1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN vấn đề dân tộc TRONG THỜI kỳ QUÁ độ lên CHỦ NGHĨA xã hội LIÊN hệ với vấn đề dân tộc ở VIỆT NAM HIỆN NAY

34 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội liên hệ với vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay
Người hướng dẫn Nguyễn Thị Như Hoa
Trường học Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội, Vấn đề dân tộc
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 112,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do chọn đề tài (4)
  • 2. Nhiệm vụ của đề tài (5)
  • Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỐC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (0)
    • 1.1. Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (7)
      • 1.1.1. Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc (7)
      • 1.1.2. Chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề dân tộc (11)
    • 1.2. Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc (14)
  • Chương 2: VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (0)
    • 2.1. Vấn đề dân tộc ở Việt Nam (17)
      • 2.1.1. Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam (17)
      • 2.1.2. Quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc (19)
    • 2.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc Việt Nam (23)
      • 2.2.1. Những thành tựu về việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay (23)
      • 2.2.2. Một số hạn chế cần khắc phục (25)
      • 2.2.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc Việt Nam (28)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (33)

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới đất nước như hiện nay, để ổn định tình hình kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội trong nước đồng thời thúc đẩ

Nhiệm vụ của đề tài

Từ các lý do, đã đề cập ở trên, chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu đề tài

“Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Liên hệ với vấn đề dân tộc ở việt nam hiện nay” với các mục tiêu cụ thể sau:

Một là, tìm hiểu về khái niệm và các đặc trưng cơ bản của vấn đề dân tộc, chỉ rõ sự thống nhất biện chứng của các mối quan hệ cộng đồng từ đó hiểu sâu hơn về sự hình thành các dân tộc, cộng đồng dân tộc xuyên suốt lịch sử và các yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình trên.

Hai là, phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề dân tộc Chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam, có vai trò đặc biệt quan trọng việc xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề dân tộc.

Ba là, khái quát tình hình về việc ban hành và triển khai các chính sách dân tộc ở Việt Nam và làm rõ các đặc điểm cơ bản của chúng Chính sách về vấn đề dân tộc sẽ góp phần quyết định khá lớn trong các lĩnh vực đời sống - kinh tế - xã hội, vậy nên để có được một chính sách mang tính cách mạng, thực tiễn, tiến bộ, nhân đạo và cân bằng lợi ích một cách hài hòa là điều phải cố gắng thực hiện.

Bốn là, đánh giá thực trạng và tính thực tiễn của các chính sách dân tộc ở Việt

Nam hiện nay trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc từ cơ bản đến phức tạp nhằm có một cái nhìn chuyên sâu, kĩ lưỡng về các chính sách đấy từ đó làm nền móng cho các giải pháp về vấn đề dân tộc của một quốc gia.

Năm là, đề xuất các giải pháp để tháo gỡ hạn chế và cải thiện các quyết sách nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, duy trì sự ổn định chính trị - xã hội, gia tăng nguồn lực phát triển các lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa, quốc phòng an ninh… làm nền tảng cho sự phát triển bền vững của đất nước.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỐC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Vấn đề dân tộc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

1.1.1 Khái niệm, đặc trưng cơ bản của dân tộc

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lênin, dân tộc là quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người, trải qua các hình thức cộng đồng từ thấp đến cao, bao gồm: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc Sự biến đổi của phương thức sản xuất chính là nguyên nhân quyết định sự biến đổi của cộng đồng dân tộc. Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập thay thế phương thức sản xuất phong kiến Ở phương Đông, dân tộc được hình thành trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm lý dân tộc đã phát triển tương đối chín muỗi và một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định song nhìn chung còn kém phát triển và ở trạng thái phân tán.

Cho đến nay, dân tộc được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa rộng, dân tộc (nation) là khái niệm dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ riêng, nền kinh tế thống nhất, có ngôn ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhân bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống điểu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước Với nghĩa này, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một quốc gia, nghĩa là toàn bộ nhân dân của một nước Ví dụ, dân tộc Ấn Độ, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Việt Nam v.v

Theo nghĩa rộng, dân tộc có một số đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, có chung một vùng lãnh thổ ổn định.

Lãnh thổ là dấu hiệu xác định không gian sinh tồn, vị trí địa lý của một dân tộc,biểu thị vùng đất, vùng trời, vùng biển mà mỗi dân tộc được quyền sở hữu Lãnh thổ là yếu tố thể hiện chủ quyền của một dân tộc trong tương quan với các quốc gia dân tộc khác Trên không gian đó, các cộng đồng tộc người có mối quan hệ gắn bó với nhau, cư trú đan xen với nhau Vận mệnh của cộng đồng tộc người gắn bó với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ quốc gia. Đối với quốc gia và từng thành viên dân tộc, yếu tố lãnh thổ là thiêng liêng nhất Không có lãnh thổ thì không có khái niệm Tổ quốc, quốc gia Bảo vệ chủ quyền quốc gia là nghĩa vụ và trách nhiệm cao nhất của mỗi thành viên dân tộc Chủ quyền quốc gia dân tộc về lãnh thổ là một khái niệm xác định thường được thể chế hóa thành luật pháp quốc gia và luật pháp quốc tế.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay quá trình di cư khiến không ít cư dân của một quốc gia lại cư trú ở nhiều quốc gia châu lục khác Vậy nên, khái niệm dân tộc, lãnh thổ, hay đường biên giới không chỉ bó hẹp trong biên giới hữu hình, mà đã được mở rộng thành đường biên giới “mềm”, ở đó đầu ấn văn hóa lại chính là yếu tố mạnh nhất để phân định ranh giới giữa các quốc gia dân tộc.

Thứ hai, có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc, là cơ sở để gắn kết các bộ phận, các thành viên trong dân tộc, tạo nên tính thống nhất, ổn định, bền vững của dân tộc Mối quan hệ kinh tế là nền tảng cho sự vững chắc của cộng đồng dân tộc Nếu thiếu tính cộng đồng chặt chẽ, bền vững về kinh tế thì cộng đồng người chưa thể trở thành dân tộc.

Thứ ba, có chung một ngôn ngữ làm công cụ giao tiếp.

Mỗi một dân tộc có ngôn ngữ riêng, bao gồm cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết, làm công cụ giao tiếp giữa các thành viên trên mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và tình cảm Trong một quốc gia có nhiều cộng đồng tộc người, với các ngôn ngữ khác nhau, nhưng bao giờ cũng sẽ có một ngôn ngữ chung, thống nhất, Tính thống nhất trong ngôn ngữ dân tộc được thể hiện trước hết ở sự thống nhất về cấu trúc ngữ pháp và kho từ vựng cơ bản Ngôn ngữ dân tộc là một ngôn ngữ đã phát triển và sự thống nhất về ngôn ngữ là một trong những đặc trưng chủ yếu của dân tộc.

Thứ tư, có chung một nền văn hóa và tâm lý.

Văn hóa dân tộc được biểu hiện thông qua tâm lý tính cách, phong tục, tập quán,lối sống dân tộc, tạo nên bản sắc riêng của từng dân tộc Văn hóa dân tộc gắn bó chặt chẽ với văn hóa của các cộng đồng tộc người trong một quốc gia Văn hóa là một yếu tố đặc biệt quan trọng của sự liên kết cộng đồng Mỗi dân tộc có một nền văn hóa độc đáo của dân tộc mình Trong sinh hoạt cộng đồng, các thành viên của dân tộc thuộc những thành phần xã hội khác nhau tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hóa chung của dân tộc, đồng thời hấp thụ các giá trị văn hóa chung đó.

Cá nhân hoặc nhóm người nào từ chối những giá trị văn hóa dân tộc thì họ đã tự mình tách khỏi cộng đồng dân tộc Văn hóa của một dân tộc không thể phát triển nếu không giao lưu với văn hóa của các dân tộc khác Tuy nhiên trong giao lưu văn hóa, các dân tộc luôn có ý thức bảo tồn và phát triển bản sắc của mình, tránh nguy cơ đồng hóa về văn hóa.

Thứ năm, có chung một nhà nước (nhà nước dân tộc).

Các thành viên cũng như các cộng đồng tộc người trong một dân tộc đều chịu sự quản lý, điều khiển của một nhà nước độc lập Đây là yếu tố phân biệt dân tộc - quốc gia và dân tộc - tộc người Dân tộc - tộc người trong một quốc gia không có nhà nước với thể chế chính trị riêng Hình thức tổ chức, tính chất của nhà nước do chế độ chính trị của dân tộc quyết định Nhà nước là đặc trưng cho thể chế chính trị của dân tộc, là đại diện cho dân tộc trong quan hệ với các quốc 1a dân tộc khác trên thể giới.

Các đặc trưng cơ bản nói trên gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định Các đặc trưng ấy có quan hệ nhân quả, tác động qua lại, kết hợp với nhau một cách chặt chẽ và độc đáo trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, tạo nên tính ổn định, bền vững của cộng đồng dân tộc.

Theo nghĩa hẹp, dân tộc (ethnie) là khái niệm dùng để chỉ một công động tộc người được hình thành trong lịch sử, có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung ý thức tự giác tộc người, ngôn ngữ và văn hóa Công đồng này xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc, kế thừa và phát triển cao hơn những nhân tố tộc người của các cộng đồng đó Với nghĩa này, dân tộc là một bộ phận hay thành phần của quốc gia Chẳng hạn, Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc tức 54 cộng đồng tộc người Sự khác nhau giữa các cộng đồng tộc người ấy biểu hiện chủ yếu ở đặc trưng văn hóa, lối sống, tâm lý, ý thức tộc người.

Dân tộc — tộc người có một số đặc trưng cơ bản sau:

- Cộng đồng về ngôn ngữ (bao gồm ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết; hoặc chỉ riêng ngôn ngữ nói) Đây là tiêu chí cơ bản để phân biệt các tộc người khác nhau và là vấn đề luôn được các dân tộc coi trọng giữ gìn Tuy nhiên, trong quá trình phát triển tộc người vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có những tộc người không còn ngôn ngữ mẹ đẻ mà sử dụng ngôn ngữ khác làm công cụ giao tiếp.

- Cộng đồng về văn hóa Văn hóa bao gồm văn hóa vật thể và phi vật thể ở mỗi tộc người phản ánh truyền thống, lối sống, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của tộc người đó Lịch sử phát triển của các tộc người gắn liền với truyền thống văn hóa của họ Ngày nay, cùng với xu thế giao lưu văn hóa vẫn song song tồn tại xu thế bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi tộc người.

- Ý thức tự giác tộc người Đây là tiêu chí quan trọng nhất để phân định một tộc người và có vị trí quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người Đặc trưng nổi bật là các tộc người luôn tự ý thức về nguồn gốc, tộc danh của dân tộc mình: đó còn là ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của mỗi tộc người dù cho có những tác động làm thay đổi địa bàn cư trú, lãnh thổ, hay tác động ảnh hưởng của giao lưu kinh tế, văn hóa Sự hình thành và phát triển của ý thức tự giác tộc người liên quan trực tiếp đến các yếu tố của ý thức, tình cảm, tâm lý tộc người.

Ba tiêu chí này tạo nên sự ổn định trong mỗi tộc người trong quá trình phát triển Đồng thời căn cứ vào ba tiêu chí này để xem xét và phân định các tộc người ở Việt Nam hiện nay.

Những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc

Hiện nay, những cuộc chạy đua vũ trang, tranh chấp tài nguyên thiên nhiên, mâu thuẫn về dân tộc, tôn giáo và can thiệp quân sự đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới Cụ thể, chỉ tính trong riêng năm 2021 đã có những sự kiện nổi bật như việc xâm chiếm tòa nhà Quốc Hội mở Mỹ, cuộc nội chiến ở Myanmar, cuộc xung đột vũ trang giữa Israel và Palestine và gần đây nhất là việc tiến lên chiếm quyền kiểm soát của lực lượng Taliban Những sự kiện trên diễn ra một phần là do vấn đề dân tộc ở các quốc gia được nhắc đến Ta dễ dàng nhận thấy, vấn đề quan hệ dân tộc có khả năng gây ra những hậu quả nặng nề về kinh tế, xã hội cho nhiều quốc gia, đe doạ hoà bình, an ninh khu vực và thế giới.

Việc xây dựng những biện pháp giải quyết vấn đề dân tộc ở trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng là vấn đề cấp bách và mang tính quan trọng cao cho sự phát triển vương lên mạnh mẽ của đất nước trong sự nghiệp quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội Tầm vóc chiến lược to lớn đòi hỏi ở chúng ta sự suy nghĩ, chuẩn bị chu đáo nhằm giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả và thông minh nhất. Để giải quyết được bất kỳ một vấn đề, trước tiên ta cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng về chính vấn đề đó Xét theo quan điểu của chủ nghĩa Mác – Lênin, vấn đề về dân tộc thực chất là một bộ phận của những vấn đề chung về cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản Vì lý do đó, khi giải quyết vấn đề dân tộc, ta phải gắn liền nó với cách mạng vô sản và trên cơ sở của cách mạng xã hội chủ nghĩa Một điểm đáng xét đến được nhắc tới bởi chủ nghĩa Mác – Lênin là, khi xem xét và giải quyết vấn để dân tộc, ta phải dựa trên lập trường phải đáp ứng được nhu cầu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Hay nói cách khác, điều đó cũng có nghĩa là việc xem xét và giải quyết vấn đề dân tộc phải đặt trên cơ sở giải quyết vì quyền lợi của dân tộc, bám sát và bảo đảm lợi ích chung của cả dân tộc được đưa lên làm ưu tiên hàng đầu.

Bản chất của vấn đề dân tộc là về sự mâu thuẫn, va chạm lợi ích giữa các dân tộc trong các quốc gia đa dân tộc và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trong quan hệ quốc tế trên mọi lĩnh vực Theo lẽ đó, bản chất của giải quyết vấn đề dân tộc trên thực tế là hình thành một quan hệ công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc trong cùng một quốc gia, giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới về mọi lĩnh vực.

Qua xem xét, nghiên cứu mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc của Mác và Ăngghen, Lênin đã đề ra “Cương lĩnh dân tộc” khái quát một số nội dung cơ bản về vấn đề dân tộc Cương lĩnh là cơ sở lý luận quan trọng để vận dụng vào trong việc thực hiên các chính sách dân tộc trong quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh nêu ra 3 nội dung cơ bản trong việc giải quyết vấn đề dân tộc như sau:

Nội dung thứ nhất: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt dân tộc lớn hay nhỏ, ở trình độ phát triển cao hay thấp Các dân tộc đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, không dân tộc nào được giữ đặc quyền, đặc lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa.

Trong quan hệ xã hội cũng như trong quan hệ quốc tế, không một dân tộc nào có quyền đi áp bức, bóc lột dân tộc khác Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng dân tộc phải được thể hiện trên cơ sở pháp lý, nhưng quan trọng hơn nó phải được thực hiện trên thực tế. Để thực hiện được quyền bình đẳng dân tộc, trước hết phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp, trên cơ sở đó xoá bỏ tình trạng áp bức dân tộc; phải đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.

Nội dung thứ hai: Các dân tộc được quyền tự quyết Đó là quyền của các dân tộc tự quyết định lấy vận mệnh của dân tộc mình, quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc mình.

Quyền tự quyết dân tộc bao gồm quyền tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập, đồng thời có quyền tự nguyện liên hiệp với dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.

Tuy nhiên, việc thực hiện quyền dân tộc tự quyết phải xuất phát từ thực tiễn - cụ thể và phải đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đảm bảo sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của giai cấp công nhân Lênin đặc biệt chú trọng quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức, các dân tộc phụ thuộc.

Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, hoặc kích động đòi ly khai dân tộc.

Nội dung thứ ba: Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

Liên hiệp công nhân các dân tộc phản ánh sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp; phản ánh sự gắn bó chặt chẽ giữa tinh thần của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế chân chính. Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Vì vậy, nội dung này vừa là nội dung chủ yếu vừa là giải pháp quan trọng để liên kết các nội dung của Cương lĩnh dân tộc thành một chỉnh thể.

Chương 1 đã trình bày những nội dung cơ bản về vấn đề dân tộc dưới góc nhìn của chủ nghĩa Mác Lênin Dân tộc là một cộng đồng dân cư dùng để chỉ một quốc gia hay chỉ một bộ phận dân cư của một quốc gia Trong quá trình phát triển, xây dựng cuộc sống mà xảy ra mâu thuẫn do không có cùng lợi ích, mục đích chung Những mâu thuẫn này đã dẫn đến xảy ra nhiều vấn đề được biết đến là vấn đề dân tộc với nhiều hậu quả nghiêm trọng vẫn đang xảy ra hằng ngày Để giải quyết vấn đề dân tộc, ta cần dựa trên nội dung Cương lĩnh dân tộc nêu lên bởi Lênin và vận dụng cho phù hợp với công cuộc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay.

VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Vấn đề dân tộc ở Việt Nam

2.1.1 Đặc điểm dân tộc ở Việt Nam

Thứ nhất, có sự chênh lệch về số dân giữa các tộc người

Dân tộc Việt Nam có tất cả 54 dân tộc anh em, dân số giữa các dân tộc rất không đồng đều nhau Theo tài liệu chính phủ mới nhất, dân tộc Kinh chiếm đa số tổng dân số của nước Việt Nam xấp xỉ 82 triệu người và chiếm 85,3% tổng dân số Trong khi đó, các dân tộc khác chỉ chiếm 14,7% với tổng cộng 14 triệu người Đồng bào các dân tộc thiểu số chủ yếu sinh sống ở vùng núi, vùng sâu vùng xa và có dân số chỉ chiếm dưới 1% tổng dân số cả nước, ví dụ như dân tộc Ba Na, dân tộc Ê Đê, dân tộc Chăm…

Trải qua một quá trình phát triển lâu dài và có sự chênh lệch đáng kể giữa nhiều khía cạnh, nhưng các dân tộc vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn.

Thứ hai, các dân tộc Việt Nam cư trú và sinh sống xen kẽ lẫn nhau.

Tuy một số dân tộc sinh sống tập trung chủ yếu ở một số vùng nhất định như dân tộc Ba Na sinh sống chủ yếu ở vùng núi Tây Nguyên, dân tộc Lào sinh sống chủ yếu ở vùng núi Tây Bắc, song nhìn chung đa số các dân tộc sống đan xen nhau, không có lãnh thổ riêng biệt.

Việc sinh sống đan xen lẫn nhau của các dân tộc tạo điều kiện thuận lợi để tăng cường quan hệ mọi mặt giữa các dân tộc, xây dựng cộng đồng các dân tộc ngày càng gắn bó vững chắc để cùng nhau tiến bộ và phát triển và để từng bước thu hẹp chênh lệch về trình độ văn hóa giữa các dân tộc với nhau.

Thứ ba, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam phân bố chủ yêu ở các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng

Mặc dù chỉ chiếm 14,3% dân số, nhưng 53 dân tộc thiểu số Việt Nam lại cu trú trờn ắ diện tớch lónh thổ và ở những vị trớ trọng yếu của quốc gia cả về kinh tế, an ninh, quốc phòng, môi trường sinh thái - đó là vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu vùng xa của đất nước Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước làng giềng như các dân tộc Hoa, Thái, Hmong, Khơme Do vậy, các thế lực thù địch thường sử dụng vấn đề dân tộc làm ngòi nổ chống phá cách mạng Việt Nam.

Thứ tư, các dân tộc đều có truyền thống đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau trong công cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây là đặc điểm nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam, hình thành do yêu cầu khách quan của công cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch hoạ và công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong suốt chiều dài lịch sử, các dân tộc trên đất nước Việt Nam luôn thể hiện tinh thần “Lá lành đùm lá rách” luôn kề vai sát cánh bên nhau, thương yêu đùm bọc lẫn nhau mỗi khi đối mặt với các thiên tai, thảm họa tự nhiên như bão lũ, hạn hán, dịch bệnh Truyền thống ấy còn được thể hiện qua lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt Tên tuổi và chiến công của Tôn Đản, N'Trang Lơng, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Đình Giong, Bế Văn Đàn, Đinh Núp và hàng vạn anh hùng liệt sĩ người dân tộc thiểu số khác mãi mãi là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam anh hùng Có thể thấy, cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn luôn sát cánh bên nhau, chinh phục thiên nhiên, đoàn kết chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược để bảo vệ quê hương, đất nước, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Lai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau… Chúng ta phải thương yêu nhau, kính trọng nhau, phải giúp nhau để mưu cầu hạnh phúc Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt” 4

Thứ năm, dân tộc Việt Nam có một nền văn hóa đa dạng giữa các dân tộc

Với sự đa dạng về dân tộc, có thể nhận thấy, Việt Nam có sự phong phú về truyền thống, sắc thái văn hóa khác nhau Mỗi dân tộc trong các dân tộc Việt Nam đều mang

4 trong mình một bản sắc văn hóa riêng về nếp sống, phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật, ẩm thực, tri thức địa phương… Điều này góp phần tạo nên sự phong phú cho nền văn hóa nước nhà.

Sự đa dạng, phong phú về văn hóa này là cơ sở quan trọng cho sự tồn tại bền vững, giàu tính bản sắc và nhân văn của các dân tộc Ngoài ra, sự đa dạng về bản sắc cũng góp phần tăng cường tính thống nhất, cộng đồng của 54 dân tộc anh em.

Thứ sáu, các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế và xã hội không đồng đều nhau.

Với nhiều nguyên nhân như điều kiện tự nhiên, sự ảnh hưởng của thiên tai, vị trí địa lý, trình độ dân trí… nên các dân tốc có trình độ phát triển không đều nhau Có dân tộc đã đạt trình độ phát triển cao, đời sống tương đối khá như các dân tộc Kinh, Hoa, Tày, Mường, Thái nhưng cũng có các dân tộc trình độ phát triển thấp, đời sống còn nhiều khó khăn như một dân tộc ở Tây Bắc, Trường Sơn, Tây Nguyên

Thực trạng phát triển không đều dẫn đến khoảng cách ngày càng lớn về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa các vùng, miền, đòi hỏi Ðảng và Nhà nước phải có sự quan tâm đặc biệt.

2.1.2 Quan điểm và chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc 2.1.2.1 Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề dân tộc

Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng ta đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc, với những nội dung cơ bản là: Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp đỡ nhau cùng phát triển Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu chính sách dân tộc của Đảng và nhà nước ta.

Trong thời kỳ đổi mới, các vấn đề dân tộc ở nước ta cùng với các vấn đề về đoàn kết các dân tộc và công tác dân tộc ngày càng được Ðảng ta xác định, bổ sung và khẳng định toàn diện, đầy đủ hơn thể hiện qua từng văn kiện của Đảng, nhằm định hướng trong

Tại Đại hội lần thứ I của Đảng (tháng 3/1935), Đảng ta đã thông qua Nghị quyết về công tác dân tộc thiểu số, trong đó ghi rõ: “Lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, bộ phận của cách mạng thế giới” Nghị quyết cũng đề ra cho Trung ương và các Xứ ủy (trong những tỉnh có dân tộc thiểu số) phải cử ra một số người chuyên môn nghiên cứu và chỉ đạo công tác vận động các dân tộc thiểu số Có thể thấy, ngay từ Đại hội đầu tiên, Đảng ta đã quan tâm đến vấn đề dân tộc. Đại hội II của Đảng (năm 1951) tiếp tục nêu rõ: “Các dân tộc sống trên đất Việt Nam đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau để kháng chiến và kiến quốc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bài trừ mọi hành động gây thù, chia rẽ giữa các dân tộc Giúp đỡ các dân tộc thiểu số tiến bộ về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa” Quyền bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam được các Đại hội III, IV, V kế thừa và phát triển. Đại hội VI đã bước đầu hình thành những nhận thức mới, quan trọng về chính sách dân tộc và giải quyết các mối quan hệ giữa các dân tộc, phát triển từng dân tộc đi liền với củng cố và phát triển cộng đồng dân tộc trên đất nước ta Các nguyên tắc đảm bảo cho quan hệ giữa các dân tộc phát triển tốt đẹp được nhấn mạnh là: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, kết hợp phát triển kinh tế với phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất với chăm lo đời sống con người, kể cả con người từ nơi khác đến và dân tại chỗ” Đại hội lần thứ VI cũng đồng thời đề ra một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi (Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989) Tư tưởng đổi mới đó còn được thể hiện sâu sắc, cụ thể hóa tại “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được thông qua tại Đại hội VII Cương lĩnh nêu rõ: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam” 5

5 Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, https://dangcongsan.vn/tu-lieu-tham-khao-cuoc-thi-trac-nghiem-tim-hieu-90-nam-lich-su-ve-vang-cua- dang-cong-san-viet-nam/tu-lieu-cuoc-thi/cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc Việt Nam

2.2.1 Những thành tựu về việc thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, qua giai đoạn 2010 – 2015, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên từng bước.

Tại các địa phương vùng dân tộc và miền núi, tỷ lệ hộ nghèo giảm đều, tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo thường xuyên vượt chỉ tiêu, bình quân khoảng 3% – 4%, cụ thể là: Các tỉnh vùng Đông Bắc giảm 3,62%; Tây Bắc giảm 4,47%; Tây Nguyên giảm 3,04%; đồng bằng chuyển: 99,8% số xã và 95,5% số thôn có điện, 98,6% số xã có đường ô-tô đến trụ sở uỷ ban nhân dân xã.

Công tác xoá đói giảm nghèo đạt được kết quả khả quan, mặt bằng đời sống của các dân tộc được cải thiện đáng kể Đặc biệt, mặt bằng dân trí được nâng cao, vùng dân tộc và miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ Tại các địa phương từ Trung ương đến các huyện vùng dân tộc và miền núi, hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú được hình thành và phát triển Đến cuối giai đoạn 2010 – 2015: 99,5% số xã có trường tiểu học; 93,2% số xã có trường trung học cơ sở; 12,9% số xã có trường trung học phổ thông và 96,6% số xã có trường mẫu giáo, mầm non; 100% số xã đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở.

Bên cạnh đó, mạng lưới y tế phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế xã được quan tâm đầu tư: 99,39% số xã có trạm y tế; 77,8% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế Tính đến năm 2013, có 88% thôn và bản trên cả nước có nhân viên y tế hoạt động Đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản, người nghèo được khám, chữa bệnh miễn phí và được hưởng chính sách bảo hiểm y tế đúng quy định Các dịch bệnh ở vùng dân tộc và miền núi như sốt rét, bướu cổ được khống chế; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể. Đánh giá 3 năm (2016 – 2018) thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi cho thấy: các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đã nỗ lực cao độ cho công tác giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đạt kế hoạch Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đề ra Trong vòng 3 năm, Nhà nước đã đầu tư 9106 công trình, duy tu, bảo dưỡng 3295 công trình; hỗ trợ trực tiếp cho 1,512 triệu hộ nghèo, cận nghèo; tập huấn cho 103 nghìn người, dạy nghề cho 720 nghìn người dân tộc thiểu số, góp phần giúp con em tìm kiếm việc làm Ngân hàng Chính sách xã hội đã cho 1,4 triệu hộ dân tộc thiểu số vay 45.194 tỷ đồng, chiếm 24,7% tổng dư nợ; bình quân dư nợ một hộ là 30,5 triệu đồng để phát triển sản xuất, tăng thu nhập.

Kết quả là tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2017 ở các huyện nghèo giảm khoảng 5% so với cuối năm 2016; tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn giảm 3-4% Có tám huyện thoát khỏi huyện cận nghèo theo Quyết định 30a của Thủ tướng Chính phủ; 14 huyện ra khỏi diện hưởng chính sách như huyện nghèo; 34 xã đủ điều kiện ra khỏi diện đầu tư theo Chương trình 135. Đến tháng 8 năm 2018, đã có 1052 xã vùng dân tộc thiểu số, miền núi được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt tỷ lệ 22,29% trên 38,32% so với toàn quốc. Công tác đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi tiếp tục được quan tâm, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số. Hiện nay 100% xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi có trường trung học cơ sở, trường tiểu học, hầu hết các xã có trường, lớp học mầm non…

Bên cạnh đó, công tác bảo tồn, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được chú trọng hơn Thông tin, tuyên truyền vùng dân tộc thiểu số và miền núi phát triển nhanh, cơ bản đáp ứng nhu cầu thông tin, liên lạc của nhân dân; Tiếp tục quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số; Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ đột xuất, bảo đảm an sinh xã hội, không để người nào bị thiếu đói không được trợ giúp. Đạt được những con số trên là nhờ vào quan điểm cách mạng của Đảng và Nhà nước, là sự sáng tạo không ngừng, đảm bảo tính nhất quán, vừa đổi mới trước yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế nhằm giải quyết thành công vấn đề dân tộc ở nước ta hiện nay và trong tương lai Từ Đại hội IV đến Đại hội XII của Đảng, chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trên các vấn đề cốt lõi là: Vị trí của vấn đề dân tộc trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng; các nguyên tắc cơ bản trong chính sách dân tộc; những vấn đề trọng yếu của chính sách dân tộc trong những điều kiện cụ thể Trong suốt quá trình phát triển, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách dân tộc là nhất quán theo nguyên tắc “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ nhau cùng phát triển” Điều này, một mặt cho thấy, ở nước ta hiện nay, tất cả mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính…đều bình đẳng về chính trị, pháp luật và mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội; mặt khác, cho thấy việc giải quyết vấn đề dân tộc đang là sự đòi hỏi cấp thiết cần phải có những chỉ đạo kịp thời.

2.2.2 Một số hạn chế cần khắc phục

Bên cạnh những thành tựu đạt được, còn nhiều yếu kém cũng như thách thức

Hệ thống chính sách vùng dân tộc và miền núi so với giai đoạn trước có nhiều ưu điểm, nhưng còn bộc lộ không ít hạn chế, như chưa bảo đảm gắn kết thống nhất giữa chính sách phát triển dân tộc - tộc người với chính sách phát triển địa phương; thời gian thực hiện chính sách ngắn, thiếu tính chiến lược; trình tự thủ tục xây dựng và đề án mất nhiều thời gian.

Hầu hết các chính sách đều mang tính chất hỗ trợ; chính sách đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu cơ bản, do vậy hiệu quả chưa thực sự bền vững; nhiều chính sách phải kéo dài thời gian thực hiện dẫn đến định mức không còn phù hợp với thực tế; có chính sách do huy động nhiều nguồn vốn, khi cấp vốn không đồng bộ dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện; việc bố trí vốn đối ứng của các địa phương gặp khó khăn do đa số các địa phương vùng dân tộc và miền núi đều phải nhận trợ cấp từ ngân sách trung ương.

Việc xây dựng một số chính sách còn thiếu thực tế, chưa phù hợp với địa bàn vùng dân tộc và miền núi Tổ chức thực hiện chính sách còn nhiều yếu kém, phân công chủ trì chỉ đạo tổ chức thực hiện chưa hợp lý; việc phối hợp giữa các bộ, ngành có lĩnh vực chưa chặt chẽ, chỉ đạo có mặt còn chồng chéo Việc lồng ghép các chính sách trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi còn nhiều khó khăn, bất cập Công tác kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách còn hạn chế Chỉ đạo, thực hiện chính sách ở một số địa phương còn lúng túng Công tác lập kế hoạch, rà soát đối tượng thụ hưởng trong việc thực hiện một số chính sách chưa sát với thực tế, Ở vùng dân tộc và miền núi, kinh tế chậm phát triển so với tiềm năng của vùng và phát triển chưa vững chắc Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch chậm Mức độ thương phẩm hóa của nông sản còn thấp; sản phẩm sản xuất ra chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế thấp Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu và yếu kém.

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều vùng dân tộc và miền núi cao nhất cả nước; tình trạng tái nghèo phổ biến ở nhiều nơi Năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo khu vực miền núi Tây Bắc là 34,52%, miền núi Đông Bắc: 20,74%; Tây Nguyên: 17,14%; các tỉnh Bắc Trung Bộ: 12,5% Kết quả giảm nghèo thiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi thấp: 21% số người trong độ tuổi đi học không biết đọc, biết viết chữ phổ thông; số người trong độ tuổi lao động chưa qua đào tạo chiếm 89,5%, riêng số người trong độ tuổi lao động là người dân tộc thiểu số chưa qua đào tạo chiếm 94,2%; nhìn chung, chất lượng đào tạo nghề thấp. Đội ngũ cán bộ y tế vùng dân tộc và miền núi vừa thiếu, vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ, nhất là cán bộ người dân tộc thiểu số Trang thiết bị y tế thiếu thốn và lạc hậu, phần lớn người nghèo vùng dân tộc và miền núi không có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ y tế chất lượng tốt.

Hệ thống chính trị cơ sở ở một số nơi còn yếu, đặc biệt đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ còn hạn chế, nhất là thiếu đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số hoặc có cán bộ dân tộc nhưng chưa được đào tạo Tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong chính quyền cấp huyện và tỉnh tại các địa phương có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp Trong tổng số 48200 cán bộ dân tộc thiểu số cấp xã, số người có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm 45%, tiểu học: 18,7%, chỉ có 1,9% có trình độ cao đẳng và đại học.

Khoảng cách giàu - nghèo, chênh lệch phát triển giữa các vùng, miền, giữa các nhóm dân tộc ngày càng lớn; tỷ lệ nghèo ở các vùng dân tộc và miền núi cao hơn 2,5 lần so với tỷ lệ bình quân chung của cả nước Đặc biệt, là những khó khăn, thiếu thốn ở các “vùng lõi” của đói nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc và miền núi từ các tỉnh phía Bắc đến các tỉnh phía Nam.

Nhu cầu nguồn lực đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu theo Nghị quyết của Chính phủ về định mức giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 là rất lớn, sẽ vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước. Chất lượng các công trình kết cấu hạ tầng, như giao thông, trường học, trạm y tế, nhà văn hóa còn thấp Nguồn vốn đầu tư cho các chính sách chưa đáp ứng nhu cầu mục tiêu.

Vậy nên, so với sự phát triển của đất nước nói chung, vùng đồng bào dân tộc thiếu số vẫn là vùng chậm phát triển nhất Điều đó cho thấy, việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta vẫn còn những khó khăn, bất cập Các nguyên nhân khách quan và chủ quan là: Một số chính sách thiếu tính cụ thể, khả thi, chưa phù hợp với thực tiễn Bộ máy tổ chức thực hiện còn thiếu đồng bộ, đội ngũ cán bộ còn thiếu và đều nhau Ở một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận và ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ nên đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để vươn lên, chưa sử dụng hiệu quả vốn đầu tư Chính sách dân tộc hiện nay vẫn chủ yếu là các chính sách hỗ trợ trực tiếp, chưa có nhiều chính sách đầu tư, hỗ trợ có điều kiện, với mục đích cung cấp kỹ năng, tự tạo sinh kế bền vững cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Bởi vậy, trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều người vẫn còn mang tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không muốn vươn lên để thoát nghèo.

2.2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách dân tộc Việt Nam

Có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu và hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội

Cơ sở hạ tầng đảm bảo giao thông liên lạc là yếu tố quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội Nhà nước cần có chính sách đầu tư xây dựng, kiên cố hoá đường giao thông đến từng bản làng, kết nối từng thôn, bản với trung tâm xã, thị trấn; đầu tư xây dựng, cải tạo nâng cấp mạng lưới chợ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phục vụ trao đổi buôn bán trong và ngoài nước; đồng thời với đó, đầu tư cơ sở vật chất các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực công tác dân tộc như các trường đại học, trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú… Để đảm bảo sinh kế lâu dài cho bà con, cần khuyến khích các hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất theo chuỗi giá trị; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ các loại gia súc, gia cầm, lương thực truyền thống như trâu, bò, ngô… sang các loài có giá trị cao, nhu cầu thị trường lớn, phù hợp với điều kiện khí hậu địa phương như cà phê, hồ tiêu ở Tây Nguyên, sâm Ngọc Linh ở miền núi Tây Quảng Nam, Kon Tum, chăn nuôi bò sữa, nuôi cá hồi ở Tây Bắc…

Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Để thu hút được nhiều hơn học sinh dân tộc thiểu số, Nhà nước cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, mở rộng quy mô các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú; hỗ trợ tiền ăn, ở, dụng cụ học tập để các em yên tâm học hành Do đặc thù kinh tế - xã hội, khó mà giảng dạy học sinh dân tộc thiểu số như đối với học sinh miền xuôi, cần thiết phải nghiên cứu biên soạn tài liệu riêng, phương pháp giảng dạy riêng phục vụ các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú. Để có nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, cần có chính sách tạo điều kiện cho con em người dân tộc thiểu số vào đại học như: cộng điểm khuyến khích, cử tuyển đối với những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, hỗ trợ học phí và nơi ở cho các sinh viên, tăng cường đào tạo và khuyến khích các sinh viên dân tộc thiểu số theo học những ngành phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế

- xã hội của địa phương như lâm nghiệp, nông nghiệp công nghệ cao, tài nguyên và môi trường, sư phạm, y tế…

Bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc, gắn với phát triển du lịch

Ngày đăng: 09/12/2022, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Chỉ thị số 19-CT/TW về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ-me trong tình hình mới,https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/chi-thi-cua-ban-bi-thu-ve-tang-cuong-cong-tac-o-vung-dong-bao-dan-toc-kho-me-trong-tinh-hinh-moi-314308/, ngày truy cập 01/10/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 19-CT/TW về tăng cường công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơ-me trong tình hình mới
Tác giả: Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2018
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021), Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho sinh viên đại học khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh), Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dành cho sinh viên đại học khối không chuyên ngành Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật
Năm: 2021
4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội
Năm: 2021
5. Giàng Seo Phử (2011), Tập trung đầu tư phát triển nhanh, bền vững vùng dân tộc thiểu số, miền núi, https://bitly.com.vn/gnx7xm, ngày truy cập 30/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập trung đầu tư phát triển nhanh, bền vững vùng dân tộc thiểu số, miền núi
Tác giả: Giàng Seo Phử
Năm: 2011
7. Lê Hoà. (2018). Nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện từ vùng “năm nhất”, https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/nhieu-thanh-tuu-quan-trong-toan-dien-tu-vung-nam-nhat-338816/, ngày truy cập 25/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện từ vùng “năm nhất”
Tác giả: Lê Hoà
Nhà XB: Nhân Dân
Năm: 2018
8. Nguyễn Quỳnh Hoa (2017), Chính sách dân tộc tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức cần vượt qua, https://bom.to/uL2fNzQwtcXg9, ngày truy cập 24/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức cần vượt qua
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Hoa
Năm: 2017
9. Nguyễn Thị Thu Thanh (2021), Chính sách dân tộc của Việt Nam qua 35 năm đổi mới,https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/821701/chinh-sach-dan-toc-cua-viet-nam-qua-35-nam-doi-moi.aspx, ngày truy cập 20/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của Việt Nam qua 35 năm đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thanh
Nhà XB: Tạp chí Cộng sản
Năm: 2021
10. Phạm Vĩnh Hà (2020), Đa dạng văn hóa ở Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và vấn đề chính sách, https://vass.gov.vn/hoi-nghi-hoi-thao/Da-dang-van-hoa-o-Viet-Nam-1229, ngày truy cập 21/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng văn hóa ở Việt Nam: Lý luận, thực tiễn và vấn đề chính sách
Tác giả: Phạm Vĩnh Hà
Năm: 2020
11. Thủ tướng Chính phủ (1998). Quyết định 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 135/1998/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 1998
12. Thủ tướng Chính phủ (2001). Quyết định 143/2001/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005”,https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Quyet-dinh-143-2001-QD-TTg-phe-duyet-Chuong-trinh-muc-tieu-quoc-gia-xoa-doi-giam-ngheo-va-viec-lam-giai-doan-2001-2005-48367.aspx, ngày truy cập 22/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 – 2005
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2001
13. U Minh Nam (2020), Công tác thể chế đường lối, quan điểm của Đảng đối với vấn đề dân tộc, http://www.bandantoc.kontum.gov.vn/nghien-cuu-trao-doi/Cong-tac-the-che-duong-loi,-quan-diem-cua-Dang-doi-voi-van-de-dan-toc-811, ngày truy cập25/09/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác thể chế đường lối, quan điểm của Đảng đối với vấn đề dân tộc
Tác giả: U Minh Nam
Năm: 2020
15. Vy Xuân Hoa (2008), Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trong việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số Việt Nam, http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=News&op=Print&mid=1692, ngày truy cập 03/10/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trong việc đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số Việt Nam
Tác giả: Vy Xuân Hoa
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w