Đó là nguồn tiềm năng sinh học dồi dào, đa dạng với những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự nâng cao sinh học của các hệ sinh thái, và nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú.. Mất rừng
Trang 1BẢO VỆ TỰ NHIÊN
VIỆT NAM
CHƯƠNG 8
Trang 28.1 NHẬN XÉT CHUNG
Đất nước Việt Nam có một nguồn tài nguyên giàu có cả trên mặt và trong lòng đất Đó là nguồn tiềm năng sinh học dồi dào, đa dạng với những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự nâng cao sinh học của các hệ sinh thái, và nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú.
Song hiện nay chúng ta đang đứng trước một thực tế đáng báo động, đó là tài nguyên và môi trường Việt Nam đã bị suy thoái và ô nhiễm
Trang 38.1 NHẬN XÉT CHUNG
8.1.1 Sự suy thoái tài nguyên rừng
Thảm rừng là một tài nguyên vô giá, một nhân
tố cơ bản của chất lượng môi trường đã bị giảm sút nhanh chóng Mất rừng không chỉ mất một nguồn tài nguyên động, thực vật quý giá, một lượng sinh khối lớn mà còn nguy hại chung cho cả môi trường sinh thái Việt Nam
Tỷ lệ độ che phủ rừng hiện tại dưới 30% không đủ đảm bảo an toàn sinh thái cho môi trường sống, dẫn đến gây ra hàng loạt hậu quả khác.
Trang 48.1 NHẬN XÉT CHUNG
8.1.2 Sự thoái hóa và hoang hóa đất đai
Tài nguyên đất đai của nước ta tính theo đầu người (chưa đến 0,42 ha/người) hiện đã vào loại thấp nhất thế giới (bằng 1/6 thế giới) do dân số đông (33 triệu ha/80 triệu dân) Hơn nữa, do khai thác bất hợp lý của con người đã làm cho đất ngày càng bị thoái hóa nghiêm trọng
Hiện tại có khoảng 10 triệu ha đất trống, đồi núi trọc Quá trình xói mòn đang diễn ra mạnh.
Trang 58.1 NHẬN XÉT CHUNG
8.1.3 Sự giảm sút về động vật hoang dã
Theo sau sự thu hẹp diện tích rừng, số lượng động vật hoang dã giảm sút không đơn thuần là sự mất đi một nguồn sinh khối cho lượng protein lớn mà còn là sự mất đi vĩnh viễn nguồn gen động vật quý hiếm đặc trưng cho miền nhiệt đới ẩm.
Trang 68.1 NHẬN XÉT CHUNG
8.1.4 Việc sử dụng bất hợp lý các vùng cửa sông ven biển
Sự chuyển hướng và đẩy mạnh khai thác các vùng cửa sông ven biển trong những năm gần đây đã gây nhiều điều bất hợp lý và làm nghèo nàn nhanh chóng các vùng sinh thái của các vùng này.
Trang 78.1 NHẬN XÉT CHUNG
8.1.5 Việc lãng phí nguyên liệu khoáng sản
Từ việc thăm dò, tổ chức khai thác và kỹ thuật khai thác, vận chuyển, chế biến con người đã
sử dụng lãng phí tài nguyên khoáng sản trong nhiều năm, làm cho nhiều nguồn khoáng sản đã bị nghèo kiệt.
Trang 88.1 NHẬN XÉT CHUNG
8.1.6 Vấn đề ô nhiễm môi trường
Ô nhiễm đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp, các khu dân cư
và một số vùng cửa sông, ven biển
Sự cạn kiệt của tài nguyên và môi trường ở Việt Nam không chỉ biểu hiện ở một số khối lượng lớn tài nguyên thiên nhiên bị mất đi vĩnh viễn, mà nghiêm trọng hơn là chất lượng môi trường bị giảm sút mạnh
Do đó, đòi hỏi phải có hệ thống các giải pháp đồng bộ có hiệu quả để bảo vệ và phục hồi tài nguyên
và môi trường sinh thái Việt Nam
Trang 98.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
a Sự giảm sút tài nguyên rừng Việt Nam
- Sự thu hẹp về diện tích:
Theo thống kê, năm 1943 có gần 45% diện tích
cả nước có rừng che phủ thì đến năm 1975 chỉ còn khoảng 29,1% và đến năm 1983 còn 23,6%
Diện tích đất trống, đồi núi trọc năm 1975 có 10,5 triệu ha, năm 1983 tăng lên 14 triệu ha Những năm sau 1983 nhờ có các chương trình trồng rừng (PAM, 661) đã nâng độ che phủ rừng toàn quốc lên 27,7% (1990).
Trang 108.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
a Sự giảm sút tài nguyên rừng Việt Nam
Tuy nhiên, sự suy thoái rừng vẫn còn nghiêm trọng, diện tích đất trống, đồi núi trọc hiện nay vẫn còn 10 triệu ha (chiếm 30% diện tích lãnh thổ) Miền Đông Bắc nhiều vùng độ che phủ rừng chỉ còn 17,8%, còn Tây Bắc chỉ còn 8,2%.
Trang 118.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
a Sự giảm sút tài nguyên rừng Việt Nam
- Sự giảm sút chất lượng rừng:
Năm 1943 theo thống kê của Molăng, cả nước
có trên 14 triệu ha rừng thì loại rừng có trữ lượng trên 150 m 3 /ha chiếm trên 10 triệu ha , trong đó rừng tốt có trữ lượng 300 m 3 /ha chiếm 2,5 triệu ha
Theo thống kê năm 1990, diện tích rừng có trữ lượng trên 150 m 3 /ha cả nước chỉ còn 613 nghìn ha
(chiếm 1,8% diện tích lãnh thổ, chưa tới 6,7% diện tích đất có rừng) Nhìn chung, rừng giàu ngày càng giảm và rừng nghèo ngày càng tăng lên.
Trang 128.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
a Sự giảm sút tài nguyên rừng Việt Nam
- Hiện trạng tài nguyên rừng:
Là một nước có tới 3/4 diện tích là đồi núi mà diện tích rừng theo đầu người trung bình chỉ có 0,14
ha thấp hơn cả trị số trung bình ở Châu Á (0,4 ha/người) Trung bình diện tích rừng trên thế giới là l,6 ha/người, cao nhất là châu Đại Dương (6,7 ha/người), Nam Mỹ (5,2 ha/người).
Trang 138.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
a Sự giảm sút tài nguyên rừng Việt Nam
- Hiện trạng tài nguyên rừng:
Trữ lượng gỗ giảm sút, tổng trữ lượng gỗ của nước ta hiện nay chừng 665 triệu m 3 , trung bình gần 8,4 m 3 gỗ/người, trong đó lượng gỗ khai thác chỉ khoảng 110 triệu m 3 , chưa đầy 1,4 m 3 gỗ/người.
Trang 148.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
- Diễn thế và thoái hóa rừng nhiệt đới ẩm:
+ Rừng rậm nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh, nếu khai thác bất hợp lý lần một sẽ phá vỡ cấu trúc phân tầng, thành rừng thứ sinh sau canh tác.
+ Tiếp tục khai thác bất hợp lý lần hai rừng thứ sinh trở thành rừng thưa, cây bụi.
+ Nếu tiếp tục khai thác hoặc sử dụng phương thức canh tác đốt rừng làm rẫy đối với rừng nguyên sinh, thứ sinh thì rừng thưa, rừng rậm đều thành xavan cây bụi thứ sinh hoặc đất trống đồi núi trọc.
Trang 158.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
- Diễn thế và thoái hóa rừng nhiệt đới ẩm:
Diễn thế thoái hóa của rừng do con người tác động diễn ra nhanh chóng, chỉ trong vài năm những khu rừng xanh tốt đã bị ssuy giảm trầm trọng.
Những diễn thế tự nhiên đi lên từ rừng nghèo thành rừng giàu phải mất hàng trăm năm.
Trang 168.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
- Các biện pháp bảo vệ rừng:
+ Bảo vệ rừng đầu nguồn, gìn giữ nguồn gen, khai thác hợp lý đối với những khu rừng kinh tế còn giàu gỗ Khi khai thác phải đảm bảo tái sinh và độ tăng trưởng của rừng, nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ.
+ Khoanh nuôi bảo vệ nguồn gen các khu rừng
dự trữ quốc gia và vườn cấm quốc gia.
+ Khoanh nuôi và bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng hành lang.
Trang 178.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.1 Bảo vệ tài nguyên rừng
+ Có kế hoạch mở rộng, kiểm kê và quản lý rừng trồng.
Trang 188.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
- Về hiện trạng sử dụng đất:
Tổng diện tích đất của Việt Nam là khoảng 33 triệu ha, đứng thứ 58 so với các nước trên thế giới, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người rất thấp, chỉ bằng khoảng l/6 mức bình quân thế giới, đứng hàng 128 trong tổng số 205 nước trên thế giới
Diện tích đất nông nghiệp hiện có 7 triệu ha, chiếm 21% đất tự nhiên cả nước, bình quân chưa đến 0,1 ha/người.
Trang 198.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
Trang 208.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
+ Đất trống, đồi núi trọc: 10 triệu ha, trong đó
có 500 nghìn ha đất xói mòn, trơ sỏi đá.
+ Đất xám bạc màu: 2,5 triệu ha.
+ Đất mặn và phèn: 3,13 triệu ha.
+ Đất cát: 0,5 triệu ha.
+ Đất lầy và than bùn: 72 nghìn ha.
+ Đất đỏ và xám nâu vùng bán khô hạn: 35 nghìn ha.
8.2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
Trang 218.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
Như vậy, ngoài gần 10 triệu ha đất trống, đồi núi trọc, còn khoảng trên 6 triệu ha các loại đất xấu cần được cải tạo.
8.2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
Trang 228.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
- Nhận xét chung:
Hiện nay, VN đang đứng trước một mâu thuẫn là quỹ đất thì ít và có xu hướng ngày càng xấu
đi, còn dân số lại tăng nhanh, đông nên để đảm bảo
đủ lương thực, thực phẩm nhiều lúc buộc phải phá rừng để mở rộng diện tích gieo trồng gây ảnh hưởng xấu nhiều mặt đến môi trường
Do đó, bảo vệ đất phải gắn liền với bảo vệ rừng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong công cuộc bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay.
8.2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
Trang 238.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
- Hoàn chỉnh hệ thống tổ chức các cấp của Nhà nước về quản lý đất đai.
- Nắm vững vốn đất và đánh giá đúng chất lượng đất.
- Bảo vệ đất rừng, xóa nạn du canh, du cư.
- Quản lý chặt chẽ đất nông nghiệp, mở rộng
có cơ sở khoa học kết hợp với thâm canh, luân canh đúng quy trình.
8.2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
Trang 248.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
- Bằng hệ thống các biện pháp tổng hợp để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, góp phần cải tạo đất.
- Chống xói mòn đất bằng tổng thể các biện pháp kỹ thuật thủy lợi, canh tác nông - lâm theo đất dốc, giữ rừng đầu nguồn, rừng bảo vệ.
-Tăng cường cải tạo các loại đất xấu: đất bạc
màu, đất cát, đất mặn - phèn, đất úng lầy thụt.
8.2.2 Bảo vệ tài nguyên đất
Trang 258.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.3 Bảo vệ đa dạng sinh học
- Bảo vệ tài nguyên rừng nhiệt đới không phải
là một vấn đề khu vực mà đã trở thành một vấn đề của toàn cầu Bởi lẽ rừng nhiệt đới không những cho một sinh khối lớn, riêng sinh khối thực vật gấp 2-3 lần rừng ôn đới (120-150 tấn/ha/năm so với 50 tấn/ha/năm) mà còn chứa đựng một nguồn gen thực - động vật quý giá, đa dạng, đồng thời bảo đảm an toàn sinh thái môi trường toàn cầu.
Trang 268.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.3 Bảo vệ đa dạng sinh học
- Ngoài gỗ quý, rừng Việt Nam còn mang nhiều giá trị khác Nước ta có khoảng 1.000 loài cây thuốc, trong đó 3/4 là thực vật hoang dại
Cây rừng còn cung cấp tinh dầu, sơn, nhựa cây, cánh kiến, bột giấy, nguyên liệu làm đồ dùng mỹ nghệ để tiêu dùng hay xuất khẩu.
Trang 278.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.3 Bảo vệ đa dạng sinh học
Trang 288.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.3 Bảo vệ đa dạng sinh học
- Hiện nay cùng với thu hẹp diện tích rừng, nguồn tài nguyên thực, động vật nước ta đang bị giảm sút nghiêm trọng
Bước đầu, các nhà nghiên cứu đã xác định có gần 500 loài thực vật, 85 loài thú, 83 loài chim, 40 loài bò sát - lưỡng cư đang bị mất dần, trong đó thực, động vật quý hiếm đang bị tiêu diệt mạnh lên tới 100 loài thực vật, 54 loài thú và 60 loài chim.
Trang 298.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.3 Bảo vệ đa dạng sinh học
Để đảm bảo nguồn gen thực, động vật quý hiếm và đa dạng này, các nhà sinh học Việt Nam và thế giới đã soạn thảo “Sách đỏ Việt Nam”, trong đó
có 356 loài thực vật và 365 loài động vật thuộc loại quý hiếm cần được bảo vệ khỏi nguy cơ tuyệt chủng.
Các loài được thống kê và phân loại theo mức
độ cần được bảo vệ theo Liên hiệp quốc tế bảo vệ thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) theo 5 cấp, trong đó có 3 cấp chính :
Trang 308.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.3 Bảo vệ đa dạng sinh học
- E (Endangered): Đang nguy cấp (cấp đang bị
đe dọa tuyệt chủng);
- V (Vulnerable): Sẽ nguy cấp (cấp có thể bị đe dọa tuyệt chủng);
-R (Rare): Cấp hiếm: Phân bố hẹp, số lượng ít,
cần được bảo vệ.
Trang 318.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.4 Bảo vệ các tổng thể tự nhiên
a Nhận thức về các tổng thể tự nhiên
- Các tổng thể tự nhiên là những hệ thống động lực tự điều chỉnh và có cấu trúc Một hệ thống bao giờ cũng có một tập hợp có quy luật của các địa hệ thống
Các hợp phần của hệ thống có mối liên hệ như một thể thống nhất, hoàn chỉnh Mỗi hệ thống có được đặc trưng bởi một nhịp điệu sống, một chu kỳ mùa.
Trang 328.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.4 Bảo vệ các tổng thể tự nhiên
a Nhận thức về các tổng thể tự nhiên
- Khi tác động vào một bộ phận của hệ thống thì do các mối liên hệ nội tại, các bộ phận, các hợp phần khác cũng chịu ảnh hưởng biến đổi
Đó là cơ sở của quan điểm sử dụng, bảo vệ và cải tạo tự nhiên một cách tổng hợp
Trang 338.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.4 Bảo vệ các tổng thể tự nhiên
b Bảo vệ các tổng thể tự nhiên
Việc bảo vệ các tổng thể tự nhiên được thể hiện rõ trong quy hoạch bảo vệ các khu bảo tồn tự nhiên quốc gia
Các khu bảo tồn này mang nhiều ý nghĩa quan trọng là bảo vệ đông thực vật quý hiếm, bảo
vệ môi trường sinh thái, môi trường văn hóa, khoa học và du lịch
Trang 348.2 BẢO VỆ CÁC DẠNG TÀI NGUYÊN
8.2.4 Bảo vệ các tổng thể tự nhiên
b Bảo vệ các tổng thể tự nhiên
Việc bảo vệ các khu vườn quốc gia, các khu bảo tồn sinh vật, các khu bảo vệ mang ý nghĩa môi trường sinh thái, văn hóa du lịch, nghiên cứu khoa học đều phản ánh rõ nét việc bảo vệ các tổng thể tự nhiên góp phần giữ gìn cân bằng các hệ địa sinh thái.