Chương 1. THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO
1.3. Hình tƣợng cái tôi trữ tình
1.3.3. Cái tôi trữ tình trong thơ Nguyễn Trọng Tạo
1.3.3.2. Cái tôi cô đơn, buồn
Cô đơn là một từ Hán Việt, chỉ trạng thái tâm lí của con người, chỉ sự lẻ loi, không nơi nương tựa. Hay nói cách khác, cô đơn là hiện tượng trái ngược
với tập thể hay với cộng đồng xã hội. Cô đơn chính là ý thức về bản ngã của từng cá nhân khi cảm thấy bị tách khỏi cộng đồng. Cái tôi trữ tình cô đơn hiện lên qua tâm trạng và bằng tâm trạng “thơ trữ tình là hình thức rõ rệt nhất của sự biểu hiện cá tính nhà văn” (Lixevich). Trong thơ trữ tình giai đoạn đổi mới (1986) có những bước đổi mới rõ rệt có thể khẳng định đây là giai đoạn bừng tỉnh về ý thức cái tôi, đó là sự thay đổi - một sự thay đổi cần thiết để khẳng định giá trị trong mỗi cái tôi thi sĩ. “Nhà văn chỉ quý giá và cần thiết đối với chúng ta trong chừng mực nhà văn thổ lộ với chúng ta cái hoạt động bên trong của tâm hồn mình…, và trong các tác phẩm của nhà văn điều quý giá đối với chúng ta chỉ là hoạt động bên trong của một tâm hồn nhà văn”
(L.Tonxtoi). Quả thực cái tôi giai đoạn sau đổi mới là sự ý thức cái tôi cá nhân rất rõ. Không giống nhƣ chủ nghĩa cá nhân thuộc quan niệm đạo đức trong thơ cổ và cũng khác với những số phận cá nhân có phần lạc lõng và riêng lẻ của “Phong trào Thơ mới”, mà ở đây là sự khám phá thể hiện con người cá nhân như một hướng đi tích cực về mặt xã hội, về mặt thẩm mĩ văn học. “Tư duy nghệ thuật đang trở về với con người cá nhân nhưng ở một trình độ mới với xuất phát điểm cao hơn. Tư duy nghệ thuật dường như đi giáp một vòng chôn ốc trên con đường tri thức thể hiện con người. Nó đang đi chặng đường vừa qua, kế thừa sâu sắc nhất và mở ra những chân trời sáng tạo mới cho nền văn học xã hội chủ nghĩa” [69, tr. 7].
Nguyễn Trọng Tạo là một thi sĩ sớm ý thức đổi mới. Cái tôi trong thơ ông cũng đƣợc thể hiện ở nhiều điểm nhìn đƣợc đặt trong nhiều mối quan hệ, nhiều bối cảnh khác nhau của đời sống. Thơ ông không chỉ giúp người đọc hiểu về cái riêng, cái độc đáo của nhà thơ mà còn thấy đƣợc những trải nghiệm mới mẻ muôn màu của cuộc sống. Trong lời tựa tập thơ Nương Thân Nguyễn Trọng Tạo viết: “…đời là cõi tạm, tôi thấy mình chỉ là kẻ nương thân. Trong vũ trụ vô tận này, đời người chớp mắt. Ta là ai ta nào kịp trả
lời”. Quan niệm của Nguyễn Trọng Tạo mang cảm quan của triết lí đạo Phật - theo quy luật luân hồi về cuộc sống xung quanh, nhìn cuộc sống nghiêng về phía trầm lắng, nhỏ nhoi, mong manh hơn là sự náo nhiệt tươi vui. Ở đó là sự cô đơn và nỗi buồn đồng hành với nhau bởi niềm vui không trọn vẹn:
Niềm vui rồi dễ phai nhanh
Cuộc đời lắng lại long lanh nỗi buồn
(Sonê buồn)
Phải chăng đó là quy luật vô thường luôn bất biến mà tạo hóa lập trình sẵn trước ngổn ngang bề bộn ở cuộc sống con người. Nỗi buồn và sự cô đơn của Nguyễn Trọng Tạo còn là sự ngỡ ngàng, sự ngơ ngác không biết vì lẽ gì giữa dòng chảy thời gian:
ngơ ngác giọt nước mắt cuối năm không rõ buồn vui gì xe bộ chạy trên đường không rõ về chốn nào
(Sô nê không định trước) Dù là buồn đấy nhƣng thi sĩ lại níu kéo, cố giữ lại nỗi buồn một cách rất đặc biệt:
Buồn đừng đi! Buồn đừng tan mất buồn còn lại tro tàn mà thôi Buồn ơi buồn có thương tôi
đừng làm tôi phải mồ côi nỗi buồn
(Sô nê buồn)
Nỗi buồn và sự cô đơn là điều có thật và bất kì ai cũng đều phải trải qua trạng thái đó khi con người ta hiểu về mình, hiểu về đời, hiểu về mọi thứ của thế giới xung quanh thì có lẽ lại càng thêm buồn thêm đau đớn xót xa. Nỗi buồn cô đơn khiến con người rơi nước mắt, nỗi cô đơn không biết mình là ai,
mình về đâu? Vì cuộc sống bởi lí do này hay lí do kia mà con người không biết làm thế nào dẫn đến tâm trạng mất niềm tin và cái tôi trống rỗng. Chúng ta bắt gặp cái tôi cá nhân, trống vắng cũng là điều dễ hiểu, cùng thời với Nguyễn Trọng Tạo nỗi buồn trong thơ Lâm Thị Mĩ Dạ còn tái tê đến lịm người đó là cái chết trong nỗi buồn:
Em chết trong nỗi buồn
Chết như từng giọt sương sương Rơi không thành tiếng
(Viết tặng nỗi buồn riêng)
Với Nguyễn Trọng Tạo dường như nỗi buồn, nỗi cô đơn không chỉ là một tâm trạng mang tính thời đại, là những ảnh hưởng, dư chấn của cuộc sống thời kinh tế thị trường với quá nhiều thay đổi: về niềm tin, đạo đức, lẽ sống - khó có thể định hình đƣợc rõ ràng:
ngày vung vãi đức tin đêm thấy mình cô độc ranh khôn giữa muôn nghìn trở về thành thằng ngốc
(Tự vấn)
Cô đơn là trạng thái chung của nhiều nhà thơ và không phải đến thời Nguyễn Trọng Tạo cô đơn mới xuất hiện, mà đó là tâm trạng xuyên suốt chiều dài tiến trình văn học Việt Nam. Sự cô đơn xuất hiện từ thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương…
Ngã hữu thốn tâm vô dữ ngữ Hồng sơn sơn hạ Quế Giang thâm
Dịch:
Ta có một chút tâm sự không biết tỏ cùng ai Dưới chân núi Hồng, sông Quế Giang sâu thẳm
(Nguyễn Du)
Cái ý nghĩa đời người của cá nhân chỉ có thiên nhiên mới cảm thông và thấu hiểu, chỉ có thiên nhiên mới là người bạn chân chính của nhà Nho xưa.
Tú Xương cũng lên gân cay nghiệt để trốn chạy cuộc đời: “Ngủ quách sự đời thây kẻ thức”. Nhƣng ở trong thơ cổ chúng ta thấy do hoàn cảnh xã hội phong kiến nên cái tôi cô đơn chƣa phải là cái tôi cá nhân đƣợc ý thức đầy đủ mà là cái tôi cao cả, tĩnh lặng, tự đắc, tự tại, dù ở trong nghịch cảnh vẫn luôn cảm thấy gắn bó với một cái gì thiêng liêng, bền chặt không di dịch.
Chỉ đến thơ mới cái tôi cô đơn, cái tôi cá nhân tự ý thức mới xuất hiện, mới dám bộc lộ hết mình, phô bày một cách công khai khi mà cái cá nhân dám vƣợt lên hệ thức phong kiến trói buộc kìm hãm. Cái tôi cô đơn chính là phương diện của cái tôi trữ tình trong thơ. Những cái tôi cô đơn đã góp phần tạo lên những gương mặt riêng nổi bật và “đượm chút bâng khuâng của thời đại” (Hoài Thanh). Cô đơn là trạng thái tình cảm chung của nhiều nhà thơ trong phong trào thơ mới. Huy Cận với nỗi cô đơn:
Một chiếc linh hồn nhỏ Mang mang thiên cổ sầu
(Ê chề)
Và Xuân Diệu qua tiếng nói của thiên nhiên tạo vật:
Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối
(Khi chiều giăng lưới)
Rồi Phạm Hầu là nỗi cô đơn trống vắng trải dài…
Tôi theo tư tưởng vô cùng Chỉ gặp vô cùng nỗi quạnh hưu
Sự cô đơn của con người khi đi xa quê hương rồi lưu lạc giữa dòng chảy của cuộc đời- đó là nỗi cô đơn của một “người nhà quê”. Nguyễn Trọng Tạo tâm sự: “càng lớn tuổi tôi càng nhớ rõ ràng hơn những kỉ niệm thời thơ ấu. càng xa làng lâu, nỗi nhớ làng càng trở nên sâu thăm thẳm. Đôi khi tôi thấy mình ngơ ngác giữa phố phường” [79, tr. 333]. Nỗi nhớ và sự thổn thức nhớ thương nơi sinh thành được kẻ lưu lạc thổ lộ:
ngơ ngác giữa phố một thằng nhà quê nhớ thương Mộ Tổ biết bao giờ về
(Lưu lạc)
Hình ảnh quê hương là sự gần gũi và sự chân thành, quê hương gợi ta nhớ về hình bóng người thân, cảnh vật, ruộng đồng. Dù đi tha hương lưu lạc tới bất kể nơi nào thì trong cõi nhớ của mỗi người luôn gắn mãi hình bóng quê hương và giờ đây “người ham chơi” là một trong số đó, không cô đơn sao được khi lang thang xứ người. Trong ca dao xưa chúng ta cũng bắt gặp:
Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
(Ca dao)
Cô đơn có thể là phần sâu nhất trong bản ngã của Nguyễn Trọng Tạo.
Cuộc đời mỗi nhà thơ đâu chỉ chịu ảnh hưởng sâu sắc của thời đại mà còn biết bao nỗi niềm riêng tƣ… Nguyễn Trọng Tạo đã thể hiện cái tôi trữ tình trên
mỗi trang thơ. Đó là sự cô đơn tê tái, trống trải không ở trong hiện thực cuộc sống nữa mà nằm cả trong… giấc mơ:
trong giấc mơ ta thấy ta lang thang đường phố cây thả xuống ta lá vàng
(Mộng du)
Cô đơn dường như trở thành một nét riêng, một triết lí trong cuộc sống và trong nghệ thuật, ta cũng bắt gặp sự cô đơn của nhà thơ cùng thời với Nguyễn Trọng Tạo cũng có chung tâm trạng ấy:
Ta từ chối ta để đƣợc là ta Cô đơn, cô đơn
Trên miền cao tư tưởng
(In ra sa ra)
Rồi sự cô đơn của Xuân Quỳnh thể hiện nỗi lòng mình khiến người đọc khó diễn đạt bằng lời:
Em lo âu trước xa tắp đường về
Trái tim đập những điều không thể nói Trái tim đập cồn cào cơn đói
Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn
(Xuân Quỳnh)
Dường như Nguyễn Trọng Tạo lo sợ một vẻ đẹp tinh thần suy giảm ưu tư trước sự mong manh của kiếp người. Nhà thơ Vũ Cao gọi ông là “nhà thơ lẻ loi”. Lẻ loi cô đơn bởi Nguyễn Trọng Tạo có những bước chân lang bạc đi nhiều nơi và đƣợc chứng kiến nhiều cảnh đời, nhiều cảnh sống với những kiếp người khác nhau để rồi ông lựa chọn cho mình một giá trị sống riêng.
Cuộc sống là muôn màu với những bức tranh sáng tối, thật giả, lẫn lộn xô bồ:
“trộm cắp đâm nhau dưới đèn mờ/ xích lô máu me cấp cứu‟‟ (Mộng du). Rồi có khi Nguyễn Trọng Tạo với nỗi cô đơn…khó diễn thành lời…
anh cô đơn nhƣ quan chẳng có dân anh trống trải nhƣ ngai vàng vắng chủ
(Cổ tích tìm thơ)
…để rồi nó nhƣ cái bóng gắn với anh không rời:
hắn là hắn chính là chiếc bóng
không âm thanh không màu sắc không buồn vui thế mà suốt đời hắn kề sát tôi
không xóa đƣợc tôi đành chào thua hắn tôi đã chào khối người như chiếc bóng (Bóng)
Trong thời cuộc xoay chuyển nhiều chiều mỗi con người có những sự cô đơn, trống vắng, nỗi buồn riêng. Trước bước chuyển mình mạnh mẽ của thời đại con người cũng chịu nhiều áp lực của sự thay đổi đó: cô đơn vì địa vị, tiền tài, danh vọng… còn nhân vật tôi ở đây thì cô đơn với:
ta lạc ngoài ta đi hoài không đến (Lưu lạc)
Hàn Mặc Tử đã từng nói: “nhà thơ phong vận như thơ ấy”. Nỗi cô đơn càng thấm đẫm trên trang thơ thì càng chứng tỏ Nguyễn Trọng Tạo đã biết lắng lại và tự giác ngộ mình trước cõi tham- sân- si trần tục. Ông đã lưu lạc, đã đi tận cùng khắp chốn và đã thổ lộ sự trải nghiệm trong “cái chớp mắt ngàn năm”- đó là người nghệ sĩ hiểu được mình, thấu được đời thì càng thấy cô đơn để rồi hướng lòng mình về với những điều gần gũi thân thương với nỗi nhớ:
Tết nơi thành thị nặng người nhớ quê tôi thành trẻ nhỏ thung thăng đường về
(Nhớ tết)
Xuân về Tết đến đó là hình ảnh quen thuộc gợi cảm xúc dâng trào đặc biệt là với những người con lưu lạc xa xứ- Nguyễn Trọng Tạo là một trong số đó. Nơi đó là quê hương, là người thân và đặc biệt là hình ảnh người mẹ:
Mẹ tôi tóc bạc răng đen
Nhớ thương xanh thẳm một miền nhà quê (Mẹ tôi)
Hình ảnh người mẹ hiện lên thân thương, trìu mến làm vơi đi nỗi cô đơn, niềm thương nhớ.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng khẳng định: “nỗi buồn là căn nhà ở đời tuổi thơ và một quyền của thi sĩ là quyền được buồn”. Hình tƣợng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng mang nỗi buồn ấy, có lẽ trong sự đổi thay nhanh chóng của đất nước, của cuộc sống thì những triết lí về nhân sinh đã cuốn theo mạnh mẽ những sự thay đổi nên không còn giữ nguyên đƣợc bản sắc. Nỗi buồn và sự cô đơn đƣợc thể hiện đậm nét trong thơ, trở thành một phạm trù tình cảm phổ quát của con người. Sự cô đơn và buồn là hình tượng khá phổ biến trong thơ trữ tình từ xưa đến nay của cả phương Tây và phương Đông. Cái tôi trữ tình cô đơn trong thơ Nguyễn Trọng Tạo không phải là ngoại lệ, “người ham chơi đã đi và trải nghiệm nhiều nơi với nhiều sắc thái và cuộc sống khác nhau để rồi thể hiện những sự cô đơn sự buồn đó vào thơ như một cách để trải nỗi niềm của mình”. Trong cuộc sống thay đổi nhanh đến chóng mặt con người cần phải có những khoảng thời gian để “soi lại”
mới nhận ra đƣợc giá trị trong cuộc sống. Những cung bậc cô đơn trong thơ Nguyễn Trọng Tạo “…vừa nhẹ nhàng vừa thanh thoát nhưng cũng đủ khơi sâu thức đọng đến nao lòng tâm tư người đọc”. Nguyễn Trọng Tạo đã tâm sự: “bây giờ ít lĩnh vực huý kị hơn trước. Nhà văn có thể múa bút vào nhiều đề tài, nhiều vấn đề. Nhiều đề tài trước dấu đi văn chương có thể khai thác.
Như vấn đề cuộc sống cô đơn‟‟ [2]. Cô đơn và buồn không phải chỉ là tâm trạng của Nguyễn Trọng Tạo mà có lẽ là đặc trƣng của nhiều nhà thơ. Tuy nhiên muốn lí giải nỗi buồn và sự cô đơn không chỉ dựa váo cá tính của nhà thơ, mà còn phải dựa vào tác động của hoàn cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội đương thời. Cái tôi cô đơn là một phương diện của cái tôi trữ tình. Nó tạo ra những vần thơ buồn nhƣng trong sáng thanh bạch, đặc biệt có những giá trị thẩm mĩ đích thực và mang tính nhân văn sâu sắc. Do vậy, cái tôi cô đơn không chỉ khái quát đƣợc những giá trị tinh thần của cá nhân mà còn của thời đại.