Cỏ- cây- hoa- lá

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ USSH thế giới nghệ thuật thơ nguyễn trọng tạo (Trang 112 - 118)

Chương 3: CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN TRONG THƠ NGUYỄN TRỌNG TẠO

3.3.2. Biểu tƣợng trong thơ Nguyễn Trọng Tạo

3.3.2.1. Cỏ- cây- hoa- lá

Các biểu tƣợng trong thơ không có tính chất ngẫu nhiên, nó đƣợc gọt giũa trau chuốt, chọn lọc theo những yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật của nhà thơ. Trong sáng tác nghệ thuật các biểu tƣợng biểu trƣng đƣợc xem là hồn cốt của tác phẩm, người nghệ sĩ dùng để diễn tả cảm xúc của mình. Với Nguyễn Trọng Tạo thì thiên nhiên như cỏ, cây, hoa, lá đều trở thành phương tiện để nhà thơ gửi gắm tình cảm của mình:

tìm hoa tôi tìm ngón thơm xòe nắng em vẫy gọi tôi mùa tình trong trắng tìm hoa tôi tìm cánh môi thần tiên

…tìm hoa tôi tìm yếm thắm váy nhung (Tìm hoa)

Nét chung của người thi sĩ phương Đông thì thiên nhiên là: “không gian sống, không gian tư tưởng- không gian văn hóa”, do đó thiên nhiên chiếm một vị trí đặc biệt trong thơ ca. Nguyễn Trọng Tạo coi thiên nhiên nhƣ người bạn tâm giao gắn bó mật thiết với ông. Nhà thơ Thụy Khuê đã đưa ra nhận xét về thơ của Nguyễn Trọng Tạo: “thơ anh thản nhiên nhẹ nhàng và dễ dàng với những hình tượng có sẵn trên cây anh chỉ việc rung cây là chúng

rụng xuống thơ anh”. Quả thực theo cách cảm của Nguyễn Trọng Tạo chúng ta có thể điềm nhiên mà nắm bắt cái hồn của cỏ, cây, hoa, lá:

chỉ còn cỏ mọc trên trời

một bông hoa nhỏ lặng rơi mƣa thầm (Chưa)

Dọc theo hành trình thơ Nguyễn Trọng Tạo chúng ta có thể thấy bắt gặp bất cứ đâu một nhành cây, một ngọn cỏ hay một bông hoa. Do đó ba đối tƣợng đƣợc Nguyễn Trọng Tạo dùng nhƣ là một biểu thức dùng để diễn đạt một cái gì xanh non, tươi thắm cũng dễ úa, héo khô.

anh nhận cảm bầu trời qua sáu ngón rùng mình mùa xuân tua tủa cỏ non (Cái đẹp sáu ngón)

Nhân vật trữ tình đã tạo ra hình ảnh thiên nhiên gần gũi quen thuộc:

“mùa xuân”, “cỏ non”. Một mùa xuân tiết trời ấm áp cho muôn loài sinh sôi nảy nở. Với Nguyễn Trọng Tạo hoa cỏ trở thành đối tƣợng để gửi gắm tâm sự, trở thành người bạn thân thuộc bên cạnh nhà thơ những khi cô đơn buồn khổ nhất.

thông xanh thông xanh thông xanh lƣng cỏ mọc xiên trái tim sỏi đá (Thiên An)

Nguyễn Trọng Tạo trải lòng mình với thiên nhiên, nhiều khi tác giả đã ví mình với loài cỏ dại sống hồn nhiên giữa cuộc đời mà đâu có biết đƣợc bên trong “cỏ” cũng đầy giông gió, nổi chìm.

tôi thấy tôi là cỏ trên sân bóng

đẩy đầu anh lên cao, cao hơn mọi cái đầu khi anh ngã sóng soài tôi thấy tôi là cỏ

(Cỏ trên sân bóng)

Có lúc ta thấy “cỏ” hồi hộp mừng vui rồi thầm lặng tái tê trước muôn màu của cuộc sống: “Cỏ hồi hộp mừng vui, cỏ thầm lặng tái tê”. Cỏ, cây, hoa, lá đi vào trong thơ Nguyễn Trọng Tạo với một biểu thức quen dùng khi nhà thơ diễn đạt theo cách riêng của mình. Trong cái diễn đạt riêng đó thì cỏ, cây, hoa, lá được thi sĩ “đặt tên” như… tên người: “tôi trở lại dòng sông bờ cỏ thi xanh mướt” (Tái diễn), “giữ cho ta cỏ với trời mây” (Cõi nhớ) và cả một thế giới cỏ, cây, hoa, lá: “hoa li vàng”, “hoa hồng”, “hoa mai”, “hoa đào”, “cây thông”, “cây bàng”, “cây cam”, “cây khế”, “cỏ xanh”, “cỏ non”, “lá xanh”, “lá vàng”, “lá xám khô”, “lá đỏ”… xuất hiện tràn ngập trong sáng tác thơ của Nguyễn Trọng Tạo:

cỏ- cỏ xanh nhƣ cỏ đêm nào em cỏ khát ta mƣa rào đầu hạ cỏ uống mƣa run rẩy

cỏ đang thì

mƣa rào đến rồi đi cỏ xanh mềm ngơ ngác

(Cỏ và mưa) hoa hoa li vàng cọ chân anh nhƣ nhắc (Không đề) và tôi nhƣ lá xanh ngày vàng phai (Và) áo dài xanh lá cây đen

đêm bóc dần vỏ bưởi

(Bí ẩn la Joconde)

Đó là những hình ảnh đậm sắc màu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trọng Tạo. Thiên nhiên xuất hiện nhƣ một bến đỗ để tác giả tìm cho mình chút bình an trong tâm tưởng. Hình ảnh thiên nhiên trong “Thơ mới” của Xuân Diệu cũng đƣợc đặc tả tới độ điêu luyện diễn tả cảm xúc của một nhà thơ: “mới nhất trong các nhà thơ mới”

Hơn một loài hoa đã rụng cành Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh Những luồng run rẩy rung rinh lá Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh (Đây mùa thu tới)

Hình ảnh của “Thơ mới” ấy vẫn mãi vang vọng và trường tồn cùng thời gian. Qua những loài cây xuất hiện trong thơ Nguyễn Trọng Tạo mang đến sự gần gũi quen thuộc, những cây: “cây bưởi”, “cây cà”, “cây bàng”,

“cây khế”…là hình ảnh gần gũi, quyen thuộc gắn bó với văn hoá quê hương truyền thống con người Việt:

cây bưởi đơm hoa cây cà kết quả nụ tầm xuân gió đùa xanh nghiêng ngả (Cổ tích thơ tình)

Cái thoang thoảng của “cây bưởi” đơm hoa, tím màu của hoa cà kết quả, của nụ tầm xuân trước gió đưa nghiêng ngả. Trong thơ ông chúng ta lại luôn bắt gặp được cái màu xanh lung linh, cái đỏ quyến rũ, cái vàng tươi tắn… Có thể nói nhà thơ cảm nhận cái xanh, hồng, tím, đỏ của cỏ, cây, hoa, lá bằng trái tim khác người, giống như “anh nhận cảm bầu trời qua sáu ngón”

được xem là đẹp vậy. Nhiều khi đó còn là hình ảnh nhà thơ tưởng tượng những loại cây rất lạ, lần đầu tiên xuất hiện trong thơ “bay theo nhặt lại” để rồi kết thành “cây ánh sáng”:

anh bay theo nhặt lại những bài ca kết thành cây ánh sáng

(Cây ánh sáng)

Cỏ, cây, hoa, lá là những hình ảnh rất đỗi thân quen với tất cả mỗi chúng ta, những hình ảnh đó xuất hiện với một tần suất khá lớn ở mỗi ngày.

Bởi lẽ ở vườn, trước cửa, trong nhà của gia đình nào mà chẳng có cây xanh, cây cảnh, cây hoa … nếu thiếu vắng những loài cây đó con người sẽ thấy thiếu thốn và mất đi một phần thi vị của cuộc sống.

Trong dòng tâm trạng người thi sĩ ấy cũng có một cảm giác nỗi nhớ

“cỏ- cây- hoa- lá” trong cái không gian tĩnh lặng, ở đó còn chứa đựng bao tâm sự về cuộc sống, tình yêu, về sự tan vỡ, chia li về sự cô đơn hay buồn chán của nhà thơ. Có thể khẳng định thêm là Nguyễn Trọng Tạo dành tình cảm rất đặc biệt cho “cỏ, cây, hoa, lá”, nó nhƣ có gì đó gợi kỷ niệm, gợi sự ám ảnh không lúc nào nguôi trong tâm trí ông. Ông rất buồn ngấn lệ sầu khi nó không còn xuất hiện.

Mùa xuân thương ai tươi ròng muôn sắc cả một trời hoa xương nhòa nước mắt (Tìm hoa)

Cỏ, hoa tuy sắc màu có đẹp có rực rỡ, có kiêu sa có quyến rũ…, nhƣng lại rất yếu mềm trước thiên nhiên, tuy nhiên nó lại luôn được yêu, được quý, đƣợc nâng niu, đƣợc chiều chuộng. Nguyễn Trọng Tạo đã yêu “nàng hoa”:

thắm tươi và mê đắm hoa ơi ta yêu nàng

(Hoa ơi ta yêu nàng)

Dưới giác quan của thi sĩ thì nhân vật “cỏ” là nhân chứng cho tình yêu.

cỏ xanh mềm ngơ ngác ta biệt em

lớ ngơ chẳng hẹn gì

(Cỏ và thơ) từ biệt nhé ngọn cỏ rừng tâm tĩnh ta bay theo mây trắng ngổn ngang trời (Thiên an)

Phải thực sự yêu thiên nhiên mới có thể quan sát tỉ mỉ từng diễn biến thay đổi của “hoa” theo thời gian. Trong thực tế “hoa nở rồi sẽ tàn” theo quy luật chứ không thể bất biến đƣợc, mặc dù tình cảm của thi nhân đối với hoa là có thật nhƣng hoa vẫn phải vận động theo sự biến chuyển của thời gian - đến lúc hoa phải rụng: “hoa rụng xuống lành nguyên trong cát/ hoa rụng xuống vàng tươi trong biển nước”. Phải chăng hoa được người thi sĩ nâng niu che chở nên khi rụng vẫn còn “lành nguyên” vẫn “vàng tươi” chắc chắn với một tình yêu Nguyễn Trọng Tạo đã che chở cho hoa đƣợc vẹn nguyên cả khi chia lìa cảnh - điều đó như là một sự tưởng tượng ảo mộng về thế giới thiên nhiên.

Hoa cũng cảm thấy một nỗi nhớ vây quanh mình. Vào thời khắc của buổi tối đó với tâm trạng mênh mang chợt nhớ về người không tuổi:

không dƣng hoa lí thơm buổi tối chợt nhớ một người không nhớ tuổi (Hoa)

Có hương, có sắc, có tươi rồi có héo úa - đó là hoa của cuộc sống. Chưa chắc héo tàn mà đã mất bởi “hoa” của Nguyễn Trọng Tạo còn có cả “kiếp này hay kiếp nữa” vẫn tồn tại ở “hồn hoa”. Đó là một sự liên tưởng có một không hai trong thơ ca:

rồi chẳng biết kiếp này hay kiếp nữa hồn hoa về trong mƣa bão phù du (Quỳnh hoa)

Cỏ- cây- hoa- lá còn mang bao tâm sự về cuốc sống về sự tan vỡ và chia lìa, về sự cô đơn hay chán của tác giả:

cây ơi đừng tìm lá non

đừng buồn tìm mãi lá non không về (Sônê)

Trong sự biến khúc giao mùa tác giả viết: “bài thơ viết về hoa nhưng chẳng phải đào, lan, mai, hồng, cúc. Chẳng phải xuân, chẳng phải thu và ta đã gọi đấy là biến khúc… những biến khúc giao mùa không lặp lại”. Nhƣ vậy từ những hình ảnh cỏ, cây, hoa, lá của thiên nhiên thi sĩ đã mƣợn những hình ảnh đó rồi đặt cho nó một cái tên, thổi cho nó một chút hồn… để bày tỏ tâm trạng trước cuộc đời. Hình ảnh cỏ, cây, hoa, lá đi vào trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và trở thành biểu tƣợng sáng tạo riêng độc đáo.

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ USSH thế giới nghệ thuật thơ nguyễn trọng tạo (Trang 112 - 118)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(133 trang)