1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Văn mẫu lớp 12: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt

37 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 505,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt gồm dàn ý chi tiết kèm theo 9 bài văn phân tích hay nhất, giúp các bạn lớp 12 có thêm nhiều tư liệu tham khảo để kì thi THPT Quốc gia đạt kết quả cao. Xem thêm các thông tin về Văn mẫu lớp 12: Phân tích giá trị nhân đạo trong tác phẩm Vợ nhặt tại đây

Trang 1

Dàn ý giá trị nhân đạo của Vợ nhặt

I Mở bài

- Giới thiệu chung về truyện ngắn "Vợ nhặt" và giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm

II Thân bài

1 Nạn đói khủng khiếp năm 1945

* Trong truyện đã diễn tả với tất cả niềm xót thương thông cảm của tác giả về cảnh bithảm của quần chúng lao động trong nạn đói khủng khiếp năm 1945

a) Cái đói bao trùm khắp nơi và tràn đến cái xóm nghèo của dân ngụ cư.

- Những gia đình từ Nam Định, Thái Bình lũ lượt đội chiếu, dắt díu bồng bế nhau lên,xám lại như những bóng ma Buổi sáng nào cũng có vài người chết còng queo bênđường, toả mùi gây gây của xác chết

- Toàn bộ câu truyện của Tràng diễn ra trên cái cảnh đói khổ và tang tóc ấy Cảnh xómngụ cư vào buổi chiều Tràng đưa người vợ theo về; tiếng hờ khóc trong đêm, mùi đốtđống rấm

b) Tình cảnh của gia đình Tràng

- Tràng: nghèo, không lấy nổi vợ

- Vợ Tràng: Vì đói mà phải theo không về làm vợ, không có cưới cheo gì

- Tình cảm xót xa của bữa cơm đón nàng dâu mới (nồi cháo loãng và bát cám)

2 Sự cưu mang, niềm hi vọng của người lao động nghèo khổ

Trang 2

Truyện đã làm sáng lên trên cái nền đen tối ảm đạm ấy sức sống, khát vọng : mái ấmgia đình và sự nương tựa, che chở cho nhau của những người lao động nghèo khổ,sáng lên niềm tin hy vọng của họ.

a) Tình huống Tràng có vợ, “nhặt” được vợ và ý nghĩa

- Thái độ của Tràng từ lúc chỉ coi là chuyện tầm phào đến lúc xem đó là chuyện

nghiêm chỉnh của đời mình (Dẫn và phân tích những lời nói, hành động của Tràng khimới gặp người đàn bà và trong cảnh đưa chị ta về nhà)

b) Ánh sáng của hơi ấm hạnh phúc gia đình giữa lúc nạn đói hoành hành

- Cảnh gia đình Tràng, căn nhà, mảnh vườn trong buổi sáng hôm sau

- Sự biến đổi trong tâm trạng của Tràng, của người vợ nhặt

- Ý nghĩa và thái độ của bà cụ Tứ, nỗi xót xa, thương cảm và niềm hy vọng của ngườimẹ

- Niềm hi vọng của họ về sự đổi thay số phận hướng về cuộc cách mạng

3 Giá trị nhân đạo của tác phẩm

- Một tư tưởng nhân đạo hướng về quần chúng lao động, khẳng định phẩm chất và sứcsống bền bỉ của họ

- Niềm tin của tác giả đặt vào những khát vọng bình dị mà chân chính những conngười vẫn muốn sống, vẫn khát khao tình thương và sự gắn bó, việc nương tựa vàonhau đã cho họ niềm tin để sống

- Chủ nghĩa nhân đạo của tác phẩm dựa trên sự am hiểu sâu sắc, gắn với đời sốngngười nông dân của Kim Lân Tác giả không tô vẽ, lí tưởng các nhân vật của mình

III Kết bài

Trang 3

- Khái quát lại vấn đề

Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt - Mẫu 1

"Vợ nhặt" là một truyện ngắn độc đáo, đặc sắc của Kim Lân Truyện kể về chuyện anh

cu Tràng nhà nghèo ở xóm ngụ cư đã nhặt được vợ khi trận đói đang diễn ra kinhkhủng, người chết đói đầy đường

Truyện ngắn đã phản ảnh nỗi đau khổ và niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúccủa người nghèo, qua đó nói lên số phận con người trong xã hội cũ, cái đêm trước khicách mạng bùng nổ Giá trị lớn nhất của truyện "Vợ nhặt" là giá trị nhân đạo

Cho đến nay trong nền văn học hiện đại Việt Nam chưa có tác phẩm nào viết về trậnđói năm Ất Dậu - 1945 thật hay, thật xúc động như truyện ngắn "Vợ nhặt" của KimLân Cảm hứng nhân đạo dào dạt từ đầu truyện đến cuối truyện

Cảnh mẹ chồng gặp nàng dâu mới thật vô cùng cảm động Vượt qua phong tục tậpquán ăn hỏi cưới xin, chẳng có dăm ba mâm, bà cụ Tứ thương người đàn bà xa lạ,thương con và thương mình, bà nhận nàng dâu mới: "Ừ thôi thì các con đã phải duyênphải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng" Tình thương của bà mênh mông, bà nghĩ

"Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà conmình mới có vợ được " Bà dịu dàng yêu thương gọi nàng dâu mới là "con" Lòngđầy thương xót, bà nói với hai con: "Năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúcnày u thương quá " Qua đó, ta càng hiểu sâu hơn cái lẽ đời Nhân dân lao độngnghèo khổ đứng trước tai hoạ, họ đã dựa vào nhau, san sẻ tình thương, san sẻ vật chấtcho nhau để vượt qua mọi thử thách, hướng tới ngày mai với niềm tin và hi vọng: "Aigiàu ba họ, ai khó ba đời " Người đọc cảm thấy ngọn đèn "vàng đục" chiếu sángtrong mái lều đêm tân hôn của vợ chồng Tràng là ngọn đèn hi vọng và hạnh phúc ấmno

Bữa cháo cám đón nàng dâu mới là một chi tiết mang giá trị nhân đạo tiêu biểu nhấttrong truyện "Vợ nhặt" Bà cụ Tứ gọi là "chè khoán ngon đáo để" Bà tự hào nói với

Trang 4

hai con là " xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy" Trong bữa cháo cám, bà nóitoàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này Cảnh gia đình mẹ con vô cùng "đầm

ấm hòa hợp" hạnh phúc Sau này, vợ chồng con cái Tràng có thổ có những bữa cơmnhiều thịt cá ngon lành hơn, nhưng họ không bao giờ có thể quên được bữa cháo cámbuổi sáng hôm ấy Vị cháo cám "đắng chát" mà lại ngọt ngào chứa đựng bao tìnhthương của mẹ Kim Lân sống gần gũi người nhà quê, ông hiểu sâu sắc tâm lí, tìnhcảm của họ Ông đã làm cho những thế hệ mai hậu biết cái đắng chát trong cuộc đờicủa ông cha, cảm nhận được cái hương đời, cái tình thương của lòng mẹ, mà khôngmột thứ cao lương mĩ vị nào có thể sánh tày?

Kim Lân đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất, nồng hậu nhất về sự đổi đời của ngườidân cày Việt Nam Mừng cho anh cu Tràng có vợ, bọn trẻ con tinh nghịch reo lên:

"Chông vợ hài" Việc Tràng có vợ, dân ngụ cư xóm chợ cảm thấy "có một cái gì lạlùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của họ" Bà cụ Tứ vui sướng vìcon trai đã có vợ, bà như trẻ lại, nhẹ nhõm, tươi tỉnh "rạng rỡ hẳn lên" Vợ Tràng trởthành người đàn bà "hiền hậu đúng mực" Tràng như từ một giấc mộng bước ra Anhngủ dậy cảm thấy "êm ái lửng lơ" Hạnh phúc đến quá bất ngờ Việc hắn có vợ saumột ngày một đêm mà hắn "vẫn ngỡ ngàng như không phải"

Sự đổi đời còn được thể hiện ở cảnh vật Mẹ và vợ Tràng đã dậy sớm, quét tước thudọn lại nhà cửa, sân ngõ Tiếng chổi quét sàn sạt Hai cái ang nước được kín nước đầy

ăm ắp Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã được hót sạch Mẹ chồng, nàng dâumới, con trai, ai cũng muốn góp phần sửa sang tổ ấm gia đình hạnh phúc Họ khôngnghĩ đến cái chết mà hướng về sự sống, về hạnh phúc và sự đổi đời Tràng cảm thấyhắn đã "nên người", hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này!

Một chi tiết rất hay là vợ Tràng sau khi nghe tiếng trống thúc thuế đã báo tin ở mạnThái Nguyên, Bắc Giang, người ta không nộp thuế, người ta phá kho thóc của Nhậtchia cho người đói Còn anh cu Tràng thấy trong óc mình "lá cờ đỏ bay phấp phới".Cách mạng sắp đến Nạn đói sẽ bị đẩy lùi Hình ảnh lá cờ đỏ cuối truyện không chỉ tô

Trang 5

đậm giá trị nhân đạo mà còn tạo nên âm hưởng lạc quan đầy chấn động, như một dựcảm về ngày mai ấm no, hạnh phúc.

Hạnh phúc của Tràng và niềm vui của mẹ già tuy muộn mằn nhưng đáng quý và đángtrân trọng biết bao! cổ kim đông tây đã có ai nhặt được vợ? Cái đói do bọn Nhật, Phápgây ra đã cướp đi tất cả tính mạng và phẩm giá con người Một sự thật được khẳngđịnh: niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc, khao khát sống mạnh hơn cái chết Cái vịđời ngọt ngào và tình người ấm áp đã tỏa sáng giá trị nhân đạo truyện "Vợ nhặt" mà tatrân trọng

Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt - Mẫu 2

Một sự thật được khẳng định: niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc khao khát sốngmạnh hơn cái chết Quả thực cái vị đời ngọt ngào và người ấm áp đã tỏa sáng giá trịnhân đạo truyện Vợ nhặt

Vợ nhặt là một truyện ngắn độc đáo, đặc sắc của Kim Lân Truyện kể về chuyện anh

cu Tràng nhà nghèo ở xóm ngụ cư đã nhặt được vợ khi trận đấu đang diễn ra kinhkhủng, người chết đói đầy đường

Truyện ngắn đã phản ánh nỗi đau khổ và niềm khao khát sống, khao khát hạnh phúccủa người nghèo, qua đó nói lên số phận con người trong xã hội cái đêm trước khicách mạng bùng nổ Giá trị lớn nhất của truyện Vợ nhặt là giá trị nhân đạo

Cho đến nay trong nền văn học hiện đại Việt Nam chưa có tác phẩm nào về trận đóinăm Ất Dậu - 1945 thật hay, thật xúc động như truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.Cảm hứng nhân đạo dào dạt từ đầu truyện đến cuối truyện

Truyện Vợ nhặt đã phản ánh nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta, người nghèo trongtrận đói năm Ất Dậu Đoàn người từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũlượt bồng bế dắt díu nhau lên “xanh xám như những bóng ma” nằm ngổn ngang khắpcác lều chợ Quạ đen đậu trên những ngọn cây bay vù lên “như những đám mây đen”

Trang 6

trên nền trời Mùi gây của người vẫn lên khắp xóm chợ Người chết đói như ngả rạ.Sáng nào cũng bốn cái thây nằm còng queo bên đường!

Đói và chết đó đâu chi riêng ai! Mẹ con Tràng, cái nhà “vắng teo đứng rúm ró” trênmảnh vườn đầy cỏ dại Cửa nhà là một tấm phên rách Niêu bát, xống áo vứt bừa bộn

cả trên giường, dưới đất cơ ngơi ấy đã làm cho nàng dâu mới thất vọng “nén mộttiếng thở dài” Bà cụ Tứ “mặt bủng beo u ám” Anh cu Tràng “bước mệt mỏi”, cái đầu

“trọng nhẵn chúi về đằng trước’’ với bao lo lắng, chật vật Đám trẻ con xóm chợ,trước đây tinh nghịch thế, giờ đây chúng "ngồi ủ rũ dưới những có đường không buồnnhúc nhích” Trước nhà kho trên tỉnh có mấy chị con gái “ngồi vêu ra” Đặc biệt nhânvật “thị”, cái đói đã đi tất cả Không họ tên, tuổi tác, không gia đình, anh em Khôngquê hương bản quán Hình hài tiều tụy, xơ xác đáng thương Áo quần “tả tơi như tổđỉa “gầy sọp hẳn đi”, khuôn mặt lưỡi cày “xám xịt”, chỉ còn thấy hai con mắt Conđường phía trước của thị là vực thẳm, là chết đói Cái đói đã cướp đi của thị tất cả Chỉnghe Tràng nói “muốn ăn gì thì ăn”, thấy anh ta vỗ vỗ vào túi khoe “rích bố cu”, haicon mắt “trũng hoáy” của thị tức thì “sáng lên".Tình tiết thị cắm đầu ăn một chặp bốnbát bánh đúc, trông có vẻ thô lỗ, nhưng không đáng chê, trái lại rất đáng thương Thịđang đói, Thị đã nhịn đói nhiều ngày, thị cần được ăn, thị cần được sống Kim Lân rấtnhân hậu khi nói về thị, khi nói về sự đói khát của người nghèo

Cái xóm ngư cụ càng về chiều “càng xơ xác, heo hút”, nhà cửa “úp súp,tối om”,

nhưng khuôn mặt “hốc hác u tối” Bữa cơm đón nàng dâu mới của bà cụ Tứ là một nồicháo cám Người con gái giữa trận đói như một thứ vứt đi, có thể “nhặt” được Thị lấychồng không một quả cau, không một lá trầu, chẳng có quan tám tiền cheo, quan nămtiền cưới, lại đèo buồng cau” Về nhà chồng, đứng trước mẹ chồng, nàng dâu mới

“khép nép”, “cúi mặt xuống tay vân vê tà áo đã rách bợt” Tối tân hôn “tiếng khóc tỉtê” của những gia đình có người mới chết đó vọng đến thê thiết não nùng Sáng tinh

mơ tiếng trống thúc thuế dội lên từng hồi “dồn dập, vội vã” Bằng những chi tiết rấthiện thực, rất điển hình, Kim Lân đã thể hiện tình cảm xót thương, lo âu cho số phậncủa người nghèo khổ trước hoạn nạn, trước nạn đói đang hoành hành Đáng quý hơnnữa, ông đã đứng về phía nhân dân, về phía người nghèo vạch trần và tố cáo tội ác của

Trang 7

Nhật - Pháp, bắt trồng đay, bắt đóng thuế, bóc lột dân ta đến tận xương tủy, gây ra trậnđói năm Ất Dậu làm hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.

Truyện Vợ nhặt đã biểu lộ một tấm lòng trân trọng đối với hạnh phúc của con người.Cách kể của Kim Lân rất hóm hỉnh về tình huống anh cu Tràng nhặt được vợ và

những tình tiết xoay quanh nàng dâu mới Chỉ một vài câu “tầm phơ tầm phào”, Tràngđãi thị bốn bát bánh đúc thế mà hắn nhặt được vợ! Nhặt được vợ nhưng hắn cùng phảiliều: “Chặc, kệ!” Hắn nghĩ thóc gạo này nuôi thân còn khó, lại còn “đèo bòng" Trênđường dẫn vợ mới nhặt được về nhà xin phép mẹ già, anh cu Tràng vui như mở cờtrong bụng Kim Lân tả đôi mắt và nụ cười của anh con trai cục mịch này để làm nổibật niềm hạnh phúc mới nhặt được vợ Tràng “phởn phơ khác thường" Hắn “tủm tỉmcười nụ” Hai mắt “sáng lên lấp lánh”, có lúc cái mặt hắn “cứ vênh lên tự đắc vớimình”

Hình ảnh Tràng và thị đi bên nhau trông “hay đáo để” Tràng khoe hai hào dầu, rồicười hì hì, bị thị “phát đánh đét” vào lưng với câu mắng yêu: “Khỉ gió", nghểnh cổthổi tắt phụt ngọn đèn con, bị thị mắng: “Chỉ được cái thế là nhanh Dơ!” Những tìnhtiết ấy rất hay nói lên tình yêu mạnh hơn cái chết

Cảnh mẹ chồng gặp nàng dâu mới thật vô cùng cảm động Vượt qua phong tục tậpquán ăn hỏi cưới xin, chẳng có dăm ba mâm, bà cụ Tứ thương người đàn bà xa lạ,thương con và thương mình, bà nhận nàng dâu mới: “ừ thôi thì các con đã phải duyênphải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng" Tình thương của bà mênh mông, bà nghĩ

“Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, mới lấy đến con mình, mà con mìnhmới có vợ được ” Bà dịu dàng yêu thương gọi nàng dâu mới là “con” Lòng đầythương xót, bà nói với hai con: năm nay thì đói to đấy Chúng mày lấy nhau lúc này uthương quá Qua đó ta càng hiểu sâu hơn cái lẽ đời Nhân dân lao động nghèo khổđứng trước tai họa, họ đã dựa vào nhau, san sẻ tình thương, san sẻ vật chất cho nhau

để vượt qua mọi thử thách, hướng tới ngày mai với niềm tin và hi vọng: “Ai giàu ba

họ, ai khó ba đời ” Người đọc cảm thấy ngọn đèn “vàng đục” chiếu sáng trong máilều đêm tân hôn của vợ chồng Tràng là ngọn đèn hy vọng và hạnh phúc ấm no

Trang 8

Bữa cháo cám đón nàng dâu mới là một chi tiết mang giá trị nhân đạo tiêu biểu nhấttrong truyện Vợ nhặt Bà cụ Tứ gọi là “chè khoán ngon đáo để” Bà tự hào nói vớihai con là “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy" Trong bữa cháo cám, bà nóitoàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau này Cái gia đinh mẹ con vô cùng “đầm

ấm hòa hợp” hạnh phúc Sau này, vợ chồng cái Tràng có thể có những bữa cơm nhiềuthịt cá ngon lành hơn, nhưng không bao giờ có thể quên được bữa cháo cám buổi sánghôm ấy Vị cháo “đắng chát” mà lại ngọt ngào chứa đựng bao tình thương của mẹ.Kim Lân sống gần gũi người nhà quê, ông hiểu sâu sắc tâm lí, tình cảm của họ Ông

đã làm cho những thế hệ mai hậu biết cái đắng chát trong cuộc đời của ông cảm nhậnđược cái hương đời, cái tình thương của lòng mẹ., mà không một cao lương mĩ vị nào

có thể sánh được?

Kim Lân đã dành những tình cảm tốt đẹp nhất, nồng hậu nhất về sự đời của người dâncày Việt Nam Mừng cho anh cu Tràng có vợ, bọn trẻ tinh nghịch reo lên: “chông vợhài” Việc Tràng có vợ, dân ngụ cư xóm cảm thấy “có một cái gì lạ lùng và tươi mátthổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối của họ” Bà cụ Tứ vui sướng vì con trai đã có vợ,

bà như trẻ lại, nhẹ nhõm tươi tỉnh “rạng rỡ hẳn lên” Vợ Tràng trở thành người đàn bà

“hiền hậu đúng mực” Tràng như từ một giấc mộng bước ra Anh ngủ dậy cảm thấylửng lơ" Hạnh phúc đến quá bất ngờ Việc hắn có vợ sau một ngày một đêm mà hắn

“vẫn ngỡ ngàng như không phải”

Sự đổi đời còn được thể hiện ở cảnh vật Mẹ và vợ Tràng đã dậy sớm, quét tước thudọn lại nhà cửa, sân ngõ Tiếng chổi quét sàn sạt Hai cái ang được kín nước đầy ăm

ắp Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã được sạch Mẹ chồng, nàng dâu mới, contrai, ai cũng muốn góp phần sửa sang tổ ấm gia đình hạnh phúc Họ không nghĩ đếncái chết mà hướng về sự sống về hạnh phúc và sự đổi đời Tràng cảm thấy hắn đã

“nên người”, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này!

Một chi tiết, rất hay là vợ Tràng sau khi nghe tiếng trống thúc thuế đã báo tin ở mạnThái Nguyên, Bắc Giang, người ta không nộp thuế, người ta phá kho thóc của Nhậtchia cho người đói Còn anh cu Tràng thấy trong óc mình “lá cờ đỏ bay phấp phới”

Trang 9

Cách mạng sắp đến Nạn đói sẽ bị đẩy lùi Hình ảnh lá cờ đỏ truyện Vợ nhặt khôngchỉ tô đậm giá trị nhân đạo mà còn tạo nên âm hưởng lạc quan đầy chấn động, nhưmột dự cảm về ngày mai ấm no, hạnh phúc.

Hạnh phúc của Tràng và niềm vui của mẹ già tuy muộn màng nhưng quý và đáng trântrọng biết bao! Cổ kim đông tây đã có ai nhặt được vợ? Cái đói do bọn Nhật Pháp gây

ra đã cướp đi tất cả, tính mạng và phẩm giá con người Một sự thật được khẳng định:niềm khao khát tình yêu và hạnh phúc khao khát sống mạnh hơn cái chết Quả thựccái vị đời ngọt ngào và người ấm áp đã tỏa sáng giá trị nhân đạo truyện Vợ nhặt

Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt - Mẫu 3

“Vợ nhặt” là một trong những truyện ngắn hay nhất của Kim Lân và của văn học ViệtNam sau năm 1975 Truyện được in trong tập “Con chó xấu xí” (1962) Truyện “Vợnhặt” có giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực sâu sắc Thông qua tình huống “nhặt vợ”tác giả đã cho ta thấy nhiều điều về cuộc sống tối tăm của những người lao động trongnạn đói năm 1945 cũng như khát vọng sống mãnh liệt và ý thức về nhân phẩm rất cao

ở họ

Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính, đượctạo nên bởi niềm cảm thông sâu sắc đối với nỗi đau của con người, sự nâng niu, trântrọng những nét đẹp trong tâm hồn con người và lòng tin vào khả năng trỗi dậy ở họ.Trước hết tác phẩm bộc lộ niềm xót xa đối với cuộc sống thê thảm của người dânnghèo trong nạn đói năm 1945 Qua đó tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp và phátxít Nhật đã gây ra nạn đói Bối cảnh chính của truyện “vợ nhặt” diễn ra ở một xómngụ cư, ở đó cái đói đang hành hạ mọi người, cái đói thấm đến tận cái nhìn vào cảnhvật Con đường từ trong xóm chợ vào trong bến thì “khẳng khiu”, cái thứ ánh sángđầu tiên hắt vào truyện là thứ ánh sáng nhập nhoạng mù mờ, không ra ánh sáng màcũng không ra tối hẳn của buổi chiều tà “chạng vạng” Trên con đường và thứ ánhsáng leo lét ấy hiện lên vật vờ ủ rũ những bóng người đói “xanh xám như những bóngma” Người sống nằm ngổn ngang khắp lều chợ, ngay cạnh là những “cái thây nằm

Trang 10

còng queo bên đường” Trên ngọn cây là hình ảnh bầy quạ “cứ gào lên từng hồi thêthiết”, văng vẳng bên tai là tiếng trống thúc thuế dồn dập, những đứa trẻ thì ngồi ở xóđường, không buồn nhúc nhích…một cuộc sống mấp mé bên bờ cái chết với cái

không khí “vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người”

Thứ hai, tác phẩm đi sâu khám phá và trân trọng nâng niu khát vọng hạnh phúc, khátvọng sống của con người, trước hết là Tràng Khi nhặt được vợ về Tràng không phảikhông biết “chọn”, “thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi khônglại còn đèo bòng” Nhưng rồi anh ta “tặc lưỡi”: “Chậc, Kệ!” Sau tiếng đó mọi sự đùacợt lập tức khép lại nhường chỗ cho sự nghiêm trang và anh ta đã được đền bù:

“Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề […], một cái gì đómới mẻ, lạ lẫm chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp mơn mankhắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng” Cuộc đời cùngkhốn đến mức việc mua có hai hào dầu cũng là cái gì đó hoang phí lắm “hai hào đất,đắt quá”, “vợ mới vợ miếc thì cũng phải cho nó sáng sủa một tí chứ, chẳng nhẽ chưatối đã súc ngay vào” Hôm nay là một ngày khác hẳn, một sự kiện của đời Tràng, ngàyTràng có vợ và nhà cần phải sáng

Tiếp đó là ý thức bám lấy sự sống rất mạnh mẽ ở nhân vật người vợ nhặt Thị chấpnhận bỏ qua ý thức về danh dự để theo không Tràng Như vậy hoàn cảnh bi đát mộtmặt đẩy con người vào chỗ quên cả danh dự để tồn tại, mặt khác nó lại làm bộc lộlòng ham sống mãnh liệt của những con người ở dưới đáy xã hội như thị Tất cả mọingười đều có ý thức vun đắp cho cuộc sống mới Ngẫm nghĩ về nhân vật bà cụ Tứ tacòn thấy hóa ra chính bà lão gần đất xa trời này lại là người nói đến hy vọng đến ngàymai nhiều hơn tất cả: từ việc đan cái phên ngăn riêng chỗ của vợ chồng đứa con chokín đáo, truyện “khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà”… “Mẹ chồng nàng dâu thu dọncửa nhà, sáng hôm sau Thị dậy từ sớm quét dọn nhà cửa cho ngăn nắp, gọn gàng”hình như ai nấy đều nghĩ rằng “thu xếp cửa nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời

họ có thể sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn” Qua tác phẩm ta còn thấy niềm hyvọng về một cuộc đổi đời của các nhân vật được thể hiện qua hình ảnh lá cờ đỏ bayphấp phới vấn vương trong tâm trí Tràng

Trang 11

Giá trị nhân đạo của truyện còn được thể hiện ở lòng tin sâu sắc vào sự đổi đời, vàolòng nhân hậu của con người Tràng tuy có vẻ bề ngoài xấu xí nhưng cái đẹp tiềm ẩnbên trong của Tràng đó là sự cảm thông, lòng thương người, sự hào phóng chu đáo,Tràng đãi thị bốn bát bánh đúc, mua một chai dầu và mua cho thị một cái thúng con,

đó là hành động rất bình thường nhưng nó thể hiện tình nghĩa và thái độ trách nhiệmcủa Tràng Còn về người “vợ nhặt” thì đã có sự biến đổi về tính cách, trước khi về làm

vợ Tràng, thi hiện lên với một vẻ chao chát, chỏng lỏn Trước câu hò của Tràng thịcong cớn nói “có khối cơm trắng mấy giò đấy”, lần thứ hai gặp Tràng thị sưng sỉa nói:

“Điêu! Người thế mà điêu”…Nhưng người đàn bà ấy sau khi về làm vợ Tràng đã thayđổi, vẻ chao chát chỏng lỏn ban đầu biến mất, thay vào đó là sự hiền hậu đúng mực,

sự ý tứ trong cách cư xử: Thị đi theo Tràng với dáng điệu đầu hơi cúi xuống, cái nónrách tang, nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt, khi về đến nhà thị chỉ dám ngồimớm ở mép giường Sáng hôm sau dậy từ sớm quét dọn nhà cửa… Còn về bà cụ Tứ,

bà thương con hết mực, cảm thông cho tình cảnh của nàng dâu mới “có gặp bước khókhăn đói khổ này người ta mới lấy đến con mình, mà con mình mới có được vợ”, bà

ân cần trong cách hành động với con dâu “con ngồi xuống đây, ngồi xuống đây cho đỡmỏi chân” Bà luôn trăn trở về nghĩa vụ làm mẹ của mình “chao ôi, người ta dựng vợ

gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi…còn mình thì”, trong kẽ mắt kèmnhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt Bà luôn cố tạo niềm vui cho gia đình giữacảnh sống thê thảm Người mẹ ấy sống vì con và tìm thấy ý nghĩa của đời mình trong

sự chăm lo vun vén cho con

Nổi bật nhất trong giá trị nhân đạo của tác phẩm đó là niềm tin tưởng sâu sắc vào conngười lao động, vào bản năng sống, khát vọng sống mạnh mẽ của họ Tình cảm nhânđạo của tác phẩm có nét mới mẻ hơn so với tình cảm nhân đạo được thể hiện trongnhiều tác phẩm văn học hiện thực trước cách mạng

Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt - Mẫu 4

Kim Lân là một cây bút truyện ngắn nổi tiếng trong nền văn xuôi Việt Nam Trongcác sáng tác của ông, người ta có thể tìm thấy giá trị hiện thực đậm nét, những lời tố

Trang 12

cáo đanh thép nhưng có lẽ giá trị lớn nhất, cao nhất là giá trị nhân đạo Từ bóng tốihoàn cảnh, Kim Lân muốn làm toả sáng chất thơ của hồn người Ánh sáng tình ngườitỏa ra hào quang đặc biệt của chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc và cảm động Giá trị nhânđạo xuyên suốt các tác phẩm của Kim Lân và có thể nhận thấy rõ nhất trong truyệnngắn “Vợ nhặt” Kim Lân khi nói về tác phẩm này đã cho biết: “Khi viết về nạn đóingười ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm Khi viết về con người năm đóingười ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết Tôi muốn viết mộttruyện ngắn với ý khác Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưngnhững con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng,tin tưởng ở tương lai Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người”.

Giá trị nhân đạo là một giá trị cơ bản của những tác phẩm văn học chân chính thể hiện

ở nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau Song nhìn chung, giá trị nhân đạo trongvăn chương bắt nguồn từ thái độ thương yêu trân trọng những phẩm chất tốt đẹp củacon người, sự đồng cảm với những đau khổ cũng như ngợi ca, đề cao những khát vọngcủa con người, bên cạnh đó cũng là tiếng nói lên án, tố cáo những thế lực áp bức, bóclột người lao động “Vợ nhặt” của Kim Lân là một truyện ngắn mang đậm giá trị nhânđạo, nhân văn sâu sắc bởi sự xót thương của Kim Lân dành cho những số phận bấthạnh, sự trân trọng vẻ đẹp tâm hồn cũng như niềm khát khao hạnh phúc, hướng tớitương lai của những con người dưới đáy xã hội

Đến với “Vợ nhặt”, có lẽ ấn tượng đầu tiên, ngay lập tức tác động đến độc giả là cảnhngộ, số phận bi thảm của con người trong nạn đói Kim Lân đã viết về cái đói bằng cảtrái tim yêu thương, xót xa dành cho những kiếp người nhỏ bé, đáng thương mà nổibật lên là các nhân vật bà cụ Tứ, anh cu Tràng và người vợ nhặt Cả ba nhân vật đều lànạn nhân của cơn bão táp đói khát khủng khiếp, họ bị quăng quật, vùi dập đến biếndạng nhân hình và nhân tính

Nhân vật Tràng là một người nông dân nghèo sống cùng mẹ già ở xóm ngụ cư – thời

đó xóm ngụ cư bị xem là xóm của những kẻ ăn nhờ ở đậu và rất bị coi thường Anh ởtrong một túp lều xiêu vẹo trên một mảnh vườn mọc toàn cỏ dại và mưu sinh bằng

Trang 13

việc đẩy xe bò thuê Tràng còn là một thanh niên xấu xí được miêu tả với hai con mắtnhỏ tí, lúc nào cũng gà gà đăm đắm như nhìn vào bóng chiều, thân hình to lớn, vậpvạp, thô kệch , cái lưng thì rộng như lưng gấu, cái đầu trọc nhẵn… Không những thế,Tràng còn có cái tật vừa đi vừa nói lảm nhảm, than thở điều anh ta nghĩ Điều này chochúng ta thấy Tràng còn là một người ngờ nghệch và ngốc nghếch, thậm chí có phần

dở hơi nữa Nhân vật Tràng, dưới ngòi bút của Kim Lân, giống như một sản phẩm lỗicủa tạo hóa… Đến đây Kim Lân hoàn toàn cho ta thấy anh cu Tràng là một trongnhững con người nghèo khổ và thuộc lớp người đáy cùng của xã hội thời bấy giờ

Bà cụ Tứ, mẹ Tràng là người phụ nữ cao tuổi, khuôn mặt bủng beo, u ám, mắt kèmnhèm, bước đi lọng khọng Lẽ ra ở cái tuổi gần đất xa trời ấy bà lão phải được hưởnghạnh phúc an nhàn bên con cháu Thế nhưng, nạn đói có trừ ai Bà vẫn phải còng lưngmang gánh mưu sinh, lo từng bữa rau bữa cháo Hơn thế nữa, bà cụ luôn bị dằn vặt vìgiữa năm đói khát, bà không làm tròn trách nhiệm của người mẹ, không lo được đầy

đủ cho con, để con phải lấy vợ theo cái cách đầy mỉa mai, chua chát – nhặt vợ Cả thểxác lẫn tâm hồn người mẹ nghèo đều vì cái đói mà trở nên mòn mỏi, đau xót

Đói, ai cũng khổ Giọt nước mắt xót thương của Kim Lân là giành cho tất cả nhữngcon người của năm đói Nhưng có lẽ, đến nhân vật người vợ nhặt chúng ta mới thấyhết sức tàn phá khủng khiếp của nạn đói đến nhân hình, nhân tính con người Ở nhânvật này, cái đói hiện hình “trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai conmắt”, “áo quần tả tơi như tổ đỉa”, “thị gầy sọp hẳn đi” Không những thế, cái đói cũnglàm thị quên hết sự ý nhị, duyên dáng của người phụ nữ Thị chao chát, chỏng lỏn và

vô duyên Thậm chí, chỉ dựa vào vài câu nói đùa và bốn bát bánh đúc của Tràng, thịsẵn sàng theo không về làm vợ người Nhưng, dưới ngòi bút Kim Lân, thị đáng

thương nhiều hơn đáng trách Nếu không bởi cái đói, cái chết dồn ép đến bước đườngcùng, làm sao Thị phải bán đi tự trọng, bán đi nhân phẩm mình một cách rẻ rúng, vô sỉnhư thế?

Bên cạnh tình cảm xót thương, đồng cảm cho số phận của những con người khốn cùngtrong nạn đói, giá trị nhân đạo trong truyện ngắn “Vợ nhặt” còn được thể hiện qua thái

Trang 14

độ trân trọng, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người, đó là lòng nhân ái, tìnhyêu thương giữa những người cùng khổ.

Đầu tiên là nhân vật Tràng Khi đẩy xe bò thuê, thấy người đàn bà đói thì Tràng cho

ăn, dù anh ta chẳng có dư giả gì Trong nạn đói miếng ăn là cả vấn đề sinh mạng nênhành động có vẻ ngẫu hứng đó của Tràng là một nghĩa cử cao đẹp Sau đó, chỉ bằngvài câu nói đùa, người đàn bà theo về làm vợ, Tràng cũng chấp nhận dù anh ta cũnghơi sợ Tâm tư, tình cảm của Tràng đặt trong tình cảnh này thật đáng quý, đáng trântrọng Tấm lòng cao quý của con người còn được thể hiện qua nhân vật bà cụ Tứ.Việc Tràng lấy vợ làm bà ngạc nhiên đến sững sờ, nhưng nghĩ lại bà hiểu ra biết bao

cơ sự Bà thương cho số kiếp nghèo, bèo bọt, thua thiệt của con trai vì nghèo không ailấy nên mới phải nhặt vợ Bà dằn vặt vì không tròn bổn phận làm cha, làm mẹ để conrơi vào hoàn cảnh chua xót Thương con bao nhiêu, bà cụ thương người bấy nhiêu Bànhìn người đàn bà xa lạ với ánh mắt ái ngại, cảm thông và ý nghĩ xuất phát từ tấmlòng bao dung, nhân hậu: “Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mớilấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được…” Thế nên bà cụ sẵn sàng cưu mang,chấp nhận nàng dâu mới Còn người vợ nhặt, dù bị nạn đói vùi dập đến mất hết cả tựtrọng thì khi trở thành người thân trong gia đình Tràng, ở thị lại toát ra vẻ đẹp củangười vợ hiền, dâu thảo Thị cũng ngại ngùng, e thẹn như bao thiếu nữ ngày đầu vềnhà chồng Về đến nhà Tràng, thị chỉ dám ngồi mớm ở mép giường, tay vân vê tà áo.Dưới bàn tay vun vén, đảm đang của thị, cuộc sống nghèo khổ, u ám của mẹ con

Tràng trở nên tươi sáng hơn Nhà cửa, sân vườn được quét tước, thu dọn sạch sẽ gọngàng Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên ở một góc nhà đãđem ra sân hong Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm

ắp Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã hót sạch Chính Tràng cũng nhận thấy thị

“rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn”như trước nữa Như vậy, qua nhân vật Tràng, cụ Tứ và người vợ nhặt, Kim Lân đã cangợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động Việt Nam Họ luôn sống nhân ái, giàu tìnhcảm, trong hoạn nạn đã nhường cơm sẻ áo, cưu mang đùm bọc nhau Và có lẽ, chínhnhờ tình thương ấy sẽ giúp cuộc sống của họ trở nên tươi sáng, tốt đẹp hơn!

Trang 15

Có ai đó đã từng nói rằng: “Đói nghèo, đau đớn hay bệnh tật có thể cướp đi sinh mệnhnhưng bạn sẽ thực sự chết khi không còn niềm tin và khát vọng sống” Với Kim Lân,

để nhân vật của mình có thể đi tới tương lai tốt đẹp, ông không chỉ trao cho họ tìnhyêu thương mà lớn lao hơn là khát vọng sống, khát vọng tình yêu mãnh liệt

Đối với nhân vật Tràng, khi anh ta dang tay cưu mang người đàn bà giữa cơn đóikhủng khiếp, ở đó không chỉ có tình người, tấm lòng sẵn sàng sẻ chia bất hạnh màtiềm ẩn cả một khát vọng mãnh liệt về tình yêu và hạnh phúc gia đình Với một anhchàng vừa xấu xí, thô kệch lại vừa nghèo đói và dở hơi thì việc lấy được vợ là khôngthể hi vọng Cưu mang người đàn bà cũng chính là tự tìm cho mình tình yêu và hạnhphúc tương lai với một mái ấm gia đình “cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy Cái nhà nhưcái tổ ấm che mưa che nắng.” Khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc biến Tràng từngười đàn ông ngờ nghệch, thô lỗ, cộc cằn trở thành người đàn ông có trách nhiệm,một người con có hiếu “Hắn thấy hắn yêu thương căn nhà của hắn đến lạ lùng”, “hắnthấy mình có trách nhiệm hơn với vợ con sau này” Không chỉ vậy, khát vọng hạnhphúc, tương lai đã thôi thúc Tràng nghĩ đến việc tự đứng dậy tìm đường sống chomình, vực dậy hoàn cảnh khốn cùng hiện tại Trong đầu óc anh ta bắt đầu nghĩ đếnđám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới Có lẽ, Tràng cũng sẽ đi cướp kho thóc Nhật,phá tan xiềng xích nô lệ Tràng tin tưởng rồi số phận, cuộc đời của hắn, của vợ hắn và

cả người mẹ của hắn nữa sẽ thay đổi

Không chỉ Tràng, người vợ nhặt của Kim Lân cũng mang khát vọng sống đáng trântrọng Giữa cái đói bủa vây, đe dọa tính mạng, thị đã không ngần ngại bỏ qua lòng tựtrọng của bản thân, xin vào vài câu nói đùa để theo không người đàn ông xa lạ về làm

vợ Kim Lân đã chứng minh, thị vốn không phải người chao chát, chỏng lỏn, vô liêm

sỉ như vậy Tất cả bắt nguồn từ khát vọng được sống mà thôi Cũng chính sự xuất hiệncủa thị đã đem đến ánh sáng cho cuộc sống u tối của những người dân nghèo xóm ngụ

cư, cho mẹ con Tràng Nguồn sinh khí ấy có được xuất phát từ một con người có ướcvọng cao cả vào sự sống, tương lai

Trang 16

Khi nói về ước vọng ở tương lai, niềm tin vào hạnh phúc…ta dễ nghĩ đến những

người trẻ tuổi Nhưng thật kì lạ, trong “Vợ nhặt”, chính người già nhất, “gần đất xatrời” nhất trong tác phẩm lại là người nói nhiều đến hi vọng và ngày mai hơn cả Đó lànhân vật bà cụ Tứ Bà muốn gieo vào lòng các con niềm lạc quan, tin tưởng và tươnglai Đầu tiên là hành động thúc giục Tràng thắp đèn Ánh sáng thắp lên làm lan tỏa ánhsáng tình người, niềm vui hạnh phúc giữa khung cảnh bi thảm, tang thương Nhưnghơn thế, bà cụ chính là đang động viên các con nhen nhóm trong lòng ánh sáng của tin

và hy vọng Đọc tác phẩm, có lẽ chúng ta sẽ không thể nào quên bữa cơm ngày đóicủa gia đình bà cụ Tứ Thế nhưng, nói về cái món “chè khoán” đắng chát và nghẹn ứ

cổ họng bà cụ vẫn “tươi cười, đon đả” Thực chất, bà sao không hiểu cái thảm đạmcủa bữa ăn này Nhưng trong cảnh đói nghèo, bà còn có thể làm gì hơn được Bà cụchỉ đang cố đè nén lại mọi uất ức, tủi hờn cho một kiếp sống để mà vui mà mừng,tránh cho các con nghĩ tới những điều đau khổ, tuyệt vọng Trong cảnh xã hội đangchết đói, có được một bữa ăn thì dù đó là cháo cám cũng là niềm hạnh phúc đáng quý

mà bà mẹ muốn giành cho các con Tiếng cười của bà cụ như bóp nghẹt trái tim độcgiả, xót xa và đáng thương biết bao Không chỉ vậy, bà còn vẽ ra trước mắt các conviễn cảnh tương lai tươi sáng, bắt đầu từ những việc bình dị nhất, thiết thực nhất với

gà, lợn, ruộng vườn…khiến các con tin tưởng nó không quá xa vời Xa hơn nữa, làmột ước mơ có phần đau đớn về ngày mai, “rồi may ông giời cho khá Biết thế nào hởcon? Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” Bà cụ Tứ dùng một triết lý dân gianđúc kết kinh nghiệm cha ông truyền lại để nhắc nhở với các con và khẳng định cáccon bà hoàn toàn có quyền tin tưởng vào ngày mai hạnh phúc, đủ đầy Bà cụ khôngchỉ ước ao, hi vọng cho bà Bà tìm thấy ý nghĩa cuộc đời mình trong sự vun vén chocon, ước mơ cho con cháu sau này Có thể người ta sẽ nói bà cụ viển vông, hão huyền.Bởi lẽ, trong cái thời người chết đói đầy đường, đến cháo cám mà “trong xóm cũngkhối nhà chả có cám mà mà ăn” thì những hi vọng của bà lão thật phi thực tế Nhưng,chúng ta không thể không thừa nhận, trong mọi trường hợp, niềm tin luôn tồn tại nhưmột sức mạnh vô hình khiến con người vượt qua tất cả Chính những niềm tin bà cụ

Tứ đã gieo vào lòng các con đã đem đến cho gia đình khốn khổ ấy một sự “thay đổimới mẻ và khác lạ”

Trang 17

Những mảnh đời nghèo khó đến với nhau, cùng chắp lại thành một cuộc đời ấm áp,nhen nhóm hy vọng Giá trị nhân đạo của “Vợ nhặt” không chỉ được biểu hiện trựctiếp qua tâm trạng nhân vật mà còn được gián tiếp bộc lộ qua bố cục câu chuyện Thờigian trong truyện vận động theo chiều hướng bắt đầu đi từ chiều tàn chạng vạng, đêmtối tới ánh sáng từ “tuyệt vọng” tới “hy vọng”, từ “một ngọn đèn” hiếm hoi được khêulên đến hình ảnh “lá cờ đỏ” phấp phới trong trí nhớ của Tràng Đó là những dấu hiệutích cực, là sự tin tưởng vào khả năng thay đổi cuộc sống, hoàn cảnh của nhà văn vànhân vật Một nhân cách, một khát vọng và một sự chuẩn bị cho tương lai yên ổn chắcchắn sẽ khiến mỗi người tự tin hơn Và, ta thấy đâu đó, ở cuối truyện, thông qua hìnhảnh lá cờ đỏ phấp phới và đoàn người đói đi trên đê, một tương lai tươi sáng đang đếnrất gần!

Như vậy, truyện ngắn “Vợ nhặt” đã chứng minh giá trị nhân đạo nhân đạo sâu sắc củangòi bút Kim Lân Giá trị nhân đạo không chỉ dừng lại ở sự đồng cảm thương yêu conngười, sự trân trọng phẩm chất tốt đẹp của con người mà nhà văn còn bộc lộ sự chốnglại chế độ xã hội phát xít thực dân đã bóp nghẹt cuộc sống của con người, đẩy nhữngngười dân nghèo chất phác, lương thiện tới bước đường cùng Đặc biệt hơn, giá trịnhân đạo của “Vợ nhặt” không dừng lại ở tư tưởng xáo rỗng mà thiết thực hơn, Kimlân đã chỉ ra cho những người nông dân giải pháp để vượt qua hoàn cảnh khốn cùng

Đó chính là đấu tranh chống lại chế độ xã hội, đòi quyền con người, tự mình đi tìmtương lai cho chính mình!

Giá trị nhân đạo của Vợ nhặt - Mẫu 5

Nhà văn Kim Lân (sinh năm 1920), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, người làng PhùLưu, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh Kim Lân viết không nhiều, nhưngđược coi là thuộc hàng những cây bút truyện ngắn tài năng của văn học Việt Nam hiệnđại Ông rất sành về cảnh quê, người quê và thế giới của hương đồng gió nội này cộngvới một tấm lòng thiết tha hiếm có đã tạo nên những trang viết sâu sắc, cảm động nhấtcủa ông

Trang 18

Con người có một đời văn hóa khá dài ấy (trên năm mươi năm) không hiểu kĩ tính thếnào mới trình làng vẻn vẹn có hai tập truyện ngắn: Nên vợ nên chồng (1955) và Conchó xấu xí (1962) Nhưng nghệ thuật không quen đo đếm ở số lượng Chỉ một truyệnnhư Vợ nhặt (rút từ tập Con chó xấu xí) - vốn được coi là truyện ngắn xuất sắc nhấtcủa Kim Lân - cũng có thể là niềm mơ ước của nhiều người cầm bút Thiên truyện cómột quá trình sáng tác khá dài Nó vốn được rút ra từ tiểu thuyết Xóm ngụ cư (cuốntiểu thuyết viết dang dở ở thời kì trước Cách mạng) Hoà bình lập lại, do đơn đặt hàngcủa báo Văn nghệ, Kim Lân mới viết lại Riêng điều đó thôi đã thấy Vợ nhặt mangdấu ấn của cả một quá trình nghiền ngẫm lâu dài về nội dung và chiêm nghiệm kĩlưỡng về nghệ thuật.

Trong truyện ngắn Vợ nhặt, Kim lân muốn bộc lộ một quan điểm nhân đạo sâu sắccủa mình Ấy là khi nhà văn phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của người lao động trong sựtúng đói quay quắt, trong bất kì hoàn cảnh khốn khổ nào, con người vẫn vượt lên cáichết, hướng về cuộc sống gia đình, vẫn yêu thương nhau và hi vọng vào ngày mai.Không phải ngẫu nhiên Vợ nhặt trước hết là thiên truyện về cái đói Chỉ mấy chữ

"Cái đói đã tràn đến " đủ gợi lên hoài niệm kinh hoàng cho người xứ Việt về mộthiểm hoạ lớn của dân tộc đã quét đi xấp xỉ gần một phần mười dân số trên đất nướcnày Đúng như chữ nghĩa Kim Lân, hiểm hoạ ấy "tràn đến", tức là mạnh như thác dữ

Cách tả của nhà văn càng gây một ám ảnh thê lương qua hai loại hình ảnh: con ngườinăm đói và không gian năm đói Ông đặc tả chân dung người năm đói "khuôn mặt hốchác u tối", nhưng đáng sợ nhất là có tới hai lần ông so sánh người với ma: "Những giađình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lênxanh xám như những bóng ma", và "bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ nhưnhững bóng ma" Kiểu so sánh ấy thể hiện một cảm quan đặc biệt của Kim Lân về cáithời ghê rợn: đó là cái thời mà ranh giới giữa người và ma, cái sống và cái chết chỉmong manh như sợi tóc, cõi âm nhoà vào cõi dương, trần gian mấp mé miệng vực của

âm phủ

Ngày đăng: 04/07/2021, 16:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w