phiếu mà họ sở hữu nên khi họ muốn rút lui khỏi công việc kinh doanh hay muốn bán cổ phiếu của mình cho nguời khác thì họ thực hiện dễ dàng Trong khi đó đối với Công ty TNHH theo quy định của pháp luật Việt Nam thì khi chuyển nhượng các phần vốn góp của mình, thành viên đó phải chuyển nhượng trước hết cho các thành viên còn lại trong công ty hoặc chỉ được chuyển nhượng cho người khác khi các thành viên còn lại không mua hoặc không mua hết Đó là lý do tại sao có rất nhiều người muốn đầu tư vào CTCP chứ không đầu tư vào các loại hình công ty khác
- CTCP có cấu trúc vốn và tài chính linh hoạt
CTCP không thể được thành lập và hoạt động nếu không có vốn Vốn là yếu
tố quyết định và chi phối toàn bộ hoạt động, quan hệ nội bộ cũng như quan hệ đối tác bên ngoài Trong quan hệ nội bộ, vốn của công ty được xem là cội nguồn của nguồn lực Với đặc trưng là loại hình công ty đối vốn, quyền lực trong CTCP sẽ thuộc về những ai nắm giữ phần lớn số vốn trong công ty Trong quan hệ với bên ngoài, vốn của CTCP là một dấu hiệu chỉ rõ thực lực tài chính công ty Tuy nhiên khác với nhiều yếu tố khác, vốn trong CTCP là yếu tố năng động nhất Các quy luật kinh tế thị trường chỉ ra rằng cùng với sự lưu thông hàng hoá là sự lưu thông tiền tệ,
Trang 27tức là sự trung chuyển các nguồn vốn trong nền kinh tế Sự vận động của vốn trong CTCP vừa chịu sự chi phối khách quan của các quy luật kinh tế, vừa bị ảnh hưởng bởi ý chí chủ quan của con người Điều này đặt ra một đòi hỏi là con người phải tạo
ra cách thức góp vốn, cách tổ chức và quản lý vốn để có thể đáp ứng được sự vận động linh hoạt của vốn Sự linh hoạt trong vận động của vốn vừa phải thích ứng với yêu cầu đòi hỏi đa dạng của nhà đầu tư, vừa không mất đi bản chất vốn có của CTCP Điều đó có nghĩa là phải tạo cho bản chất CTCP khả năng chuyển dịch các phần vốn góp một cách dễ dàng song tư cách pháp nhân của công ty không vì sự chuyển nhượng đó mà bị thay đổi Theo các quy định của luật doanh nghiệp thì CTCP ở Việt Nam có thể quy định và phát hành nhiều loại cổ phiếu khác nhau như:
Cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi và các loại trái phiếu Đây là các loại chứng khoán được phát hành rộng rãi ra công chúng nhằm tăng khả năng thu hút vốn đầu
tư cho kinh doanh của công ty Ngoài ra, khi xây dựng giá trị các cổ phiếu của công
ty thì các công ty thường xác lập mệnh giá cổ phiếu thấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư dù cho khả năng tài chính không nhiều những vẫn có khả năng tham gia đầu tư vốn vào CTCP
- Tính ổn định trong hoạt động kinh doanh và không hạn chế về thời gian tồn tại so với các loại hình doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh, sự tồn tại của các doanh nghiệp này luôn luôn gắn liền với tư cách của chủ sở hữu doanh nghiệp hay thành viên hợp danh; bởi vì hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này có thể sẽ bị kết thúc cùng với cái chết,sự rút lui hay sự khánh tận của chủ doanh nghiệp
tư nhân hay của một trong các thành viên hợp danh của công ty Nhưng đối với CTCP thì hoạt động kinh doanh của công ty hoàn toàn không phụ thuộc vào bất cứ điều gì có thể xảy ra đối với cổ đông trong công ty; bởi vì CTCP có tư cách pháp nhân độc lập nên nếu có bất kỳ sự rút lui, sự phá sản hoặc thậm chí cái chết có xảy
ra đối với các cổ đông, thì CTCP vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển mà hoàn toàn không hề bị ảnh hưởng gì Trừ khi CTCP phá sản hoặc các cổ đông cùng thoả thuận chấm dứt hoạt động hay vì một lý do nào khác mà điều lệ công ty quy định
Trang 28- CTCP có cơ chế quản lý tập trung cao
Với tư cách là một pháp nhân độc lập, trong CTCP có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và cơ chế quản lý Đó là việc các cổ đông sẽ bầu ra HĐQT và HĐQT
sẽ thay mặt các cổ đông quản lý CTCP Như vậy, trong CTCP việc quản lý được tập trung hoá cao vào HĐQT mà không dàn trải đều việc quản lý cho các cổ đông như đối với công ty hợp danh, chức năng điều hành đã tạo cho CTCP có được sự quản lý tập trung cao thông qua cơ chế quản lý hiện đại, lành nghề nên rất phù hợp với điều kiện quản lý các doanh nghiệp có quy mô lớn
* Những hạn chế của CTCP:
- Việc quản lý điều hành CTCP rất phức tạp do số lượng cổ đông có thể rất lớn, có nhiều người không hề quen biết nhau và thậm chí có thể có sự phân hoá thành các nhóm cổ đông đối kháng nhau về lợi ích
- Việc thành lập và quản lý CTCP cũng phức tạp hơn loại hình công ty khác
do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính
kế toán
- Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do phải công khai và báo cáo với các cổ đông của công ty Nhất là các CTCP niêm yết trên thị trường chứng khoán
1.2.2.3 Công ty cổ phần sau cổ phần hoá
- Sau CPH, DNNN đã trở thành công ty đối vốn, đa chủ sở hữu, trước đây chỉ có một chủ sở hữu, sau CPH ngoài sở hữu Nhà nước còn có các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác Cấu trúc vốn của công ty là chỉnh thể bao gồm các bộ phận cấu thành có mối tác động qua lại lẫn nhau CTCP có cấu trúc vốn
“uyển chuyển và linh hoạt”, nên việc huy động vốn được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau nhằm tạo điều kiện phát huy tối đa thế mạnh của chúng như: Phát hành cổ phiếu (chào bán cổ phiếu), phát hành trái phiếu, vay ngân hàng, vay của các tổ chức, cá nhân khác
- Cấu trúc vốn ảnh hưởng đến cấu trúc quản lý công ty, cho phép công ty tách bạch chức năng quản lý, chức năng điều hành, chức năng giám sát công ty
Trang 29Sau CPH, CTCP trở thành thực thể kinh doanh độc lập, tự quản lý, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình Các cán bộ quản lý được giao quyền chủ động nhiều hơn dẫn đến các cán bộ quản lý cũng quan tâm nhiều hơn đến kết quả, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của CTCP cũng như nâng cao tính chủ động của cán bộ quản lý trong thực hiện các mục tiêu lợi nhuận và hiệu quả Giảm sự can thiệp của chủ sở hữu đối với các điều hành tác nghiệp SXKD của doanh nghiệp sau CPH Sau CPH những thay đổi về cơ chế điều hành CTCP bằng
sự dịch chuyển thẩm quyền quyết định từ bên ngoài (Nhà nước) trước CPH vào bên trong doanh nghiệp sau CPH Mọi quyết định của CTCP đều do Đại hội đồng cổ đông, đại diện là HĐQT, việc bổ nhiệm cán bộ cao cấp đều do Đại hội đồng cổ đông bầu ra và HĐQT bổ nhiệm
- CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ doanh nghiệp nếu như họ mong muốn Bằng việc sở hữu cổ phần (hay phần vốn góp) trong doanh nghiệp, người lao động có thể tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của Công ty thông qua cái gọi là “nền dân chủ cổ phần” Họ góp vốn hình thành nên các cơ quan quản lý trong doanh nghiệp, quyết định các vấn đề trọng đại của nó Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cực của người lao động không chỉ đối với các vấn đề của doanh nghiệp mà cả đối với các vấn đề kinh tế - chính trị xã hội của đất nước
- Tác động xã hội của CPH: Sau CPH nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp sau CPH giảm xuống, người lao động đối mặt với nguy cơ mất việc làm Quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động dễ bị tổn thương trong quá trình CPH và đó chính là tác động nhạy cảm nhất của nó, tiềm ẩn nguy cơ làm bùng nổ các tệ nạn xã hội Đây cũng là một hướng nghiên cứu và đòi hỏi phải được xử lý tốt
- Quản lý nội bộ các DNNN sau CPH: Khi còn là DNNN thì mọi hoạt động của doanh nghiệp đều tuân thủ theo Luật DNNN năm 2003 Sau khi CPH, doanh nghiệp phải hoạt động theo Luật doanh nghiệp năm 2005 và điều lệ công ty Như vậy, trên thực tế khi chuyển đổi CTCP, doanh nghiệp có sự thay đổi về mặt pháp lý Nhưng người lao động, người quản lý và các mối quan hệ giữa các thành viên trong
Trang 30công ty vẫn chưa chuyển biến kịp Do đó, nảy sinh nhiều vấn đề như: Chưa tổ chức, hoạt động đúng với loại hình CTCP, chưa sử dụng đúng và hết thẩm quyền do luật
và điều lệ quy định dẫn đến việc tranh chấp của các thành viên trong công ty, làm ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh của công ty Đồng thời hầu hết người lao động trở thành cổ đông của công ty Họ vừa là chủ, vừa là người làm thuê, nhưng lại chưa được chuẩn bị đầy đủ kiến thức về quyền và nghĩa vụ của cổ đông
- CPH mang lại cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động, có hiệu quả, thích nghi với thị trường
1.2.3 Cơ chế quản lý kinh tế trong các công ty cổ phần
1.2.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý kinh tế trong các CTCP
Trong phạm vị nghiên cứu của đề tài, những vấn đề đặt ra thế nào là “cơ chế”, “cơ chế kinh tế”, “cơ chế quản lý kinh tế”, “cơ chế quản lý CTCP” cần phải được làm rõ
“Cơ chế”, “cơ chế quản lý” và “cơ chế quản lý kinh tế” là những thuật ngữ rộng và khá phức tạp Ở nước ta những thuật ngữ này đã được sử dụng rộng rãi, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất cao giữa các nhà kinh tế Theo từ điển Tiếng Việt [55, Tr207] “cơ chế” là cách thức theo đó một quá trình thực hiện Các tác giả của cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng “cơ chế” là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện Đây là định nghĩa căn bản làm cơ sở cho việc nghiên cứu, nhưng vẫn còn chung chung, chưa cụ thể
Trong lĩnh vực kỹ thuật, thuật ngữ “cơ chế” được sử dụng để chỉ cấu trúc của một hệ thống máy móc và các nguyên lý hoạt động Muốn điều khiển một cỗ máy hoạt động bình thường, người sử dụng phải nắm được cấu trúc của các bộ phận cấu thành của nó và còn phải biết vận hành theo các trình tự, phương pháp và nguyên lý nhất định Tuy vậy, sự vận hành một cỗ máy đã được đặt trước theo thiết kế chế tạo
Về phương diện khoa học nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập đến khái niệm “cơ chế”, “cơ chế” là một phương thức, một hệ thống các yếu tố làm cơ sở, đường hướng cho sự vận động của một sự vật hay hiện tượng Trong lĩnh vực quản
lý, “cơ chế” được hiểu là tổng thể các phương pháp, các hình thức, các công cụ
Trang 31được vận dụng để vận hành một hệ thống như liên kết, điều hòa, phân phối hoạt động giữa các bộ phận trong hệ thống để đạt được những mục tiêu cuối cùng của hoạt động quản lý “cơ chế quản lý kinh tế” là khái niệm dùng để chỉ phương thức
mà qua đó chủ thể quản lý (Nhà nước, Chính phủ) tác động vào nền kinh tế để định hướng nền kinh tế vận động đến các mục tiêu đã định [58]
Trong giáo trình “Nguyên lý quản lý kinh tế” của một số Trường Đại học trong nước, Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cũng đưa ra khái niệm về cơ chế quản lý kinh tế như sau: “Cơ chế quản lý kinh tế là tổng thể những quy định, cách thức và phương tiện do chủ thể quản lý kinh tế đề ra nhằm tác động vào đối tượng quản lý để đạt mục tiêu”
Như vậy về phương diện từ điển học và phương diện khoa học, dù tiếp cận của các nhà khoa học không hoàn toàn giống nhau, nhưng có thể nhận thấy các quan điểm này đều chỉ ra hai yếu tố cơ bản tạo thành cơ chế Đó là yếu tố tổ chức (cơ cấu) và yếu tố hoạt động (vận hành) Yếu tố tổ chức đề cập đến các thành viên (chủ thể) tham gia, cách thức hình thành tổ chức (cơ cấu) và cách thức tổ chức hệ thống nội tại Yếu tố hoạt động thể hiện mối tác động qua lại giữa các thành viên (sự phân công và hợp tác giữa các thành viên) trong quá trình thực hiện chức năng
và nhiệm vụ của tổ chức, nguyên tắc vận hành của cơ chế và nội dung hoạt động của nó
Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu từ các công trình khoa học về cơ chế quản
lý, tác giả có thể đưa ra khái niệm cơ chế quản lý doanh nghiệp nói chung, CTCP nói riêng như sau:
Cơ chế quản lý doanh nghiệp là một quá trình, một hệ thống các mối quan hệ hữu cơ, liên quan đến cách thức tổ chức (cơ cấu), hoạt động (vận hành) của một doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra
1.2.3.2 Cơ chế quản lý tài chính
Là một tổng thể các phương pháp, các hình thức và các công cụ được vận dụng để quản lý các hoạt động tài chính của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu kinh doanh nhất định
Trang 32Cơ chế quản lý tài chính gồm:
- Cơ chế huy động vốn
- Cơ chế quản lý sử dụng vốn và tài sản
- Cơ chế quản lý lợi nhuận
- Cơ chế kiểm soát tài chính
Cơ chế quản lý tài chính không có một khuôn mẫu cứng nhắc áp dụng chung cho mọi nền kinh tế, cho mọi quy mô, tính chất của doanh nghiệp Hiệu quả sử dụng cơ chế quản lý tài chính phụ thuộc vào các yếu tố khách quan, chủ quan, trong
đó vai trò chủ quan của người điều hành cơ chế có ý nghĩa quyết định Điều đó có nghĩa là người điều hành cơ chế phải nhận thức đúng đắn các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, phân tích đánh giá chính xác tình hình để chủ động đưa
ra các quyết định tài chính phù hợp
+ Cơ chế huy động vốn của doanh nghiệp bao gồm các phương pháp, các hình thức, các công cụ huy động các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán ra thị trường tài chính Đối với CTCP có quyền phát hành cổ phiếu để tăng vốn và có thêm cổ đông Hoặc huy động vốn tín dụng, huy động vốn nội bộ, huy động nguồn vốn khác (thuê tài chính, thuê vận hành)
+ Cơ chế quản lý sử dụng vốn được thực hiện thông qua đầu tư:
- Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn
- Đầu tư vốn để phát triển SXKD thông qua đầu tư chiều rộng hoặc đầu tư chiều sâu
- Quản lý các khoản nợ phải trả
+ Cơ chế quản lý tài sản bao gồm TSCĐ như: Tiêu chuẩn nhận biết TSCĐ, phương pháp tính khấu hao và tỷ lệ khấu hao TSCĐ, quản lý quỹ khấu hao, đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ
+ Quản lý tài sản lưu động
+ Quy chế quản lý lợi nhuận: bao gồm quản lý và phân phối lợi nhuận
Trang 33+ Quy chế kiểm soát tài chính: gồm có thanh tra, kiểm tra của các cơ quan độc lập, kiểm soát nội bộ doanh nghiệp bao gồm kiểm soát quản trị nội bộ và kiểm soát kế toán nội bộ
Theo Hội đồng kế toán viên công chứng (AICPA) ở Mỹ định nghĩa “Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch tổ chức và tất cả những biện pháp phối hợp được thừa nhận dùng trong kinh doanh để bảo vệ tài sản của tổ chức, kiểm tra sự chính xác, tin cậy của thông tin kế toán, thúc đẩy hiệu quả hoạt động và khích lệ bám sát những chủ trương quản lý đã đề ra”
1.2.3.3 Cơ chế quản lý công ty
Cơ chế quản lý công ty được hiểu là cơ chế quản lý giám sát của chủ sở hữu với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu, Hội đồng quản trị và các bên có liên quan nhằm xác định mục tiêu, hình thành các công
cụ để đạt được mục tiêu và giám sát việc thực hiện mục tiêu của công ty
1.2.3.4 Cơ chế khoán chi phí phân xưởng
Khoán chi phí phân xưởng là một phương pháp đồng thời là một công cụ kinh tế được sử dụng trong quản lý chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp, theo đó chủ thể giao khoán (Giám đốc doanh nghiệp) giao nhiệm vụ sản xuất cho đối tượng nhận khoán (Quản đốc phân xưởng, công trường) kèm theo một mức chi phí sản xuất được gọi là chi phí giao khoán làm căn cứ cho việc xác định tiền lương và thu nhập của đơn vị nhận khoán
Thực chất của khoán chi phí là kế thừa chế độ hạch toán kinh tế nội bộ, đã tồn tại lâu dài trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung ở nhiều nước XHCN Tư tưởng chủ đạo của hạch toán kinh tế là phát huy tinh thần làm chủ của người lao động, để tham gia vào quản lý sản xuất sao cho tiết kiệm và hợp lý nhất Nâng cao tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của người lao động Nguyên tắc cơ bản của chế độ hạch toán kinh tế là “lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi”
Mục tiêu của khoán chi phí trong doanh nghiệp cho các đơn vị sản xuất, nói cho cùng chính là để phát huy những tiềm năng của các đơn vị và người lao động trong SXKD nhằm không ngừng hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, nâng cao năng suất
Trang 34lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao thu nhập của người lao động, hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp
Những nhiệm vụ cụ thể của cơ chế khoán chi phí đến phân xưởng bao gồm:
1 Đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;
2 Tăng cường tính tự chủ, tự quản lý sản xuất của các bộ phận phân xưởng, tham gia chủ động vào hạch toán và quản trị SXKD;
3 Khai thác triệt để năng lực sản xuất, các nguồn lực của doanh nghiệp để SXKD có hiệu quả cao Sử dụng một cách triệt để tiết kiệm các chi phí sản xuất nhằm giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
4 Nâng cao thu nhập và qua đó nâng cao đời sống vật chất cho người lao động trong các phân xưởng Người lao động thông qua hạch toán được cống hiến khả năng của mình và được hưởng thụ một cách xứng đáng;
5 Đảm bảo công bằng, công khai, dân chủ trong SXKD;
6 Hoàn thiện hệ thống hạch toán kinh tế doanh nghiệp và hệ thống thông tin trong chỉ đạo SXKD
Nội dung của công tác khoán chi phí phân xưởng trong doanh nghiệp gồm:
1 Về phía doanh nghiệp:
- Xây dựng phương pháp khoán
- Lựa chọn và tính toán chỉ tiêu giao khoán
- Giao các chỉ tiêu giao khoán cho phân xưởng
- Tổ chức nghiệm thu, thanh toán
2 Về phía đơn vị nhận khoán (phân xưởng, công trường)
- Tiếp nhận các chỉ tiêu giao khoán từ doanh nghiệp
- Tổ chức hạch toán nội bộ công trường, phân xưởng tại đơn vị để thực hiện nhiệm vụ sản xuất và hoàn thành các chỉ tiêu giao khoán
- Thực hiện các giải pháp để hoàn thành và hoàn thành vượt mức một cách khoa học theo một quy trình có thể cho phép đảm bảo thực hiện các mục tiêu của cơ chế khoán là:
Trang 351 Xác định đối tượng giao khoán (phân xưởng, công trường) những mục đích, yêu cầu chủ yếu đặt ra
2 Kiểm tra và tạo lập các điều kiện khoán tại các phân xưởng (công nghệ kỹ thuật sản xuất, trình độ tổ chức sản xuất và tổ chức lao động, bộ máy quản lý, hệ thống mức kinh tế kỹ thuật, tính ổn định…)
3 Kiểm tra và tạo lập các điều kiện giao khoán từ phía doanh nghiệp: hệ thống mức KTKT, hệ thống thông tin, bộ máy quản lý, trong đó bộ máy thống kê kế toán, công tác kế hoạch, phương tiện và phương pháp kiểm tra nghiệm thu sản phẩm…
4 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu giao khoán (gồm các chỉ tiêu nhiệm vụ SXKD các chỉ tiêu ràng buộc, và các chỉ tiêu chi phí giao khoán)
5 Doanh nghiệp tổ chức giao các chỉ tiêu khoán cho các đơn vị nhận khoán
6 Các đơn vị nhận khoán tổ chức thực hiện các chỉ tiêu giao khoán và thực hiện hạch toán nội bộ đơn vị mình
7 Doanh nghiệp tổ chức theo dõi, nghiệm thu kết quả chi phí
8 Tổ chức nghiệm thu kết quả khoán và xác định thu nhập của đơn vị nhận khoán
Cơ chế khoán và quản trị chi phí trong CTCP là tổng thể các phương pháp,các nguyên tắc và các công cụ được vận dụng để quản lý hoạt động khoán và quản trị chi phí trong nội bộ CTCP
Một cơ chế tốt đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu về tính toàn diện, rõ ràng, chính xác, khoa học để doanh nghiệp cũng như các phân xưởng dựa vào đó mà thực hiện một cách tốt nhất các mục tiêu của khoán chi phí phân xưởng
1.2.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phù hợp cơ chế quản lý kinh
tếcủaCTCP khai thác than
1.2.4.1 Cơ cấu tổ chức của tập đoàn kinh tế
Cơ cấu tổ chức của tập đoàn có ý nghĩa quyết định tới hiệu quả hoạt động, quyết định mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn Đặc biệt là vai trò của công ty mẹ trong việc tập trung các nguồn lực không những đáp ứng nhu cầu kinh doanh của bản thân, mà còn đủ sức đầu tư vào các công ty con Đồng thời cơ cấu tổ chức cũng xác định rõ vai trò kiểm soát của công ty mẹ là hết sức quan trọng trong
Trang 36TĐKT Cơ cấu tổ chức phù hợp cho phép công ty mẹ kiểm soát có hiệu quả kết quả hoạt động kinh doanh của các đơn vị thành viên trong TĐKT
Cơ cấu tổ chức của TĐKT là cơ sở phân định rõ ràng các chức năng quản lý, vai trò của từng đơn vị thành viên, các bộ phận như HĐQT và ban giám đốc trong TĐKT, công ty mẹ và các công ty con đều là những pháp nhân độc lập bình đẳng,
có các quyền và nghĩa vụ như nhau trước pháp luật Công ty mẹ chi phối công ty con theo những cấp độ khác nhau tuỳ theo mức độ đầu tư vốn vào các công ty đó bằng quyền của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty con Ngoài quyền đó ra công ty mẹ không được phép can thiệp vào hoạt động kinh doanh cũng như công tác quản lý kinh tế tài chính của công ty con Ngược lại, các công ty con trong tập đoàn cũng tham gia liên kết với công ty mẹ theo nhiều mức độ: chặt chẽ, nữa chặt chẽ các mối quan hệ kinh tế giữa công ty mẹ và công ty con cũng như giữa các công ty con với nhau, như quan hệ mua bán sản phẩm, dịch vụ, vay hoặc cho vay vốn, thuê hoặc cho thuê tài sản…đều phải được thông qua hợp đồng kinh tế như đối với các tổ chức kinh tế khác
Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt nam - công ty mẹ là công ty
có tư cách pháp nhân, thuộc sở hữu nhà nước, do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tại quyết định số 345/2005/QĐ-TTg ngày 26 tháng 12 năm 2005 Tập đoàn các công ty Than - Khoáng sản Việt nam là tổ hợp không có tư cách pháp nhân bao gồm Tập đoàn (công ty mẹ) có 20 đơn vị phụ thuộc, có 23 công ty con là các công ty TNHH do công ty mẹ nắm giữ 100% vốn điều lệ, có 34 công ty con là CTCP do công ty mẹ nắm trên 50% vốn điều lệ, 4 công ty nước ngoài và 12 công ty liên kết, 7 đơn vị sự nghiệp
Tập đoàn với tư cách là công ty mẹ nắm “quyền chi phối của tập đoàn” đó là quyền nắm giữ cổ phần hoặc vốn góp chi phối hoặc nắm giữ quyền khai thác tài nguyên khoáng sản, hoặc nắm giữ bí quyết công nghệ, thương hiệu, thị trường của công ty con, quyết định đối với điều lệ hoạt động, thuê hoặc bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức danh quản lý chủ chốt, tổ chức quản lý thị trường, chiến lược kinh
Trang 37doanh, định hướng đầu tư và các quyết định quan trọng khác của công ty con theo điều lệ của công ty con hoặc theo thoả thuận giữa tập đoàn với công ty con đó
Tập đoàn có các chức năng và nhiệm vụ cơ bản sau [27]:
- Chức năng chủ đầu tư: đầu tư tài chính vào các công ty con, các công ty liên kết; chi phối các công ty con, các công ty liên kết theo mức độ chiếm hữu vốn điều lệ của các công ty đó theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty
Hình 1.2 Sơ đồ cơ cấutổ chức quản lý Tập đoàn các công ty Than - Khoáng
sản Việt Nam
Chính phủ -Thủ Tướng
Hội đồng thành viên Kiểm soát viên
Ban giám đốc điều hành (Tổng Giám đốc và các Phó
Tổng Giám đốc)
Các ban
chức năng
Các ban chức năng
Các ban chức năng
Các ban chức năng Người đại diện phần vốn tại các Công ty con
Các đơn vị
sự nghiệp (7
đơn vị)
Các công ty phụ thuộc (20 công ty)
Các công ty con cấp 2 là công ty TNHH (23)
Các công ty con cấp 2 là công ty cổ phần (34)
Các công ty liên kết trong
và ngoài nước (16)
Công ty con cấp 3 là công ty cổ phần
Công ty con cấp 3 là công ty TNHH
Trang 38- Chức năng chủ mỏ (chủ thể quản lý tài nguyên khoáng sản): tổ chức quản
lý, khảo sát, thăm dò, khai thác, sàng, tuyển, chế biến than, bô xít và các khoáng sản khác trên cơ sở hợp đồng giao nhận thầu với các công ty con và các công ty khác
- Chức năng chủ thể kinh doanh: trực tiếp kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của pháp luật, các quan hệ kinh tế phát sinh giữa tập đoàn và CTC, công ty liên kết (CTLK), công ty tự nguyện tham gia tập đoàn, được thể hiện bằng hợp đồng kinh tế
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại các CTC và CTLK
- Thực hiện những công việc mà Nhà nước trực tiếp giao cho tập đoàn tổ chức thực hiện trong tập đoàn
Như vậy, CTCP khai thác than là những CTC của Tập đoàn phải chịu sự chi phối của Tập đoàn không chỉ về vốn mà còn bị chi phối về quản lý tài nguyên, thị trường nội bộ, quyết định cán bộ chủ chốt, quyết định chiến lược kinh doanh và thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh
1.2.4.2 Đặc điểm hoạt động SXKD than
Đặc điểm hoạt động SXKD than là nhân tố ảnh hưởng tới mô hình tổ chức và
cơ chế quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp Quy mô của doanh nghiệp càng lớn, phạm vi hoạt động càng rộng thì mức độ phức tạp của quản lý kinh tế càng cao
So với các doanh nghiệp thuộc các ngành công nghiệp khác, các doanh nghiệp khai thác khoáng sản có đặc thù sau:
- Quy mô sản xuất thường là lớn, diện sản xuất phân tán, diện tích đất đai sử dụng lớn nhưng chủ yếu là đất đồi và rừng núi, nơi làm việc thường xuyên di động, làm việc trong lòng đất hoặc sâu vào lòng đất ở mức âm 350m so với mức thuỷ chuẩn
- Điều kiện mỏ địa chất và điều kiện khai thác mỏ của các doanh nghiệp là khác nhau Điều đó dẫn đến tổ chức hoạt động khác nhau, dẫn đến chi phí khai thác giữa các mỏ là khác nhau, làm cho tỷ suất sinh lời của các mỏ là khác nhau
Trang 39- Vị trí địa lý: các doanh nghiệp gần cảng biển, gần hệ thống giao thông vận tải, gần thị trường tiêu thụ vv… Sẽ có lợi thế hơn các doanh nghiệp ở xa địa điểm
đó, tức là sẽ có chi phí cung cấp các đầu vào và chi phí tiêu thụ đầu ra thấp hơn
- Chất lượng tài nguyên khoảng sản giữa các doanh nghiệp cũng khác nhau, dẫn đến việc kiểm soát về chất lượng và xác định giá trị doanh nghiệp cũng khác nhau Không thể đo lường trước một cách chính xác và đầy đủ tình hình trữ lượng, chất lượng tài nguyên khoáng sản và điều kiện địa chất mỏ
- Sản phẩm khai thác mỏ thường dùng làm nguyên liệu, nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp trong nước là chính, trong khi ở Việt Nam giá nhiều loại sản phẩm khoáng sản chưa phản ánh đúng giá trị của chúng và chưa tuân thủ cơ chế thị trường Giá tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp mỏ trong Vinacomin lại do Tập đoàn định giá và tiêu thụ theo hộ chỉ định của Tập đoàn Do vậy, hiệu quả kinh doanh theo sổ sách kế toán của nhiều doanh nghiệp mỏ là không chính xác và không phản ánh đúng hiệu quả kinh tế liên ngành của sản phẩm khoáng sản
- Quá trình khái thác mỏ gắn liền với các tác động xấu tới môi trường sinh thái Vì vậy, việc tính đúng, tính đủ chi phí bảo vệ và phục hồi môi trường vào giá thành sản phẩm khoáng sản khai thác được là đòi hỏi cấp thiết, việc tổ chức, quản lý khai thác mỏ đòi hỏi sự phù hợp
- Tài nguyên khoáng sản trong lòng đất là hữu hạn và không thể tái tạo Vì vậy, cần phải có biện pháp bắt buộc các doanh nghiệp mỏ tận thu tối đa tài nguyên khoáng sản, tránh tình trạng dễ làm, khó bỏ chạy theo lợi nhuận, gây tổn thất tài nguyên
Với đặc thù nêu trên, đòi hỏi cơ chế quản lý kinh tế trong các CTCP khai thác than phải có sự phù hợp với đặc điểm của ngành khai thác than
1.2.4.3 Môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh có quan hệ hữu cơ đối với sự hình thành và phát triển của các công ty, các tổ chức kinh tế Một mặt, với tư cách là một doanh nghiệp, một thực thể kinh doanh hoạt động trong một môi trường cụ thể Các doanh nghiệp mỏ chịu sự tác động của nhiều nhân tố môi trường kinh doanh và bản thân các doanh
Trang 40nghiệp phải thích ứng với các điều kiện đó Mặt khác, các doanh nghiệp cũng có sự tác động trở lại, có những ảnh hưởng nhất định làm thay đổi môi trường kinh doanh
Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh tới cơ chế quản lý kinh tế, tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở các nhân tố sau đây:
- Chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước
Các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong một nền kinh tế thị trường có
sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN Nhà nước có vai trò là ngườihướng dẫn, kiểm soát và điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Nhà nước thông qua việc ban hành chính sách kinh tế, tạo lập môi trường và hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp phát triển SXKD và định hướng hoạt động của các doanh nghiệp theo kế hoạch vĩ mô của Nhà nước
Do vậy, chính sách KTXH của Nhà nước có tác động trực tiếp, quy định khung pháp lý cho việc xác lập cơ chế quản lý của doanh nghiệp
- Chế độ sở hữu:
Chế độ sở hữu là một yếu tố nền tảng, có ảnh hưởng quyết định đối với cơ chế quản lý của doanh nghiệp Trong tập đoàn kinh tế, công ty mẹ và công ty con là những pháp nhân độc lập, chúng có quyền bình đẳng như nhau trước pháp luật Công ty mẹ, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt nam nắm quyền chi phối công ty con không chỉ về vốn mà còn về tài nguyên khoáng sản, công nghệ và thị trường sản phẩm quyết định giá giao thầu sản phẩm Công ty mẹ điều chỉnh những quyết định quan trọng của công ty con thông qua người trực tiếp quản lý phần vốn góp của công ty mẹ tại công ty con Quyền ra quyết định của công ty mẹ
và mức độ ảnh hưởng của người được uỷ quyền
1.2.5 Khái quát sự phát triển của các quy định pháp luật về CPH DNNN
1.2.5.1 Các quy định pháp luật về CPH DNNN trong nền kinh tế
Cổ phần hoá là giải pháp sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN mang tính triệt để và tối ưu nhất đối với nước ta Cổ phần hoá đã trải qua chặng đường 20 năm, nhưng nền tảng pháp lý cho CPH vẫn chưa thực sự vững chắc Những phân tích dưới đây về thực trạng pháp luật về CPH sẽ cho thấy rõ điều này