Mục đích yêu cầu Giới thiệu các hệ thống thông tin: Hoạch định nguồn lực xí nghiệp Enterprise Resources Planning – ERP Hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng vật tư hàng hóa Supply
Trang 1Bài 4 Các hệ thông tin phổ biến trong
các tổ chức kinh tế xã hội
Trang 2Mục đích yêu cầu
Giới thiệu các hệ thống thông tin:
Hoạch định nguồn lực xí nghiệp (Enterprise Resources Planning – ERP)
Hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng vật tư hàng hóa (Supply Chain Management – SCM)
Hệ thống quản lý mối liên hệ khách hàng (Customer Relationship Management – CRM)
Nguyên tắc vận hành, khai thác các hệ thống này.
Lợi ích của việc sử dụng chung
Trang 3I- Hệ thống họach định nguồn lực xí nghiệp hoặc hệ
thống xí nghiệp (Enterprise Resources Planning– ERP/ Enterprise Systems – ES.
Trên tòan thế giới, giờ đây các công ty được kết nối với nhau trong nội bộ thông qua mạng Intranet, cũng như ra bên ngòai với các đối tác kinh doanh khác (thông qua mạng Internet)
Các công ty này muốn có khả năng phản ứng tức thì khi một khách hàng đặt mua một số hàng quan trọng hoặc khi một chuyến hàng từ nhà cung cấp đến chậm (có thể làm hỏng việc của khách hàng)
Trang 4Các nhà quản lý muốn biết ảnh hưởng của những tình huống này trên mỗi bộ phận kinh doanh cũng như muốn biết công ty làm ăn thế nào vào bất cứ thời điểm nào
Enterprise Resources Planning - ERP (hoặc còn họi là
Enterprise System – ES) đem lại một sự hội nhập (integration) hoặc tích hợp đối với các tình huống này
Bây giờ, ta thử xem các hệ thống ERP hoạt động thế nào
và xem các hệ thống này đem lại cho xí nghiệp những điều tốt lành gì
Trang 5I.1- Hệ thống họach định nguồn lực (Enterprise
Resources Planning – ERP là gì ?
Hệ thống ERP tập trung quan tâm vào việc tích hợp các business process chủ chốt của công ty Các hệ thống ERP này dựa trên một lọat những module phần mềm tích hợp
và một căn cứ dữ liệu trung tâm duy nhất dùng chung cho tòan thể xí nghiệp
Căn cứ dữ liệu này sẽ thu thập dữ liệu từ vô số ứng dụng (phần kết xuất) cũng như cung cấp dữ liệu được cất trữ cho các ứng dụng này (phần dữ liệu nhập)
Các ứng dụng này hỗ trợ hầu như tất cả họat động kinh doanh trong nội bộ công ty, khi một thông tin nào đó mới được đưa vào bởi một process khác sử dụng đến (nếu có được quyền hạn) Xem hình XVIII
Trang 6& Production
Centralized Database
Trang 7Nếu một đại lý bán hàng cho đặt mua một mặt hàng nào
đó, thì hệ thống ERP sẽ kiểm tra xem mức tín dụng còn hợp lệ hay không, bố trí lịch trình gởi hàng, nhận diện lộ trình tốt nhất và dành sẵn mặt hàng cần thiết tại kho chờ đóng hàng gởi đi
Nếu hàng hụt kho để có thể thỏa mãn đơn đặt hàng, thì hệ thống ra lệnh cho nhà máy sản xuất thêm mặt hàng này, cho đặt mua vật liệu và linh kiện tương ứng nơi nhà cung cấp
Các dự đóan về tiêu thụ và sản xuất sẽ lập tức được nhật
tu Các số liệu trên các tài khỏan General Ledger (Sổ Cái)
và tài khỏan Cash của công ty sẽ được nhật tu về thông tin thu nhập và giá phí từ đơn đặt hàng này
Trang 8Các người sử dụng có thể truy cập vào hệ thống để xem tình hình của một đơn đặt hàng đã “bò” tới đâu rồi Điều đáng nói ở đây là ban quản lý cũng như lãnh đạo, với những chương trình phần mềm thích ứng có thể lấy thông tin bất cứ lúc nào liên quan đến hoạt động của công ty mà khỏi cần đến sự báo cáo của nhân viên cấp dưới (đôi khi là báo cáo láo, không kịp thời và không chính xác)
Hệ thống ERP còn có thể kết sinh ra dữ liệu bao trùm toàn công ty cho phép ban lãnh đạo phân tích giá thành sản phẩm cũng như mức lợi nhuận của từng sản phẩm một
Trang 9Phần mềm ERP bao gồm một tập họp những module tùy thuộc lẫn nhau chịu hỗ trợ những business process nội bộ
cơ bản đối với các lĩnh vực chức năng tài chính và kế toán, quản lý nguồn nhân lực, chế tạo và sản xuất (bao gồm hậu cần và phân phối), tiêu thụ và tiếp thị
Các module này cho phép dữ liệu được sử dụng bởi nhiều chức năng khác nhau cũng như bởi business process khác nhau dưới sự điều khiển nhịp nhàng và chính xác của tổ chức Bảng XI mô tả một vài business process được hỗ trợ bởi phần mềm ERP
Trang 10Bảng XI: Các business process được hỗ trợ bởi Enterprise Systems
Các process Financial & Accounting, bao gồm General Ledger (Sổ Cái),
Accounts Payable (Công nợ nhà cung cấp), Accounts Receivable (Công nợ Khách hàng), Fixed Assets (tài sản cố định) Cash Management & Forecasting (Quản lý tiền mặt và Dự toán), Product Cost Accounting (kế toán giá thành sản phẩm), Cost Center Accounting (kế toán trung tâm Phí tổn), Asset Accounting (kế toán tài sản
cố định), Tax Accounting (Kế toán Thuế), Credit Management (Quản lý Tín dụng)
và Financial Reporting (Báo cáo Tài chính).
Các process Human Resources, bao gồm personnel administration (quản lý hành
chính nhân viên), time accounting payroll (kế toán lao động tiền lương), personnel planning and development (hoạch định phát triển nhân viên), benefits accounting (kế toán phúc lợi), applicant tracking (theo dõi hồ sơ xin việc) time management, compensation (quỹ đãi ngộ), workforce planning (hoạch định lực lượng lao động), performance management (quản lý năng suất) và travel expense reporting (báo cáo chi phí đi công tác)
Trang 11Bảng XI: Các business process được hỗ trợ bởi
Enterprise Systems
Các process Manufacturing & Production, bao gồm procurement (thu
mua), inventory management (quản lý tồn kho), purchasing (đặt mua hàng, cung tiêu), shipping (chuyên chở), production planning (kế hoạch sản xuất), production scheduling (đặt lịch trình sản xuất) Material requirements planning (hoạch định nhu cầu vật tư), quality control (kiểm tra chất lượng), distribution (phân phối), transportation execution (thi hành chuyên chở) và equipment maintenance (bảo trì máy móc thiết bị).
Các process Sales & Marketing, bao gồm order processing (xử lý đơn
đặt hàng), quotations (hiến giá), contracts (hợp đồng), production configuration (cấu hình sản xuất), pricing (cho giá), billing (tính hóa đơn), credit checking (kiểm tra mức tín dụng), incentive and commission management (quản lý khen thưởng và huê hồng) và sales planning (kế hoạch tiêu thụ).
Trang 12Phần mềm ERP được xây dựng xung quanh hàng ngàn business process được định sẵn trước Các tổ chức nào thiết đặt phần mềm ERP này, trước tiên phải chọn ra những chức năng hệ thống nào họ muốn dùng rồi sau đó “ánh xạ” business process của họ lên business process đã định sẵn trước trong phần mềm ERP
Tiến trình này ánh xạ, hoặc qui chiếu các mô hình mà nhà sản xuất phần mềm ERP cung cấp thường được dựa trên sự hiểu biết của business process và best practice
Best practices (cung cách hành nghề tốt nhất) là những giải
pháp thành công nhất hoặc những phương pháp giải quyết vấn đề một cách nhất quán và hữu hiệu nhất cho phép đạt đến những mục tiêu được đề ra Các nhà sản xuất phần mềm ERP (hoặc ERP) thường cung cấp những best practice mà họ
đã nghiên cứu kỹ liên quan đến một ngành nghề nào đó mà
họ cho là chuẩn
Trang 13Thí dụ, ta có thể ánh xạ tiến trình (process map) mua sắm thiết bị mới Process map sẽ cho thấy các bước đi cần được thực hiện để hoàn thành process và vai trò của các kỹ sư bảo trì, nhà quản lý vật liệu (material manager) và kế toán viên tài sản cố định
Phần mềm ERP tự động hóa phần lớn các bước đi, cho tích hợp công việc bảo trì nhà máy, quản lý vật liệu và kế toán tài sản cố định
Các công ty có thể sử dụng các bảng dữ liệu cấu hình (configuration table) mà phần mềm ERP cung cấp để “cắt ni” phù hợp với một khía cạnh đặc biệt của hệ thống theo cách kinh doanh của xí nghiệp Thí dụ, công ty có thể dùng các bảng cấu hình này để chọn ra việc công ty muốn theo dõi doanh số theo dòng sản phẩm hay không, hoặc theo đơn
vị địa lý hành chính, hoặc theo kênh phân phối, v, v…
Trang 14Cách tốt nhất là phải “theo chiều gió” nghĩa là công ty phải thay đổi cách làm ăn của mình cho phù hợp với business process của phần mềm ERP và cấu hình hóa một cách tối thiểu (nghĩa là chấp nhận những giá trị mặc nhiên của cấu hình nguyên thủy).
Trang 15Mặc dù lúc ban đầu các hệ thống ERP được thiết kế cho những business process “back office” trong nội bộ công ty, nhưng giờ đây các hệ thống ERP thiên về bên ngoài ngày càng nhiều có khả năng liên lạc trực tiếp với khách hàng, nhà cung cấp cũng như với các tổ chức khác.
Trang 16I.3.1- Một tổ chức đồng nhất hơn
Các tổ chức có thể sử dụng hệ thống ERP để hỗ trợ cấu trúc tổ chức mà trước đây ta không thể làm được hoặc để tạo ra một nền “văn hóa tổ chức” (organizational culture)
có kỹ luật hơn
Trang 17Thí dụ, công ty có thể sử dụng hệ thống ERP để tích hợp công ty xuyên lục địa hoặc xuyên biên giới các đơn vị business hoặc tạo một văn hóa tổ chức đồng nhất theo đấy mỗi đơn vị sẽ dùng những process và thông tin giống nhau
Và sự đồng nhất này có thể đem áp dụng lên toàn thế giới Thí dụ, hãng Nestlé SA (Thụy Sĩ) đã cài đặt hệ thống SAP R/3 như là cách để chuẩn hóa và phối hợp họat động business process trong 500 cơ sở trên 80 quốc gia
Ban lãnh đạo nhận ra rằng việc quản lý phân tán như hiện nay cũng như sự thiếu vắng các business process chuẩn lẫn CNTT sẽ ngăn không cho công ty nâng tầm kiểm soát toàn cầu có được sức mạnh đấu thầu thu mua nông sản vật liệu thô ở giá thấp nhất và đánh giá hiệu quả của các họat động khuyến mãi của mình
Trang 18I.3.2-Các họat động hiệu quả hơn và những business
process thiên về khách hàng nhiều hơn
Các hệ thống ERP có thể giúp tạo nền tảng cho một tổ chức thiên về khách hàng nhiều hơn Bằng cách tích hợp các business process riêng rẽ đứng độc lập như trước đây trong tiêu thụ, sản xuất và hậu cần, toàn bộ tổ chức sẽ đáp ứng hữu hiệu hơn trước các yêu cầu của khách hàng về sản phẩm và dịch vụ, dự đoán các sản phẩm mới và chế tạo, giao hàng như theo yêu cầu
Bộ phận chế tạo sẽ có thông tin tốt hơn liên quan đến việc chỉ chế tạo những gì khách hàng đã đặt, chỉ thu mua đúng
số lượng linh kiện và vật liệu để sản xuất theo đúng đơn đặt hàng hiện thời, theo dõi tiến độ sản xuất và giảm đi tối thiểu thời gian lưu kho đối với các linh kiện vật liệu hoặc thành phẩm
Trang 19Thí dụ, sau khi cài đặt hệ thống ERP của Oracle vào năm
1999, hãng Lucent Microelectronics Group (Mỹ) đã giảm thời gian những process thường bỏ ra 10 đến 15 ngày, nay chỉ còn mất 8 tiếng đồng hồ ở Mỹ, hãng có thể giao đặt mua một chip silicon dùng trong điện thọai di động chỉ trong vòng 56 tiếng đồng hồ sau khi nhận được đơn đặt hàng
Nếu một nhà máy nào đó không thể họat động vì bị cúp điện kéo dài hoặc bị thiên tai, hãng Lucent có thể chuyển việc sản xuất qua một nhà máy khác trong vòng 8 tiếng đồng hồ
Hệ thống ERP đã giúp cho công ty giảm chi phí hậu cần (bao gồm chi phí lưu kho, chuyên chở và nhân viên) từ 1,5% thu nhập xuống dưới 1%
Trang 20ty (căn cứ dữ liệu trung ương – centralized database) Dữ liệu sẽ có những định nghĩa chuẩn, mang cùng một dạng thức mà toàn bộ tổ chức đã chấp nhận.
Các số liệu về hiệu năng sẽ mang cùng ý nghĩa xuyên suốt công ty và có thể được tự động cung cấp kkhông có sự can thiệp của con người Bất cứ lúc nào ban lãnh đạo cũng có thể biết một đơn vị trong tổ chức hoạt động thế nào mà khỏi cần báo cáo của cấp dưới (thường nếu để báo cáo thì bao giờ cũng được tô hồng)
Trang 21Thí dụ, hệ thống ERP có thể giúp ban lãnh đạo xác định ngay liền sản phẩm nào tồi tệ nhất không đem về lợi nhuận cho công ty (để công ty tùy nghi quyết định tiếp tục hoặc lọai khỏi quá trình sản xuất)
Các phần mềm ERP thường bao gồm các công cụ phân tích bằng cách dùng dữ liệu được tồn trữ trong hệ thống để
đo lường hiệu quả hoạt động của công ty một cách tổng thể
Phần mềm ERP của SAP bao gồm những thống kê liên quan đến quản lý lợi nhuận,quản lý chi phí sản phẩm và dịch vụ, quản lý chi phí gián tiếp, quản lý rủi ro, balanced scored (chấm điểm cân bằng), quản lý việc hoạch định đầu
tư và các công cụ khác cho ban lãnh đạo một cái nhìn tổng thể về hiệu quả hoạt động của công ty
Trang 22Khi đặt mua hàng, khách hàng ngày nay đều nhấn mạnh đến giá trị lớn hơn của mặt hàng (ngày càng giàu, người
ta không thích mua hàng giá rẻ bình dân), thỏa mãn đơn đặt hàng nhanh hơn cũng như dịch vụ hậu mãi phải tốt và phản ứng nhanh trước các thị hiếu hay thay đổi của khách hàng
Trang 23Chu kỳ « tuổi thọ » của sản phẩm ngày càng ngắn đi (khái niệm « ăn chắc mặc bền » của các cụ xưa đã bị lỗi thời), việc thu mua sản phẩm tại nguồn (sourcing) bỏ qua môi giới trung gian, mang tính toàn cầu cũng như chủng loại các mặt hàng ngày càng đa dạng phong phú, do đó chi phí dây chuyền cung ứng vật tư hàng hóa và sự phức tạp ngày càng tăng
Chuỗi giá trị (value chain) của phần lớn doanh nghiệp được kết nối với nhau làm cho lợi thế cạnh tranh có thể được dựa trên trọn dây chuyền cung ứng vật tư hàng hóa thay vì trên từng doanh nghiệp riêng rẽ
Hệ thống SCM ngày nay không chỉ giới hạn vào việc thỏa mãn trọn vẹn đơn đặt hàng mà còn được gắn liền với những vấn đề chiến lược, chẳng hạn khả năng tạo ra những mặt hàng rất nhanh và nhanh chóng đến tay khách hàng cũng như tạo và thiết đặt những mô hình kinh doanh mới Bạn cứ xem thị trường điện thoại di động thì biết
Trang 24II.1- Dây chuyền cung ứng vật tư hàng hóa là gì ?
Hệ thống SCM liên quan đến việc kết nối chặt chẽ và việc phối hợp các hoạt động liên quan đến thu mua, sản xuất
và di chuyển (vận tải) một sản phẩm SCM sẽ tích hợp các business process để tăng tốc các luồng thông tin, sản phẩm và nguồn vốn lên xuống dọc theo dây chuyền để giảm thời gian, công sức trùng lắp và chi phí tồn kho
Dây chuyền cung ứng vật tư hàng hóa là một mạng lưới
tổ chức và business process lo việc thu mua vật liệu thô (raw materials), chế biến các vật liệu này thành bán thành phẩm hoặc thành phẩm, rồi phân phối sản phẩm hoàn tất cho khách hàng
Trang 25SCM nối liền các nhà cung cấp, các nhà máy chế biến nằm rải rác nhiều nơi trên thế giới, các trung tâm phân phối, các nhà bán lẻ và khách hàng để cung cấp hàng hóa dịch
vụ từ người cung cấp vật liệu cho đến nơi tiêu thụ sản phẩm hoàn tất
Các luồng nguyên vật liệu, thông tin và thanh toán chạy xuyên suốt qua dây chuyền trong cả hai chiều
Các mặt hàng bắt đầu đi từ nguyên vật liệu, di chuyển qua
hệ thống hậu cần và nhà máy sản xuất cho tới khi đến tận tay khách hàng
Các mặt hàng bị trả về lại theo chiều ngược lại từ người mua về phía người bán
Trang 26Supplier Nhà cung cấp
Manufacturer Nhà Chế tạo
& Sản xuất
Manufacturer Nhà Chế tạo
& Sản xuất
Distributor Nhà Phân phối
Distributor Nhà Phân phối
Retailer Nhà Bán lẻRetailerNhà Bán lẻ
Customer Khách hàngCustomer Khách hàng
Capacity, Inventory level, delivery schedule,
payment terms (Năng lực, mức tồn kho, lịch trình giao hàng,
điều kiện thanh toán)
Orders, return requests, repair & service,
payments (Đơn đặt hàng, yêu cầu trả hàng về, sửa chữa &
dịch vụ, thanh toán)
Downstream
Tier 1 Suppliers
Trang 27Hình XIX cho thấy một minh họa đơn giản về dây chuyền cung ứng vật tư hàng hóa Bạn thấy dòng chảy của thông tin cũng như nguyên vật liệu xuyên qua nhà cung cấp, nhà máy sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng
Phần ngược dòng (upstream) của dây chuyền liên quan
đến tổ chức nhà cung cấp và những nhà cung cấp của họ
và những qui trình quản lý mối liên hệ với họ
Còn phần xuôi dòng (downstream) bao gồm việc tổ chức
và qui trình phân phối và giao hàng cho khách hàng đầu cuối
Các nhà máy sản xuất cũng phải quản lý các qui trình dây chuyền nội bộ lo chế biến nguyên vật liệu, linh kiện và dịch vụ (cung cấp bởi các nhà cung cấp upstream) để cho
ra bán thành phẩm và sản phẩm hoàn tất cũng như lo quản
lý các vật liệu và tồn kho
Trang 28Các nguyên vật liệu chảy xuôi dòng từ nguồn vật liệu xuyên qua các cơ sở chế biến (nhà máy) nguyên vật liệu thành bán thành phẩm (còn được gọi là linh kiện – component hoặc parts)
Các bán thành phẩm này sẽ được ráp tại cấp kế tiếp để cho ra thành phẩm (hoặc sản phẩm hoàn tất – finished goods) Các sản phẩm hoàn tất này sẽ được chuyển cho các trung tâm phân phối và từ đấy gửi tiếp cho các nhà bán lẻ và khách hàng
Dây chuyền cung ứng được bởi hình XIX là đã được đơn giản hóa khá nhiều Phần lớn các dây chuyền, đặc biệt những dây chuyền tại các công ty cỡ lớn, chẳng hạn các công ty sản xuất xe hơi, thường theo nhiều tầng nấc multi-tier với hàng ngàn nhà cung cấp tầng 1 (sơ cấp – primary tier), tầng 2 (cấp trung – secondary tier) và tầng 3 (cao cấp – tertiary tier)
Trang 29Các nhà cung cấp cấp 1 này lại có riêng cho mình những nhà cung cấp nhỏ (nhà cung cấp cấp 2) và đến phiên những người này lại có cho mình những nhà cung cấp nhỏ cấp 3.
Trang 30I.1.1- Supply chain processes
Có nhiều process và subprocess tham gia vào việc quản lý dây chuyền để thúc đẩy dòng chảy thông tin
và nguyên vật liệu này
Hiệp hội Supply Chain Council (SCC) ở Mỹ đã triển
khai một Supply Chain Operations Reference Model (SCOR – Mô hình qui chiếu tác nghiệp dây
chuyền) như là một mô hình qui chiếu process liên thông kỹ nghệ dùng quản lý dây chuyền (SC)
Các thành viên của SCC quan tâm đến việc áp dụng và thúc đẩy tiến bộ trong việc sử dụng các hệ thống SCM
Trang 31SCOR định nghĩa một tập hợp process thông dụng của các supply chain giúp các công ty hiểu tường tận các vấn đề về quản lý SC và đặt để những mục tiêu trong việc cải tiến SC
SCOR nhận diện 5 kế hoạch chính đối với SC process:
Trang 32Plan : Bao gồm các process làm cân bằng tổng hợp những
nhu cầu và cung ứng để triển khai một đường lối hành động
để đáp ứng các yêu cầu thu mua (sourcing), sản xuất và giao hàng
Source : Bao gồm các process lo thu mua hàng hóa và dịch vụ
cần thiết để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể nào đó
Make : Bao gồm các process lo chế biến một sản phẩm hoàn
tất đáp ứng mục tiêu hoặc yêu cầu hiện thời.
Deliver : Bao gồm các process cung cấp thành phẩm và dịch
vụ đáp ứng nhu cầu hiện thời hoặc theo kế hoạch, bao gồm quản lý các đơn đặt hàng, quản lý chuyên chở và quản lý phân phối.
Trang 33Return : Bao gồm các process được gắn liền với các sản
phẩm bị trả về hoặc nhận đặt hàng bị trả về, kể cả việc hỗ trợ khách hàng sau khi đã giao hàng
Hậu cần : (logistic) giữ một vai trò quan trọng trong các
process này, liên quan đến việc hoạch định và kiểm soát tất cả các yếu tố có một ảnh hưởng trên việc chuyên chở đúng món hàng hoặc đúng dịch vụ tới nơi tới chốn kịp thời với phí tổn thấp nhất (người ta tính ra ở Mỹ chi phí hậu cần chiếm vào khoảng 12% đến 14% trong giá thành COGS)
Hệ thống SCM cung cấp một cơ may tối ưu hóa sự di chuyển vật liệu và hàng hóa xuyên qua các thành viên khác nhau của dây chuyền cung ứng
Trang 34Muốn quản lý SC, một công ty phải cố gắng loại bỏ những bước trùng lắp (redundant), những trễ nải và nguồn lực tiêu hao cùng với cách quản lý các mối liên hệ với các thành viên trong dây chuyền
Các hệ thống thông tin sẽ làm cho hệ thống SCM hữu hiệu hơn bằng cách cung cấp thông tin giúp các công ty phối hợp hành động, bố trí lịch trình và kiểm soát việc thu mua vật liệu, sản xuất, quản lý tồn kho và giao hàng hoặc dich vụ
Trang 35Plan
•Balance resources with requirements
(Cân bằng nguồn lực với yêu cầu vật tư hàng hóa)
• Align supply chain plan with business financial plan
(Canh kế hoạch SC với kế hoạch tài chính kinh doanh)
Plan
•Balance resources with requirements
(Cân bằng nguồn lực với yêu cầu vật tư hàng hóa)
• Align supply chain plan with business financial plan
(Canh kế hoạch SC với kế hoạch tài chính kinh doanh)
Deliver
• Select carriers (chọn nhà chuyên chở)
Trang 36II.2- Thông tin và Supply Chain Management
Những việc làm không có hiệu quả trong SC, chẳng hạn hụt linh kiện vật tư, sử dụng dưới công suất nhà máy, tồn kho thành phẩm quá cao, chi phí chuyên chở vượt quá định mức thường bị gây ra bởi thông tin thiếu chính xác hoặc không kịp thời
Thí dụ, phần lớn các giám đốc nhà máy chế tạo có thể cho trữ quá nhiều tồn kho một linh kiện nào đó vì họ không biết một cách chính xác khi nào họ sẽ nhận được hàng nhà cung cấp giao Các nhà cung cấp có thể cho đặt mua quá ít vật liệu vì họ cũng không có thông tin chính xác về nhu cầu
Những việc làm không hiệu quả của SCM này có thể lãng phí vào khoảng 25% chi phí tác nghiệp của công ty
Trang 37Nếu nhà sản xuất có thông tin chính xác bao nhiêu đơn
vị sản phẩm khách hàng muốn đặt, khi nào khách hàng muốn có chúng và khi nào phải chế tạo các sản phẩm này thì lúc ấy mới có thể thiết đặt một chiến lược JIT (just-in-time – vừa đúng lúc) rất hiệu quả Các linh kiện
sẽ đến đúng lúc cần đến và thành phẩm sẽ được chuyển
đi đúng vào lúc sản xuất xong
Tuy nhiên, trong một SC, những bất trắc thường xảy ra
vì nhiều tình huống mà ta không lường trước được – nhu cầu sản phẩm không chắc ăn, hàng đến trễ, vật liệu hoặc linh kiện bị hỏng, hoặc qui trình sản xuất «sụm bà chè»
Trang 38Để thỏa mãn khách hàng, các nhà sản xuất thường phải quan tâm đến những bất trắc cũng như những điều không lường trước vừa kể trên bằng cách tồn trữ nhiều vật liệu hoặc linh kiện hơn là hiện thời cần thiết, nghĩa là phải có một mức an toàn tồn kho đối với một số mặt hàng
Tồn kho an toàn (safety stock) giữ vai trò cái đệm (buffer) do sự thiếu uyển chuyển trong hệ thống SCM Mặc dù tồn kho quá lớn thì tốn kém, nhưng tồn kho quá
ít xảy ra hụt kho thì cũng sẽ bị mất mối làm ăn do việc đơn đặt hàng bị hủy bỏ
Trang 39Một vấn đề thường xuyên xảy ra trong hệ thống SCM là
tác động được gọi là bullwhip effect (hiệu ứng roi quất,
xem hình XXI), theo đấy thông tin liên quan đến nhu cầu đối với một mặt hàng sẽ bị méo mó khi nó đi từ một chủ thể này qua chủ thể kế tiếp trong dây chuyền
Một gia tăng nho nhỏ về nhu cầu mặt hàng nào đó sẽ gây
ra việc các thành viên trong dây chuyền- nhà phân phối, nhà sản xuất, nhà cung cấp chính, nhà cung cấp cấp 2, nhà cung cấp cấp 3 – sẽ tăng tồn kho lên để mỗi người một ít cho là “phòng khi”
Những “gợn sóng” thay đổi này suốt dọc dây chuyền sẽ cộng hưởng làm cho tồn kho tăng lên, sản xuất cũng tăng lên kéo theo tăng phí tồn lưu kho cũng như chuyên chở v.v …
Trang 40Tác động bullwhip có thể giải quyết được bằng cách giảm sự bất trắc liên quan đến nhu cầu của khách hàng khi tất cả các thành viên trong dây chuyền có thông tin chính xác và được cập nhật kịp thời
Nếu tất cả các thành viên trong dây chuyền có thể chia
sẻ sử dụng thông tin liên quan đến mức tồn kho, lịch trình sản xuất, dự đóan nhu cầu và vận chuyển, thì lúc này các thành viên sẽ có cơ sở điều chỉnh kế hoạch thu mua, sản xuất và phân phối riêng của mình
Các hệ thống SCM đem lại lọai thông tin cho phép giúp các thành viên trong dây chuyền làm những quyết định tốt hơn trong việc thu mua và bố trí lịch trình sản xuất
và vận chuyển