Học thuyết hình thái kinh tế xã hội là lý luận nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nhờ cú lý luận này mà cỏc hiện tượng xã hội được nhận thức một cách khoa học. Thông qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong mỗi hình thỏi kinh tế xã hội mà C.Mác đó tìm ra quy luật vận động của lịch sử loài người; và trên cơ sở đó khẳng định sự phát triển của các hình thỏi kinh tế xã hội là quỏ trỡnh lịch sử tự nhiờn. Trong các mối quan hệ đa dạng và phức tạp của mỗi hình thỏi kinh tế xã hội C.Mỏc khụng những chỉ ra quy luật về sự phự hợp của quan hệ sản xuất với tớnh chất và trỡnh độ của lực lượng sản xuất, mà ông cũng đặc biệt chú ý phân tớch mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Sự tác động qua lại giữa hai nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận động của mỗi hình thỏi kinh tế xã hội. Trong xã hội cú giai cấp mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng được thể hiện tập trung ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa cơ sở hạn tầng và kiến trúc thượng tầng sẽ giúp ta có thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận thức và xem xét, vận dụng vào mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay. Là quan hệ cơ bản, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, trong khi khẳng định những thành quả to lớn cả trong nhận thức và giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cùng những biến đổi tích cực trong thực tiễn do chúng mang lại, chúng ta vẫn cũn những khiếm khuyết, lệch lạc trên cả lĩnh vực nhận thức và tổ chức thực hiện. Trên lĩnh vực nhận thức một số người cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội như nước với lửa, chúng không thể tương dung; hoặc thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, nghĩa là xây dựng một nền kinh tế “đa nguyên” và tương ứng với nó là nền chính trị “đa nguyên” chứ không thể “nhất nguyên”. Có một số người lại đề cao kinh tế thị trường lên tận mây xanh, xem đó là liều thuốc vạn năng có thể chữa bách bệnh và giải quyết được một số vấn đề của công cuộc đổi mới. Về mặt thực tiễn, bên cạnh hiện tượng trỡ trệ trong đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, cũng có tỡnh trạng nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc kia muốn đẩy thật nhanh quá trỡnh đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, tuyệt đối hóa đổi mới kinh tế hoặc tuyệt đối hóa đổi mới chính trị, tách rời hai quá trỡnh này gõy ra hậu quả xấu cho đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị và thậm chí đi lệch hướng xã hội chủ nghĩa. Sự lệch lạc như vậy sẽ đưa chúng ta rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chủ quan duy ý chớ. Song qua mỗi kỳ Đại hội, nhận thức về mối quan hệ này của Đảng ta lại càng được xác định rừ hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và tỡnh hình thế giới. Tại Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề này và đó cú những chủ trương đúng đắn, nhằm đề ra những giải pháp hiệu quả phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy, hiện nay việc vận dụng quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng của chủ nghĩa Mác Lênin vào làm rừ mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, từ đó tìm ra những mâu thuẫn và giải quyết chỳng một cách đúng đắn, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ở nước ta vẫn đặt ra là vấn đề cấp bách.
Trang 1thượng tầng
5
1.2.2 Quan điểm triết học Mác xít về mối quan hệ biện chứng
giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
6
1.3 Đặc điểm hỡnh thành và phát triển của cơ sở hạ tầng và
kiến trúc thượng tầng xó hội chủ nghĩa
giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị
13
2.2.1 Nhận thức của Đảng ta về mối quan hệ giữa đổi mới kinh
tế và đổi mới chính trị
13
2.2.2 Đảng ta đó giải quyết và vận dụng sáng tạo trong đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị
18
2.2.3 Kết quả về kinh tế, chớnh trị, xó hội của sự vận dụng mối
quan hệ cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng trong quá
trong quá trỡnh đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước
ta
20
kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay
22
2.3.1 Một số mâu thuẫn liên quan tới đổi mới kinh tế và đổi mới
chính trị ở nước ta hiện nay
22
2.3.2 Một số vấn đề nhằm giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới
kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay
26
Trang 2MỞ ĐẦU
Học thuyết hỡnh thỏi kinh tế - xó hội là lý luận nền tảng của chủ nghĩaduy vật lịch sử Nhờ cú lý luận này mà cỏc hiện tượng xó hội được nhận thứcmột cách khoa học Thông qua việc phân tích các mối quan hệ cơ bản trong mỗihỡnh thỏi kinh tế xó hội mà C.Mác đó tỡm ra quy luật vận động của lịch sử loàingười; và trên cơ sở đó khẳng định sự phát triển của các hỡnh thỏi kinh tế xó hội
là quỏ trỡnh lịch sử tự nhiờn
Trong các mối quan hệ đa dạng và phức tạp của mỗi hỡnh thỏi kinh tế xóhội C.Mỏc khụng những chỉ ra quy luật về sự phự hợp của quan hệ sản xuất vớitớnh chất và trỡnh độ của lực lượng sản xuất, mà ông cũn đặc biệt chú ý phântớch mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Sự tác động qualại giữa hai nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới sự vận động của mỗi hỡnh thỏikinh tế xó hội
Trong xó hội cú giai cấp mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng được thể hiện tập trung ở mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.Việc nhận thức đúng mối quan hệ giữa cơ sở hạn tầng và kiến trúc thượng tầng
sẽ giúp ta có thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận thức và xemxét, vận dụng vào mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước
ta hiện nay
Là quan hệ cơ bản, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xó hội, ảnh hưởngtrực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mối quan hệ giữa đổi mớikinh tế và đổi mới chính trị được Đảng Cộng sản Việt Nam đặc biệt quan tâm.Tuy nhiên, trong khi khẳng định những thành quả to lớn cả trong nhận thức vàgiải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cùng những biến đổitích cực trong thực tiễn do chúng mang lại, chúng ta vẫn cũn những khiếmkhuyết, lệch lạc trên cả lĩnh vực nhận thức và tổ chức thực hiện Trên lĩnh vựcnhận thức một số người cho rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xó hội nhưnước với lửa, chúng không thể tương dung; hoặc thực hiện nền kinh tế thịtrường định hướng xó hội chủ nghĩa với nhiều thành phần kinh tế, nghĩa là xâydựng một nền kinh tế “đa nguyên” và tương ứng với nó là nền chính trị “đanguyên” chứ không thể “nhất nguyên” Có một số người lại đề cao kinh tế thịtrường lên tận mây xanh, xem đó là liều thuốc vạn năng có thể chữa bách bệnh
và giải quyết được một số vấn đề của công cuộc đổi mới Về mặt thực tiễn, bêncạnh hiện tượng trỡ trệ trong đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, cũng cótỡnh trạng nơi này hay nơi khác, lúc này hay lúc kia muốn đẩy thật nhanh quátrỡnh đổi mới kinh tế hoặc đổi mới chính trị, tuyệt đối hóa đổi mới kinh tế hoặctuyệt đối hóa đổi mới chính trị, tách rời hai quá trỡnh này gõy ra hậu quả xấucho đổi mới kinh tế lẫn đổi mới chính trị và thậm chí đi lệch hướng xó hội chủ
Trang 3nghĩa Sự lệch lạc như vậy sẽ đưa chúng ta rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chủquan duy ý chớ Song qua mỗi kỳ Đại hội, nhận thức về mối quan hệ này củaĐảng ta lại càng được xác định rừ hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của đấtnước và tỡnh hỡnh thế giới Tại Đại hội XI, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh tầmquan trọng của vấn đề này và đó cú những chủ trương đúng đắn, nhằm đề ranhững giải pháp hiệu quả phát triển đất nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Vỡ vậy, hiện nay việc vận dụng quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc tượng tầng của chủ nghĩa Mác - Lờnin vào làm rừ mốiquan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, từ đó tỡm ra những mõuthuẫn và giải quyết chỳng một cỏch đúng đắn, thúc đẩy sự nghiệp đổi mới ởnước ta vẫn đặt ra là vấn đề cấp bách
Trang 4NỘI DUNG
I Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng 1.1.Quan điểm triết học Macxit về cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1.1.1 Cơ sở hạ tầng và đặc trưng của nó
Theo quan điểm triết học Mỏcxớt, cơ sở hạ tầng là tổng hợp những quan
hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một xó hội nhất định
Cơ sở hạ tầng của mỗi xó hội cụ thể, trừ xó hội nguyên thủy, đều bao gồmquan hệ sản xuất thống trị, tàn dư của xó hội cũ và quan hệ sản xuất mầm mốngcủa xó hội tương lai Các quan hệ sản xuất này tạo nên bộ mặt, diện mạo nềnkinh tế trong một giai đoạn nhất định
Vai trũ của mỗi loại quan hệ sản xuất mất đi do khách quan quy định.Trên thực tế ít có lúc nào cơ sở hạ tầng chỉ có một quan hệ sản xuất Trong xóhội chiếm hữu nụ lệ, bờn cạnh quan hệ sản xuất chiếm hữu nụ lệ là quan hệ sảnxuất thống trị, cũn cú quan hệ sản xuất cộng sản nguyờn thủy là quan hệ sảnxuất tàn dư và ở cuối xó hội chiếm hữu nụ lệ đó xuất hiện quan hệ sản xuấtphong kiến là quan hệ sản xuất mầm mống
Trong cơ sở hạ tầng, quan hệ sản xuất thống trị giữ vai trũ quyết định bảnchất cơ sở hạ tầng và xu hướng cơ sở hạ tầng chi phối các quan hệ sản xuất khác
vỡ quan hệ sản xuất này thường được xác định trong luật pháp và bảo hộ củaNhà nước pháp quyền, tư tưởng thống trị của mỗi xó hội bao giờ cũng là tưtưởng của giai cấp thống trị
Tổng hợp những quan hệ sản xuất không có nghĩa là phép cộng giản đơncác quan hệ sản xuất với nhau mà là các quan hệ sản xuất này nú là một chỉnh thểthống nhất, tác động, đấu tranh, ràng buộc và loại trừ nhau ở trong một chỉnh thểthống nhất đó C.Mác viết: “toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấukinh tế của xó hội tức là cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầngpháp lý và chớnh trị và những hỡnh thỏi ý thức xó hội nhất định tương ứng với cơ
sở hiện thực đó”1 Trong thời kỳ quá độ thỡ cơ sở hạ tầng phức tạp vỡ cũn tồn tạiquan hệ sản xuất của xó hội cũ Quỏ trỡnh phỏt triển, vận động cơ sở hạ tầng chính
là nói đến quá trỡnh vận động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần hiện nay Quan
hệ sản xuất xét trong nội bộ phương thức sản xuất là hỡnh thức phỏt triển của lựclượng sản xuất, xét trong tổng thể các quan hệ xó hội thỡ cỏc quan hệ sản xuất hợpthành cơ sở kinh tế của xó hội, tức là cơ sở hiện thực trên đó người ta dựng nênkiến trúc thượng tầng tương ứng với cơ sở hạ tầng đó
Cơ sở hạ tầng mang tính lịch sử cụ thể, không có cơ sở hạ tầng chungchung hay chung cho mọi chế độ xó hội trong lịch sử Biểu hiện ngay trong từngbước đi, trong quỏ trỡnh phỏt triển của lịch sử Trong thời kỳ quỏ độ từ chủ
1 C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 13, Nxb, CTQG, H.1995, tr.15
Trang 5nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xó hội, cơ sở hạ tầng có kết cấu phức tạp, có nhiềuthành phần kinh tế, nhiều kiểu quan hệ sản xuất cùng tồn tại, tác động qua lại nhau,
cơ sở hạ tầng vừa có tính chất đối kháng vừa không có tính chất đối kháng, song tínhchất không đối kháng chủ đạo, cơ bản, nổi trội Cơ sở hạ tầng nó cũn bao gồm cảquan hệ kinh tế trong quỏ trỡnh tỏi sản xuất ra đời sống xó hội Thực chất là nhữngquan hệ vật chất khỏch quan Tổng hợp các quan hệ vật chất này hợp thành một cơcấu kinh tế hiện thực của một chế độ xó hội nhất định
1.1.2 Kiến trúc thượng tầng và đặc trưng của nó
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng và các quan
hệ tư tưởng cùng các tổ chức, thiết chế xó hội tương ứng với nó được hỡnhthành trờn một cơ sở hạ tầng nhất định
Kết cấu kiến trúc thượng tầng gồm có hai yếu tố: yếu tố tư tưởng xó hộibao gồm chớnh trị, phỏp luật, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, triết học… và yếu
tố tổ chức thiết chế xó hội bao gồm Nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể,quân đội, cảnh sát… là vật chất hóa quan điểm tư tưởng Giữa hai yếu tố này cómối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong xó hội cú giai cấp Nhà nước là cơ quanđặc biệt quan trọng trong kiến trúc thượng tầng tiêu biểu cho chế độ chính trịhiện tồn Chính nhờ có Nhà nước mà giai cấp thống trị gán được cho xó hội hệ
tư tưởng của mỡnh
Kiến trúc thượng tầng là tổng hợp các quan điểm tư tưởng và các quan hệ
tư tưởng được hỡnh tành trờn một cơ sở hạ tầng nhất định Đó là các quan điểmchính trị như đảng phái, Nhà nước… Quan điểm về mặt pháp quyền, pháp lý nhưtũa ỏn, tụn giỏo… Quan điểm tôn giáo như nhà thờ, giáo hội…Tương ứng với hệthống các quan điểm tư tưởng này là các tổ chức, các cơ quan thiết chế xó hội nhưđảng phái, Nhà nước, pháp luật, quân đội, cảnh sát…
Kiến trúc thượng tầng phản ánh bộ mặt tinh thần của đời sống xó hội,trong xó hội đối kháng có giai cấp, kiến trúc thượng tầng luôn mang tính giaicấp sâu sắc, tính chất đối kháng của kiến trúc thượng tầng phản ánh tính chất đốikháng của cơ sở hạ tầng, tính giai cấp của kiến trúc thượng tầng thể hiện ở sựđối lập, ở các quan điểm tư tưởng về cuộc đấu tranh về mặt chính trị tư tưởngcủa giai cấp đối kháng, mâu thuấn đối kháng trong kiến trúc thượng tầng cũngbắt nguồn từ mâu thuẫn trong cơ sở hạ tầng
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
1.2.1 Các quan điểm trước Mác
Chủ nghĩa duy tõm cho rằng quan hệ Nhà nước, quan hệ pháp luật quyếtđịnh quan hệ kinh tế, quan hệ tư tưởng Một số nhà triết học tuyệt đối hóa vai trũcủa Nhà nước như Platon, Hêghen… Hêghen cho rằng: Nhà nước là hiện thân
Trang 6của ý niệm tuyệt đối, còn Phoiơbắc thì lại cho rằng: Sự thay đổi của các Nhànước là sự thay đổi của các tôn giáo Họ đều rơi vào quan điểm duy tâm về lịch
sử xó hội, khụng giải thớch được ý thức nảy sinh từ đâu
Chủ nghĩa duy vật siờu hỡnh (trong đó có duy vật về kinh tế) họ tuyệt đốihóa các yếu tố kinh tế, xem yếu tố kinh tế là yếu tố duy nhất quyết định sự vậnđộng và phát triển của xó hội hiện thực Thực chất là quan điểm siêu hỡnh trongxem xột quỏ trỡnh vận động, phát triển của sự vật
1.2.2 Quan điểm triết học Mác xít về mối quan hệ biện chứng giữa cơ
sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng
Khẳng định đây là một trong hai quy luật cơ bản của sự tồn tại và pháttriển của xó hội, là quy luật chung, quy luật phổ biến, quy luật cơ bản của chủnghĩa duy vật lịch sử, cũng là quy luật cơ bản của của học thuyết hỡnh thỏi kinh
tế xó hội
Nội dung quy luật chỉ ra cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mốiquan hệ biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượngtầng, kiến trúc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng và tác động trở lại cơ sở hạtầng sinh ra nó Sự tác động này mang tính khách quan phổ biến
* Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng vỡ cơ sở hạ tầng là nhữngquan hệ kinh tế khách quan, cũn những quan hệ kiến trỳc thượng tầng là nhữngquan hệ nảy sinh từ những quan hệ kinh tế Do đó cơ sở hạ tầng quyết định kiếntrúc thượng tầng Mặt khác, xuất phát từ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức,trong đó vật chất quyết định ý thức; vận dụng vào lĩnh vực xó hội thỡ quan hệsản xuất, quan hệ vật chất quyết định quan hệ tinh thần, tư tưởng của xó hội, vỡvậy cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng biểu hiện ở cỏc nội dung sau:
Cơ sở hạ tầng quyết định tính chất của kiến trúc thượng tầng, tính chấtcủa cơ sở hạ tầng như thế nào thỡ tớnh chất của kiến trỳc thượng tầng như thế
ấy Cơ sở hạ tầng không có tính chất đối kháng được phản ánh nên kiến trúcthượng tầng cũng không có tính chất đối kháng, cơ sở hạ tầng có tính chất đốikháng thỡ kiến trỳc thượng tầng cũng có tính chất đối kháng Vỡ vậy, trong xóhội có mâu thuẫn đối kháng thỡ cuộc đấu tranh giai cấp trên kiến trúc thượngtầng là một tất yếu khách quan và diễn ra gay gắt, quyết liệt
Cơ sở hạ tầng quyết định cơ cấu, tổ chức và những nội dung cơ bản củacác quan điểm trong kiến trúc thượng tầng Trong kiến trúc thượng tầng baogồm những bộ phận nào, những cơ quan nào, vụ viện nào và nội dung cơ bảncủa các quan điểm chính trị, pháp luật, đạo đức… như thế nào, không phải do
ý muốn chủ quan của các giai cấp quy định mà là do cơ sở hạ tầng quyết
Trang 7định Cơ sở hạ tầng dựa trên quan hệ sản xuất chiếm hữu tư nhân về tư liệusản xuất thỡ kiến trỳc thượng tầng sẽ đũi hỏi phải cú thiết chế Nhà nước,pháp luật, tổ chức quân đội và cảnh sát vũ trang… và mới có tư tưởng ngườibóc lột người là tư tưởng thống trị xó hội.
Cơ sở hạ tầng quyết định sự vận động biến đổi phát triển thay thế lẫn nhau củakiến trúc thượng tầng Khi cơ sở hạ tầng thay đổi thỡ sớm hay muộn kiến trỳcthượng tầng cũng thay đổi theo Sự thay đổi đó khụng chỉ diễn ra từ xó hội này sang
xó hội khỏc mang tớnh cỏch mạng mà nú cũn diễn ra ngay trong một xó hội: trongmột hỡnh thỏi kinh tế xó hội, mỗi sự biến đổi về cơ cấu, cơ chế hoặc hỡnh thức sởhữu trong lĩnh vực kinh tế… đều dẫn đến sự điều chỉnh nhất định ở lĩnh vực kiếntrúc thượng tầng như sự bổ sung luật pháp, cải cách tổ chức bộ máy Nhà nước… Khi
cơ sở hạ tầng cũ mất đi thỡ kiến trỳc thượng tầng do nó sinh ra cũng mất theo Khi
cơ sở hạ tầng mới ra đời thỡ kiến trỳc thượng tầng mới phù hợp với nó cũng xuấthiện
* Kiến trúc thượng tầng tác động trở lại cơ sở hạ tầng
Sự tác động ngược trở lại này là do kiến trúc thượng tầng có tính độc lậptương đối không phụ thuộc máy móc vào cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng phảnánh cơ sở hạ tầng một cách tích cực, sáng tạo nhằm cải tạo cơ sở hạ tầng vỡ nhữnglợi ích nhất định Mặt khác, kiến trúc thượng tầng cũn cú sức mạnh của các lựclượng vật chất do tổ chức thiết chế của nó đem lại, qua đó tác động ngược trở lại
cơ sở hạ tầng
Sự tác động ngược trở lại này được biểu hiện:
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng với cơ sở hạ tầng được thể hiện ởchức năng xó hội của kiến trỳc thượng tầng là luôn tỡm mọi cỏch bảo vệ, duytrỡ, củng cố và phỏt triển cơ sở hạ tầng đó sinh ra nú Kiến trỳc thượng tầngthường tỡm mọi quyền lực kinh tế, chớnh trị, xó hội trong Nhà nước để ngănchặn sự ra đời của cơ sở hạ tầng mới và xóa bỏ sự phục hồi của cơ sở hạ tầng cũ
để tạo môi trường thuận lợi cho nó
Kiến trúc thượng tầng tác động ngược trở lại cơ sở hạ tầng theo hai chiềuhướng Khi kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng và phản ánh đúngđắn các quy luật kinh tế thỡ sẽ thỳc đẩy cơ sở hạ tầng phát triển, làm cho đờisống kinh tế, xó hội phỏt triển Ngược lại, khi kiến trúc thượng tầng không phùhợp với cơ sở hạ tầng thỡ nú sẽ kỡm hóm sự phỏt triển của cơ sở hạ tầng gõycỏc trở lực cho quỏ trỡnh sản xuất xó hội, tất nhiờn, sự kỡm hóm này chỉ trongmột giới hạn nhất định và sớm hay muộn thỡ kiến trỳc thượng tầng cũng phảithay đổi
Tất cả các bộ phận của kiến trúc thượng tầng đều tác động trở lại cơ sở hạtầng nhưng vai trũ của thiết chế Nhà nước, chính đảng cầm quyền và vai trũ của
Trang 8luật phỏp là những bộ phận giữ vai trũ đặc biệt quan trọng tác động trở lại to lớnđối với cơ sở hạ tầng; nhà nước với đường lối phát triển có vai trũ hiện thực húađường lối kinh tế, các điều luật phù hợp sẽ tạo hành lang pháp lý thuận lợi chophỏt triển sản xuất và ngược lại Cũn sự tỏc động của các bộ phận khác của kiếntrúc thượng tầng tới cơ sở hạ tầng đều thông Nhà nước và pháp luật mà phát huyhiệu lực của nó.
1.3 Đặc điểm hỡnh thành và phát triển của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xó hội chủ nghĩa
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xó hội chủ nghĩa khụng hỡnhthành một cỏch tự phỏt trong xó hội cũ mà được hỡnh thành một cỏch tự giỏcthụng qua cỏch mạng chớnh trị do giai cấp vô sản tiến hành Cách mạng chínhtrị đi trước không có nghĩa là kiến trúc thượng tầng quyết định cơ sở hạ tầng vỡcỏch mạng chớnh trị chỉ là một phần của kiến trỳc thượng tầng
Để hỡnh thành cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xó hội chủ nghĩa ,cuộc cỏch mạng chớnh trị do giai cấp tiến hành phải đi trước một bước nhưng theotính chất, quy luật chung thỡ kiến trỳc thượng tầng xó hội chủ nghĩa vẫn do cơ sở
hạ tầng của nó quyết định, đây là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để xây dựng cơ sở
hạ tầng bởi vỡ giai cấp vụ sản giành lấy chớnh quyền cũng là để tạo điều kiện chomỡnh có được sức mạnh kinh tế Ăngghen đó khẳng định “quyền lực Nhà nước làsức mạnh kinh tế”, cho nên sự ra đời của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầngkhông phải hỡnh thành một cỏch tự phỏt
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xó hội chủ nghĩa không có mâuthuẫn đối kháng và không bao hàm lợi ích đối lập Vỡ vậy mà cơ sở hạ tầng và kiếntrúc thượng tầng xó hội chủ nghĩa là cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng ưu việtnhất trong lịch sử
Quỏ trỡnh hỡnh thành, phỏt triển một cỏch toàn diện kiến trúc thượng tầng
xó hội chủ nghĩa là khi giai cấp vô sản giành được chính quyền Vỡ khi giành đượcchính quyền ta mới có điều kiện xây dựng Nhà nước, củng cố pháp luật, tũa ỏn,quõn đội… Nhưng xét đến cùng thỡ kiến trỳc thượng tầng phản ánh cơ sở hạ tầng
và do cơ sở hạ tầng quyết định
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xó hội, việc xõy dựng cơ sở hạ tầng vàkiến trúc thượng tầng xó hội chủ nghĩa , được tiến hành từng bước với những hỡnhthức, bước đi, quy mô thích hợp
II Nhận thức và vận dụng của đảng ta trong đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
2.1 Mối quan hệ giữa kinh tế và chớnh trị
Khỏi niệm kinh tế được hiểu theo hai nghĩa cơ bản đó là: Thứ nhất, kinh tế
là tổng thể cỏc quan hệ sản xuất nhất định trong lịch sử phù hợp với mỗi trỡnh độ
Trang 9phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Thứ hai, kinh tế là toàn bộ cỏc ngànhkinh tế quốc dõn hay một bộ phận của nền kinh tế quốc dõn Nú bao gồm cỏchỡnh thức sản xuất theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế và vùng kinh tế và cơchế quản lý kinh tế.
Trong “kinh tế ”, nhõn tố cú vai trũ lớn nhất là quan hệ sở hữu về tư liệusản xuất; ngoài ra, phải kể đến quan hệ giữa người với người trong quá trỡnh tổchức, quản lý sản xuất, trong phân phối và tiêu dùng sản xuất được làm ra trên
cơ sở tính chất của chế độ sở hữu đó
Còn chính trị được hiểu là mối quan hệ giữa các giai cấp, cỏc dõn tộc, cácquốc gia trong vấn đề dành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước; là phương hướng,mục tiêu được quy định bởi lợi ích cơ bản của giai cấp, của đảng phái; là hoạtđộng thực tiễn của các giai cấp, các đảng phái, các nhà nước để thực hiện đườnglối đó lựa chọn nhằm đi tới mục tiêu đó đề ra
Giữa kinh tế và chớnh trị cú mối quan hệ qua lại với nhau; cỏc quan hệkinh tế và cơ cấu kinh tế là nền móng trên đó dựng lên được một kiến trúcthượng tầng pháp lý, chớnh trị tương ứng; ngược lại, thượng tầng chính trị pháp
lý cũng có tác động mạnh tới sự vận động và phỏt triển của kinh tế Trong mốiquan hệ này kinh tế giữ vai trũ quyết định tính thứ nhất, chính trị là tính thứ hai,
là cái phản ánh của kinh tế, thể hiện qua tư duy chính trị, đường lối chính trị ,thể chế chính trị…
2.1.1 Kinh tế quyết định chính trị
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử thỡ kinh tế giữ vai trũquyết định đối với chính trị Kinh tế là nguồn gốc, là thước đo tính hợp lý củachớnh trị Tương ứng với một trỡnh độ phát triển nhất định về kinh tế có mộttrỡnh dộ phỏt triển nhất định về chính trị Cơ sơ kinh tế như thế nào thỡ cơ cấuthể chế chính trị thích ứng như thế ấy Sự biến đổi, phát triển của kinh tế lànguồn gốc sâu sa của mọi biến đổi xó hội và đảo lộn về chính trị Các quan hệgiai cấp và đấu tranh giai cấp chỉ là sự phản ỏnh cỏc quan hệ lợi ớch kinh tế, cỏcmõu thuẫn trong lợi ớch kinh tế, Kinh tế phỏt triển thỡ chớnh trị tiến bộ, ngượclại kinh tế khủng hoảng là dấu hiệu cho thấy sự bất cập của chớnh trị và nó đũihỏi phải cú sự đổi mới về chính trị Ở mức độ, khía cạnh nào đó, sự phát triển củakinh tế thể hiện sự phát triển, tính ưu việt và sự phù hợp của chính trị đối với kinh tế
Theo V.I.Lờnin, chính trị là việc xây dựng Nhà nước về kinh tế, “…là sựbiểu hiện tập trung của kinh tế”2, “…là kinh tế cô đọng lại”3 Như vậy, so vớikinh tế, chính trị là sự phản ánh, là “tính thứ hai” Không có những quan hệchính trị và quy luật chính trị độc lập tuyệt đối với các quan hệ và quy luật kinh
tế Chính trị không phải là cái gương soi của đời sống kinh tế, mà là sự biểu hiện
2 V.I.Lờnin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, M.1977, tr.39
3 V.I.Lênin, Sđd, tập 45, tr.418
Trang 10tập trung của kinh tế Nó phản ánh mang tầm khái quát, bộc lộ cái bản chất nhấtcủa đời sống kinh tế, mang tính chi phối trong đời sống kinh tế Trong thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xó hội ở nước ta hiện nay cựng đang tồn tại nhiều thànhphần kinh tế khác nhau Chính trị của chúng ta hiện nay là sự biểu hiện tập trungcủa nền kinh tế đó, trong đó việc làm cho kinh tế Nhà nước từng bước vươn lênnắm được vai trũ chủ đạo được xem là một nội dung vô cùng quan trọng của nó.
2.1.2 Chính trị tác động trở lại kinh tế
Trong khi khẳng định vai trũ quyết định, tính thứ nhất của kinh tế đối vớichính trị, chủ nghĩa Mỏc-Lờnin cũng nhấn mạnh tính độc lập tương đối và sự tácđộng ngược trở lại của chính trị đối với kinh tế Xét về tổng thể, sự vận động củakinh tế bị chi phối bởi chính các quy luật kinh tế khách quan; đồng thời nó cũngchịu sự tác động ngược lại của chính trị, của quyền lực Nhà nước V.I.Lêninnhấn mạnh: “Chính trị không thể không giữ địa vị hàng đầu so với kinh tế”4, đây
là luận điểm nói lên vai trũ năng động, tính độc lập tương đối, sự tác độngngược trở lại của chính trị đối với kinh tế Sự tác động của chính trị đối với kinh
tế có thể theo những hướng khác nhau: thúc đẩy, kỡm hóm hoặc vừa thỳc đẩymặt này vừa kỡm hóm mặt kia, cú thể cũn làm thay đổi cơ sở kinh tế ở chừngmực nhất định Điều đó cho thấy, để phát triển kinh tế cần phải quan tâm đếnchính trị, đặc biệt là định hướng chính trị của đảng cầm quyền và bộ máy Nhànước V.I.Lênin viết: “Không có một lập trường chính trị đúng thỡ một giai cấpnhất định nào đó không thể nào giữ vững được sự thống trị của mỡnh, và do đócũng khụng thể hoàn thành được nhiệm vụ của mỡnh trong lĩnh vực sản xuất”5.Trên thực tế, không có đường lối chính trị đúng thỡ khụng thể giữ vững được sựthống trị chính trị và do đó cũng không có khả năng (một giai cấp thống trị nàođó) lónh đạo kinh tế
Chính trị đóng vai trũ lónh đạo, định hướng và tạo môi trường chính trị - xóhội ổn định, đáp ứng những điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế Thực chấtcủa sự tác động của chính trị đối với kinh tế là tạo môi trường xó hội ổn định, giảiphóng sức sản xuất, tạo động lực để phát triển kinh tế, định hướng phát triển kinh tếquốc gia Để phát triển xó hội, đũi hỏi phải ưu tiên chính trị, đổi mới, hoàn thiện,dân chủ hóa chính trị, tạo tiền đề cho kinh tế phát triển
Vai trũ ưu tiên của chính trị so với kinh tế không chỉ biểu hiện ở năng lực tácđộng trở lại của chính trị đối với kinh tế (thúc đẩy hoặc kỡm hóm) mà nú cũn thểhiện ở chỗ để giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động về mặt kinh tế,trước hết phải giải phóng họ về mặt chính trị , làm cho họ trở thành chủ thể củaquyền lực Nhà nước Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác vàPh.Ăngghen đó xem việc giai cấp cụng nhõn giành chớnh quyền, trở thành chủ thể
4 V.I.Lênin, Sđd, tập 42, tr.349
5 V.I.Lờnin, Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, M.1977, tr.350
Trang 11của quyền lực Nhà nước là “bước thứ nhất” của cuộc cách mạng công nhân Khôngđạt được tiền đề chính trị đó mà nói tới giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân laođộng về kinh tế thỡ chỉ là ảo tưởng mà thôi.
Quan hệ chính trị với kinh tế là quan hệ cơ bản, có ý nghĩa đặc biệt quantrọng, chi phối các mối quan hệ xó hội Vỡ vậy, đũi hỏi trong việc giải quyết cỏcvấn đề cụ thể phải chủ động, sáng tạo, tránh tuyệt đối hóa hoặc đồng nhất chínhtrị với kinh tế Nếu tuyệt đối hóa kinh tế sẽ dẫn đến phát triển kinh tế mộtcách tự phát, vô chính phủ, tập trung tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá, hysinh các mặt khác Nếu tuyệt đối hóa chính trị trong phát triển kinh tế sẽ làmcho nền kinh tế bị can thiệp, áp đặt một cách duy ý chí, không theo quy luậtkhách quan Đồng nhất chính trị với kinh tế sẽ làm cho chớnh trị trở nờn cứngnhắc, giáo điều Mắc phải một trong những khuynh hướng trên đều ảnhhưởng tiêu cực, kỡm hóm sự phỏt triển kinh tế núi riờng và kỡm hóm sự phỏttriển xó hội núi chung Chớnh vỡ vậy, việc nhận thức và xử lý, vận dụng mốiquan hệ đó đúng hay sai có ý nghĩa quyết định tới sự hưng thịnh hay diệtvong của nền kinh tế và chế độ chính trị xó hội Thực tế sự sụp đổ của chế độ
xó hội chủ nghĩa ở Liờn Xụ và Đông Âu có nguyên nhân trực tiếp và sâu xa
là việc giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị chưa được tốt trongquỏ trỡnh xõy dựng xó hội chủ nghĩa Vỡ vậy, việc nghiờn cứu, giải quyết vàvận dụng vấn đề này ở nước ta có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn to lớnđối với sự phát triển của một đất nước đi lên chủ nghĩa xó hội Một trongnhững nguyờn nhõn và bài học kinh nghiệm đó gúp phần tạo nờn nhữngthành tựu to lớn, toàn diện của đất nước qua hơn 25 năm đổi mới chính là doĐảng ta đó nhận thức và giải quyết, vận dụng đúng đắn mối quan hệ giữachính trị với kinh tế, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị phùhợp với điều kiện cụ thể của đất nước Đó cũng chính là sự vận dụng linhhoạt, sáng tạo của chủ nghĩa Mác-Lờnin về giải quyết biện chứng giữa cơ sở
Trang 12giữ vững và ổn định chính trị Ngược lại, đổi mới chính trị sẽ tạo điều kiện, môitrường và động lực để đổi mới kinh tế thắng lợi.
Chính trị luôn là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, đụng chạm đến nhiều mốiquan hệ xã hội Nó đòi hỏi quá trình đổi mới phải tiến hành từng bước, phải trên
cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị nghiêm túc, không xới tung nhiều vấn đề cùng mộtlúc khi chưa có đủ điều kiện chín muồi, không cho phép để xảy ra mất ổn địnhchính trị dẫn đến rối loạn xã hội Nếu chính trị bất ổn, xã hội rối loạn thì toàn bộcông cuộc đổi mới sẽ gặp nhiều khó khăn, chúng ta sẽ không thực hiện được đổimới trên bất cứ lĩnh vực nào khác, mà thậm chí còn tạo điều kiện cho các thế lựcthù địch lợi dụng chống phá, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ mọi thànhquả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã tốn bao xương máu, công sức mớigiành được Sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô đã
để lại cho chúng ta bài học lớn về vấn đề này
Tiến hành đổi mới chính trị phải làm từng bước thận trọng, vững chắc,hướng tới đổi mới kinh tế và phục vụ cho đổi mới kinh tế Tuy nhiên, thận trọng
mà không do dự Đổi mới chính trị là rất cần thiết để thúc đẩy đổi mới kinh tế.Chính trị phải được ưu tiên hàng đầu so với kinh tế Không vì tính chất nhạycảm và phức tạp của nó mà chậm đổi mới, làm cản trở đổi mới kinh tế và cáclĩnh vực khác
Quá trình đổi mới chính trị được Đảng ta bắt đầu bằng đổi mới về tư duychính trị, đổi mới nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở nước ta Khi bắt đầu đổi mới, mặc dù chịu sự tác động và ảnh hưởngcủa nhiều tư tưởng khác nhau nhưng Đảng ta vẫn khẳng định: “Đổi mới tư duykhông có nghĩa là phủ nhận những thành tựu lý luận đã đạt được, phủ nhậnnhững quy luật phổ biến của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phủ nhậnđường lối đúng đắn đã được xác định, trái lại chính là bổ sung và phát triểnnhững thành tựu ấy”1
Trước những yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới trong nước vànhững diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, Đảng ta chủ trương đổi mới,kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị Song khácvới cải cách, cải tổ của các nước xã hội chủ nghĩa khác, đổi mới hệ thống chínhtrị ở nước ta không có nghĩa là thay đổi chế độ chính trị này bằng chế độ chínhtrị khác mà cốt lõi là nhằm tăng cường sức mạnh và hiệu lực, hiệu quả hoạt độngcủa các tổ chức trong hệ thống chính trị Mấu chốt trong đổi mới hệ thống chínhtrị nước ta là phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, từng bộ phậntrong cả hệ thống Vì vậy, một mặt phải nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng,bảo đảm cho Đảng vừa là bộ phận của hệ thống chính trị, vừa giữ vững vai trò
1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H 1987, tr 125