1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tiểu luận vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên cnxh

20 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên CNXH
Tác giả Nhóm 4
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Mai Lan
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 271,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Việt Nam, vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là vấn đề hết sức quan trọng trong xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước, với quan điểm: Bìn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

***

TIỂU LUẬN Môn: Chủ nghĩa xã hội khoa học CHỦ ĐỀ: VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CNXH

Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Mai Lan Sinh viên thực hiện: Nhóm 4

Lớp: LLNL1107(122)_29

Hà Nội – 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 3

NỘI DUNG 1

I CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN VỀ DÂN TỘC 1

1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc 1

2 Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc 3

3 Cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác - Lênin 5

II DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM 7

1 Đặc điểm dân tộc của Việt Nam 7

2 Quan điểm dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam 10

3 Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam 11

III VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG SỰ KIỆN BREXIT CỦA ANH 12

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là vấn đề hết sức nhạy cảm của tất cả các dân tộc và của các quốc gia trong thời đại ngày nay Ở Việt Nam, vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là vấn đề hết sức quan trọng trong xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước, với quan điểm: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, nhằm phát huy khối đại đoàn kếttoàn dân tộc.Vấn đề dân tộc ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu đề cập, ở nhiều nội dung khác nhau trong thời gian qua Các công trình nghiên được đề cập trên đã chỉ rõ vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc

ở Việt Nam với những nội dung sau: Một là; các công trình nghiên cứu đã phân tích

và trên cơ sở vận dụng đúng đắn quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lêninvào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam một cách sáng tạo Hai là; học thuyết Mác - Lênin là học thuyết cách mạng, sáng tạo, học thuyết mở Ba là; những giá trị lý luận, thực tiễn của chủ nghĩa V.I.Lênin về vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc đối với cách mạng nước ta hiện nay là hết sức quan trọng Trong thời kỳ đẩy mạnh sự công nghiệp hóa, hiện đại hóavà hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc giải quyết vấn đề dân tộc của V.I.Lênin vẫn còn nguyên giá trị Đây là vấn đề luôn có tính thời sự và cấp bách trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia dân tộc, góp phần đấu tranh chống lại mọi luận điệu sai trái, phản động, phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học, nhân văn của chủ nghĩa V.L.Lênin trong giai đoạn hiện nay

Trang 4

NỘI DUNG

I CHỦ NGHĨA MÁC – LÊ NIN VỀ DÂN TỘC

1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm:

thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên

nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc

Dân tộc được hiểu theo hai nghĩa cơ bản:

Thứ nhất: Dân tộc (Nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã

hội

có những đặc trưng cơ bản sau đây:

- Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế Đây là đặc trưng quan trọng nhất của

dân tộc và là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của dân tộc

- Có lãnh thổ chung ổn định không bị chia cắt, là địa bàn sinh tồn và phát triển của cộng đồng dân tộc Khái niệm lãnh thổ bao gồm cả vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo thuộc chủ quyền của quốc gia dân tộc và thường được thể chế hoá thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ quốc gia dân tộc

- Có sự quản lý của một nhà nước, nhà nước - dân tộc độc lập

- Có ngôn ngữ chung của quốc gia làm công cụ giao tiếp trong xã hội và trong cộng đồng (bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết)

- Có nét tâm lý biểu hiện qua nền văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc Đối với các quốc gia có nhiều tộc người thì tính thống nhất

Trang 5

trong đa dạng văn hóa là đặc trưng của nền văn hoá dân tộc Cụ thể hơn, khi ta đi qua một địa điểm bất kì, thấy một đoàn người mặc triều phục nhà Thanh thì ta có thể nhận diện đó là trang phục liên quan đến văn hóa Trung Quốc

Thứ hai: Dân tộc – tộc người (Ethnies)

Ví dụ dân tộc Tày, Thái, Ê Đê ở Việt Nam hiện nay

Theo nghĩa này, dân tộc là cộng đồng người được hình thành lâu dài trong lịch

sử và có ba đặc trưng cơ bản sau:

- Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng

ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn

Tất cả các thành viên gắn bó với nhau trong một tộc người nói cùng một thứ tiếng, gọi là tiếng mẹ đẻ, trên thế giới có khoảng bốn nghìn đến năm nghìn ngôn ngữ nhưng không có nghĩa là có bao nhiêu ngôn ngữ thì có bấy nhiêu tộc người Vì

có ngôn ngữ được nhiều tộc người sử dụng, ví dụ như Tiếng Anh, không chỉ mỗi người Anh sử dụng mà được rất nhiều nước khác sử dụng

- Cộng đồng về văn hóa Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở mỗi tộc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo

của tộc người đó Có thể hiểu cụ thể, vật thể là những trang phục, kết cấu nhà ở, phi vật thể là lễ hội, đời sống tâm linh,…Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ

- Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Đặc trưng nổi bật là các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình Có thể hiểu đơn giản là ta luôn biết ta thuộc về tộc người này mà không phải thuộc về tộc người kia, như tên gọi trong lý lịch dân tộc Kinh, dân tộc Tày,

Trang 6

Tầm quan trọng của ý thức tự giác tộc người là khi nó mất đi và người dân tự chuyển sang lấy tên tự gọi của dân tộc khác thì dân tộc đó không còn tồn tại với tư cách là dân tộc nữa mặc dù còn bảo lưu văn hóa và ngôn ngữ dân tộc Tuy nhiên thông thường một dân tộc với ngôn ngữ và văn hóa còn bảo lưu thì ý thức tộc người vẫn còn sức sống rất mạnh mẽ

Ba tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình phát triển Đồng thời căn cứ vào ba tiêu chí này để xem xét và phân định các tộc người ở Việt Nam hiện nay

Như vậy, khái niệm dân tộc cần phải được hiểu theo hai nghĩa khác nhau Thực chất, hai vấn đề này tuy khác nhau nhưng lại gắn bó rất mật thiết với nhau và không thể tách rời nhau

2 Hai xu hướng khách quan của sự phát triển quan hệ dân tộc

Nghiên cứu vấn đề dân tộc, V.I.Lênin phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển quan hệ dân tộc

Xu hướng thứ nhất, cộng đồng dân cư muốn tách ra để hình thành cộng đồng

dân tộc độc lập Nguyên nhân là do sự thức tỉnh, sự trưởng thành về ý thức dân tộc,

ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra để hình thành các dân tộc độc lập Biểu hiện rõ ràng qua phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc muốn thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước thực dân, đế quốc

Cuối thế kỉ 19, hầu hết các quốc gia ở Châu Phi bị chủ nghĩa thực dân phương Tây xâm lược và đô hộ, trong đó Anh và Pháp là hai nước có thuộc địa lớn nhất ở Châu Phi Pháp chiếm hầu hết khu vực Bắc Phi, Tây Phi và Châu Phi xích đạo, còn Anh thì xâm lược và cai trị hầu hết các quốc gia ở Đông và Nam Phi Phần còn lại của Châu Phi bị Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Bỉ, Italia xâm chiếm và đô hộ Thực dân phương tây đã tiến hành cai trị bóc lột kinh tế, đàn áp phong trào đấu tranh nhân dân Châu Phi Sau chiến tranh thế giới thứ hai cùng với sự phát triển của

Trang 7

phong trào độc lập dân tộc trên thế giới, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Châu Phi phát triển mạnh mẽ, Châu phi được mệnh danh là lục địa mới trỗi dậy Năm 1951, Libya là nước đầu tiên giành được độc lập của Châu Phi và sau sự kiện 1954 với chiến thắng chấn động địa cầu, khiến chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của Pháp và cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Châu Phi

Vì vậy năm 1960 được gọi là “Năm châu phi” vì đây là năm có 17 nước ở Châu Phi đấu tranh giành được độc lập, thắng lợi này đã lật đổ sự thống trị của chủ nghĩa thực dân dẫn tới sự ra đời của hàng loạt quốc gia dân tộc độc lập, góp phần lật đổ sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân phương tây với hệ thống thuộc địa của nó ở châu phi

Bên cạnh đó, năm 1975, thắng lợi cách mạng Angola và Mozambique đã chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ ở Châu Phi và hệ thống thuộc địa Bồ Đào Nha tan rã

Đó chính là hai ví dụ về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc muốn thoát khỏi sự áp bức, bóc lột của các nước thực dân, đế quốc

Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở

nhiều

quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn chủ nghĩa

tư bản đã phát triển thành chủ nghĩa đế quốc đi bóc lột thuộc địa; do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hoá trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau

Trong thời đại ngày nay, hai xu hướng này diễn ra với những biểu hiện rất đa dạng và phong phú

Trang 8

Xu hướng xích lại gần nhau thể hiện ở sự liên minh của các dân tộc trên cơ sở lợi ích chung về kinh tế, về chính trị, văn hoá, quân sự để hình thành các hình thức liên minh đa dạng, như liên minh khu vực như ASEAN, EU…

Xu hướng xích lại gần nhau không chỉ do sự phát triển của lực lượng sản xuất, của văn hóa mà thế giới còn đang đối diện với các vấn đề được coi là toàn cầu như: dịch bệnh, biến đổi môi trg, dân số Không một quốc gia nào có thể giải quyết được mà cần liên minh khu vực, xích lại gần nhau

Tuy nhiên, hai xu hướng này vận động trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc gặp nhiều trở ngại:

Nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của CNĐQ xóa bỏ Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị CNĐQ phủ nhận Thay vào đó là bóc lột và áp bức trên cơ

sở cưỡng bức, bất bình đẳng

Theo quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lênin: chỉ trong CNXH khi chế độ người bóc lột bị xóa bỏ thì tình trạng dân tộc bị áp bức, bóc lột mới bị xóa bỏ Khi đó hai

xu hướng mới có điều kiện phát triển Ngày nay 2 xu hướng này diễn ra với những biểu hiện đa dạng, phong phú Xu hướng tách ra và liên hiệp vẫn tồn tại đan xen với nhau

Năm 2014, mối quan hệ nước Nga và Mỹ và các nước phương Tây có nhiều căng thẳng, sau sự kiện bán đảo Krym tách ra khỏi Ukraine và sát nhập vào Liên Bang Nga sau cuộc biểu quyết trưng cầu dân ý tại bán đảo

Năm 2016, sau sự kiện Brexit, nước Anh rời khỏi khối liên minh EU Có thể thấy rõ, xu hướng tách ra hợp nhất hiện nay vẫn biểu hiện đa dạng và phức tạp

3 Cương lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác - Lênin

V.I.Lênin đã khái quát Cương lĩnh dân tộc như sau: “Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại”

Trang 9

Một là: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ,

ở trình độ phát triển cao hay thấp Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tiễn Trong phạm vi quan hệ quốc tế, để thực hiện quyền bình đẳng cần đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc

Cố tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, người da đen đầu tiên lên làm tổng thống, bằng sức mạnh lòng vị tha và tinh thần hòa giải, ông đã hàn gắn hố sâu mâu thuẫn sắc tộc, mở ra một kỷ nguyên mới cho Nam Phi sau hàng chục năm xung đột Ông là tổng thống da đen mà sau ba thế kỉ cầm quyền người da trắng ở khu vực Nam Phi, ông đã có 67 năm đấu tranh không mệt mỏi vì sự nghiệp hòa bình, công bằng, hòa giải dân tộc Trong hành trình của cả cuộc đời, ông để lại câu nói nổi tiếng: “Tôi đã chiến đấu chống lại sự thống trị của người da trắng, và tôi cũng chiến đấu chống lại sự thống trị của người da đen Tôi trân trọng lý tưởng về một xã hội dân chủ và tự do, trong đó mọi người sống với nhau hòa thuận và bình đẳng Đó là

lý tưởng mà tôi luôn hy vọng để sống vì nó và đạt được nó Nhưng nếu cần, tôi cũng sẵn sàng chết vì lý tưởng đó” Vì những cống hiến hết mình, năm 1993, ông được trao giải Nobel hòa bình Bên cạnh đó, tháng 11 năm 2009, Liên Hợp Quốc lấy ngày sinh nhật ông 18.7 làm ngày quốc tế Nelson Mandela nhằm tạo tình đoàn kết thế giới

Hai là: Các dân tộc được quyền tự quyết

Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình

Trang 10

Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng Việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể và phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân

Ba là: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Đảm bảo cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi, giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử

Trong cuộc đấu tranh Cách mạng của Việt Nam, chúng ta nhận được sự ủng

hộ, giúp đỡ rất nhiều từ bạn bè quốc tế, của những lực lượng tiến bộ trên thế giới Không chỉ nhận được chi viện về sức của mà còn nhận được sự chi viện về sức người Tình đoàn kết ấy còn được thể hiện rõ qua câu nói bất hủ của Chủ tịch Fidel Castro trong chuyến thăm lịch sử tại Cao điểm 241 Tân Lâm: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”

Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa

đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung này vừa là nội dung chủ yếu vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc thành một chỉnh thể

II DÂN TỘC VÀ QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

1 Đặc điểm dân tộc của Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa tộc người có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Thứ nhất: Có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người

Cập nhật số liệu đến năm 2021, Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó, dân tộc người Kinh có 85.167.959 người [1], chiếm 85.9% dân số cả nước; 53 dân tộc thiểu

Trang 11

số có 13.979.840 người, chiếm 14.1% dân số Tỷ lệ số dân giữa các dân tộc cũng không đồng đều, có dân tộc với số dân lớn hơn 1 triệu người (Tày, Thái, Mường, Khơ me, Mông ), nhưng có dân tộc với số dân chỉ vài ba trăm (Si la, Pu péo, Rơ măm, Brâu, Ơ đu) Thực tế cho thấy nếu một dân tộc mà số dân chỉ có hàng trăm sẽ gặp rất nhiều khó khăn cho việc tổ chức cuộc sống, bảo tồn tiếng nói và văn hoá dân tộc, duy trì và phát triển giống nòi Do vậy, việc phát triển số dân hợp lý cho các dân tộc thiểu số, đặc biệt đối với những dân tộc thiểu số rất ít người đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam có những chính sách quan tâm đặc biệt

Thứ hai: Các dân tộc cư trú xen kẽ nhau

Không có một dân tộc nào có vùng lãnh thổ riêng, không có một huyện tỉnh xã nào mà chỉ có một dân tộc sinh sống Cư trú xen kẽ hình thành nên ở Việt Nam, có nhiều vùng dân tộc, mỗi vùng có nhiều dân tộc sinh sống trong đó có một đến haidân tộc có nền phát triển kinh tế cao hơn, đóng vai trò các dân tộc có ảnh hưởng tương đối toàn diện ở các vùng

Các vùng dân tộc lớn ở Việt Nam như: vùng Tây Bắc (24 dân tộc thiểu số, người Thái và Mường đóng vai trò trung tâm điểm), vùng Đông Bắc (17 dân tộc: người Tày và Nùng giữ vai trò trung tâm điểm), ngoài ra còn vùng miền núi, Thanh Nghệ, Trường Sơn, Tây Nguyên, vùng Duyên hải,… là nơi xen cư của dân tộc Chăm hoa

Đặc điểm này một mặt tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau về kinh tế - chính trị - văn hóa, thúc đẩy quá trình xích lại gần nhau, cùng phát triển, hình thành các điểm du lịch, như Sapa (bản người Dao, bản người Mông)

Tuy nhiên, do có nhiều tộc người sống xen kẽ nên trong quá trình sinh sống cũng dễ nảy sinh mâu thuẫn, xung đột, tạo kẽ hở để các thế lực thù địch lợi dụng

Ngày đăng: 12/12/2022, 21:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w