Trên đây Thư viện điện tử đã giới thiệu tới các bạn Phân tích truyện Vợ nhặt. Chác hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến thức của bài viết rồi đúng không ạ? Bài viết tổng hợp dàn ý và các bài văn mẫu phân tích Vợ nhặt. Hi vọng qua bài viết này bạn đọc có thêm nhiều tài liệu để học tập tốt hơn môn Ngữ văn lớp 12 nhé. Để có kết quả cao hơn trong học tập.
Trang 1Phân tích truyện Vợ nhặt - Ngữ văn 12
Khái quát về tác giả, tác phẩm
I Tác giả Kim Lân
Kim Lân (1920 - 2007) tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng Phù Lưu, xãTân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Do hoàn cảnh khó khăn, ông chỉ đượchọc hết tiểu học, rồi vừa làm thợ sơn guốc, khắc tranh bình phong vừa viết văn.Năm 1944, Kim Lân tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt độngvăn nghệ phục vụ kháng chiến và cách mạng (viết văn, làm báo, diễn kịch, đóngphim)
Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn Ông thường viết về nông thôn vàngười nông dân Ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làngquê - những thú chơi và sinh hoạt văn hóa cổ truyền của người nông dân vùngđồng bằng Bắc Bộ, được gọi là “những thú đồng quê”, “phong lưu đồng ruộngnhư: chơi núi non bộ, thả chim, đánh vật, chọi gà,… Ông viết chân thật, xúc động
về cuộc sống và người dân quê mà ông hiểu sâu sắc cảnh ngộ và tâm lí của họ những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng Dù viết về phongtục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân ta vẫn thấy thấp thoáng cuộc sống
-và con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời; thật
hà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa Năm 2001, Kim Lân được Nhànước tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn năm 1955), Con chó xấu xí(tập truyện ngắn năm 1962)
Truyện ngắn Vợ nhặt được rút từ tập truyện Con chó xấu xí
II Hoàn cảnh sáng tác truyện ngắn Vợ nhặt
Truyện "Vợ nhặt" có tiền thân từ tiểu thuyết "Xóm ngụ cư" Tác phẩm được viếtngay sau cách mạng tháng Tám nhưng còn dang dở và mất bản thảo Sau hoà bìnhlập lại (1954) Kim Lân dựa vào phần cốt truyện cũ và viết lại thành truyện "Vợnhặt" Tác phẩm được in trong tập truyện "Con chó xấu xí" Truyện tái hiện lại bứctranh nạn đói năm 1945 Qua đó, thể hiện tấm lòng cảm thông sâu sắc của nhà vănđối với con người trong nạn đói
Dàn ý Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài mẫu 1
1 Mở bài
Trang 2Giới thiệu nhà văn Kim Lân và Vợ nhặt (Kim Lân là nhà văn vô cùng thành côngkhi viết về đề tài người nông dân nghèo Một trong những tác phẩm nổi bật củaông chính là truyện ngắn Vợ nhặt).
Sau khi lấy vợ, Tràng trở thành một người sống có trách nhiệm: Anh ngoan ngoãnvới mẹ, tránh gợi niềm tủi hờn ở người khác Từ một anh phu xe cục mịch, chỉ biếtviệc trước mắt, sống vô tư, Tràng đã là người quan tâm đến những chuyện ngoài xãhội và khao khát sự đổi đời Khi tiếng trống thúc thuế ngoài đình vang lên vội vã,dồn dập, Tràng đã thần mặt ra nghĩ đến cảnh những người nghèo đói ầm ầm keonhau đi trên đê Sốp để cướp kho thóc của Nhật và đằng trước là lá cờ đỏ to lắm
Trang 3Qua nhận vật Tràng, nhà văn phản ánh mặt đen tối trong hiện thực xã hội trướcnăm 1945 cùng số phận của người dân nghèo với vẻ đẹp tâm hồn của họ.
b Nhân vật cô thị
• Hoàn cảnh, ngoại hình:
Một người đàn bà không tên, không tuổi, không quê quán, gốc gác, không gia đình.Không có một nhan sắc xinh đẹp, và cái đói khổ nó lại càng làm cho cái nhan sắcxấu xí ấy thêm phần thảm hại: “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, người ngợm “gầy xọp”,
“trên khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt”, “cái ngực gầy lép nhôlên” và “hai con mắt trũng hoáy”
• Tính cách thị khi mới gặp Tràng:
- Cách nói năng, hành động đanh đá chua ngoa:
Cong cớn, sưng sỉa, chỏng lỏn vì miếng ăn
Khi nghe thấy anh Tràng đãi ăn “hai con mắt trũng hoáy của thị sáng lên”, điệudáng đon đả, đổi hẳn thái độ
Cúi đầu ăn một chặp 4 bát bánh đúc không thèm chuyện trò gì, ăn xong thì lấy đôiđũa quệt ngang miệng, thở “hà” → Vô duyên, hành động táo bạo và bất chấp vìmiếng ăn
→ Mọi hành động của Thị đều chỉ vì muốn được sống, khao khát được hạnh phúc,được có một mái ấm, một tấm chồng để nương tựa những lúc khó khăn như nàydẫn đến hành động theo không Tràng về làm vợ
→ Một hiện thực đau xót của xã hội lúc bấy giờ: giá trị con người dường như đãxuống đến mức âm, thậm chí còn không bằng cọng rơm cọng rác, để đến nỗinhững người làng trông thấy Tràng dẫn vợ về họ còn cho đó là “của nợ”
• Sau khi trở thành vợ Tràng:
- Trên đường trở về nhà với Tràng:
Thị bỗng trở nên “e thẹn, rón rén”, đầu cúi xuống, cái nón tà nghiêng nghiêng chenửa đi khuôn mặt đang ngại ngùng, đúng với dáng vẻ của một cô dâu khi bước vềnhà chồng
Gặp phải cảnh trêu chọc của đám trẻ con, ánh nhìn ái ngại của những người làng,thị thấy khó chịu, tủi cho phận mình là một người vợ theo không
- Khi đến nhà Tràng khung cảnh xác xơ, tiêu điều của một căn nhà tạm, khiến thịthất vọng, nhưng thị không hề phàn nàn với Tràng
Trang 4Khi ra mắt mẹ chồng, thị đã rất phải phép mà chào bà cụ Tứ, dáng điệu khép nép,ngại ngùng, thị đã lột xác trở thành một nàng dâu hiền lành, e ấp, khác hẳn vớidáng bộ của người đàn bà đanh đá, chua ngoa ở chợ tỉnh.
Sau đêm tân hôn, thị trở thành một người phụ nữ của gia đình, đảm đang tháo vát,gánh lấy cái trách nhiệm thu xếp nhà cửa, đem đống quần áo rách ra sân hong,gánh nước, quét sân, gom rác đem vứt, rồi dọn cơm,
Khi đối diện với nồi cháo cám “đôi mắt thị tối lại” nhưng vẫn “điềm nhiên và vàomiệng” → Cách cư xử tinh tế, bộc lộ sự thấu hiểu và cảm thông
Kể việc ở Thái Nguyên, Bắc Giang người ta không chịu đóng thuế mà đi phá khothóc của Nhật → Bộc lộ những suy nghĩ và hướng nhìn mới của thị, người đàn bà
bà này không cam chịu cuộc đời đói kém và tìm kiếm một tương lai tươi sáng hơn
c Nhân vật bà cụ Tứ
• Sự ngạc nhiên của cụ khi a Tràng dắt vợ về
Khi làm về, thấy một người phụ nữ ngồi trong nhà mà còn thưa u Bà cụ ngạcnhiên vì con mình xấu xí, nghèo mà vẫn có vợ trong thời khó khăn
Bà cụ vẫn không tin vào những gì con trai mình nói “Kìa nhà tôi nó chào u”…
“Nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ”
Bà vẫn không hiểu chuyện gì đang xảy ra
• Tâm trạng vừa mừng vừa tủi của bà cụ
Khi biết rằng con bà “ nhặt” được vợ: bà vui vì con đã an bề gia thất, buồn phậnlàm mẹ mà không cưới nổi vợ cho con và bà nghĩ đến chồng, đến con gái lại càngtrở nên buồn hơn
Cái tủi, cái buồn của người mẹ bị dồn vào cảnh nghèo cùng quẫn: Bà không biếtlấy gì để cúng tổ tiên, để trình làng con đã có vợ Bà khóc vì thương con khôngbiết làm sao vượt qua nổi khó khăn này
• Nỗi lo của bà cụ Tứ
Bà lo cho con trai, con dâu, cái gia đình nhỏ của mình không biết phải qua nhữngngày khó khăn này như thế nào → Khuyên con, khuyên dâu thương nhau, cố gắngvươn lên
→ Nỗi lo, nỗi thương của người mẹ từng trải, hiểu đời
• Niềm tin vào tương lai, vào cuộc sống của cụ Tứ
Bà suy nghĩ vui trong những điều tốt đẹp tương lai “Rồi ra may mà ông giời chokhá…”
Trang 5Vui trong công việc sửa sang vườn tược, nhà cửa.
Vui trong bữa cơm đạm bạc đầu tiên có con dâu
Bà vẫn luôn tạo một không khí ấm cúng cho bữa ăn để con dâu đỡ tủi
→ Người mẹ nghèo từng trải đời, hết mực yêu thương con, luôn lạc quan tronghoàn cảnh khó khăn
→ Là đại diện cho người mẹ Việt Nam cần mẫn, mộc mạc, giản dị, giàu tình yêuthương và đức hi sinh
d Tình huống truyện
Bối cảnh xây dựng tình huống truyện: Nạn đói khủng khiếp năm 1945 mà kết quả
là hơn hai triệu người chết Cái chết hiện hình trong tác phẩm tạo nên một khôngkhí ảm đạm, thê lương Những người sống luôn bị cái chết đe dọa
Ngoại hình và gia cảnh của Tràng khiến anh khó lấy vợ: xấu xí, thô kệch, ăn nóicọc cằn, thô lỗ Nhà nghèo, đi làm thuê nuôi mình và mẹ già →Tràng lấy vợ là lấycho mình thêm một tai họa
- Tràng lấy vợ theo kiểu "nhặt" được: vài câu nói đùa, 4 bát bánh đúc là nên duyên
vợ chồng mà không cần tìm hiểu, yêu đương và cưới hỏi Việc Tràng lấy vợ là mộttình huống bất ngờ khiến cả xóm ngụ cư và bà cụ Tứ hết sức ngạc nhiên Bản thânTràng có vợ rồi vẫn còn " ngờ ngợ"
→ Tình huống truyện bất ngờ nhưng rất hợp lí vì nếu không phải năm đói khủngkhiếp thì người ta không thèm lấy một người như Tràng
• Giá trị hiện thực: tình cảnh thê thảm của con người trong nạn đói
+ Cái đói dồn đuổi con người: người chết như ngả rạ…
+ Cái đói bóp méo cả nhân cách: theo không người ta về làm vợ
+ Cái đói khiến cho hạnh phúc thật mỏng manh, tội nghiệp
→ Vợ nhặt có sức tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân, phát xít
• Giá trị nhân đạo:
Tình người cao đẹp thể hiện qua cách đối xử với nhau của các nhân vật: anh Tràngđối với cô thị, bà cụ Tứ với người con dâu và giữa 3 người họ với nhau
Tràng rất trân trọng người "vợ nhặt" của mình
Thiên chức, bổn phận làm vợ, làm dâu được đánh thức nơi người "vợ nhặt": khôngcòn đanh đá, chỏng lỏn mà thay vào đó là cô vợ đảm đang, biết lo toan, vun vénviệc nhà
Trang 6Tình yêu thương con của bà cụ Tứ: Bà luôn miệng nói về ngày mai với những dựđịnh thiết thực tạo niềm tin cho dâu con vào một cuộc sống tốt đẹp.
→ Dù cho cuộc sống có nghèo khổ, khắc nghiệt thế nào thì ở họ vẫn tràn ngập tìnhyêu thương và hi vọng về một tương lai tốt đẹp, tươi sáng hơn Cái đói có thể làm
họ nghèo nàn, xơ xác về thể chất nhưng tình cảm và tấm lòng nhân hậu, tình yêuthương dành cho nhau thì không cái đói nào có thể làm lu mờ
3 Kết bài
Vợ nhặt là một trong những tác phẩm vô cùng thành công của Kim Lân Với nhữnggiá trị, ý nghĩa, thông điệp sâu sắc của mình, tác phẩm đã gây nhiều dấu ấn quantrọng trong lòng bạn đọc
Dàn ý Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài mẫu 2
II Thân bài
có vợ ư), với những người xung quanh (thắc mắc bàn tán), với bà cụ Tứ
- Tình huống éo le: hoàn cảnh gia đình và xã hội (khung cảnh nạn đói) không chophép Tràng lấy vợ, cả hai vợ chồng đều là những người cùng cực, khó có thể trởthành chỗ dựa cho nhau
3 Nhân vật Tràng
Trang 7- Hoàn cảnh gia đình: dân ngụ cư bị khinh bỉ, cha mất sớm, mẹ già, nhà ở tồi tàn,cuộc sống bấp bênh, , bản thân: xấu xí, thô kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bênquai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về,
a Gặp gỡ và quyết định nhặt vợ
- Lần gặp 1: lời hò của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động chứ không cótình ý gì với cô gái đẩy xe cùng mình
- Lần gặp 2:
+ Khi bị cô gái mắng, Tràng chỉ cười toét miệng và mời cô ta ăn dù không dư dả
gì Đó là hành động của người nông dân hiền lành tốt bụng
+ Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòngthêm miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ” Đây không phải quyết định của kẻbồng bột mà là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc,thương yêu người cùng cảnh ngộ
+ Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ: diễn tả sự nghiêm túc, chu đáo của Tràngtrước quyết định lấy vợ
+ Khi bà cụ Tứ về: thưa chuyện một cách trịnh trọng, biện minh lí do lấy vợ là
“phải duyên”, căng thẳng mong mẹ vun đắp Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràngthở phào, ngực nhẹ hẳn đi
d Sáng hôm sau khi tỉnh dậy
+ Tràng nhận thấy sự thay đổi kì lạ của ngôi nhà (sân vườn, ang nước, quần áo, ),Tràng nhận ra vai trò và vị trí của người đàn bà trong gia đình Cũng thấy mìnhtrưởng thành hơn
Trang 8+ Lúc ăn cơm trong suy nghĩ của Tràng là hình ảnh đám người đói và lá cờ bayphấp phới Đó là hình ảnh báo hiệu sự đổi đời, con đường đi mới.
- Nhận xét: Từ khi nhặt được vợ nhân vật đã có sự biến đổi theo chiều hướng tốtđẹp Qua sự biến đổi này, nhà văn ca ngợi vẻ đẹp của những con người trong cáiđói
- Lần thứ nhất: khi nghe câu hò vui của Tràng, thị đã vui vẻ giúp đỡ, đây chính là
sự hồn nhiên vô tư của người lao động nghèo
- Lần thứ hai:
+ Thị sưng sỉa mắng Tràng, từ chối ăn trầu để được ăn một thứ có giá trị hơn, khiđược mời ăn tức thì ngồi sà xuống, mắt sáng lên, “ăn một chặp bốn bát bánh đúc”.+ Khi nghe Tràng nói đùa “đằng ấy có về với tớ cùng về”, thị đã theo về thật bởitrong cái đói khổ, đó là cơ hội để thị bấu víu lấy sự sống
- Nhận xét: Cái đói khổ không chỉ làm biến dạng ngoại hình mà cả nhân cách conngười Người đọc vẫn cảm thông sâu sắc với thị vì đó không phải là bản chất mà
do cái đói xô đẩy
c Phẩm chất
- Có khát vọng sống mãnh liệt:
+ Quyết định theo Tràng về làm vợ dù không biết về Tràng, chấp nhận theo không
về không cần sính lễ vì thị sẽ không phải sống cảnh lang thang đầu đường xó chợ.+ Khi đến nhà thấy hoàn cảnh nghèo khổ, trái ngược lời tuyên bố “rích bố cu”, thị
“nén một tiếng thở dài”, dù ngao ngán nhưng vẫn chịu đựng để có cơ hội sống
- Thị là người ý tứ và nết na:
Trang 9+ Trên đường về, thị cũng rón rén e thẹn đi sau Tràng, đầu hơi cúi xuống, thị ngạingùng cho thân phận vợ nhặt của mình.
+ Khi vừa về đến nhà, Tràng đon đả mời ngồi, chị ta cũng chỉ dám ngồi mớm ởmép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, thể hiện sự ý tứ khi chưa xác lập được
- Bà hiểu ra “biết bao nhiêu cơ sự”, “mắt bà nhoà đi”: thương cho con trai phải lấy
vợ nhặt, mà trong cảnh đói khát mới lấy được vợ, thương cho người đàn bà khốnkhổ cùng đường mới phải lấy con trai bà
- Bà đối xử tốt với nàng dâu mới: “Con ngồi đây đỡ mỏi chân”, nói về tương laivới niềm lạc quan, bảo ban các con làm ăn,
- Nhận xét: bà cụ Tứ là người mẹ hiền từ, chất phác, nhân hậu
III Kết bài
- Khái quát giá trị nghệ thuật xây dựng nhân vật: đặt nhân vật vào tình huống éo le,độc đáo để nhân vật bộc lộ tâm trạng, tích cách; miêu tả tâm lí nhân vật, ngôn ngữbình dị, gần gũi
Trang 10- Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc, phản ánh chân thực tình cảnhngười nông dân trong nạn đói, mặt khác cũng phản ánh bản chất tốt đẹp và sứcsống mãnh liệt của họ.
Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài số 1
Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh năm 1920, quê ở làng Phù Lưu,
xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ôngchỉ được học hết bậc Tiểu học rồi phải đi làm Yêu thích văn chương, ông bắt đầusáng tác từ năm 1941 Một số truyện ngắn của ông lấy đề tài ở cuộc sống lam lũcủa người nông dân hoặc các sinh hoạt văn hóa truyền thống ở thôn quê
Sau Cách mạng tháng Tám, ông chuyên viết truyện ngắn về làng quê, mảng hiệnthực mà ông hiểu biết sâu sắc Theo Nguyên Hồng thì Kim Lân là nhà văn mộtlòng đi về với đất, với người, với những gì thuần hậu nguyên thủy của cuộc sốngnông thôn Tác phẩm chính: Nên vợ nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chóxấu xí (tập truyện ngắn, 1962) Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc nhất của Kim Lân,được viết ngay sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ nhưng đến sau hòabình lập lại 1954 mới cho ra mắt bạn đọc trong tập Con chó xấu xí
Truyện Vợ nhặt kể về cuộc sống ngột ngạt, bức bối của nhân dân ta trong thời gianxảy ra nạn đói khủng khiếp đã làm chết hơn hai triệu người Đấy là hậu quả chínhsách cai trị dã man của thực dân Pháp trong mấy mươi năm và chủ trương tàn bạo
“nhổ lúa trồng đay” của phát xít Nhật Cũng như một số tác phẩm khác viết về nạnđói, ngòi bút Kim Lân chứa chan thương cảm trước những số phận bất hạnh.Thông qua truyện, tác giả tố cáo tội ác dã man của thực dân Pháp, phát xít Nhật;đồng thời phản ánh khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc và niềm tin vào tương laitươi sáng của người dân lao động
Tóm tắt nội dung như sau: Anh Tràng nghèo khổ, xấu xí, chỉ với vài câu bông đùa
và mấy bát bánh đúc mà nhặt được cô vợ đang sống dỡ chết dở vì đói Họ thành vợthành chồng giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát Đêm tân hôn diễn ra âm thầmtrong bóng tối lạnh lẽo, điểm những tiếng hờ khóc tỉ tê của những nhà có ngườichết đói theo gió vẳng lại Bữa cơm cưới
chỉ có rau chuối, cháo loãng và muối Mẹ chồng đãi nàng dâu và con trai món chènấu bằng cám Câu chuyện của ba mẹ con xoay sang việc Việt Minh tổ chức phákho thóc của Nhật chia cho dân nghèo Trong óc Tràng hiện lên hình ảnh của đámngười đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…
Nhan đề Vợ nhặt đã thu hút sự chú ý của người đọc ngay từ đầu Vợ nhặt là vợtheo không, chẳng cưới xin gì Tựa đề khá lạ của truyện đã nói lên đầy đủ về cảnh
Trang 11ngộ, số phận của nhân vật Chuyện anh Tràng bỗng dưng nhặt được vợ phản ánhtình cảnh thê thảm và thân phận tủi nhục của người nông dân nghèo trong nạn đóikhủng khiếp xảy ra vào mùa xuân năm 1945.
Thành công trước tiên của truyện Vợ nhặt là ở chỗ tác giả đã tạo ra một tình huốngđộc đáo: Một anh chàng ngụ cư xấu xí, nghèo khổ, ế vợ, vậy mà đã nhặt được vợchỉ bằng vài bát bánh đúc Giá trị của con người rẻ rúng đến thế là cùng! Tác giảdiễn tả tình huống đặc biệt này qua thái độ ngạc nhiên của dân xóm ngụ cư khithấy Tràng dẫn về nhà một người đàn bà lạ Họ ngạc nhiên bởi thời buổi đói khátnày, đến nuôi thân còn chẳng nổi vậy mà Tràng còn dám lấy vợ Bà mẹ của Tràngcũng sửng sốt vì không ngờ con trai mình đã có vợ Thậm chí chính Tràng cũngchẳng hiểu tại sao mình lại có vợ dễ dàng đến thế
Nguyên nhân sâu xa là do nạn đói khủng khiếp đang xô đẩy còn người vào chỗchết nên người đàn bà kia mới phải chấp nhận làm vợ Tràng Ý nghĩa tố cáo củatác phẩm tuy kín đáo nhưng sâu sắc Tác giả không trực tiếp nói đến tội ác của bọn
đế quốc, phong kiến, vậy mà tội ác của chúng cứ phơi bày ra một cách đáng ghêtởm và tình cảnh cớ cực, đói khát của dân nghèo quả là thê thảm
Tình huống lạ lùng nói trên là đầu mối cho sự phát triển của nội dung truyện, tácđộng đến diễn biến tâm trạng và hành động của các nhân vật Bối cảnh lớn củatruyện là nạn đói năm 1945, bối cảnh nhỏ là cái xóm ngụ cư tồi tàn ven chợ Mởđầu tác phẩm, tác giả đã vẽ nên bức tranh hiện thực với màu sắc ảm đạm và hìnhảnh thê lương
Cách đây không lâu, mỗi chiều Tràng đi làm về, đám trẻ con lại bu theo anh, đứatúm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi…Cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy mỗi chiều lại xôn xao lên được một lúc Nhưng bây giờthì niềm vui nhỏ nhoi ấy không còn nữa: trẻ con không đứa nào buồn ra đónTràng… Chúng nó ngồi ủ rũ dưới những xó đường, không buồn nhúc nhích… Nụcười dễ dãi mọi ngày của Tràng cũng tắt: Trong bóng chiều nhá nhem, Tràng đitừng bước mệt mỏi, chiếc áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵnchúi về phía trước Hình như những lo lắng chật vật trong một ngày đè xuống cáilưng to rộng như lưng gấu của hắn… Đâu đâu cũng thấy cảnh: Những gia đình từnhững vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanhxám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ.Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cáithây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi vàmùi gây của xác người
Trang 12Quả là một cảnh tượng khủng khiếp! Thực dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạnđói chưa từng thấy từ trước đến nay, khiến hàng triệu người chết đói Khắp nơi,đâu đâu cũng bao phủ bởi một màu địa ngục.
Tràng, nhân vật chính của câu chuyện là một thanh niên ngụ cư nghèo khổ, xấu xí,sống hiu quạnh với mẹ già trong túp lều tồi tàn ở mé sông Ngày xưa, kiếp ngụ cưtủi nhục trăm bề Họ bị dân làng khinh rẻ và phải làm những công việc bị coi làhèn hạ như đầy tớ, thằng mõ… Dân địa phương dù nghèo đến mấy cũng khôngchịu gả con gái cho đám ngụ cư vì cho rằng như thế là vô phúc Đã thế Tràng lạicòn xấu xí: …hai con mắt nhỏ tí… quai hàm bạnh ra… bộ mặt thô kệch của hắnlúc nào cũng nhấp nhỉnh những ý nghĩ vừa lí thú vừa dữ tợn… cái đầu trọc nhẵnchúi về đằng trước… cái lưng to rộng như lưng gấu… Vì thế nên anh đã đứng tuổi
mà vẫn không sao lấy được vợ
Tràng gặp người đàn bà ấy tất cả chỉ có hai lần vào những dịp chở thóc lên tỉnh.Lần thứ nhất, hai bên chỉ đùa bỡn dông dài vài câu rồi thôi Lần sau gặp tại, Tràngkhông nhận ra vì chị ta thay đổi nhiều quá Chị ta nhắc mãi anh mới nhớ ra và toétmiệng cười xin lỗi rồi mời ăn trầu Chị ta sỗ sàng gợi ý: Có ăn gì thì ăn, chả ăngiầu Anh vui vẻ đãi chị một bữa bánh đúc (thứ quà của người nghèo) no nê Thấychị cắm cúi ăn như chưa bao giờ được ăn, Tràng động lòng thương, liền bảo: Nàynói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về
Câu nói của Tràng nửa đùa nửa thật Đùa ở chỗ bỡn cợt cho vui, nhưng thật ở chỗtrong thâm tâm, Tràng cũng đang muốn có vợ Khốn nỗi vì anh nghèo quá nênkhông ai chịu lấy Thời ấy, đứng tuổi như Tràng mà chưa có vợ là không bìnhthường, là bất hạnh Câu nói của anh vừa tếu táo vừa đượm vẻ chua chát: Làmđếch gì có vợ…
Đã từ lâu, anh ao ước có được một người vợ, nhưng chí ít cũng phải là người bìnhthường, khỏe mạnh chứ đâu phải là loại chết đói chết khát, dở người dở ma kia?Tràng nói đùa không ngờ chị ta theo về thật khiến anh chợn, nghĩ: Thóc gạo nàyđến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng Nghĩ rồi lo,nhưng anh tặc lưỡi: Chậc, kệ! Có lẽ anh cho rằng mình đang mạnh chân khỏe tay,lại có công ăn việc làm, nên dẫu đèo bòng thì cũng chưa đến nỗi chết đói ngay đâu
mà sợ Vả lại, anh nỡ lòng nào bỏ người đàn bà kia chết đói cho đành?
Chẳng còn là chuyện đùa bỡn nữa Không chỉ đơn giản là cứu người mà còn maymắn tự nhiên có được vợ nên Tràng phải nghiêm túc và có trách nhiệm Anh đưachị ta vào chợ tỉnh, đãi thêm một bữa thật no, sắm cho cái thúng đựng mấy thứ lặtvặt rồi dẫn về nhà Trong lòng Tràng giờ đây không chỉ có tình thương mà còn cóniềm vui sướng, háo hức
Trang 13Mấy lần Tràng định nói với thị một vài câu cho tình tứ mà chẳng biết nói thế nào.Cái phút ban đầu bao giờ chả thế Đùa thì tự nhiên Nửa đùa nửa thật đã khó Nay
đã là thật rồi, khó biết mấy! Mà mọi chuyện có bình thường, êm đẹp cả đâu? Trànglúng túng là phải
Tuy vậy, từ trong sâu thẳm lòng anh, niềm vui bất ngờ cứ dâng lên mãi: Trong mộtlúc, Tràng như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hàng ngày, quên cả cái đóikhát ghê gớm đang đe dọa… Trong lòng hắn bấy giờ chỉ còn tình nghĩa với ngườiđàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèokhổ ấy… Đúng là thế Đó là niềm vui to lớn nhất đời: anh đã có vợ Tình cảm củaanh đối với người đàn bà xa lạ kia không chỉ là thương hại, cưu mang mà còn làlòng biết ơn bởi chị ta đã chịu làm vợ anh mà không đòi hỏi một điều kiện nào.Nhờ thế anh mới có được vợ và cuộc đời anh mới đổi khác Từ nay, anh không cònphải sống thui thủi một mình một bóng nữa
Tràng dẫn người đàn bà về nhà lúc trời nhập nhoạng tối Họ đi vào cái ngã tư xómchợ… xác xơ, heo bút., Hai bên dãy phố, úp súp, tối om, không nhà nào có ánhđèn, lửa Dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì, bóng những người đói dật dờ đi lạilặng lẽ như những bóng ma Tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lêntừng hồi thê thiết…
Bức tranh ngập tràn tử khí Ảm đạm cảnh, ảm đạm người, nhà cửa, xác xơ, heohút, úp súp, tối om… chẳng khác chi những nấm mồ hoang lạnh Sự sống chỉ cònthoi thóp Cái chết đã đến, đang đến Lại thêm tiếng quạ cứ gào lên từng hồi bởichúng đã đánh hơi thấy mùi xác chết Tất cả cảnh vật đểu đang lâm vào thế lụi tàn,tan rữa Giọng văn của Kim Lân ở đoạn này rất tỉnh táo, khách quan nhưng dồnnén cảm xúc đau thương nên gây ấn tượng mạnh
Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều người trong xóm bỗng thấyTràng về với một người đàn bà nữa Tràng dẫn người đàn bà này về làm vợ, để xâydựng gia đình, sinh con đẻ cái tiếp nối sự sống Trên bờ vực thẳm của cái chết, họtìm đến sự sống Giọng kể của tác giả chợt trở nên hóm hỉnh: Mặt hắn có một vẻ gìphởn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấplánh Tràng vui sướng trước sự kiện to lớn bất ngờ của đời mình: anh đã kiếm được
vợ, anh đang dẫn vợ về nhà Đói, chết tràn lan, mình cũng đói, mẹ già cũng đói, thế
mà lại tự nhiên có vợ Chuyện lạ lùng mà thú vị!
Lạ lùng với Tràng và lạ lùng cả với cái xóm ngụ cư tồi tàn, nhỏ bé này Cái cảnhTràng đi trước, người đàn bà đi sau cách ba bốn bước với cái dáng rón rén, e thẹn,đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt… làmcho mọi người tò mò đổ ra xem Lũ trẻ con thấy lạ trước Cải lạ lùng đã thắng cái
Trang 14đói, trả lại tính vui đùa hồn nhiên vốn có của chúng Một đứa đột ngột gào lên: AnhTràng ơi! Chông vợ hài! khiến Tràng phải bật cười chửi yêu: Bố ranh! mà trongbụng thì khoái lắm Tiếp theo trẻ là bà con xóm chợ ai cũng thấy lạ Họ bàn tán…
Họ hiểu đôi phần, khuôn mặt họ bỗng dưng rạng rõ hẳn lên Từ trong sâu thẳm tâmhồn họ vẫn le lói một niềm vui
Họ thú vị nghĩ tới chuyện Tràng có vợ Họ muốn chia vui cùng anh Cái xóm ngụ
cư đang hấp hối này bỗng bừng lên một thoáng sống
Vui đấy nhưng lo ngay đấy Người ta lo thay cho Tràng: ôi chao! Giời đất này cònrước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không? Ấy
là họ lo cho cái sự sống đang phải đối mặt từng ngày với cái chết và cứ hi vọngvượt lên cái chết
Hai người về đến nhà Tràng Cái tổ ấm của họ ra sao trong đêm tân hôn? Sự sốngđược tiếp nối như thế nào?
Cái gọi là nhà đúng ra chỉ là túp lều vắng teo… rúm rớ Trong lều, niêu bát, xốngáo… bừa bộn trên giường, dưới đất… Khung cảnh hoang tàn, vắng lạnh Tràngchợt có cảm giác sờ sợ người đàn bà ngồi bất động ở đầu giường như một bóngma… Có cái gì đó kì dị như trong truyện ma quỷ thời xưa
Đến đêm, cảnh tượng lại càng lạ lùng hơn nữa Tràng chỉ dám thắp đèn có một lúc.Hai vợ chồng nằm bên nhau, đành giấu những gì yên và vui vào bóng tối Nhưngbóng tối cũng không yên mà hãi hùng, đáng sợ bởi đầy tiếng hờ khóc tỉ tê… vẳng
ra từ những nhà có người chết đói
Lấy vợ lấy chồng là việc lớn một đời, là hạnh phúc trăm năm Ấy thế mà ở đây,chút hạnh phúc nhỏ nhoi, mong manh của hai người lại bị bủa vây bởi cái đói vàcái chết Buổi chiều là tiếng quạ kêu, là bóng người dật dờ như bóng ma, ban đêm
là tiếng hờ khóc người chết… Nhưng sự sống là bất diệt Từ trong cái chết, sự sốngvẫn sinh sôi nảy nở Bi thương cùng cực thành dữ dội Có cái gì đó giống như mộtcảnh trong bi kịch của sếch-xpia hay trong tiểu thuyết Đô-xtôi-ép-xki: dữ dội, kinhkhủng nhưng thật sâu sắc, lớn lao Sự sống cứ tồn tại, bất chấp cái chết Rõ ràng, ýchí con người và quy luật cuộc đời mạnh mẽ biết là chừng nào!
Sau một đêm, Tràng thấy mình hoàn toàn đổi khác: Sáng hôm sau, mặt trời lênbằng con sào, Tràng mới trở dậy Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở tronggiấc mơ đi ra Việc hắn có vợ đến hôm nay hắn vẫn còn ngỡ ngàng như khôngphải… Mình đã có vợ thật rồi sao? Ai vậy? Cưới bao giờ nhỉ? Không lẽ mong ướcbao lâu mà nay đã thành sự thật một cách dễ dàng, chóng vánh đến thế ư? Chuyệnxảy ra cứ như trong mơ, thật khó tin, nhưng cái cảm giác êm ái lửng lơ lạ lùng
Trang 15chưa từng thấy vẫn đang tồn tại trong người và rõ ràng trước mắt, người đàn bàbằng xương bằng thịt kia là vợ anh.
Vậy là chuyện anh Tràng tự dưng nhặt được cô vợ (không nghiêm túc về mặt hìnhthức) giờ đã trở thành chuyện hoàn toàn nghiêm túc theo đúng đạo nghĩa vợ chồng.Cái bên ngoài không đẹp ấy lại chứa đựng một nội dung thật đẹp, thật cảm động.Nhu cầu được yêu thương và khao khát xây dựng cho mình một tổ ấm gia đình làbản năng của con người Buổi sáng sau đêm đầu tiên Tràng có vợ, không khí giađình anh trở nên khác hẳn Nhờ sự có mặt của người đàn bà mà cái nhà của anhmới thật sự là một tổ ấm Trước kia, mẹ con Tràng chỉ sống tạm bợ cho qua ngày.Nay ai cũng có trách nhiệm hơn với nhà cửa, vườn tược của mình Nhìn vợ và mẹđang dọn dẹp, Tràng bỗng thấy thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn
đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ẩmche mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng.Tâm trạng này diễn ra ở một người như Tràng mới thật cảm động Người ta lấy vợlấy chồng, điều ấy có gì đặc biệt lắm đâu; nhưng với Tràng thì đó là cả một ước mơlớn tưởng chừng không bao giờ thực hiện được Giá trị nhân văn sâu sắc của tácphẩm chính là ở chỗ tác giả đã phát hiện, đồng cảm và chia sẻ niềm vui sướng rấtcon người này ở những thân phận nghèo khổ trong xã hội cũ Niềm khao khát hạnhphúc gia đình và niềm tin le lói của người dân lao động vào tương lai là rất đángtrân trọng
Bên cạnh Tràng, người vợ nhặt cũng là một nhân vật trung tâm của truyện Ngườiđàn bà ấy không có đến một cái tên để gọi Không tên, không tuổi, cả đến đặc điểmnhận dạng công không nốt Chẳng ai biết gốc tích của chị ở đâu? Cha mẹ là ai?Nhà cửa, anh em thế nào? Tất cả đều không Chỉ biết là ngày ngày, chị ngồi lẫntrong đám con gái trước cửa kho thóc để nhặt nhạnh hạt rơi hạt vãi hay chờ ai cóviệc gì thuê mướn thì làm
Hình thức của chị ta cũng giống như bao kẻ đói khát khác: Áo quần tả tơi như tổđỉa… trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt… Chị ta là mộttrong hàng triệu con người bần cùng, đói rách, tha phương cầu thực, lang thang vấtvưởng kiếm ăn và sẽ chết gục nơi đầu đường xó chợ bất cứ lúc nào
Việc chị ta trở thành vợ Tràng giống như một trò đùa, là chuyện tầm phơ tầm phàođâu có hai bận, ấy thế mà thành vợ thành chồng
Xưa nay, hôn nhân là đại sự Con gái lấy chồng, giàu nghèo gì cũng phải cố cướixin tử tế Giàu thì làm lớn, mời họ mời làng Nghèo đến mấy cũng phải có mâmcơm trình tổ tiên, ông bà rồi mới nhận vợ, nhận chồng
Trang 16Vợ thì cung năm bảy loại Có loại quý hóa như cô tiểu thư con quan trong Lí ngựa
ô, đem lại danh giá, sang trọng cho chồng Có loại vợ phải tốn bao công sức, tiềncủa mới cưới được… Tủi nhục thay cho những ai mang tiếng là vợ theo (theokhông, chẳng cưới hỏi gì) Xã hội, gia đình không chấp nhận những cuộc hôn nhânnhư vậy Tủi hơn nữa, người đàn bà trong truyện lại là vợ nhặt – Tràng tình cờ nhặtđược chị như nhặt được một vật gì đó rơi trên đường
Lần đầu, chị quen Tràng bởi câu hò chơi cho đỡ nhọc của anh và những lời trêughẹo của bạn bè Chị lon ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, đùa bỡn với anh và liếcmắt, cười tít Chuyện đùa giỡn chì có vậy nên người đàn bà này không để lại dấu
ấn gì trong trí nhớ của Tràng Vì thế, gặp lần thứ hai, anh không nhận ra chị ta bởi:Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi… gầy sọp hẳn đi…
Chị ta đói Đói lắm! Cái đói cào cấu ruột gan Chị ta sỗ sàng gợi ý để Tràng mời ăn
và ăn liền một chặp bốn bát bánh đúc Cắm đầu mà ăn, chẳng chuyện trò gì mải mênhư chưa từng được ăn bao giờ Quên cả giữ kẽ, quên cả thẹn thùng Quả là cái đói
đã đẩy lùi sĩ diện, đẩy lùi nhân cách
Ăn như thế là đói lâu rồi, nay chỉ cần có chút gì cho vào bụng để sống Cảnh ấykhiến Tràng động lòng thương Anh buột miệng nói: Này nói đùa chứ có về với tớthì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về Tràng chỉ đùa, ai ngờ chị ta theo về thật
Người đàn bà ấy đi theo Tràng trước hết chì vì miếng ăn chứ chẳng có tình cảm gì.Nghĩ cũng xấu hổ nên trên đường về nhà “chồng”, chị ta chả biết nói gì và tỏ rangượng ngùng khi thấy mọi người trong xóm ngụ cư nhìn mình bằng ánh mắt tòmò
Chị ta chấp nhận theo không một gã đàn ông xa lạ, xấu xí chỉ là để có một nơinương tựa cho khỏi chết đói Lâm vào tình cành éo le ấy, chị ta vừa ngượng ngùngvừa tủi phận Lúc gặp bà cụ Tứ, chị e sợ, khép nép, chẳng biết nói năng, chào hòithế nào cho phải
Một người đàn ông mới quen đôi lần, nay hào phóng cho ăn một bữa no, ngoài rakhông biết tính tình ra sao, gia cảnh thế nào, chỉ nghe nói là chưa có vợ (biết là thậthay giả), vậy mà đi theo một cách dễ dàng, không đắn đo, sợ hãi Có liều lĩnhchăng? Nhẹ dạ chăng? Mặc kệ! Theo anh ta để được ăn, được sống cái đã, vợchồng là chuyện lâu dài, biết đâu mà tính trước Khỏi đói, Khỏi chết lúc này làquan trọng nhất Mọi cái khác thứ yếu tất Thế mới biết cái đói ghê gớm, kinhkhủng biết chừng nào!
Vào nhà Tràng, chị cứ ngồi mớm ở mép giường, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặtbần thần Anh Tràng mời chị ngồi cơ mà? Sao chị không dám ngồi cho ngay ngắn,
Trang 17đàng hoàng? Mẹ anh chưa về, có ai đâu mà giữ lễ? Hóa ra cái dáng ngồi rụt rè,chông chênh ấy kì thực cũng là cái thế của lòng chị, đời chị Liệu chỗ ngồi này cóphải là chỗ của chị không? Mái nhà này có phải là nơi để chị dung thân không? Chịbần thần vì ngỡ như mọi chuyện vừa xảy ra không phải là thực Làm vợ, làm dâu
mà đến thế này ư? Lấy chồng, cái hạnh phúc lớn nhất của đời con gái ấy, chị cóđược hưởng chút nào đâu? Buồn lắm! Tủi lắm! Trăm mối ngổn ngang Chị khôngnói được nên lời, bởi cất tiếng, chắc chị sẽ khóc Nỗi đau không trào ra theo nướcmắt mà lặn vào trong nên càng đau, càng tủi
Ấy thế nhưng chỉ sau một đêm làm vợ Tràng, chị hóa ra khác hẳn: Tràng nom thịhôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gìchạo chát như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh… Hoàn cảnh sống nghiệt ngã biếnchị ta có lúc thành kẻ trâng tráo, nhưng bản chất thì không phải như vậy Nếu hômqua, cái đói làm mất đi những gì tốt đẹp ở chị thì hôm nay, chị bắt đầu có ý thứcvun vén cho tổ ấm của mình Chị quét dọn sân nhà sạch sẽ, gánh nước đổ đầyang… Có bàn tay săn sóc của chị, túp lều rách nát, tăm tối của mẹ con Tràng bỗngtrở nên sáng sủa, gọn ghẽ hẳn ra Sự sống đã trở về với người, với cảnh Cho đếnlúc này, chị mới có cảm giác chuyện làm vợ của mình là thật Cái hạnh phúc đơn
sơ mà đầm ấm ấy đã đem đến một sự đổi thay thật sự trong hình dáng và tính cáchcủa người đàn bà, khiến cho Tràng phải ngạc nhiên, bỡ ngỡ
Bà cụ Tứ mẹ anh Tràng là nhân vật gây được nhiều thiện cảm đối với người đọc.Tấm lòng nhân hậu của bà mới đáng quý làm sao! Lúc đầu, thấy người con gái xa
lạ ngồi ở giường con trai mình, bà ngạc nhiên lắm Được chào bằng u, bà càngchẳng hiểu gì và cố nhìn cho kĩ mà vẫn không nhận ra chị ta là ai Bà phân vân,đoán định… Mãi đến lúc Tràng bảo: Kìa nhà tôi nó chào u… thì bà mới vỡ lẽ Bàlão cúi đầu nín lặng Bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biếtbao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp con mình… Ra thế! Thằngcon mình nó đã kiếm được vợ, nhưng…
Bà tủi thân tủi phận là cha mẹ mà không làm tròn bổn phận đối với con cái Trăm
sự cũng tại cái nghèo mà ra: Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúctrong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mìnhthì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Bà lọ lắngthực sự: Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát nàykhông Nhưng rồi ngẫm đến thân phận nghèo khó của hai mẹ con, bà lại tự an ủi:Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Màcon mình mới có vợ được… Nghĩ thế nên bà vui lòng chấp nhận nàng dâu mới Bà
cư xử vói chị dịu dàng, âu yếm gọi chị là con, xưng u và bà lão nhìn người đàn bà,lòng đầy thương xót Nó bây giờ là dâu là con trong nhà rồi…
Trang 18Với tâm lí của một người mẹ, bà ao ước có được dăm ba mâm trước cúng tổ tiênông bà, sau mời làng mời xóm Nhưng ao ước ấy không thể thực hiện được vì bànghèo quá Bà rất biết trước biết sau, song cái khó bó cái khôn, bà đành chịu Bàchỉ biết nói với các con những lời khuyên nhủ chân tình cốt làm sao cho chúngmày hòa thuận là u mừng rồi… Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá.
Con trai tự dưng có được vợ, bà lão mừng lắm: Bà nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngàythường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên Bà lão xăm xắn thu dọn,quét tước nhà cửa… Bà không vui sao được khi con trai bà đã thành gia thất?! Bàcũng vơi đi một mối lo âu bấy lâu nay cứ canh cánh bên lòng Trong bữa ăn đầutiên của ba mẹ con, dẫu chỉ có cháo loãng với muối hột nhưng bà toàn nói chuyệnvui, toàn chuyện sung sướng về sau này :
– Tràng ạ Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làmcái chuồng gà thì tiện quá Này, ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có ngay đàn gàcho mà xem…
Ở người đàn bà già nua, nghèo khổ này chứa đựng những nét đạo lí cổ truyền củadân tộc Bà cố gắng xua đi cái ám ảnh đen tối đáng sợ của thực tại, nhen nhúmniềm tin, niềm vui sống cho các con Trong cái thân hình khẳng khiu, tàn tạ vì đóikhát ấy vẫn nung nấu một ý chí mãnh liệt: Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễbưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mọtcơm, cầm cái muôi vừa khuấy khuấy vừa cười:
- Chè đây… Chè khoán đây, ngon đáo để cơ
Rồi bà múc trao cho con dâu, con trai, miệng vẫn tươi cười, đon đả: - Cám đấymày ạ, hì Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ănđấy…
Bà lão “đãi” nàng dâu mới món ăn đặc biệt mà bà gọi là chè, nấu bằng cám Bàkhen ngon đáo để và so sánh: Xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy (Vậy cócám mà ăn như thế này là còn may lắm!) Chao ôi là khổ! Phải đói đến mức nào thìmới ăn cám thấy ngon? Cuộc sống khắc nghiệt đày đọa con người, bắt họ phảisống cuộc sống của loài vật, song nó không dập tắt được phần người, rất ngườitrong lòng bà mẹ khốn khổ kia Bà cố đổi buồn thành vui Bà cố tươi cười, đon đảcho bữa cơm đỡ phần thê thảm, còn tác giả và chúng ta thì khóc Khóc vì thương,
vì quý tấm chân tình của bà
Sống giữa cái chết ngày càng che phủ bóng đen gớm ghiếc của nó vào mọi giađình, vậy mà những người nghèo khổ như mẹ con Tràng vẫn tin vào cuộc sống,vào tương lai: Ai giàu ba họ, ai khó ba đời Bà cụ Tứ cứ tin vu vơ như thế Vì
Trang 19miếng cơm manh áo, họ buộc phải vượt lên mọi gian nan, khổ ải để sống nên mới
có được niềm tin dai dẳng và kì diệu ấy
Ba mẹ con Tràng đã tìm thấy niềm vui trong sự nương tựa, cưu mang lẫn nhau màsống Tình vợ chồng, mẹ con sẽ là động lực giúp họ tăng sức mạnh vượt qua giaiđoạn ngặt nghèo trước mắt Tình cảm ấy rất cần nhưng chưa đủ để đảm bảo cho bangười một tương lai tốt đẹp hơn Hiện tại, cuộc sống vẫn một màu xám xịt, đầy đedọa và chết chóc: Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã Đàn quạtrên những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thànhtừng đám bay vẩn trên nền trời như những đám mây đen…
Cái tài của tác giả là cứ nhẹ nhàng như không mà luồn lách ngòi bút động đến tậnnơi sâu thẳm của tâm hồn, bắt người ta phải cười, phải khóc, phải sống với nhânvật của mình
Trong suốt truyện, tác giả không một lần trực tiếp nhắc đến thực dân Pháp, phát xítNhật và bè lũ phong kiến tay sai nhưng tội ác của chúng vẫn hiển hiện, phơi bàytrên từng trang viết và được gói gọn trong câu nói đầy phẫn uất của bà mẹ già:Trống thúc thuế đấy Đằng thì nó bắt giồng đay, đằng thì nó bắt đóng thuế Giời đấtnày không chắc đã sống qua được đâu các con ạ… Người con dâu nhắc chuyệntrên mạn ngược, Việt Minh phát động dân chúng không đóng thuế, lại còn tổ chứcphá kho thóc của Nhật chia cho người nghèo… Điều ấy gợi cho Tràng nhớ tới cảnhnhững người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đô Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ…
và tâm trí anh bị cuốn hút mãi bởi hình ảnh ấy
Tràng chưa được giác ngộ cách mạng nên lúc chứng kiến cảnh đó anh thấy sợ Giờhiểu ra, anh lại ân hận, tiếc rẻ vẩn vơ, khó hiểu… Bước đầu, anh thấy rằng cần phảilàm như thế vì không có cách nào khác Tin rằng lần sau, trong đoàn người phá khothóc của Nhật, thế nào cũng có mặt vợ chồng Tràng Hình ảnh lá cờ đỏ bay phấpphới đem đến cho Tràng bao hi vọng vào sự đổi đời Đó là ý nghĩa dự báo cáchmạng của tác phẩm này
Truyện Vợ nhặt tiêu biểu cho phong cách viết độc đáo của nhà văn Kim Lân Cốttruyện đơn giản nhưng chặt chẽ Trong truyện, người và cảnh đan xen, tương phảnvới nhau Bản chất đẹp đẽ bên trong tương phản với vẻ xấu xí bên ngoài, sự sốngtương phản với cái chết… Tất cả đều nhằm mục đích làm nổi bật chủ đề củatruyện
Tác giả không miêu tả kĩ hiện thực tàn khốc lúc bấy giờ mà chú trọng đến việc thểhiện vẻ đẹp tinh thần ẩn giấu trong cái bề ngoài xác xơ vì đói khát của nhữngngười nghèo khổ Viết truyện này, tác giả bày tỏ thiện cảm sâu sắc đối với họ Ôngkhẳng định sự đói khát, không tiêu diệt được bản tính tốt đẹp của con người, hiện
Trang 20thực tăm tối không giết chết nổi niềm tin vào cuộc sống Trong hoàn cảnh cơ cực,đọa đày, họ vẫn nhen nhóm niềm tin, vẫn hi vọng vào sự đổi đời và một tương laitốt đẹp Truyện gây ấn tượng mạnh với người đọc bởi tính chất nhân văn cao cả,bởi ngôn ngữ mộc mạc, sinh động và giàu sức gợi tả Tấm lòng của tác giả gửi gắmtrong truyện đáng quý biết chừng nào!
Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài số 2
Kim Lân là nhà văn của làng quê Việt Nam với cách viết chân chất, mộc mạc vànhững hình ảnh nhân vật điển hình cho làng quê Văn của Kim Lân đi sâu vào lòngngười đọc bởi tình cảm bình dị, rất đời thường nhưng chan chứa nghĩa tình Tácphẩm “Vợ nhặt” là một “kiệt tác” của văn học hiện thực Việt Nam, tái hiện thànhcông xã hội nghèo khổ, cùng cực, bế tắc của người nông dân Bằng bút pháp tảthực Kim Lân đã xây dựng thành công tuyến nhân vật đại diện cho cuộc sống bầncùng giai đoạn đó
Truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân ra đời trong thời kỳ đất nước đang rơi vàonạn đói năm 1945, đời sống nhân dân bần cùng, kẻ sống người chết nham nhảm,
“người chết như nga ra, không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồngkhông gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vấn lên mùi ẩmthối của rác rưởi và mùi gây của xác người” Khung cảnh xóm ngụ cư ấy đã diễn tảđược cái đói đang hoành hành, đời sống nhân dân thê thảm
Ngay từ nhan đề của tác phẩm, Kim Lân đã dẫn người đọc khám phá cuộc sốngcủa những điều khốn khổ, bần hàn nhất Là “vợ nhặt”, là chi tiết và là tình huốngtruyện thắt nút làm nên cuộc đời của từng nhân vật
Mở đầu truyện ngắn, tác giả đã phác họa hình ảnh nhân vật anh cu Tràng “hắnbước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…” Chỉvới vài chi tiết đó, người đọc cũng đã hình dung được diện mạo xấu xí của một anhnông dân nghèo rách mùng tơi Từ ngày nạn đói hoành hành, đám trẻ con khôngbuồn trêu tràng nữa, vì chúng đã không còn sức lực Khung cảnh buồn thiu, đầy ámảnh bao phủ lên xóm nghèo Trong khung cảnh chiều tà, suy nghĩ của Tràng đượctái hiện “hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái ao nâu tàng vắt sang một bên cánhtay Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặng lên cái lưng gấu của hắn”
Với vài chi tiết tiêu biểu, Kim Lân đã vé lên trước mặt người đọc hình ảnh ngườinông dân nghèo đói, xơ xác, bộn bề lo lâu đến cùng cực
Tác giả đã thật khéo để xây dựng nên tình huống truyện độc đáo, mới lạ, làm thayđổi cuộc đời của một con người Tình huống Tràng “nhặt” được vợ Là “nhặt”
Trang 21được chứ không phải lấy được Người đọc nhận ra sự thê thảm, bước đường cùng
và đầy éo léo của con người trong xã hội bấy giờ
Hình anh vợ anh cu Tràng dần dần hiện ra dưới ngòi bút miêu tả của nhà văn đầy
ám ảnh “ thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêngnghiêng che khuất đi nửa mặt Thị có vẻ rón rén, e thẹn” Một người đàn bà nghèokhổ, không còn thứ gì giá trị đi cạnh một người đàn ông nghèo khổ, cùng cực đúng
là một đôi trời sinh
Giữa cái đưa vợ “nhặt” được về nhà, Kim Lân đã xây dựng nên khung cảnh đìuhiu, ảm đảm của xóm nghèo “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào, ngăn ngắt Haibên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa Dưới gốc đa, gốc gạo
xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng ma Tiếng quạkêu trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết” Không còn gìthê thảm và hiu hắt hơn khung cảnh chiều tàn nơi xóm nghèo như vậy Mọi thứdường như bị cái đói, cài nghèo đè nén đếm chìm nghỉm Bằng ngòi bút tả thựcsinh động, Kim Lân đã gieo vào lòng người đọc nhiều chua xót, đắng cay chonhững phận nghèo long đong
Điều đáng chú ý chính là cách những người hàng xóm hỏi thăm Tràng về ngườiđàn bà đi bên cạnh tràng Thực ra thấy lạ nên người ta mới hỏi, thì cũng hiểu ra, có
lẽ là vợ Tràng, “nhìn chị ta thèn thẹn hay đáo để” Người đàn bà bắt không cònchua ngoa, đanh đá nữa mà trở nên thẹn thùng khi quyết định theo Tràng về làmvợ
Làm vợ một cách bất ngờ, giữa cảnh đói như ngả rạ Có lẽ cái nghèo đói đã đẩy haicon người đến với nhau, không phải tình yêu nhưng là tình thương Hẳn người đọc
sẽ cảm thông và xót thương cho những mảnh đời dật dờ nơi xóm ngụ cư
Khi trở về nhà, hình ảnh bà cụ Tứ, mẹ Tràng được Kim Lân khắc họa diễn biến và
sự chuyển đổi trong tâm tinh thật tài tình và sâu sắc Người đọc sẽ hiểu hơn tấmlòng một người mẹ bao dung và hiền hậu Chi tiết “bà lão phấp phỏng bước theocon vào nhà, đến giữa sân bà sững lại vì thấy có một người đàn bà ở trong…” Sựbăn khoăn lo lắng của bà cụ bắt đầu hiển lên Nhưng rồi bà cũng nhận ra, cũng hiểu
“bà lão cúi đầu nín lặng, bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu rabao nhiêu cơ sự, vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình Chao ôi người tadựng vợ gả chồng cho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…” Những suynghĩ chua xót của bà lão được Kim Lân diễn tả qua một loạt động từ tình thái khiếncho cái khổ, cái đói lại vồ vập và hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết
Bà đã chấp nhận người “vợ nhặt” của con trai Tình huống khiến người đọc nhớmãi, hình ảnh khiến người đọc khi nhắc đến tác phẩm này đều không quên là hình
Trang 22ảnh “nồi cháo cám” trong buổi bữa cơm đón dâu dầu tiên Hình ảnh “nồi cháocám” là hiện thân của cái đói nghèo đến cùng cực trong một gia đình “không còn
gì giá trị nữa” Bà cụ Tứ hôm nay thay đổi tâm trạng, toàn nói những chuyện vuitrong nhà, vì bà muốn mang lại không khí vui tươi hơn giữa cái nghèo Hình ảnh
“nồi cháo cám” hiện lên bình dị, đầy chua xót và nước mắt của người mẹ nghèo Aicũng muốn có một bữa cơm đón dâu có mâm cao, cỗ đầy trong ngày rước dâunhưng gia cảnh nghèo nàn, “nồi cháo cám” là thứ duy nhất đong đầy yêu thương
bà có thể mang lại cho con
Đây là một chi tiết vô cùng đắt giá trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lânkhiến người đọc nhớ mãi Bên cạnh đó hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện củacuối truyện ngắn đã mang đến chút niềm tin và hi vọng về một tương lai tươi sánghơn
Bằng ngòi bút miêu tả chân thực, sinh động, cách khắc họa tâm lý nhân vật sắc sảo,độc đáo và cốt truyện đầy bất ngờ Kim Lân đã vẽ lại trước mắt người đọc khungcảnh đói nghèo tràn lan của xã hội Việt Nam những năm 1945 Qua đó tác giả cũngnhấn mạnh tình yêu thương giữa người với người luôn bất diệt
Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài số 3
Kim Lân một trong những nhà văn viết truyện ngắn từ năm 1941 Sáng tác của ôngtập trung phản ánh bức tranh của nông thôn Việt Nam và hình tượng người nôngdân Dưới nòi bút tài hoa của Kim Lân, bức tranh hiện thực của nông thôn ViệtNam cũng như nỗi niềm, cuộc sống, cảnh ngộ và khát vọng của người nông dânđược thể hiện chân thực và sinh động “Vợ Nhặt” là một trong những tác phẩmthành công của Kim Lân với cốt truyện độc đáo cùng với lối dẫn chuyện hóm hỉnhhấp dẫn người đọc
Lấy cảm hứng từ nạn đói năm 1945, nhà văn Kim Lân đã tái hiện lại hiện thực bứctranh ngày đói ám ảnh trong từng câu chữ, từng trang văn của ông Bằng ngòi bút
tả thực kết hợp Kim Lân đã tái hiện cảnh vật với xã xơ heo hút của ngã tư xóm chợ
về chiều, rồi “hai bên dãy phố, úp súp, tối om”,”cái nhà vắng teo đứng rúm ró mộtmảnh vườn mọc lổn nhổn”…Từng ấy thôi ngòi bút của ông đã tô đậm lên bứctranh u tối, với cảnh sống đói nghèo của nông thôn Bắc Bộ những năm 1945 Tất
cả hiện lên đều còm cõi, xác xơ, rách rưới Ở đó không chỉ có cảnh vật mà conngười cũng hiện lên lụi tàn cùng cái đói, cái nghèo Cái chết cũng được ghi lạitrong âm thanh thê thiết, tạo nên sự ghê sợ, rợn người ở đó như đang dồn đuổi sựsống của con người đến đường cùng Âm thanh của tiếng quạ trên mấy cây gạo,của tiếng hờn khóc tỉ tê và cả tiếng trống thúc thuế mỗi lúc một dồn dập hơn Chỉ
Trang 23vậy thôi mà nhà văn như tô lại hiện thực tố cáo sự tàn ác của bọn phát xít, đế quốcthực dân với những chính sách vô cùng hà khắc, rẻ rúng mạng sống của con người.Trong cái không gian ấy, hình ảnh con người được khắc họa lại khiến người đọckhông khỏi bàng hoàng về cái đói năm 1945 ấy Sử dụng những câu văn dài nhiều
vế, kết hợp với biện pháp liệt kê Kim Lân đặc tả hình ảnh người đó “bồng bế, dắtdíu nhau như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ…” Những ngườisống đang lay lắt, dật dờ, sống một cuộc sống không phải cuộc sống của conngười Người chết thì “như ngả rạ” và cái chết trở thành nỗi ám ảnh, đau đớn vànhức nhối của biết bao con người Có lẽ, chính vì thế mà nó thôi thúc Kim Lânphản ánh lại bằng những trang văn đầy ám ảnh như vậy
Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài số 4
Kim Lân, nhà văn chuyên viết truyện ngắn, với biệt tài viết về người nông dân.Người nông dân trong trang viết của Kim Lân dù nghèo khổ nhưng luôn sáng ngờinhững phẩm chất: yêu đời, thật thà, chất phác, hóm hỉnh, tài hoa Vợ nhặt là mộttrong những tác phẩm tiêu biểu nhất của ông khi viết về người nông dân
Tác phẩm là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất nằm trong tập truyện “Conchó xấu xí” (1962) Tác phẩm này trước vốn là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” – đượcviết ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công Tuy nhiên chỉ được viết dởdang và sau đó mất bản thảo Đến năm 1954, khi hòa bình lập lại, nhân một số báovăn nghệ kỉ niệm cách mạng tháng Tám thành công, Kim Lân đã nhớ lại tiểuthuyết “Xóm ngụ cư”, dựa trên cốt truyện cũ viết lại thành truyện ngắn Ngay từkhi ra đời, tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn trong giới sáng tác
Tác phẩm lấy bối cảnh là nạn đói năm Ất Dậu 1945, năm diễn ra nạn đói khủngkhiếp, khiến hơn hai triệu đồng bào ta chết đói Cái đói tràn lan, khủng khiếp diễn
ra ở khắp nơi khiến con người không thể nào chống cự được, tất cả những yếu tố
đó đã được Kim Lân tái hiện thành công trong tác phẩm của ông
Trước hết là màu sắc, ông đi khai thác màu xanh xám của da người, màu đen kịtcủa đàn quạ bay trên trời Những màu sắc gợi lên sự chết chóc, ảm đạm, tàn lụi vàhéo úa Bao quanh không gian đó là mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xácngười, mùi đốt đống dấm khét lẹt Kết hợp với tiếng quạ kêu từng hồi, hòa lẫn vớitiếng khóc hờ từ những gia đình có người chết Để làm rõ nét hơn, Kim Lân còncho người đọc thấy hình ảnh sáng nào cũng có ba bốn thây người nằm chết còngqueo bên đường Tình cảnh vô cùng thảm thương, bất hạnh Kim Lân nhìn nhậnhiện thực bằng cái nhìn chân thực, sắc nét, không né tránh, phơi bày tất cả trêntrang văn của mình, để người đọc thấy rõ cái khủng khiếp của nạn đói năm 1945
Trang 24Nhưng giá trị thật sự của tác phẩm là ở chỗ: từ trong bóng tối của cái đói, cái chết,tác giả tìm thấy ánh sáng của vẻ đẹp tâm hồn con người.
Sau khi vẽ nên khung hình chung của nạn đói, nhân vật đầu tiên trong thiên truyệnxuất hiện, đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của tác phẩm – anh cu Tràng.Tràng vốn là dân ngụ cư, sống tha phương cầu thực, những người dân ngụ cưthường bị phân biệt, kì thị, sống ở rìa làng, chứ không được sống trong trung tâmcủa làng như những người khác Không chỉ vậy, họ còn không được chia ruộng đất,không được tham gia bất cứ hoạt động sinh hoạt cộng đồng nào của làng xã Anh
cu Tràng bị đặt ra ngoài lề xã hội Không dừng lại ở đó, gia đình Tràng còn rấtnghèo, cha mất, chỉ con hai mẹ con nương tựa vào nhau, vì không được chia ruộngnên Tràng phải làm công việc bấp bênh để kiếm sống: kéo xe bò thuê
Dường như số phận càng trở nên trớ trêu hơn, khi gia cảnh nghèo nàn, là ngườingụ cự, anh Tràng còn có ngoại hình hết sức xấu xí Hai mắt nhỏ tí gà gà đắm vàobóng chiều, còn hai bên quai hàm bạnh ra, khiến khuôn mặt càng to lớn hơn Thânhình to lớn vập vạp, như một người khổng lồ Tràng còn vừa đi vừa lảm nhảmnhững điều mình nghĩ và cứ thể ngửa mặt lên trời cười hềnh hệch Anh cu Trànghội tụ đầy đủ vẻ đẹp hấp dẫn lũ trẻ con, còn với các cô gái anh hoàn toàn không cóchút hấp dẫn nào, cả về ngoại hình lẫn gia cảnh, anh cu Tràng không có khả năng
để lấy được vợ
Nhưng trong một lần hát nghêu ngao trong lúc làm việc, anh cu Tràng đã lấy được
vợ một cách đầy bất ngờ và ngỡ ngàng Trong lúc làm việc mệt nhọc, dân tathường có những câu hò để xua tan cái mệt, tăng động lực làm việc Và anh cuTràng cũng vậy, anh cũng hát, lời hát hết sức bông đùa: “Muốn ăn cơm trắng vớigiò Lại đây mà đẩy xe bò với anh” Lời nói ấy đã khiến thị theo anh cu Tràng vềlàm vợ thật
Trước khi đưa cô vợ về nhà, Tràng rất chu đáo, mua cho vợ một chiếc thúng conmới, dẫn thị đi ăn một bữa thật no, mua những hai hào dầu để về thắp sáng trongnhà Anh cu Tràng từ một kẻ thô kệch, lúc nào cũng nói chuyện một mình và cườihềnh hệch, hôm nay bỗng trở nên tâm lí và tinh tế lạ thường Trên đường đi vềTràng vui sướng, hớn hở, miệng lúc nào cũng tủm tỉm cười Khuôn mặt vừa hạnhphúc, rạng rỡ vừa vênh vênh tự đắc với chính mình Cảnh sống cực khổ ê chề hàngngày, Tràng đã quên hẳn, mà chỉ sống trong niềm vui, niềm hạnh phúc khi lấy được
vợ Bước chân đến nhà Tràng bỗng ngượng nghịu, xấu hổ, đứng tây ngây giữa nhà,chợt thấy sờ sợ nhưng lại vừa hạnh phúc sung sướng khi việc mình lấy vợ đã trởthành hiện thực Điều Tràng mong ngóng nhất là đợi mẹ mình về nhà, để ra mắtnàng dâu mới Lời giới thiệu thị với mẹ cũng rất trân trọng, để nàng dâu bớt đi
Trang 25phần ngượng ngùng, xấu hổ Tràng đã thay đổi là một con người khác hẳn, tâm lí,nhạy bén và rất khéo léo trong cách ăn nói Dường như hạnh phúc mới này đã đemđến sự thay đổi lớn trong tâm lí, suy nghĩ của anh cu Tràng.
Hạnh phúc đã khơi dậy ý thức bổn phận của người đàn ông trong gia đình Sánghôm sau, Tràng tỉnh dậy muộn, cảm thấy trong người dễ chịu, êm ái, như người đi
ra từ trong giấc mơ, anh ngỡ ngàng trước hạnh phúc mình đang nắm giữ Tràngquan sát khung cảnh đang bày ra trước mắt mình, nhận thấy cảnh tượng thay đổimới mẻ, khác lạ, nhà cửa không bừa bộn mà được dọn dẹp sạch sẽ, không khí giađình trở nên ấm áp, vui vẻ, mẹ và vợ chung tay dọn dẹp, vun vén nhà cửa Trànhthấy thấm thía, cảm động và bỗng thấy yêu thương những người xung quanh, đồngthời nhận thấy trách nhiệm của bản thân, phải biết lo lắng cho gia đình, vợ con Và
sự ý thức đó đã được hiện thực hóa bằng hành động xăm xăm chạy ra sân, muốnchung tay tu sửa căn nhà Tràng muốn chung tay để nghênh đón tương lai tươi sángđến với gia đình Đồng thời trong Tràng cũng bừng lên khát vọng đổi đời mãnhliệt, anh biết quan tâm đến những chuyện ngoài xã hội: mạn Thái Nguyên BắcGiang không đóng thuế mà còn phá kho thóc Nhật cha cho người đói Hình ảnhđám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới lẩn khuất, ẩn hiện trong trí óc Tràng.Hình ảnh lá cờ chính là tín hiệu cho tương lai tươi sáng Người đọc tin tưởng Tràng
sẽ đi theo Việt Minh, theo cách mạng
Xây dựng nhân vật Tràng, Kim Lân trước hết phơi bày cuộc sống khổ cực của nhândân ta trong nạn đói 1945 Nhưng đằng sau đó còn là sự cảm thương cho số phận
họ Trân trọng, phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp của người dân Việt Nam trong tìnhcảnh khốn cùng: tấm lòng nhân hậu, khát khao hạnh phúc, tin tưởng vào tương lai.Bên cạnh nhân vật Tràng, ta cũng không thể không nhắc đến nhân vật người vợnhặt Người vợ nhặt không có lai lịch rõ ràng, không rõ tên tuổi, quê quán, nghềnghiệp và cũng không hề có tài sản gì khi lần đầu gặp Tràng Có thể thấy rằng,trong nạn đói khủng khiếp, thân phận con người trở nên hết sức vô nghĩa Lần thứhai gặp Tràng, quần áo thị rác rưới, tả tơi như tổ đỉa, người gầy sọp đi vì đói, mặtlưỡi cày xám ngoét, ngực gầy và lép, hai con mắt sâu trũng hoáy lại Ngoại hình thị
vô cùng thảm hại, do cái đói đã gây ra cho con người Ngôn ngữ của thị cũng hếtsức chao chát, chỏng lỏn: “Điêu! Người thế mà điêu!”, “Ăn thật nhá”, “Hà, ngon
Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố”; rồi thì “Ton ton chạy lại”, “liếc mắt cười tít”,
“sầm sập chạy đến”, “xưng xỉa nói”, “cong cớn”, “cắm đầu ăn”, “ăn xong lấy đũaquẹt một cái” Thị tỏ ra là con người hết sức vô duyên, dường như cái đói, cái chết
có thể mài mòn nhân cách con người ta ghê gớm đến như vậy
Trang 26Nhưng đằng sau sự chỏng lỏn đến vô duyên ấy lại là một con người có khát vọngsống vô cùng mãnh liệt Khi nhìn dưới góc độ nhân bản thì tất cả hành động, cử chỉtrơ trẽn, vô duyên của thị lại là biểu hiện của khát vọng sống mãnh liệt Bên cạnh
đó, thị còn hiện lên với vẻ đẹp nữ tính, trên đường về nhà, thị rón rén, e thẹn: “Thịcắp cái thúng con, cái đầu hơi cúi xuống; cái nón rách tả tơi nghiêng nghiêng chekhuất đi nửa mặt” Khi về đến nhà chồng, thấy quang cảnh nhà chồng thị nén tiếngthở dài, ngồi mớn ở mép giường và vô cùng lễ phép khi gặp mẹ chồng Sáng hômsau cô dậy sớm cùng mẹ dọn dẹp, vun vén nhà cửa Nhân vật thể hiện tư tưởngnhân đạo sâu sắc của tác giả
Cuối cùng là nhân vật bà cụ Tứ, dù chỉ thấp thoáng trong tác phẩm, nhưng cũng cóvai trò, ý nghĩa quan trọng Bà là người phụ nữ nghèo khổ, cơ cực: dân ngụ cư thaphương cầu thực; chồng và con gái mất sớm Cả đời lận đận, chỉ có tâm nguyệnlớn nhất là lấy vợ cho con nhưng mãi không dành dụm được tiền, trong lúc nghèođói đến cùng cực người con trai lại nhặt được vợ Nhìn thấy con đưa vợ về, bà nínlặng cúi đầu, băn khoăn, nhưng vẫn rất vui mừng cho đôi trẻ Bà dặn dò hai vợchồng mới, nói những chuyện tương lai tốt đẹp, đem đến niềm tin, sự lạc quan chochúng Bà là một người mẹ nhân hậu và hết sức yêu thương con
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của văn học hiệnthực Tác phẩm vừa cho thấy hiện thực cuộc sống nghèo khổ của nhân dân, đồngthời ánh lên giá trị nhân đạo sâu sắc Tác phẩm thể hiện sự trân trọng, nâng niunhững ước mơ đổi đời của con người Không chỉ vậy, tác phẩm cũng cho thấy nghệthuật phân tích tâm lí và miêu tả bậc thầy của nhà văn Kim Lân
Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài số 5
Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của người nông dân, của làng quê Việt Nambởi trong các tác phẩm của ông luôn hướng tới hình ảnh người nông dân Với vănphong giản dị, mộc mạc nhưng sâu sắc thấm đẫm tinh thần nhân văn, tác giả KimLân đã gửi tới người đọc một tác phẩm kinh điển thể hiện tình cảm đậm đà của ôngdành cho những số phận người nông dân nghèo khổ trong xã hội cũ
Tác phẩm “Vợ nhặt” là một trong những tác phẩm đặc sắc đại diện cho văn phong,cũng như nhân sinh quan của tác giả Kim Lân Vợ nhặt ra đời khi nước ta đangtrong giai đoạn một cổ hai tròng vừa bị thực dân Pháp đô hộ, vừa bị phát xít Nhậtcai trị, kèm theo chế độ phong kiến trong thời kỳ suy tàn, thối nát làm cho ngườidân vô cùng khốn khổ Câu chuyện xoay quanh bối cảnh nạn đói kinh điển năm
1945 làm chết hai triệu đồng bào ta Tại một xóm ngụ cư nghèo nơi tập trungnhững gia đình đi di tản từ khắp nơi kéo tới đây, tạo thành một khu ngụ cư mới
Trang 27Ngay cái nhan đề của tác phẩm “Vợ nhặt” đã gợi lên cho người đọc nhiều suy nghĩ
về nội dung câu chuyện, thể hiện một việc trọng đại của đời người chính là việcdựng vợ gả chồng nhưng lại được làm rất qua loa, như việc nhặt một món đồ, mộtviên gạch ngoài đường mang về nhà
Mở đầu tác phẩm tác giả Kim Lân đã phác họa lên hình ảnh nhân vật anh cu Tràng
“hắn bước đi ngật ngưỡng, vừa đi vừa tủm tỉm cười, hai bên quai hàm bạnh ra…”Chỉ bằng vài chi tiết nho nhỏ tác giả Kim Lân đã khiến cho người đọc hình dung rađược hình ảnh nhân vật
Nhân vật Tràng là người có ngoại hình thô kệch, xấu xí, gia cảnh thì mẹ góa concôi, bần hàn Hắn chẳng có điểm nào thu hút phụ nữ Công việc của Tràng làmnghề kéo xe bò thuê chở hàng cho người ta, một công việc lao động tay chân, bán
mồ hôi sức lao động để kiếm vào đồng xu lẻ “Hắn bước đi từng bước mệt mỏi, cái
áo nâu tàng vắt sang một bên cánh tay Hình như những lo lắng, cực nhọc đè nặnglên cái lưng gấu của hắn”
Sự đói nghèo bần hàn, vây quanh lấy hắn, nhưng trong đầu hắn luôn hiện lênnhững suy nghĩ lạ lùng thỉnh thoảng lại thấy hắn ngửa mặt cười cười một cái gì đó.Tràng thật sự là một con người kỳ quái
Giữa khung cảnh nghèo đói, cùng cực ấy Một con người xấu xí, thô kệch nghèokhổ như Tràng những tưởng vĩnh viễn phải sống kiếp cô độc vì chả có gì thu hútngười khác thì làm sao mà lấy được vợ Nhưng không ngờ Tràng vẫn lấy được vợ,
mà con lấy được một cách dễ dàng “nhặt” được vợ như nhặt một cục đá mà thôi.Chỉ bằng những câu nói bông đùa vu vơ, mà Tràng nhặt được vợ “Muốn ăn cơmtrắng với giò, thì ra đây đẩy xe bò với anh nào” Chỉ có như thế thôi nhưng một côgái ngoan ngoãn ra đẩy xe với hắn Rồi theo hắn về nhà làm vợ
Tác giả Kim Lân đã xây dựng tình huống truyện vô cùng thú vị, độc đáo làm thayđổi số phận của nhân vật Tràng Làm cho câu chuyển sang một hướng rẽ mới thú vị
và thu hút người đọc Hành động nhặt được vợ của Tràng khiến người ta phải suynghĩ, bởi việc lấy vợ lấy chồng là việc vô cùng quan trọng trong đời người, bìnhthường người ta phải làm thật cẩn thận suy tính trước sau Cô gái làm vợ Tràngcũng thật thiệt thòi biết bao, làm vợ người ta mà không có một lễ cưới, không đượclàm dăm ba mâm ra mắt họ hàng, không có giấy đăng ký kết hôn, không có chứngnhận của hai bên họ hàng
Sự nghèo khó đã đẩy những con người khốn khổ xích lại gần nhau hơn Họ tìm đếnvới nhau để nương tựa vào nhau trong lúc khó khăn, cho bớt cơ cực Họ cũng hy
Trang 28vọng khi có nhau rồi cuộc sống của họ sẽ thay đổi ít nhiều có thêm niềm vui vàotương lai.
Hình ảnh vợ Tràng hiện lên làm người đọc không khỏi xúc động “ thị cắp cái thúngcon, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt.Thị có vẻ rón rén, e thẹn”
Khi đưa thị về nhà khung cảnh xóm ngụ cư hiện lên đìu hiu, buồn bã, ảm đạm nhưnhững con người sống trong xóm nghèo đó “từng trận gió từ cánh đồng thổi vào,ngăn ngắt Hai bên dãy phố, úp sụp, tối om, không nhà nào có ánh đèn, lửa Dướigốc đa, gốc gạo xù xì bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóngma ”
Những người hàng xóm tò mò hỏi Tràng về người phụ nữ đi bên cạnh Tràng Họ tò
mò vì một người nghèo khổ xấu xí như Tràng mà cũng có gái theo Nhưng cóngười cũng thực tế hơn họ cho rằng trong thời kỳ đói khổ miếng ăn không có nhưhiện nay mà còn cưới vợ vác thêm một miệng ăn về nhà thì khác nào vác một cụcnợ
Cứ như thế Tràng và thị đi trong những tiếng xì xào, bàn tán nhưng họ cứ mặc kệ
cứ bước đi bên nhau và hy vọng vào ngày mai tươi sáng hơn
Cuộc gặp gỡ giữa mẹ chồng nàng dâu cũng khiến nhiều người phải ám ảnh bà cụ
Tứ mẹ Tràng “bà lão phấp phỏng bước theo con vào nhà, đến giữa sân bà sững lại
vì thấy có một người đàn bà ở trong…”
Lúc đầu bà cụ lo lắng lắm nhưng rồi bà cụ Tứ cũng nhận ra vấn đề “bà lão cúi đầunín lặng, bà lão hiểu rồi Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra bao nhiêu cơ sự,vừa ai oán, vừa xót xa cho số kiếp con mình Chao ôi người ta dựng vợ gả chồngcho con là trong lúc làm ăn nên nổi, còn mình…”
Những suy nghĩ đau đớn chua xót của một người mẹ thương con, được tác giả KimLân tái hiện qua những trang viết vô cùng xúc động làm lay động trái tim ngườiđọc
Bà cụ Tứ vui mừng chấp nhận người vợ của con trai mình Hình ảnh bữa cơm đầutiên sau đêm tân hôn hiện ra khiến nhiều người không khỏi nghẹn ngào đắng ngắttrong cổ họng Đó chính là “nồi cháo cám” với đĩa muối trắng, hoa chuối thái vội.Một hình ảnh đại diện cho cái nghèo, hiện lên chân thực, mộc mạc
Tuy nhiên, trong bữa cơm ấy ba con người trong câu chuyện lại ăn uống rất ngon
Họ còn nói chuyện với nhau về tin đồn Việt Minh phá kho thóc Nhật chia cho dânnghèo Trong bữa cơm ấy, ba con người khốn khổ cùng mơ ước có một ngày được
Trang 29thấy ngọn cờ đỏ sao vàng, được sống một kiếp sống khác Họ cùng nhau tin tưởngvào tương lai.
Phân tích truyện Vợ nhặt - Bài số 6
Nạn đói khủng khiếp và dữ dội năm 1945 đã hằn in trong tâm trí Kim Lân - mộtnhà văn hiện thực có thể xem là con đẻ của đồng ruộng, một con người một lòng đi
về với “thuần hậu phong thuỷ” ấy Ngay sau Cách mạng, ông đã bắt tay ngay vàoviết tác phẩm Xóm ngụ cư khi hoà bình lặp lại (1954), nỗi trăn trở tiếp tục thôithúc ông viết tiếp thiên truyện ấy Và cuối cùng, truyện ngắn “Vợ Nhặt” ra đời.Lần này, Kim Lân đã thật sự đem vào thiên truyện của mình một khám phá mới,một điểm sáng soi chiếu toàn tác phẩm Đó là vẻ đẹp của tình người và niềm hivọng vào cuộc sống của những người nông dân nghèo tiêu biểu như Tràng, người
vợ Nhặt và bà cụ Tứ Thiên truyện thể hiện rất thành công khả năng dựng truyện,dẫn truyện và đặc sắc nhất là Kim Lân đã có công khám phá ra diễn biến tâm lýthật bất ngờ
Trong một lần phát biểu, Kim Lân đã từng nói “Khi viết về nạn đói người tathường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đói người tahay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết một truyệnngắn nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới cuộcsống, vẫn hi vọng, vẫn tin tưởng vào tương lại Họ vẫn muốn sống, “sống cho racon người” Đó chính là tình người và niềm hi vọng về cuộc sống về tương lai củanhững con người đang kề cận với cái chết
Bằng cách dẫn truyện, xây dựng lên tình huống “nhặt vợ” tài tình kết hợp với khảnăng phân tích diễn biến tâm lý nhân vật thật tinh tế và sử dụng thành công ngônngữ nông dân, ngôn ngữ dung dị, đời thường nhưng có sự chọn lọc kĩ lưỡng, nhàvăn đã tái hiện lại trước mắt chúng ta một không gian đói thật thảm hải, thê lương.Trong đó ngổn ngang những kẻ sống người chết, những bón ma vật vờ, lặng lẽgiữa tiếng khóc hờ và tiếng gào thét gửi gắm trong không gian tối đen như mực ấynhững mầm sống đang cố vươn đến tương lai, những tình cảm chân thành, yêuthương bình dị nhưng rất đỗi cao quý ấy và nhà văn đã để những số phận như anhTràng, người vợ nhặt và bà cụ Tứ được thăng hoa trước ngọn cờ đỏ phấp phới cùngđám người đói phá kho thóc của Nhật ở cuối thiên truyện
Có thể nói rằng Kim Lân đã thực sự xuất sắc khi dựng lên tình huống “nhặt vợ”của anh cu Tràng Tình huống ấy là cánh của khép mở để nhân vật bộc lộ nét đẹptrong tâm hồn mình Dường như trong đói khổ người ta dễ đối xử tàn nhẫn vớinhau khi miếng ăn của một người chưa đủ thì làm sao có thể đèo bồng thêm người
Trang 30này người kia Trong tình huống ấy, người dễ cấu xé nhau, dễ ích kỉ hơn là vị tha
và người ra rất dễ đối xử tàn nhẫn, làm cho nhau đau khổ Nhưng nhà văn Kim Lânlại khám phá ra một điều ngược lại ở các nhân vật anh cu Tràng, người vợ nhặt và
bà cụ Tứ
Chúng ta từng kinh hãi trước “xác người chết đói ngập đầy đường”, “người lớnxanh xám như những bóng ma”, trước “không khí vẩn lên mùi hôi của rác rưởi vàmùi gây của xác người”, từng ớn lạnh trước “tiếng quạ kêu gào thảm thiết” ấynhưng lạ thay chúng ta thật không thể cầm lòng xúc động trước nghĩa cử cao đẹp
mà bình thường, dung dị ấy của Tràng, bà cụ Tứ và của người vợ Tràng nữa Mộtthanh niên của cái xóm ngụ cư ấy như Tràng, một con người – thân xác vạm vỡ,lực lưỡng ấy dường như ngờ nghệch thô kệch và xấu xí ấy lại chứa đựng biết baonghĩa tình cao đẹp
“Cái đói đã tràn vào xóm tự lúc nào”, vậy mà Tràng vẫn đèo bòng thêm một cô vợtrong khi anh không biết cuộc đời phía trước mình ra sao Tràng đã thật liều lĩnh
Và ngay cô vợ Tràng cũng thế Hai cái liều ấy gặp nhau kết tụ lại thành một giađình Điều ấy thật éo le và xót thương vô cùng Và dường như lúc ấy trong conngười của Tràng kia đã bật lên niềm sống, một khát vọng yêu thương chân thành
Và dường như hắn đang ngầm chứa một ao ước thiết thực về sự đầm ấm của tìnhcảm vợ chồng, của hạnh phúc lứa đôi Hành động của Tràng dù vô tình, không cóchủ đích, chỉ tầm phơ tầm phào cho vui nhưng điều ấy không hề mở cho ta thấytình cảm của một con người biết yêu thương, cưu mang, đùm bọc những ngườiđồng cảnh ngộ
Như một lẽ đương nhiên, Tràng đã rất ngỡ ngàng, hắn đã “sờ sợ”, “ngờ ngợ”, “ngỡngàng” như không phải nhưng chính tình cảm vợ chồng ấy lại củng cố và nhennhóm ngọn lửa yêu thương và sống có trách nhiệm với gia đình trong hắn Tìnhnghĩa vợ chồng ấm áp ấy dường như làm cho Tràng thay đổi hẳn tâm tình Từ mộtanh chàng ngờ nghệch, thô lỗ, cọc cằn, Tràng đã sớm thay đổi trở thành một ngườichồng thật sự khi đón nhận hạnh phúc gia đình Hạnh phúc ấy dường như một cái
gì đó “ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng tựa hồ như có một bàn tay vuốt nhẹsống lưng” Tình yêu, hạnh phúc ấy khiến “trong một lúc Tràng dường như quênhết tất cả, quên cả đói rét đang đeo đuổi, quên cả những tháng ngày qua” Và Tràng
đã trở dậy Hắn có những thay đổi rất bất ngờ nhưng rất hợp logíc Những thay đổi
ấy không có gì khác ngoài tâm hồn đôn hâu, chất phác và giàu tình yêu thương haysao?
Trong con người của Tràng khi trở dậy sau khi chào đón hạnh phúc ấy thật khác lạ.Tràng không là anh Tràng ngày trước nữa mà giờ đây đã là một người con có hiếu,
Trang 31một người chồng đầy trách nhiệm dù chỉ trong ý nghĩ Thấy mẹ chồng nàng dâuquét tước nhà cửa, hắn đã bừng bừng thèm muốn một cảnh gia đình hạnh phúc.
“Hắn thấy yêu thương căn nhà của hắn đến lạ lùng”, “hắn thấy mình có tráchnhiệm hơn với vợ con sau này” Hắn cũng xăm xắn ra sân dọn dẹp nhà cửa
Hành động cử chỉ ấy của Tràng đâu chỉ là câu chuyện bình thường mà đó là sựchuyển biến lớn Chính tình yêu của người vợ, tình mẹ con hoà thuận ấy đã nhennhóm trong hắn ước vọng về hạnh phúc, niềm tin vào cuộc sống sẽ thay đổi khihắn nghĩ đến đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới Rồi số phận, cuộc đời hắn,của vợ hắn và cả người mẹ của hắn nữa sẽ thay đổi Hắn tin thế
Nạn đói ấy không thể ngăn cản được ánh sáng của tình người Đêm tố ấy rồi sẽ qua
đi để đón chờ ánh sáng cuộc sống tự dong đang ở phía trước sức mạn của thời đại.Một lần nữa, Kim Lân không ngần ngại hạnh phúc, niềm tin ấy trong các nhân vậtcủa mình Người vợ nhặt làm thay đổi cuộc sống của xóm ngụ cư nghèo, tăm tối
ấy, đã làm cho những khuôn mặt hốc hác, u tối của mọi người rạng rỡ hẳn lên Từcon người chao chát chỏng lọn đến cô vợ hiền thục, đảm đang là một quá trình biếnđổi Điều gì làm thị biến đổi như thế?
Đó chính là tình người, là tình thương yêu Thị tuy theo không Tràng về chỉ quabốn bát bánh đúc và hai câu nói tầm phơ tầm phào của Tràng nhưng chúng takhông khinh miệt thị Nếu có trách thì chỉ có thể hướng vào xã hội thực dân phongkiến đã bóp nghẹt quyền sống của con người Thị xuất hiện không tên tuổi, khôngquê quán, trong tư thế “vân vê tà áo rách bợt bạt”, điệu bộ trông thật thảm hạinhưng chính con người ấy lại gieo mầm sống cho Tràng, làm biến đổi tất cả, từkhông khí xóm ngụ cư đến không khí gia đình Thị đã đem đến một luồng sinh khímới, sinh khí ấy chỉ có được trong con người thị dung chứa một niềm tin, một ướcvọng cao cả vào sự sống vào tương lai
Thị được miêu tả khá ít song đó lại là nhân vật không thể thiếu cho tác phẩm.Thiếu thị, Tràng vẫn chỉ là anh cu Tràng ngày xưa, bà cụ Tứ vẫn lặng thầm trongđau khổ, cùng cực Kim Lân cũng thật thành công khi xây dựng nhân vật này đểgóp thêm tiếng lòng ca ngợi sức sống của vẻ đẹp tình người, niềm tin vào cuộc đờiphía trước trong những ngày con người đói khổ ấy Và thật ngạc nhiên, khi nói vềước vọng ở tương lại, niềm tin vào hạnh phúc, vào cuộc đời người ta dễ nghĩ đếntuổi trẻ như Tràng và người vợ nhưng Kim Lân lại khám phá ra một nét đẹp độcđáo vô cùng: tình cảm, ước vọng ở cuộc đời lại được tập trung miêu tả khá kĩ ởnhân vật bà cụ Tứ
Đến nhân vật này, Kim Lân tỏ rõ bút pháp miêu tả tâm lý nhân vật Bà cụ Tứ đếngiữa câu chuyện mới xuất hiện nhưng nếu thiếu đi nhân vật này, tác phẩm sẽ không
Trang 32có chiều sâu nhân bản Đặt nhân vật bà cụ Tứ vào trong tác phẩm, Kim Lân đã chochúng ta thấy rõ hơn ánh sáng của tình người trong nạn đói Bao giờ cũng thế, cácnhà văn muốn nhân vật nổi bật cá tính của mình thường đặt nhân vật ấy vào tìnhthế căng thẳng Ở đó dĩ nhiên phải có sự đấu tranh không ngừng không những giữacác nhân vật mà độc đáo hơn là ngay trong chính nội tâm của mỗi nhân vật ấy Bà
cụ Tứ là một điển hình
Việc Tràng lấy vợ đã gây một chấn động lớn trong tâm thức người mẹ nghèo vốnthương con ấy Bà ngạc nhiên ngỡ ngàng trước sự xuất hiện của một người đàn bàtrong nhà mình mà lâu nay và có lẽ chưa bao giờ bà nghĩ đến Hết ngỡ ngàng, ngạcnhiên bà cụ đã “cúi đầu nín lặng” Cử chỉ, hành động ấy chất chứa bao tâm trạng
Đó là sự đan xen lẫn lộn giữa nỗi tủi cực, nỗi lo và niềm vui nỗi buồn cứ hoà lẫnvào nhau khiến bà thật căng thẳng Sau khi thấu hiểu mọi điều bà nhìn cô con dâuđang “vân vê tà áo rách bợt bạt” mà lòng đầy xót thương Bà thiết nghĩ “người ta
có gặp bước khó khăn này, người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới cóvợ” Và thật xúc động, bà cụ đã nói, chỉ một câu thôi nhưng sâu xa và có ý nghĩa
vô cùng “Thôi, chúng mày đã phải duyên phải kiếp với nhau thì u cũng mừnglòng”
Đói khổ đang vây lấy gia đình bà, cuộc sống của bà sẽ ra sao khi mình đang ngấpnghé trước vực thẳm của cái chết Nhưng trong tâm thức người mẹ nghèo ấy, đóikhổ không phải là một vật cản lớn Đói rét thật nhưng trong lòng bà cụ vẫn sánglên tấm lòng yêu thương chân thành Bà thương con, thương dâu và thương chochính bản thân mình Bà cụ Tứ từ những nỗi lo, nỗi tủi cực về gia cảnh vẫn khôngngừng bùng cháy lên ngọn lửa của tình người Bà đang dang tay đón nhận đứa condâu lòng đầy thương xót, trong tủi cực nhưng vẫn ngầm chứa một sức sống thậtmãnh liệt Chính ở người mẹ nghèo khổ ấy, ngọn lửa của tình người, tình thươngyêu nhân loại bùng cháy mạnh mẽ nhất Trong bóng tối của đói nghèo đang hùng
hổ vây quanh, bà lão vẫn gieo vào lòng những con mình niềm tin về cuộc sống Bànhắc đến việc Tràng nên chuẩn bị một cái phên nuôi gà, rồi việc sinh con đẻ cái, bàlão nói toàn chuyện vui trong bữa cơm ngày đói thật thảm hại Bà đã đón nhậnhạnh phúc của các con để tự sưởi ấm lòng mình
Đặc biệt chi tiết nồi cám ở cuối thiên truyện thể hiện khá rõ ánh sáng của tìnhngười Nồi chè cám nghẹn bứ cổ và đắng chát ấy lại là món quà của một tấm lòngđôn hậu chất chứa yêu thương Bà lão “lễ mễ” bưng nồi chề và vui vẻ giới thiệu
“Chè khoán đấy Ngon đáo để cơ” Ở đây nụ cười đan xen lẫn ngước mắt Bữa cơmgia đình ngày đói ở cuối thiên truyện không khỏi làm chạnh lòng chúng ta, một nỗixót thương cay đắng cho số phận của họ song cũng dung chứa một sự cảm phụclớn lao ở những con người bình thường mà đáng quý