Đi vào Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện về thơ ông, có thể cắt nghĩa được hiện thực cuộc sống qua những trải nghiệm suy ngẫm; hiểu hơn nỗi niề
Lịch sử vấn đề
2.1 Trong quá trình nghiên cứu văn học các nhà nghiên cứu có thể sử dụng các thuật ngữ khác nhau để chỉ những thành phần thuộc bộ phận thế giới nghệ thuật nào đó “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu) Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng, được sáng tạo theo nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thế giới ấy Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng…chỉ xuất hiện một cách ước lệ có sáng tác nghệ thuật” [32, tr 302- 303] Với cách quan niệm nhƣ vậy, ở mỗi sáng tác nghệ thuật của mỗi tác giả, mỗi trào lưu… đều có tính chỉnh thể riêng và mỗi thế giới nghệ thuật đều có đặc điểm riêng Trong đó tiểu sử tác giả, lịch sử xã hội, thời đại… có sự chi phối đến sự hình thành một thế giới nghệ thuật hoàn chỉnh Mỗi thế giới nghệ thuật có một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới Văn học phản ánh thế giới khách quan nhƣng thế giới nghệ thuật do văn học tạo ra không đồng nhất với thế giới mà nó phản ánh Do vậy, khi nghiên cứu thế giới nghệ thuật không nên đối chiếu hình tƣợng trong thế giới với sự thực đơn lẻ ngoài đời để đánh giá tính chân thực Hình tƣợng nghệ thuật chỉ có ý nghĩa trong một thế giới nhất định, theo quan niệm nhƣ vậy thì đặc trƣng quan trọng trong thế giới nghệ thuật là tính chỉnh thể, mỗi thế giới có đặc điểm cấu tạo, có ý thức biểu hiện, có ý thức thẩm mỹ riêng Các nhà nghiên cứu tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu của mình mà có thể nghiên cứu đầy đủ các yều tố của mỗi thế giới nghệ thuật với những phương thức biểu hiện hay đi sâu nghiên cứu một hình thức biểu hiện nào đó
2.2 Nguyễn Trọng Tạo sinh ra ở làng Tràng Khê, Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An Trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật nào ông cũng để lại dấu ấn riêng với những thành tựu đáng trân trọng Nguyễn Trọng Tạo bước vào làng nghệ thuật từ khá sớm, ông “…yêu sách, rồi tập làm thơ” Những câu thơ lục bát đầu tiên viết năm ông 14 tuổi “Không hiểu sao lúc đó lại có thể viết những câu thơ già dặn đến thế” (Nguyễn Trọng Tạo) Quả là, thi nhân có tài không đợi tuổi, các thi sĩ nhƣ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Khoa Điềm… từng khiến làng văn phải “kinh ngạc” với những sáng tác ở tuổi thiếu thời Nguyễn Trọng Tạo đã cho xuất bản tập thơ đầu tiên Tình yêu sáng sớm năm 1974 Tính cho tới năm 2008,ông đã xuất bản gần 20 đầu sách gồm thơ, văn, nhạc, phê bình, tiểu luận và một số sáng tác nghệ thuật khác
Nguyễn Trọng Tạo khẳng định mình ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật Ở ông là tổng hợp một tâm hồn nghệ sĩ đa tài, bởi ông bước vào nghệ thuật với nhiều phương diện: là một người viết truyện ngắn, làm thơ, trường ca, họa sĩ, phê bình, nhà báo, nhạc sĩ… Với sự nỗ lực nghiêm túc của bản thân trong lao động nghệ thuật, tài năng của ông đã đƣợc ghi nhận:
Giải thưởng thơ Nghệ An 1969, thơ hay báo Văn nghệ (độc giả bình chọn) năm 1978, Nhân dân 1978, thơ hay tạp chí Văn nghệ quân đội 1978, Giải thưởng đặc biệt của UBND tỉnh Hà Bắc năm 1981 cho ca khúc Làng
Quan Họ quê tôi , 2 giải thưởng văn học Nghệ thuật Cố đô (Huế) cho tập truyện Miền quê thơ ấu , Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Hồ Xuân Hương
(1997-2000) cho ca khúc Đôi mắt đò ngang
8 giải thưởng âm nhạc của Hội nhạc sĩ Việt Nam, 2 giải thưởng của
Bộ Văn hóa và Thông tin cho bìa sách đẹp, giải thưởng của Hội Nông dân Việt Nam năm 2001 cho ca khúc Cánh đồng ở giữa hai làng …Những ca
Nghiệp và Phát triển Nông thôn cho 2 ca khúc Làng Quan Họ quê tôi và Khúc hát sông quê Đối với thi sĩ, người mà “đã đi tìm thơ gần trọn cuộc đời”, thì thơ đối với họ chính là lẽ sống, là đứa con tinh thần mà họ nâng niu, trân trọng nhất
Và đối với Nguyễn Trọng Tạo, thì “thơ chính là cái bóng của ông, ông là cái bóng của thơ” ông dành tình yêu cho thơ ca nhiều nhất Thơ Nguyễn Trọng
Tạo chính là sự kết hợp hài hòa giữa nét thi ca truyền thống, hòa quyện với hiện đại “Nguyễn Trọng Tạo là một thương hiệu đa năng suốt mấy chục năm nay” [93] từ tập thơ lần đầu đến tập Em đàn bà (tác phẩn in gần đây nhất) người đọc nhận thấy rõ sự đổi mới trong bút pháp thơ, quan niệm thơ, ngôn ngữ thơ đặc biệt là sự đổi khác về đề tài và sự điêu luyện của ngòi bút đang tiến dần đến độ chín
“Thơ là hiện thân cho những gì thầm kín nhất của con tim và thiêng liêng nhất của tâm hồn con người và cho những hình ảnh tươi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên” - Lamactin [47, tr 7-8] Khi nào tâm hồn thi sĩ lĩnh trọn những rung cảm sâu sắc nhất về cuộc sống, con người mới có thể phát khởi và tỏa sáng Nghệ sĩ là những người mang thiên chức cao cả để chuyển tải bức thông điệp của cuộc sống đến với mọi người Con người thời nào chẳng vui, buồn, sung sướng, đau khổ hay tuyệt vọng…
Những trạng thái cảm xúc ấy là cố hữu Nhƣng ở mỗi thời, mỗi nhà thơ lại chọn cho mình cách cảm nhận, cách thể hiện riêng Người nghệ sĩ chân chính là người luôn biết hướng tâm hồn mình vào những điều giản dị mà cao cả của cuộc sống - phát hiện và đề cao nó Không đi theo vết dấu của những thi sĩ cùng thời hay những nhà thơ trẻ đương đại miệt mài theo đuổi những cách tân, mong muốn bứt phá khỏi cái nền truyền thống, Nguyễn Trọng Tạo vẫn ung dung nhẹ nhàng với con đường thơ muôn thuở của mình
Tác giả Nguyễn Đăng Điệp trong bài Nguyễn Trọng Tạo - Chớp mắt với ngàn năm đã đƣa ra nhận định: “Mặc dù thập kỉ 80 của thế kỷ XX có sự nỗ lực đổi mới của nhiều nhà thơ nhưng cần ghi dấu ba giọng điệu đáng chú ý: Ý Nhi, Nguyễn Trọng Tạo, Dư Thị Hoàn” Nguyễn Đăng Điệp rất tinh tế khi đưa ra những cảm nhận của ông về Nguyễn Trọng Tạo: một con người cô đơn, u uẩn trong cõi nhớ, một thi nhân luôn có ý thức đổi mới các thủ pháp nghệ thuật nhƣ âm nhạc và giọng điệu, cách tổ chức điệp khúc “Người ta biết đến Tạo với một giọng thơ tưng tửng ngu ngơ ngỡ như người chơi vơi nhưng thực chất chứa nhiều ngẫm ngợi Một chất giọng mà đọc kĩ ta mới thấy cái da diết bên trong” [30] Đặc biệt Nguyễn Đăng Điệp còn chỉ ra một Nguyễn
Trọng Tạo mang đậm hồn cốt của văn hóa xứ Huế, của âm hưởng ví dặm quê hương Nguyễn Đăng Điệp khẳng định phần hay nhất của thơ Nguyễn Trọng Tạo nằm ở phần hậu chiến với những góc nhìn đời tƣ và những dằn vặt cá nhân được quan tâm thể hiện Nguyễn Đăng Điệp đã giúp người đọc thấy rõ hơn một thi sĩ đa tài với những đóng góp đáng kể trong quá trình đổi mới thơ ca của dân tộc
Sáng tác của Nguyễn Trọng Tạo không ngần ngại nói lên sự thật, đi sâu, đi sát mọi vấn đề “mang tính thời sự” của cuộc sống và “những yêu ghét giận hờn, những buồn vui sống chết… không có gì thuộc về con người lại xa lạ với thơ Thơ nhẹ nhàng dạo gót tới những chỗ tối tăm tận cùng của cõi người” (Nguyễn Trọng Tạo - Tựa - tập thơ Nương thân) Tản mạn thời tôi sống là một trong những bài thơ tiêu biểu rất rõ thái độ sống thẳng thắn, không che dấu sự thực như thế Hoàng Phủ Ngọc Tường với lời tựa ngắn cho tập Đồng dao cho người lớn đã tiếp cận phong cách thơ Nguyễn Trọng Tạo từ góc nhìn “Người ham chơi” đƣa ra nhận định rằng: “Bài thơ đó làm nhiều người khó chịu, bởi nó đã động đến nhiều thứ ngụy tín dầm dề của một thời
Riêng tôi, tôi thích thú giọng bông đùa tưởng như rất dễ dàng của nhà thơ lính hơn chục năm chiến trận này, để nói những điều nghiêm trọng khiến những người không thích đùa phải nghiêm mặt” Hoàng Cầm với “ Đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo ” là sự đồng cảm của hai tâm hồn nghệ sĩ, nói về tập thơ Đồng giao cho người lớn ông cho rằng: “Tập thơ này của Nguyễn Trọng Tạo là một trong vài ba tập đứng hàng đầu trong một tâm tưởng thơ chân thực, gợi ra cái Đẹp, điều Lành và sự thật” và “cũng vì sự chân thực ấy mà cả tập thơ Đồng giao cho người lớn, không một bài nào giả tạo, vay mượn hoặc làm điệu bộ, làm duyên dáng Mỗi bài mỗi câu đều có sức đi vào chiều sâu của ý thức, tâm thức, đôi khi bật ra từ vô thức như một khám phá bất ngờ” Những sáng tác sau đó của Nguyễn Trọng Tạo đã ghi nhận sự chuyển đổi mạnh mẽ trong hành trình thơ ông Với tập thơ Thư trên máy chữ và tản mạn thời tôi sống , ông tâm sự: “Đây là tập thơ tôi viết khác hẳn hệ thống thơ thời chống Mĩ” (Trả lời phỏng vấn nhà báo Lê Mĩ Ý) Có thể nói giai đoạn này ông chủ trương hướng ngòi bút của mình tới những con người đời thường, thơ ông gần gũi hơn với con người, những buồn vui nhân thế được đề cập sâu sắc hơn
Sức sáng tác nghệ thuật của Nguyễn Trọng Tạo rất đáng trân trọng với các tập thơ liên tục ra đời theo thời gian
Với những đóng góp của mình, Nguyễn Trọng Tạo dành đƣợc sự quan tâm yêu mến của nhiều thế hệ bạn đọc đặc biệt là người yêu thơ Tuy nhiên, trên thực tế thì Nguyễn Trọng Tạo chƣa xuất hiện nhiều so với các nhà thơ khác cùng thời Những sáng tác của Nguyễn Trọng tạo đã xuất hiện trên các phương tiện truyền thông đại chúng: sách, báo, Internet… ngày một tăng theo thời gian, xong những sáng tác đó của ông vẫn chƣa nhận đƣợc sự chú ý rộng rãi của giới nghiên cứu và phê bình Viết về ông ngoài những người bạn, người quen như:
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Cầm, Ngô Minh, Nguyễn Đình Thi….thì còn một số cây bút chuyên về nghiên cứu văn học nhƣ Nguyễn Đăng Điêp, Hoàng Ngọc Hiến, Thụy Khuê… có những bài viết, phê bình về thơ ông
Đối tƣợng, phạm vi và mục đích nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Công trình nghiên cứu của chúng tôi theo hướng hệ thống về thế giới nghệ thuật thơ trên cả hai mặt nội dung và hình thức, đồng thời qua đó người viết góp thêm ý kiến về thế giới nghệ thuật thơ ở phạm vi một tác giả cụ thể của văn học đương đại Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu những thành tố quan trọng làm nên Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo qua những tập thơ của ông:
+ Tình yêu sáng sớm (In chung)
+ Gương mặt tôi yêu (In chung) + Sóng thủy tinh
+Thơ trên máy chữ và Tản mạn thời tôi sống
+ Nương thân + Gửi người không quen + Thơ với tuổi thơ
+ Đồng giao cho người lớn + Thơ trữ tình
+ Thế giới không còn trăng + 36 bài thơ
+ Thời chiến và Hà Nội tôi yêu + Thơ và trường ca
+ 101 bài thơ tình + Em đàn bà Để đạt hiệu quả tốt nhất cho đề tài của mình, trong quá trình nghiên cứu ngoài những tập thơ của Nguyễn Trọng Tạo người viết đã tìm đọc những sáng tác khác của ông như: Trường ca, truyện ngắn, một số nhạc phẩm và những bài viết về ông trên một số trang wed.
Mục đích nghiên cứu
Trên tinh thần tiếp thu những nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn đặt ra nhiệm vụ tập trung làm rõ Thế giới nghệ thuật thơ Nguyễn
Trọng Tạo Qua đó chúng tôi hi vọng góp một phần nhỏ vào việc nghiên cứu nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo, chỉ ra những thành công, những hạn chế và khẳng định những đóng góp của tác giả vào tiến trình phát triển của nền thơ đương đại Viêt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hệ thống
Sử dụng phương pháp này, người viết có thể hệ thống được sự hình thành, vận động và phát triển của các yếu tố cấu thành thế giới thơ Nguyễn Trọng Tạo: thế giới nghệ thuật, cái tôi trữ tình, không gian, thời gian nghệ
Phương pháp so sánh - phân tích
Để làm nổi bật đề tài cần nghiên cứu trong quá trình nghiên cứu chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu giữa hình tƣợng, ngôn ngữ, không gian… của thơ Nguyễn Trọng tạo với các nhà thơ khác cùng thời và khác thời Đồng thời để công trình nghiên cứu có đƣợc hiệu quả tối ƣu nhất, chúng tôi tiến hành phân tích, bình thơ, tổng hơp kết quả và đƣa ra nhận định về nội dung hình thức liên quan đến thế gới nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo.
Phương pháp tổng hợp liên ngành
Với quan niệm, thế giới nghệ thuật mang tính chỉnh thể có mối quan hệ nội tại chặt chẽ và chịu sự ràng buộc chi phối của các yếu tố bên ngoài Vì vậy để lí giải, cắt nghĩa các hiện tƣợng cụ thể thế giới nghệ thuật đó, chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác: Nghiên cứu văn học sử, ngôn ngữ học, thi pháp học…
Phương pháp hệ thống hóa
Từ các kết quả hệ thống, so sánh, phân tích, tổng hợp, liên ngành đối chiếu lại thành các luận điểm, sắp xếp, hệ thống hóa một cách khoa học.
Cấu trúc của công trình nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn triển khai thành 3 chương:
Chương 1 Thế giới nghệ thuật và cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Chương 2 Không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo Chương 3 Các phương thức biểu hiện trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
NỘI DUNG
TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO 1.1 Thế giới nghệ thuật
Thế giới nghệ thuật là một thuật ngữ có tính chất mở với nội hàm khá rộng Gọi là thế giới vì nó cũng có những nét giống với thế giới nói chung nhƣ: có sự thống nhất giữa các mặt, có quy luật vận động nội tại…
1.1.1 Thế giới nghệ thuật trong thơ
Thế giới nghệ thuật trong văn học nói chung là thế giới đƣợc nghệ sĩ tạo ra bằng những phương tiện ngôn ngữ “Nó hoàn toàn khác thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí con người dù nó phản ánh thế giới ấy” [76, tr 54] Để hiểu và đánh giá một nhà văn nhất thiết phải “giải mã” đƣợc thế giới nghệ thuật ấy Ở thế giới ấy chƣa từng tồn tại trong thế giới vật chất nhƣng nó mang sự sống và tâm hồn chân thực của một người, của một thế hệ, của một thời đại “Mỗi thế giới nghệ thuật như một mô hình nghệ thuật trong việc phản ánh thế giới, ứng với một cách quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới” [32, tr.251] Theo tác giả Nguyễn Đăng Mạnh thì trên “con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn”, dựa vào hệ thống hình tƣợng
“ám ảnh” ta sẽ rút ra quy luật nghệ thuật nội tại của thế giới nghệ thuật
Phong cách nghệ thuật riêng, độc đáo cùng với tư tưởng nghệ thuật của nhà văn cũng toát từ đấy Tìm hiểu một nhà thơ phải tiếp cận thế giới nghệ thuật của anh ta trên tính thống nhất toàn vẹn Nhƣng nếu thế giới nói chung đƣợc hiểu là vũ trụ toàn cầu, là toàn bộ những gì thuộc về tự nhiên và xã hội đang tồn tại thì “thế giới nghệ thuật” là “sản phẩm sáng tạo của con người” Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thì khái niệm thế giới nghệ thuật: “thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng, sáng tác nghệ thuật là
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO
Quan niệm nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo
1.2.1 Quan niệm nghệ thuật về thơ
Thế giới nghệ thuật thơ là một chỉnh thể thống nhất bao hàm các thành tố và quy luật cấu trúc riêng, thể hiện quá trình cái tôi nhà thơ nội cảm hóa thế giới khách quan bằng tưởng tượng của mình Một mặt thế giới nghệ thuật ấy gắn liền với kinh nghiệm cá nhân, với phong cách sáng tác của chủ quan nhà thơ, mặt khác nó phản ánh trình độ nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử, một thời đại Chúng ta có thể thấy, trong thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tƣợng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nghệ thuật, nhận thức nghệ thuật, chất liệu nghệ thuật Bởi lẽ đó quan niệm nghệ thuật cuả nhà văn chứa đựng cách hiểu, cách đánh giá, chứa đựng cả những dự định, những mong muốn, những chủ trương, chủ đích, cả những chuẩn mực nghệ thuật khi anh ta dấn thân vào con đường nghệ thuật
Vì vậy quan niệm nghệ thuật được xem như một cương lĩnh, thậm chí như một kim chỉ nam đối với cả một đời văn, chi phối hành trình nghệ thuật của một nhà văn “Nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” Nó đƣợc giới thuyết nhƣ là “hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống”, là hệ quy chiếu tồn tại dưới dạng “ẩn chìm trong mô hình nghệ thuật về thế giới” [32, tr 229] Do đó chúng ta có cơ sở khẳng định quan niệm nghệ thuật của một nhà văn chi phối đến toàn thế giới nghệ thuật mà anh ta xây dựng nên, từ hình tượng con người, hình tượng không gian, thời gian, cho đến ngôn ngữ giọng điệu…
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo
Nguyễn trọng Tạo - một gương mặt thơ tiêu biểu với những nét độc đáo, giàu cá tính của nền thơ ca hiện đại Việt Nam Ông chia sẻ “Tôi nương thân vào chính thơ tôi Thơ lại nương láu trong từng con chữ và điệu nhạc vang lên từ cõi tâm linh nào xa thẳm Thơ là cái bóng của tôi hay tôi là cái bóng của thơ, tôi nào có biết” Ông khẳng định rõ “không ai muốn làm thơ cũ, phải làm thơ mới”, và ông bộc bạch: “Tôi là mẫu người sáng tác không nhạt nhẽo… tôi chấp nhận mọi sự sáng tạo Tôi chấp nhận tất cả, nếu trong đó chứa một điều gì đó, một mầm mống của sự mới mẻ”
Sức mạnh văn chương là sức mạnh siêu vật chất, theo Heghen: “nhà thơ là người đầu tiên đã làm cho dân tộc mình mở miệng và thiết lập mối quan hệ giữa biểu tượng và ngôn ngữ” Nguyễn Trọng Tạo - một người nghệ sĩ có khát vọng cách tân nghệ thuật, đã đƣa ra tuyên ngôn“Nhà thơ không chỉ là công dân của một quốc gia mà phải là công dân của thời đại… Nhà thơ phải biết biến hiện tại, tương lai thành quá khứ để tạo ra kinh nghiệm sống và cảm xúc mới” Là một nghệ sĩ không chỉ biết đến thơ mà đã khắc dấu ấn theo cách riêng của mình trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau Người nghệ sĩ đa mang đó luôn miệt mài tìm kiếm sự sáng tạo mới, ông không chấp nhận bất kì sự lặp lại nào trong tƣ duy nghệ thuật Nhà thơ thổ lộ: “Tôi kính nể các nhà thơ cổ điển Những lớp nhà thơ sau không nên hướng tới họ mà nên hướng tới chính mình” [55] Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ của "những cái chớp mắt ngàn năm trôi" Người đọc cảm được cái hồn thơ thân mật, hồn hậu với sự gần gũi, ân tình của thơ ông giữa cuộc đời
Thơ Nguyễn Trọng Tạo không phải là sự miêu tả ngợi ca hay đả kích, lên án những hiện tượng xã hội nóng bỏng mặc dù ông chủ trương làm thơ gắn với đời thật: “Thơ là sự đối diện với sự thật được chưng cất… Làm thơ là hoá giải thời đại vào ngôn từ Thơ tôi không bao giờ thoát khỏi những xung đột thời đại, dù đó là những bài thơ tưởng như riêng tư nhất Tôi muốn thơ tôi là thơ của đương đại” (Nguyễn Trọng Tạo) Ông cũng cho rằng, thơ phải nói lên đƣợc những ƣớc mơ, niềm tin và khát vọng về cuộc đời và tình yêu Thơ còn là sự cứu rỗi, là đôi cánh để nâng đỡ, xoa dịu lòng người khi chống chếnh, hụt hẫng tìm lại sự bình an nơi lòng mình Nhƣng đồng thời, thơ phải thuyết phục người đọc thích ứng với cái lạ bằng lí lẽ, ngôn ngữ riêng của mình để họ không cảm thấy chơi vơi, huyễn hoặc Nguyễn Trọng Tạo cho rằng: “chủ thể sáng tạo có tài luôn hướng tới cái mới lạ Không mới lạ thì không thể gọi là sáng tạo” Trong hành trình sáng tạo thơ ca, Nguyễn Trọng
Tạo luôn luôn với những tìm tòi về nội dung và hình thức “…tạo ra kinh nghiệm sống và cảm xúc mới” Đó là thiên chức đồng thời là bổn phận cao cả của người cầm bút - phải thức tỉnh, hướng thiện con người đến những điều tốt đẹp nhất.
Hình tƣợng cái tôi trữ tình
1.3.1 Khái niệm cái tôi trữ tình
Trước hết phải khẳng định cái tôi là một trong những khái niệm triết học cổ nhất đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại để nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên, là một cá thể khác với người khác Vấn đề cái tôi từ lâu đã trở thành khởi điểm của nhiều tư tưởng, nhà triết học R Đê- các (1569 - 1650) đã đƣa ra một định nghĩa rất hay: “Tôi tư duy tức là tôi tồn tại”, tức là cái tôi thuộc về thực thể biết tƣ duy, nó khẳng định đƣợc tính độc lập của mình, trở thành chủ thể tƣ duy, chủ thể nhận thức của mình về mọi sự vật, sự việc Theo C.Mác định nghĩa về cái tôi: “Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá tính người, có quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với chính bản thân mình Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình Cái tôi có thể xem xét là cấu trúc phần tự giác” [58, tr 66] Nhƣ vậy, cái tôi vừa mang bản chất xã hội vừa có quan hệ gắn bó khăng khít với hoàn cảnh, vừa mang bản chất cá nhân độc đáo Cái tôi thể hiện các bước tiến hóa về nhận thức con người và sự phong phú đa dạng của tư duy con người về chính bản thân nó Nói về cái tôi là nói về bản chất chủ thể trong nhận thức và sáng tạo, quan niệm về cái tôi với cái tôi trữ tình trong nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng có mối quan hệ chi phối lẫn nhau
Vậy “thơ trữ tình là thuật ngữ chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình
Trong đó cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thực hiện một cách trực tiếp Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sư thể hiện là dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình Là tiếng hát của tâm hồn, thơ trữ tình có khả năng thể hiện những biểu hiện phức tạp của thế giới nội tâm từ các cung bậc tình cảm cho tới những chính kiến, những tư tưởng triết học” [32, tr 317]
1.3.2 Vai trò cái tôi trữ tình trong thơ
“Cái làm thành nội dung của thơ trữ tình không phải là diễn biến của một hành động khách quan mở rộng đến mức độ của thế giới trong tất cả sự phong phú và các liên hệ qua lại của nó…” (G.V.Hegel) Trung tâm của thế giới nghệ thuật là hình tƣợng cái tôi trữ tình “Đó là thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới và con người thông qua lăng kính và cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức các phương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc đáo, mang thẩm mỹ nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến cho người đọc” Sự hiện diện của cái tôi trữ tình trong thơ là một trong những biểu hiện để chúng ta có thể nhận ra chân dung của tác giả, góp phần tạo nên phong cách của mỗi nhà thơ Thế giới tinh thần bộc lộ trong tác phẩm để thể hiện nhận thức, quan niệm và hoạt động cải tạo đời sống thế giới của con người Cái tôi trữ tình là tập hợp của rất nhiều quan hệ trong mối quan hệ với chính nó
Trong mọi thời đại thi ca, cái tôi trữ tình luôn chiếm vị trí hàng đầu, tuy nhiên không phải khi nào và đối với bất kì nhà thơ nào sự bộc lộ của cái tôi ấy cũng giống nhau Nếu nhƣ trong thơ cổ cái tôi trữ tình không có cơ hội để bộc lộ thì sự ra đời của phong trào thơ mới chính là sự khẳng định mạnh mẽ cái tôi cá nhân, mở ra một trang mới cho đời sống cái tôi trữ tình phát triển - đó là
“một thời đại thi ca” (Hoài Thanh) Đại thi hào L.Tonxtoi đã nói: “nhà văn chỉ quý giá và cần thiết đối với chúng ta trong chừng mực nhà văn thổ lộ với chúng ta cái hoạt động bên trong của tâm hồn mình…, và trong tác phẩm của nhà văn đều quý giá đối với chúng ta chỉ là cái hoạt động bên trong của tâm hồn nhà văn” Bằng lăng kính cá nhân của mình, thi sĩ nhận thức và cảm xúc trước thế giới và con người đồng thời thông qua tổ chức các phương diện của trữ tình để tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt, độc đáo góp phần tạo nên phong cách của nhà thơ Giáo sƣ Trần Đình Sử cho rằng: “thơ trữ tình thực chất là chiếm lĩnh bằng nghệ thuật các loại kinh nghiệm đời sống qua một cá nhân” nhƣ vậy sự bộc lộ trực tiếp của chủ thể sáng tạo trong thơ chính là nhân vật trữ tình, là sự hóa thân của tác giả vào từng sáng tác của mình
Cái tôi trữ tình là sự ý thức của cái tôi trong nghệ thuật, cái tôi của hành vi sáng tạo, là quan điểm về cái tôi được thể hiện thông qua phương tiện trữ tình Nếu trong tác phẩm văn xuôi tự sự cái tôi nghệ thuật đƣợc bộc lộ gián tiếp qua những hình tƣợng khách quan, trong kịch tác giả hoàn toàn giấu mình thì trong tác phẩm trữ tình cái tôi đƣợc bộc lộ một cách trực tiếp Heghen đã nói: “nguồn gốc và điểm tựa của trữ tình là ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất mang nội dung” Bieelinxki cũng cho rằng: “toàn bộ hiện thực đều có thể là nội dung của trữ tình nhưng với điều kiện là phải trở thành sở hữu máu thịt của chủ thể, là bộ phận cảm giác của chủ thể, gắn liền với sự hoàn chỉnh bản chất của chủ thể” Cái tôi trữ tình luôn tự nhận thức, tự đánh giá bộc lộ giá trị bản thân trong đời sống Giáo sƣ Hà Minh Đức cho rằng: “cái tôi trữ tình là cái tôi tác giả được nghệ thuật hóa, lí tưởng hóa, điển hình hóa” Cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trong thơ trữ tình Trong thơ trữ tình, cái tôi trữ tình không chỉ là cái tôi nhà thơ nó còn là cái tôi thứ hai cái tôi đƣợc khách thể hóa điển hình hóa, cái tôi đƣợc thăng hoa trong nghệ thuật bằng nghệ thuật Vì vậy cái tôi trữ tình có thể là cái tôi trữ tình nhập vai hoặc cũng có thể là xuất hiện trong thơ với tƣ cách nhƣ một nhân vật trữ tình Nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết: “hãy bỏ cái tư thế đứng từ bản thân mình, cái tư thế lấy mình ra chịu trách nhiệm mà nói Tức thì bài thơ hiện thực dường như không thực nữa và sẽ mất đi rất nhiều sức chấn động, ngân vang Khác nào ta nghe một tiếng nói giữa trời mà không biết tiếng của ai cả” vai trò của người nghệ sĩ là một nhân tố chủ đạo của toàn bộ sáng tạo thơ Hình tƣợng cái tôi trong thơ trữ tình chủ yếu thể hiện nên thông qua tâm trạng và bằng tâm trạng Có thể nói cái tôi trữ tình là biểu hiện tập trung của tính chủ quan trọng trong thơ trữ tình
1.3.3 Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Trong suốt hành trình sáng tác từ thời chiến đến thời bình, tiếp đó là thời kì đổi mới chúng ta nhận thấy cái tôi trữ tình trong thơ mang tiếng nói của tinh thần hiện đại, khác biệt với cái tôi cá nhân trước đó, đặc biệt là cái tôi trong “thơ mới” Cái tôi là cảm xúc suy nghĩ của nhà thơ trước cuộc đời, trước sự ngân rung của thế giới khách quan mà nhà thơ thu nhận đƣợc để từ đó chuyển thành lời Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo là cái tôi mang nhiều dáng vẻ và sắc thái, nó luôn vận động và biến đổi, đó là hình tƣợng trung tâm trong thơ trữ tình, là chủ thể sáng tạo thơ ca Cái tôi trữ tình xuất hiện trong thơ ông đó là "tôi", là "anh", là "gã", hay là "em" Thế giới nhân vật này không đi ra trực tiếp từ sân khấu rạng rỡ ánh đèn mà từ cõi đời thực, mạnh mẽ, tự tin, cụ thể… hơn những gì chúng ta nghĩ
Thơ là “vương quốc của chủ quan” là “biểu hiện và cảm thụ của chủ thể”(Heghen) Sáng tạo là một hoạt động chủ quan tồn tại trở thành trung tâm quy tụ của mọi yếu tố khác Một giọng thơ cất lên - đó là một chủ thể nhất định nào đó, đó là một thế giới riêng, là người duy nhất mang nội dung Qua đó thấy rằng, cái tôi của mỗi nhà thơ hay nói cách khác cái tôi trữ tình là một nhân tố khởi sự và hoàn tất quá trình sáng tạo Nó thể hiện đƣợc những suy nghĩ của họ về thiên nhiên, cuộc sống con người, đồng thời thấy được đặc trưng cơ bản mang dấu ấn riêng của người nghệ sĩ Cũng theo Heghen nguồn gốc điểm tựa của nó là “ở chủ thể và chủ thể là người duy nhất, độc nhất mang nội dung” cũng chình vì lẽ đó cái tôi trữ tình giữ vị trí đặc biệt trong thơ ca, đó là sự thể hiện một cách trực tiếp từ tư duy người nghệ sĩ trước các hiện tƣợng đời sống Trong văn học dân gian Việt Nam với những câu ca dao, tục ngữ cái tôi thể hiện rất nhẹ nhàng thiết tha gửi gắm nỗi niềm của mình thông qua cái tôi trữ tình: Ƣớc gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi
(Ca dao) Đến thơ ca cổ các thi sĩ không có cơ hội để bộc lộ cái tôi trữ tình, ngƣợc lại cái tôi trữ tình lại đƣợc bộc lộ rất rõ trong phong trào thơ mới- đó là những cái tôi giàu cảm xúc, khát vọng, cái tôi muốn thoát li thực tại bằng cách trốn vào những lâu đài ảo mộng của tình yêu, của thiên nhiên, của chính mình lại có khi quay lại với quá khứ đượm buồn và cũng có khi lại hướng đến tương lai vĩnh hằng
Nguyễn Trọng Tạo - một người nghệ sĩ đa tài “Nguyễn Trọng Tạo là nhà thơ tài ba” (Lê Huy Mậu), ở ông là một tâm hồn lang thang lưu lạc phiêu du, tự do trước ngã ba cuộc đời Trong một bài viết về tập thơ Thế giới không còn trăng tác giả Trịnh Thanh Sơn đã gọi giọng thơ của Nguyễn Trọng Tạo là “sự giễu nhại và nỗi đau buồn sâu thẳm” Thơ Nguyễn Trọng Tạo đƣợc độc giả nhớ đến nhiều, có lẽ bởi vì thơ ông rất giàu hình ảnh, giàu nhạc tính và cũng mới nữa Nguyễn Trọng Tạo thổ lộ lòng mình bằng những trạng thái và hình ảnh rất khác nhau, cái tôi trữ tình đƣợc thể hiện cũng không theo một phương định rõ ràng nào cả Cái tôi trữ tình trong thơ ông ở giữa cảm giác bề bội, giữa ảo và thực, giữa tĩnh lặng và ồn ào, giữa ý thức và vô thức… bên cạnh cái tôi sắc sảo, triết lý là cái tôi dân dã, gần gũi, bên cạnh cái “tưng tửng ngu ngơ” là cái ngọt ngào êm dịu
Nhƣ chúng ta biết cái tôi là một khái niệm có nội hàm rộng đến nỗi khó xác định đƣợc toàn bộ ý nghĩa của nó Theo từ điển triết học cái tôi có nghĩa là cái cá nhân, cá thể, cái riêng lẻ của một người Cái tôi đó làm nên sự đa dạng, phong phú, phức tạp cho mỗi con người Thơ văn phản ánh hiện thực tâm hồn của con người, do đó cũng thể hiện cái tôi đó dưới muôn màu, muôn vẻ khác nhau
Thơ là sự hội tụ và nở hoa của cái tôi trữ tình rất đa dạng, phong phú giàu màu sắc thẩm mĩ Khi tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ, điều đáng lưu ý không chỉ là tính chất độc đáo của tiếng nói thi ca mà còn là mối quan hệ giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình Nếu cái tôi nhà thơ là toàn bộ con người nhà thơ trong cuộc sống thực tế thì cái tôi trữ tình là cái tôi nhà thơ đƣợc nghệ thuật hóa, là sự biểu hiện cụ thể của những phẩm chất tâm hồn của nhà thơ trong tác phẩm thi ca “rõ ràng hai cái tôi ấy không phải là một, không hề có một sự đồng nhất, nhưng luôn có mối quan hệ thống nhất” Cái tôi trữ tình gắn bó mật thiết với tính cách và cuộc đời nhà thơ Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo chính là hình tƣợng tác giả với những hình thức bộc lộ khác nhau Cái tôi là hình ảnh rất quen thuộc trong văn học - đó là cái tôi khao khát sống của Xuân Diệu trong “phong trào Thơ mới”:
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi
Rồi “cái tôi” của rất nhiều điều muốn của nhà thơ Tố Hữu trong thơ cách mạng:
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ Mặt trời chân lí chói qua tim Hồn tôi là một vườn hoa lá Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm cù bất cù bơ
Và cái tôi trữ tình đƣợc Bằng Việt thể hiện một tấm lòng đôn hậu:
Ta bắt đầu bằng đôi mắt yêu thương Yêu thương lớn đến không gì phá nổi Ở đây trong cái tâm hồn “đa đoan” Nguyễn Trọng Tạo đã cho thấy một “cái tôi” rất khác lạ: tôi trở lại cơ quan gặp nụ cười ẩm mốc chuột quá nhiều chuột chẳng chịu giảm biên Tôi trở lại dòng sông bờ Cỏ Thi xanh mướt (Tái diễn)
Cái tôi nghệ thuật có nhu cầu tự biểu hiện với thế giới xung quanh, nó đòi hỏi biểu hiện những phương diện khác nhau của tâm hồn Nguyễn Trọng Tạo thể hiện cái tôi của mình rất rõ không có sự né tránh: tôi về khép lại căn phòng thấy trong lòng ngực nhƣ không có gì (Gửi)
“Thấy” là “không có gì” nhưng cái tôi đó dường như đang trải qua đầy những cảm xúc Không có nhƣng lại có tất cả cảm xúc trong lòng đang bị kìm kẹp, dồn nén trong tầm hồn để rồi cuối cùng bộc lộ ra:
“trái tim đã bỏ đi rồi ai mà nhặt đƣợc gửi về giùm tôi”
Không gian nghệ thuật
2.1.1 Không gian nghệ thuật trong văn chương
Theo quan điểm của triết học không gian nghệ thuật là phương thức tồn tại của vật chất, không vật chất nào không tồn tại trong không gian Con người sống trong những không gian khác nhau sẽ có những đặc điểm khác nhau, do đó muốn hiểu được về con người ta phải tìm hiều về không gian của họ Theo từ điển thuật ngữ văn học , không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tƣợng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó
Trong cuốn Thi pháp ca dao của Nguyễn Xuân Kính: “thời gian và không gian là những mặt của hiện thực khách quan được phản ánh trong tác phẩm tạo thành thế giới nghệ thuật của tác phẩm Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật một mặt thuộc phương diện đề tài, mặt khác thể hiện nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức tác phẩm của từng tác giả, từng thể loại, từng hệ thống nghệ thuật” [42, tr 287] Nhƣ vậy không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của thế giới nghệ thuật, là một phương diện quan trọng trong chỉnh thể thẩm mĩ của tác phẩm Không gian nghệ thuật cho chúng ta biết phạm vi đời sống, phạm vi hiện thực mà tác giả chiếm lĩnh khái quát Tuy nhiên khác với không gian đời sống, không gian nghệ thuật là hình tƣợng không gian có tính chủ quan và mang ý nghĩa biểu trưng Nó hướng tới sự thể hiện con người và bộc lộ quan niệm thế giới của người nghệ sĩ
Hệ thống lí thuyết thi pháp học đã khẳng định, không gian nghệ thuật là
“hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó” [35, tr 160] Nhƣ vậy không gian nghệ thuật là thuộc tính tất yếu của hình tƣợng Trong quá tình sáng tạo, nhà văn đã xử lí yếu tố này “như một phương tiện cần thiết để tái hiện đời sống và cấu trúc tác phẩm” [96, tr 85]
Không gian nghệ thuật gắn liền với sự cảm thụ không gian của nhà văn nên mang tính chủ quan Việc xây dựng, tạo hình cho không gian trong tác phẩm văn học bao giờ cũng xuất phát từ ý đồ của tác giả
Không gian nghệ thuật cũng là phạm trù của hình thức nghệ thuật, là phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Nếu thế giới nghệ thuật là thế giới của cái nhìn và mang ý nghĩa thì không gian nghệ thuật là trường nhìn mở ra từ một điểm nhìn, cách nhìn Không gian ấy có thể rất mênh mông nhƣng cũng có thể rất hạn hẹp, không gian này cũng có viễn cảnh giá trị tình cảm Tình cảm có thể làm cho không gian bao la rộng lớn hay gò bó, chật chội thêm: “không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối, không quy được vào không gian địa lí Không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới Không gian nghệ thuật chẳng những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn hoc, các ngôn ngữ tượng trưng mà còn cho ta thấy quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học” [5, tr 134-135] Đi vào không gian nghệ thuật thơ ta sẽ thâm nhập sâu vào thế giới của nhà văn
Không gian nghệ thuật luôn có sự biến đổi theo dòng chảy văn học Ở mỗi thời kì, giai đoạn văn học, không gian nghệ thuật mang những đặc trƣng riêng làm nên dấu ấn thời đại trong không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật trong văn học dân gian mang đậm màu sắc tôn giáo huyền bí với mô hình không gian ba giới, ba tầng, ba cõi Đến văn học Trung đại, không gian nghệ thuật mang tính rộng lớn bất biến của kiểu không gian vũ trụ, sau đó không gian được trở về gần hơn với cuộc sống của con người, đó là kiểu không gian trần tục hóa, không gian thế tục hóa Chỉ đến văn học hiện đại, không gian nghệ thuật mới thực sự gần gũi với cuộc sống của cá nhân con người, đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống đầy nhọc nhằn vất vả, không gian nghệ thuật đƣợc cá thể hóa
2.1.2 Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
“Nếu hiểu thơ ca là sự cảm nhận thế giới và con người thì thời gian, không gian chính là hình thức để con người cảm nhận thế giới và con người”
(Trần Đình Sử) Để cấu thành nên thế giới nghệ thuật không thể không có không gian và thời gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật, là phương diện rất quan trọng của tư duy nghệ thuật, thể hiện khả năng chiếm lĩnh thế giới khách quan của nhà thơ, đƣợc cảm nhận qua con mắt tinh tế và tâm hồn nhạy cảm của người nghệ sĩ “thơ có khả năng bao quát sâu rộng không gian và thời gian mà nhiều nghệ thuật khác không có Thơ là nghệ thuật của kỳ diệu của trí tưởng tượng” (Nguyên Hồng) Nhƣng không gian nghệ thuật tô điểm cho thơ vẻ đẹp từ điểm nhìn thẩm mĩ của cá nhân Không gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo là sự tồn tại của không gian hiện thực và không gian tâm linh
Không gian hiện thực là không gian khách quan đƣợc cảm nhận qua cái nhìn chủ quan của người viết Hai yếu tố khách quan và chủ quan tuy cùng tồn tại trong không gian nhƣng nhân tố khách quan so với chủ quan vẫn chiếm phần hơn “ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng, ngoài không gian địa lí còn có không gian tâm lí” Khi tìm hiểu không gian nghệ thuật ta không những phải chỉ ra tầng lớp không gian mà còn phải thấy cách tổ chức, kết cấu cũng nhƣ quan niệm về thế giới của tác giả Không gian nghệ thuật của Nguyễn Trọng Tạo đƣợc xây dựng từ nhiều bình diện, nhiều góc độ địa lí, xã hội tạo lên một bức tranh rộng lớn của cuộc sống: đó là hình ảnh “đường phố”, “rừng già”, “phố phường sường sạo chợ lấn bờ” cùng với đó là những cái tên khắc dấu ấn với những kỉ niệm với những ấn tƣợng không thể nào quên, trở thành nỗi nhớ trong tâm hồn nhà thơ
Yếu tố không gian góp phần thể hiện quan niệm tư tưởng, tình cảm, thế giới quan của người nghệ sĩ Nguyễn Trọng Tạo nhắc tới không gian đó với cái nhìn thâm trầm nhiều cảm xúc: người về Hà Tĩnh xa Vinh nửa thân trong nớ nửa mình trong ny cầm lòng sao cứ vân vi mây thì nặng trĩu núi thì nhẹ tênh
Không gian trong thơ Nguyễn Trọng Tạo hiện diện nhƣ cuộc sống lâu dài đứng ở nơi này đứng ở nơi kia với tình cảm sâu lắng Cũng là nơi đã đến rồi đi, trong sáng tác của mình Chế Lan Viên đã không gian hóa cái “nơi” thành “tâm hồn”…
Khi ta đến chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn Nga Linh Nga nhận xét về không gian của Nguyễn Trọng Tạo đó là:
“một không gian nghệ thuật đa chiều lấn át chất đời thường (điều hiếm thấy trong thơ lúc bấy giờ) bắt đầu xuất hiện dưới ngòi bút Nguyễn Trọng Tạo
Từng mảnh nhỏ hiện thực xù xì và tương phản như ẩn chứa một thái độ đòi phản biện” [61] Cùng với sự trải rộng về không gian là sự phân thân của con người “nửa thân trong nớ nửa mình trong ny” là sự nối dài nỗi nhớ của khung cảnh một con đường và một người nào đó Cách nói hoán dụ thay đổi đặc điểm sự vật “mây thì nặng trĩu núi thì nhẹ tênh” diễn tả tinh tế, sâu sắc sự lưu luyến nhớ nhung của nhân vật trữ tình Cảnh ở đây đã nhuốm màu tâm trạng buồn, nhớ, đúng nhƣ tâm trạng của Nguyễn Du: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Cũng nói về không gian hiện thực của trần thế nhƣng trong thơ của Trần Hoàng Phố là không gian “cõi biến động lịch sử, cõi bể dâu phận người”, là “tiếc thương cõi tình và những cánh chim hạc tuổi trẻ” còn không gian hiện thực ở đây đƣợc Nguyễn Trọng Tạo xây dựng với những riêng - chung khác nhau nhưng ở đó cảnh và người tạo nên một không gian ấm áp, chia sẻ : đồi núi Thông xanh Villa Biệt thự ao ấm Dù hoa Má đỏ Tóc mềm những con đường Những con đường Cao Thấp ngày bốn mùa Đà Lạt Chập trùng Em
Những hình ảnh đồi núi thông xanh, villa, áo ấm, má đỏ, những con đường được tác giả dựng nên một bức tranh đa sắc màu - đó là bức tranh gợi bao kỉ niệm với những cảm giác thân thuộc của một Đà Lạt đầy mộng mơ tươi đẹp Tiếp đó là những kỉ niệm vui buồn, gợi nhớ, của thi sĩ về một bãi biển Quy Nhơn trong kí ức đã qua: hoa li vàng cọ chân anh nhƣ nhắc một chiều buồn sóng trắng biển Quy Nhơn
Không gian nghệ thuật mang đặc trƣng riêng ở mỗi tác giả và ở mỗi thời kì văn học Nếu nhƣ trong thơ cổ không gian vũ trụ lấn át không gian xã hội: “cõi người ta, miền nhân gian” thì không gian trong thơ hiện đại không gian nghệ thuật được hình thành từ cách nhìn, trường nhìn của người nghệ sĩ
Thời gian nghệ thuật
2.2.1 Thời gian nghệ thuật trong văn chương
Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, tuy nhiên dòng thời gian vật lý chảy trôi đều đặn khách quan đƣợc đo đếm chính xác theo lịch, đồng hồ và đó chƣa thể gọi là thời gian nghệ thuật Thời gian nghệ thuật chỉ xuất hiện khi người nghệ sĩ bằng tài năng của mình tạo cho thời gian một thước đo riêng mang tính chủ quan
Có thể nói ở bất kì một tác phẩm văn học nào cũng đầy ắp yếu tố thời gian Dù nhà văn vô tình hay hữu ý thì thời gian vẫn cứ hiện diện trong tác phẩm Thời gian có thể đƣợc ghi lại bằng niên biểu với những tháng năm cụ thể, nhƣng cũng có khi thời gian đƣợc quy chiếu từ những hình tƣợng nghệ thuật Thời gian đã trở thành một phần gắn bó máu thịt với hình tƣợng Từ kiểu cấu trúc thời gian theo lối tuyến tính trong văn học truyền thống, thời gian trong văn chương hiện đại đã được thể hiện một cách linh hoạt Có những tác phẩm yếu tố thời gian giữ một vị trí quan trọng trong việc bộc lộ quan niệm nghệ thuật và cấu trúc tác phẩm Thời gian nghệ thuật chủ yếu của tác phẩm là thời gian tâm trạng, thời gian tâm linh Kiểu thời gian nghệ thuật này xuất hiện nhiều trong các tác phẩm viết về để tài chiến tranh với một độ lùi nhất định so với thời điểm đƣợc diễn ra sự kiện thực tế Ở những tác phẩm như vậy thời gian không tuân theo logic thông thường mà theo logic liên tưởng Thời gian có thể được chuyển từ hiện tại vào quá khứ, vào những giấc mơ… rồi quay về hiện tại
Thời gian nghệ thuật là phạm trù của hình thức nghệ thuật, thể hiện phương thức tồn tại và triển khai của thế giới nghệ thuật Thời gian nghệ thuật là thời gian đƣợc cảm nhận bằng tâm lí qua chuỗi liên tục các biến đổi có ý nghĩa thẩm mĩ xảy ra trong thế giới nghệ thuật - đó là thời gian đƣợc cảm
“thời gian nghệ thuật là hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó Sự miêu tả, trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhất định trong thời gian Và cái được trần thuật bao giời cũng diễn ra trong thời gian được biết qua thời gian trần thuật, sự phối hợp giữa hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thời gian nghệ thuật” [5, tr 272]
Thời gian nghệ thuật cũng có tính liên tục, nhƣng nó là sự liên tục của những đổi thay có ý nghĩa Thời gian nghệ thuật làm cho tƣ duy phát triển chân lí, giúp con người cảm nhận thế giới một cách toàn vẹn, khắc phục khả năng cảm nhận thời gian hạn hẹp, hữu hạn của con người Bàn về thời gian giáo sƣ Trần Đình Sử cho rằng: “thời gian nghệ thuật là thời gian mà ta có thể chiêm nghiệm được trong tác phẩm nghệ thuật với nhịp độ nhanh hay chậm, với chiều dài thời gian hiện tại, qúa khứ hay tương lai Thời gian nghệ thuật là hình tượng nghệ thuật, là sản phẩm sáng tạo của tác giả bằng các phương tiện nghệ thuật nhằm làm cho người thưởng thức cảm nhận được hoặc hồi hộp đợi chờ hoặc thanh thản vô tư hoặc đắm chìm vào quá khứ” [76, tr 62] Thời gian nghệ thuật trong văn học không phải đơn giản chỉ là quan điểm của tác giả về thời gian mà là hình tƣợng sinh động, gợi cảm, là sự cảm thụ ý thức về thời gian đƣợc dùng làm hình thức Hình thức nghệ thuật để phản ánh nghệ thuật, tổ chức tác phẩm
Vậy thời gian nghệ thuật chính là ý đồ của tác giả là hình thức đồng thời cũng là phương thức tồn tại của vật chất cho nên nó đi vào nghệ thuật cùng một lúc với cuộc sống, đƣợc phản ánh trong đó Thời gian nghệ thuật không đồng nhất với thời gian khách quan, nó là thời gian của cảm giác, nó tự do hơn và cho phép nhà văn phát triển vai trò của mình Thời gian nghệ thuật cũng có độ dài, quãng ngắn, nhịp độ, tốc độ, có ba chiều “quá khứ, hiện tại, tương lại, có sự vận động không đảo ngược theo chiều trước sau” [68, tr
207] Song văn học có tiếng nói riêng của nó về thời gian, không giống thời gian cơ học vì đối tượng chiếm lĩnh văn học nghệ thuật là đời sống con người
Sự cảm thụ thời gian gắn liền với ý thức về ý nghĩa của cuộc đời, với quan niệm về thế giới và năng lực hành động của con người Trong thơ ca truyền thống quan niệm về thời gian về cái vĩnh hằng là sự bất lực của con người
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê
Một ngày ở tù, ngàn thu ở ngoài
Trong thơ ca cổ không hề có khái niệm thời gian lịch sử, không tạo ra đƣợc cảm giác về thời gian vận động Thơ ca lãng mạn cũng nói nhiều về thời gian nhƣng chỉ tập trung thể hiện thời gian cá nhân của đời mình khép kín, vắng bóng thời gian lịch sử, xã hội - thời gian ở đây là sự thù địch với thời gian hạnh phúc của tuổi xuân:
Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
(Vội vàng - Xuân Diệu) Đó là thời gian một đi không trở lại, vũ trụ đƣợc coi là khách thể độc lập với con người
2.2.2 Thời gian nghệ thuật trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
Thời gian trong thơ Nguyễn Trọng Tạo xuất phát từ sâu thẳm cái nhìn bên trong, từ sự lắng nghe những âm vọng đời sống rất rõ của cái tôi nhà thơ
Hình tượng thời gian đồng hiện trong nhiều chiều quá khứ- hiện tại- tương lai là một trong những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Trọng Tạo trong chiều sâu khám phá con người Ông là người nghệ sĩ luôn luôn tìm tòi sự sáng tạo chứ không chấp nhận bất kì sự lặp lại nào trong tƣ duy nghệ thuật Trong thơ
Nguyễn Trọng Tạo thời gian xuất hiện nhƣ một hình tƣợng độc đáo, hấp dẫn và mang ý nghĩa sáng tạo Với bàn tay của người nghệ sĩ, thời gian không còn theo vận động vốn dĩ của nó mà đã đƣợc đƣa vào cái nhìn, suy nghĩ chủ quan của người nghệ sĩ vào trong thơ ca Quan điểm về thời gian gắn liền với cảm hứng sáng tạo của thi nhân bởi hình tƣợng thơ và hình tƣợng cảm xúc “thực chất thời gian nghệ thuật là thời gian hiện tại ước lệ sự phát triển của thời gian nghệ thuật chủ yếu là sự phát triển của các hình thức thời hiện tại” [70, tr 96]
Có thể dễ dàng thấy rõ những tín hiệu về thời gian trong thơ Nguyễn Trọng Tạo đƣợc thể hiện ngay từ nhan đề bài thơ: Tội đồ của thời gian, Giao thừa của thế kỉ, Đêm cổ điển, Cỏ xanh đêm trước, Thời gian hai, Nếu ngày mai,… Trên thực tế thì thời gian và con người là hai mảng tách biệt nhưng luôn có mối quan hệ qua lại, con người làm chủ thời gian và thời gian cũng chi phối con người, thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng không nằm ngoài quy luật đó- ông đã lấy chính cái tôi của mình để làm thước đo, để chủ quan hóa thời gian:
Bóc đi nghìn nhung nhớ Nhung nhớ lại theo về
Có cái gì mất đi Lại mất đi vĩnh viễn (…) tự bóc mình tàn phai…
(Bóc đi nỗi nhớ mùa)
Likhachép đã nói rất đúng, “thực chất thời gian nghệ thuật là thời gian hiện tại ước lệ, sự phát triển của thời gian nghệ thuật chủ yếu là sự phát triển của các hình thức, thời gian hiện tại” [99, tr 96] Trong thơ Nguyễn Trọng Tạo, thời gian xuất hiện nhƣ một hình tƣợng độc đáo, hấp dẫn và mang ý hướng sáng tạo rõ nét Bởi theo ông “thời gian chẳng vô tư như ta vẫn nghĩ” và “người - tội đồ vĩnh cửu của thời gian…” (Tội đồ của thời gian)
2.2.2.1 Thời gian hiện thực Đặc điểm của thời gian nghệ thuật là nó luôn mang tính cảm xúc và ý nghĩa nhân sinh, quan niệm nhân văn, do đó nó mang tính chủ quan Tính chất chủ quan giúp ta phát hiện được thực tại đối với con người Nó chính là thời gian của thế giới hình tƣợng, vì thế, nó là hình tƣợng thời gian Trần Đình Sử viết: “Thời gian nghệ thuật là hình tượng thời gian được sáng tạo nên trong tác phẩm nghệ thuật” Việc tạo dựng thời gian nghệ thuật không chỉ là con đường đưa độc giả đến với tác phẩm của thời đại mà còn đưa đến với những tâm hồn tràn đầy sức sống, luôn làm chủ tốc độ thời gian Hiện tƣợng học xác nhận trước khi con người suy nghĩ, cảm xúc thì nó phải có một cá thể không gian và có quan hệ với thời gian Do đó sự cảm nhận với chủ thể trữ tình, của dòng cảm xúc luôn ở hiện tại Những hồi tưởng ở quá khứ, thực tế ở hiện tại và mơ ước tới tương lai cũng xuất phát từ hiện tại ấy