Cuốn sách Nghệ thuật sử dụng điển cố tập trung khảo sát một cách có hệ thống lịch sử, chức năng, quan niệm triết học, thẩm mỹ cổ phương Đông và một số đặc điểm của điển cố trong văn học nói chung để trên cơ sở đó nhận xét và lý giải nghệ thuật sử dụng điển cố trong văn học cổ Việt Nam. Cuốn sách được biên soạn thành 4 chương và được chia thành 2 phần, phần 1 gồm 3 chương như sau: Chương 1 Chương 1 điển cố - sự hình thành và đặc điểm, chương 2 điển cố trong văn học Việt Nam, chương 3 nghệ thuật sử dụng điển cố trong truyện thơ nửa cuối thể kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.
Trang 4==
Ds cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc
thù được sử dụng phổ biến trong văn học cổ Việt
Nam Do ảnh hưởng của triết học và mỹ học phương Đông, chủ yếu là của Trung Hoa, điển cố không chỉ là biện pháp
tu từ mà còn là một dạng thức độc đáo để biểu hiện tư
tưởng, tình cảm cũng như để xây dựng hình tượng nghệ
thuật Điển cố xuất hiện hầu hết ở các thể loại văn học :
thơ, từ, phú, tản văn, biền văn, hy khức Mặt khác, điển
cố nói chung và lối sử dụng điển cố nói riêng trong văn học
Việt Nam, đặc biệt là hai thể loại truyện thơ và ngâm khúc,
so với Trung Hoa lại còn thể hiện nét đặc thù, độc đáo
Vì vậy, để hiểu một tác phẩm văn học cổ, nhất là hai thể
loại văn học đặc thù này, không thể không chú ý đến vai trò và ý nghĩa của điển cố
Cuốn sách này tập trung khảo sát một cách có hệ thong
lịch sử, chức năng, quan niệm triết học, thẩm mỹ cổ phương
Đông và một số đặc điểm của điển cố trong văn học nói
chung để trên cơ sở đố nhận xét và lý giải nghệ thuật sử
dụng điển cố trong văn học cổ Việt Nam, cụ thể là trong
truyện thơ và ngâm khúc giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVII,
đầu thế kỷ XIX; đồng thời xác lập vai trò của điển cố như
khai mở một kho báu ngôn ngữ, từ đó bước vào kho tàng trí tuệ của con người, truy tìm đến giá trị chân, thiện, mỹ
Trên tỉnh thần đó, tác giả cố gắng cung cấp những kiến thức tổng quát về điển cố trong văn học phương Đông, nhất
là văn học Việt Nam và Trung Hoa thời cổ trung đại trên
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 5cơ sở phân tích nguồn gốc, quá trình hình thành, phát triển,
suy tàn, tính chất và vai trò của điển cố trong lịch sử văn
học và liên hệ tới những nét chung về điển cố trong văn học
phương Tây thời cổ trung đại Gắn liền với điều đó, cuốn sách này sẽ giới thiệu những tư liệu, kiến giải cần thiết để
nghiên cứu quan điểm nghệ thuật về lối sử dụng biện pháp
tu từ này qua những tác phẩm văn học cụ thể
*
`
Dưới thời kỳ phong kiến, mọi người đều được giáo dục
dựa trên nền tảng của Nho giáo Hơn nữa, trong bộ phận văn học Hán Nôm, người viết tác phẩm và người đọc tác phẩm
đều là nhà nho Họ đều được hấp thu từ đời này sang đời
khác lối học cử tử, được dai mai trong những tác phẩm kinh,
sử, tử, truyện, thi, phú Sự thông thuộc xuất xứ, trích dẫn và
sử dụng chúng trong sáng tác, thi cử, giảng dạy được xem
là một trong những tiêu chuẩn đánh giá sở học uyên thâm
Cho nên điển cố văn học không có gì xa lạ đối với họ Có
lẽ vì thế mà không ai để ý nghiên cứu và cũng không ai làm
công việc chú thích điển cố Mặt khác, trong văn học cổ, sáng tác mới là hoạt động chính, còn nghiên cứu văn học thực sự chỉ mới bắt đầu trong giai đoạn hiện đại khi nước ta tiếp xúc
với khoa học nghiên cứu của phương Tây Các nhà nghiên cứu
ta xưa cũng phát biểu về quan niệm sáng tác như Ngô Thời
Nhiệm, Lê Quí Đôn, Cao Bá Quát , nhưng đặt thành vấn
đề riêng cho điển cố thì chưa thấy Vì vậy, trong bộ phận văn
học Hán Nôm dường như chỉ có việc sử dụng điển cố văn
học chứ chưa có việc nghiên cứu điển cố
Về mặt lịch sử chữ viết của ta, từ giai đoạn nửa cuối
thế kỷ XIX'trở đi, chữ quốc ngữ bắt đầu được truyền bá
rộng rãi Yêu cầu phiên địch những tác phẩm từ chữ Hán,
phiên âm từ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ là một việc làm bức
6 Điển cố và.Nghệ Thuật sử dụng Điển Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 6xúc Công chúng đọc tác phẩm văn học chữ Hán dịch ra chữ quốc ngữ hay tác phẩm chữ Nôm phiên âm ra chữ quốc ngữ
bấy giờ không phải chỉ có những trí thức cao cấp mà có cả đông đảo thành phần bình dân Điển cố sử dụng trong văn
học không phải lúc nào người đọc, nhất là thành phan binh dân lao động, cũng hiểu được Trong nhiều trường hợp nếu điển cố không được chú thích cặn kẽ sẽ rất khó hiểu Điển
cố là chìa khóa để cảm thụ câu thơ, người đọc không có được
chiếc chìa khóa ấy thì không thể hoặc không thực sự bước
vào cảm thụ nghệ thuật bài thơ Vì vậy, có thể nói song song
với quá trình phiên âm những tác phẩm Nôm hay phiên dịch
những tác phẩm chữ Flán ra chữ quốc ngữ, các học giả
thường chú giải các điển cố Có thể thấy điều này từ Trương
Vĩnh Ký qua các tác phẩm phiên âm chữ Nôm của ông vào
những năm nửa cuối thế kỷ XIX và tiếp tục mãi về sau này,
làm thành truyền thống chú giải văn học cổ Công việc chứ
giải điển cố dần dần do yêu cầu của phần lớn người Việt
sau này không biết chữ Hán, chữ Nôm, phát triển thêm
thành chú giải cả những từ ngữ Hán và từ cổ Việt Nam Và
cũng do chỗ càng về sau công chúng hiểu biết Hán học càng
ít nên việc chú giải càng tỉ mỉ Trong số những nhà chú giải này có thể kể tên những người tiêu biểu như Tản Đà, Trần
Trọng Kim, Đào Duy Anh, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Tố, Tôn Thất
Lương, Lê Văn Hòe
Từ giai đoạn cuối những năm 1940 trở đi, do khối lượng
điển cố được chú giải trong văn học cổ ngày càng nhiều Để
giúp người đọc văn học cổ thuận tiện trong việc tìm hiểu
nghĩa của các điển cố, có một số nhà nghiên cứu thấy cần
thiết bên cạnh việc chú giải điển cố trong từng tác phẩm cụ
thể, nên có loại sách công cụ để tra cứu Do đó bắt đầu xuất hiện loại sách từ điển điển cố Trong các từ điển này, điển cố được chú giải khá tỉ mỉ, từ xuất xứ, nội dung đến
sự xuất hiện của nó trong những tác phẩm văn học cụ thể,
'Điễn cố và Nghệ Thuật sử dụng Điễn Cố '7
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 7và được sắp xếp theo trật tự a, b, c để dễ tra cứu Có từ
điển điển cố hình thành dưới dạng kể chuyện điển cố nhu
Tầm nguyên từ điển (Lê Văn Hoè, Quốc học thư xã, 1941, Hà
Nội), Từ điển oăn liệu (Long Điền Nguyễn Văn Minh, A chau
- Hà Nội, 1941, tái bản 1952), Từ điển thành ngữ điển tích (Diên Hương, Nhà sách Khai Trí, 1954), Cổ học tỉnh hoa (Ôn Như
Nguyễn Văn Ngọc, Nxb Thọ Xuân, 1962), Thành ngữ điển tích
danh nhân từ điển (Trịnh Vân Thanh, 1966), Điển hay tích lạ (Nguyễn Tử Quang, Sài Gòn, Khai Trí, 1974) Có loại từ điển
giải thích ngắn gọn ý nghĩa, nguồn gốc điển cố như Tâm
nguyên từ điển (Bửu Kế, Nhà sách Khai Trí, 1968), Hán Việt
tứ tự thành ngữ (Nguyễn Xuân Trường, Tủ sách Học, 1973),
Điển cố ăn học (Đinh Gia Khánh Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977) Có loại từ điển từ ngữ, điển cố của riêng một
tác phẩm như Từ điển Truyện Kiều (Đào Duy Anh, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1974), Điển tích trong Truyện Kiều (Trần
Phương Hồ, Nxb Đông Nai, 1997) Có một số từ điển điển
cố được dịch lại từ từ điển thành ngữ điển cố của Trung Quốc như Thông đụng thành me cố sự (Vương An, Nhà sách
Khai Trí, 1974), Từ điển thành nsữ điển cố Trung Quốc (Lê Huy
Tiêu biên dịch, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993) Tuy
nhiên, những cuốn từ điển đã có thường mới tập hợp được lượng điển cố trong một số tác phẩm quen thuộc Thực tế vẫn còn một khối lượng điển cố không nhỏ, nhất là trong
bộ phận văn học chữ Hán của ta chưa được đưa vào từ điển
Cho đến nay, việc nghiên cứu điển cố thường chỉ giới hạn
trong việc chú giải, làm từ điển, còn việc nghiên cứu điển cố nói
chung và cách sử dụng điển cố trong văn học cổ như thế nào
thì chỉ có rải rác một số bài hoặc một số đoạn trong các bài viết,
sách nghiên cứu văn học, nhân khi bàn về phép làm văn
Trong Việt Hán oăn khảo của Phan Kế Bính khi bàn Luận
vé phép làm oăn (1918), có đề cập đến ý nghĩa của phép dùng
điển: “Dụng điển là tìm những điển tích cũ, có điều gì việc
8 Dién cb va Nghe Thudt sit dung Dién CO
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 8øì liên can đến đầu bài thì dùng mà đặt câu tức là viện
chứng mà tỏ ra sự thực Và làm văn chương, tất phải dẳng
điển tích thì đặt câu mới gọn gàng tròn trặn mà cai được
nhiều nghĩa”
Sau đó, Hải Lượng (Dương Quảng Hàm) trong Việc đừng
điển trong oăn thơ trên Văn học tạp chí, số 2, tháng 6.1932 cho
rằng điển cố trong văn thơ, sử, truyện, tiểu thuyết của Trung
Hoa không còn thích hợp với tình hình mới ở nước ta vì
người đọc Việt Nam đã quen với chữ quốc ngữ và nếu không phải là người có vốn Hán học rộng, xem nhiều thì không thể
hiểu được Ông cho rằng nên duy trì việc dùng điển cố trong
văn học bằng cách dùng điển cố từ nguồn văn liệu dân tộc nhằm phát huy cái hay cái đẹp của văn học nước nhà và
cũng để làm cho người đọc “nghĩ ngợi, nhắc nhở đến câu
thơ, câu văn xưa mà chứng minh rằng văn chương nước mình
Dương Quảng Hàm trong Việt Nam oăn học sử yếu,
chương Tính cách chính của các tác phẩm ề ăn chương : các
điển cố (1968) đã bổ sung thêïh các khía cạnh liên quan đến điển cố một cách khoa học hơn, có tầm nhìn khái quát và
hướng dẫn cụ thể Ông phân biệt điển cố thành hai phép:
một là dùng điển, hai là lấy chữ Trong “Cách dùng điển”,
ông nói điển cố ám chỉ đến một việc cũ, tích xưa khiến cho
người đọc nhớ đến việc ấy, tích ấy mới hiểu ý nghĩa và vấn
dé ly thú trong câu văn Ngoài ra, ông còn cho biết nguồn
gốc của điển cố từ sử, truyện, chuyện cổ tích, truyện thần
tiên, tiểu thuyết v.v Trong “Lấy chữ”, ông định nghĩa “Lấy
chữ là mượn một vài chữ ở trong câu thơ và câu văn cổ để
đặt vào câu văn của mình, khiến cho người đọc phải nhớ đến
câu thơ hoặc câu văn kia mới hiểu được cái ý mình muốn
nói” Ngoài phần định nghĩa, ông còn khảo sát đến công
dụng của sự dùng điển, lấy chữ Điều này thể hiện ở các
điểm mấu chốt như: làm cho câu văn gọn gàng, ít chữ nhiều
Điển cố rà Nghệ Thuật - sử dụng Điển Cố 9
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 9ý; làm cho lời văn đậm đà lý thú; làm cho lời văn trang nhã;
làm chứng cớ trong văn chương
Có thể nói, phần trình bày về điển cố của Dương Quảng
Hàm vừa nói trên, đã cung cấp một lượng thông tin cô đọng, tóm gọn và cần thiết về biện pháp tu từ độc đáo này Trên tạp chí Phụ nữ tân uăn số 164, 18.8.1932, Phan Khôi
với bài Một it vé vin hoc - sự dùng điển trong tho vin va su chú thích đã nói rõ vấn đề dùng điển như một qui tắc trong
phép làm thơ văn thời trước Ngoài ra ông còn để cập đến
việc chú thích và sự cần thiết của nó đối với người đọc thế
hệ mới Ông cũng dùng các câu trong Tuyện Kiều để chứng
minh cho lập luận của mình °
Phạm Thế Ngũ trong Khảo luận ề thơ cũ Trung Hon, trên
cơ sở dịch các ý kiến của Lương Xuân Phương trong Cựu fJ
lược luận, (Chính Trung thư cục ấn "hành, Đài Bắc), đã dành
chương cuối càng (chương 10) để khảo về việc dùng điển cố
trong văn chương Trung Hoa thời xưa Trong đó, lịch sử việc
dùng điển được đánh dấu từ thời Lục triều Trải qua nhiều
thời đại, cách dùng điển, nhìn chung, được chia thành lối minh
dụng (điển cố thường thấy), ám dụng (che dấu một phần xuất
xứ), tịch điển (điển bí hiểm), tá dụng (lấy một vài chữ trong thành ngữ hoặc câu văn xưa), tục tự (lấy chữ trong phương
ngôn, ngạn ngữ) Tác giả còn cho rằng cách dùng điển phong phú, nhưng nếu dùng thích đáng sẽ giúp ích nhiều cho sự biểu
đạt ý thơ, gia ting hiệu lực cảm xúc cho 0 người đọc
chữ Hán of nghệ thuật diễn tả trong “Doan trường tân thanh
(1973), tác giả Mã Thị Huỳnh Điểu có một số nhận định đúng
đắn về nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Du Tuy
nhiên, tác giả chưa có cái nhìn hệ thống, xuất phát từ đặc
trưng, từ thi pháp của văn học cổ, nên cách trình bày nhiều
khi vụn vặt, tản mạn, nhất là phần phân loại điển cố (xem chương 3), chưa nêu bật được điểm chính yếu, cơ bản và đặc
10 Dien cố cà Nghệ Thuật sử dụng Điển Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 10trưng của biện pháp tu từ đặc biệt này
Trên Tạp chí Văn học cĩ các bài viết Gĩp ý oề cuốn “Điển
cố oăn học” (Vũ Ngọc Khánh, Lê Văn Uơng, TCVH số 5.1979 và Một tài ý kiến oề cuốn “Điển cố uăn học” (Trọng Lai, TCVH, số
5.1979) Các bài viết này gĩp ý về phương pháp xây dựng một
cuốn từ điển, nhất là từ điển điển cố và đưa ra một vài nhận
xét về những tu điểm và thiếu sĩt của cuốn Dién cố oăn học
(Đinh Gia Khánh chủ biên, Nxb Khoa học xẩ hội, Hà Nội, 1977)
Trong Để Hm hiểu từ nghĩa cần biết từ nguyên (Tạp chí
Ngơn ngữ, số 4.1978), Đào Đuy Anh cho rằng tiếng Việt cĩ
khá nhiều từ cĩ nguồn gốc từ chữ Hán Vì vậy muốn hiểu được ngữ nghĩa của loại từ ngữ này cần biết qua nguồn gốc của nĩ, trong đĩ cĩ xuất xứ của điển cố
Giáo trình Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa dau thế kỷ XIX (1978) của giáo sư Nguyễn Lộc, trong mục nghiên cứu về “Ngờ øữ Trưyện Kiều”, cĩ đề cập đến nghệ
thuật dùng điển cố của Nguyễn Du như một khía cạnh của
việc sử dụng từ Hán Việt Theo đĩ, trong khi sử dụng nguồn
vay mượn từ văn học cổ Trung Quốc, Nguyễn Du đã sắp xếp những điển cố chưa quen thuộc với mọi người vào những văn cảnh nhất định Do tương quan về văn cảnh, người đọc
vẫn cĩ thể hiểu và rung cảm được những câu thơ ấy Rải rác đây đĩ trong các bài viết, sách vở về văn học cổ Việt
Nam nĩi chung đều cĩ đề cập đến điển cố, nhưng lại thể
hiện trong một phạm vi giới hạn Ngay cả phương diện dịch
thuật cũng cĩ nĩi đến điển cố Cụ thể, trong Dịch từ Hán
sang Việt, một khoa học, một nghệ thuật, 1982, cĩ bài đề cập đến điển cố như là một bước khĩ khăn cho việc dịch thuật
từ Hán sang Việt Trong bài Về tẪm quan trọng của cơng tác
dịch thuật ở nước ta uà sự cần thiết của tiệc dịch từ Hán sang
tiếng Việt, Huỳnh Lý (tr 32) cho rằng thơ cổ Trung Hoa quá
cơ đọng Vì thế người sáng tác thích dùng điển cố, điển dùng
càng ẩn kín, khơng để lộ dấu tích càng hay Một câu thơ cơ
Điễn cố tà VNghệ Thuật — sử dụng Điển Cố T1
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 11đọng, không có chủ ngữ, bổ ngữ, đại từ, liên từ, trợ từ, lại
dùng điển nữa sẽ làm cho người đọc, người dịch thấy khó
hiểu, khó dịch Ngoài ra, trong một số bài như Thử tìm hiểu 0ê kinh nghiệm truyền thống trong tiệc dich thơ chữ Hán ra tho
tiếng Việt qua các dịch phẩm mẫu mực của người xưa của Trương,
Đình Nguyên, bài Nguyễn Khuyến dịch thơ của Nguyễn Văn Huyền cũng đưa ra những bài học về nghệ thuật và phương
pháp dịch thuật từ Hán sang tiếng Việt Trong số những bài
học kinh nghiệm ấy, có khả năng “phi điển cố hóa bản dịch”,
“dùng các từ thông thường để dịch điển cố” (tr 157) v.v
Trong Chính phụ ngâm bị khảo, khi so sánh bản dịch của Phan
Huy Ích và bản dịch của Đoàn Thị Điểm, Hoàng Xuân Hãn
cũng đã nhận thấy “Phan Huy Ích “phỏng dịch” mà Đoàn
Thị Điểm “áp dịch” Đọc bản dịch của Phan Huy Ích, người
ta không có cảm tưởng đó là một bản dịch Theo đó, thì bản dịch của Đoàn Thị Điểm ít có khả năng “phi điển cố hoá”
Vấn để chung được đặt ra trong bài viết của Trương Đình
Nguyên và Nguyễn Văn Huyền là điển cố có nội dung hàm súc, có khả năng làm tôn tính chất suy tư, bác học của bài
thơ, diễn đạt được những ý tình sâu kín và tỉnh tế nếu dùng
thành công Còn trường hợp dùng cầu kỳ, lạm dụng thì sẽ tạo nên tính sáo mòn, rối rắm (tr 172) Đặc biệt, về nghệ
thuật dịch thơ, nhất là dịch câu thơ có điển cố của Nguyễn
Du, trong bài Nguyễn Du ‘v6i viéc dich tho của Cao Hữu Tạng (tr 179), tác minh chứng trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã
dịch những câu thơ của Trung Quốc bằng tất cả tâm hồn của minh Nha tho dich câu thơ có điển cố là tên người, tên đất
không nhiều bằng câu thơ vay mượn nguồn điển cố từ văn thơ Trung Hoa Trên nguyên tắc tôn trọng hình thức cú pháp
của nguyên tác, nhà thơ đã thể hiện bằng hai câu thơ lục
bát và chọn lọc những từ ngữ chính xác, hình tượng và đắc
thể nhất để tạo thành câu thơ sinh động và hợp với tâm lý
người Việt Nam
12 Điển cố rà.Nghệ Thuật sử dụng Điễn Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 12Về phương điện nghệ thuật dịch thơ Hán sang thơ Việt,
có thể nói công trình Cơ sở øgữ oăn Hán Nôm (1984) do tập thể Khoa Văn Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội biên soạn
được xem là đầy đủ và khá hệ thống, bổ sung những khiếm khuyết của các ý kiến trên Trong khi trình bày Một số biện
pháp tu từ chủ yếu thường được dùng trong các van bin Han vin
cổ ở Việt Nam, tác giả phân biệt thành hai biện pháp tu từ:
sử dụng điển cố và viện dẫn kinh truyện Tác giả cho rằng
sử dụng điển cố được xem là một biện pháp tu từ cần thiết
và phổ biến trong văn học cổ Trên cơ lột định nghĩa khái quát về điển cố, tác giả điểm qua mối quan hệ giữa
điển cố và thể loại văn học, nhận định về điển cố có nguồn
gốc từ trong kho tàng tục ngữ, ca dao của ta Tác giả còn
nhận xét biện pháp viện dẫn kinh truyện được nho sĩ thực
hiện tích cực, viện dẫn lời lẽ “thánh hiền“ trong kinh truyện
để tăng thêm tính thuyết phục cho văn thơ của mình Nhìn
chung, có thể nói so với các bài viết, các sách ít nhiều có nói
đến điển cố, thì đây là phần trình bày đẩy đủ nhất những
đặc điểm của điển cố từ trước đến nay Tuy nhiên, do yêu cầu của nội dung quyển sách, nên biện pháp tu từ này chỉ
là một điểm nhỏ được gói gọn khoảng hơn 5 trang trong phần trình bày về biện pháp tu từ thường được dùng trong các văn
bản Hán văn cổ Việt Nam
Trong bài Tính lặp lại trong vin hoc dan gian va vin dé
tập cổ trong oăn học oiết (Tạp chí Văn học, số 1.1991), La Nhâm Thìn đã so sánh và chỉ ra mối quan hệ giữa hai nền
văn học dân gian và văn học viết qua sự tương đồng ở tính
lặp lại trong văn học dân gian và tính tập cổ trong văn học
viết Tác giả cho rằng, dùng điển cố không hẳn là tập cổ,
“là tập cổ khi dùng điển (hay không dùng điển) có trích
lời hoặc ý, có sử dụng cách nói hoặc cách dùng hình ảnh
của người xưa” Tập cổ cũng là lặp lại nội dung biểu đạt,
là quan điểm thẩm mỹ trong sáng tạo và cảm thụ văn học
'®Điển cố và Nghệ Thuật và sử dụng Điển Cố 13
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 13của văn học viết thời trung đại Tập cổ gắn liền với quan
điểm thẩm mỹ, nên khi ý thức xã hội thay đổi thì quan điểm
thẩm mỹ thay đổi Vì vậy, trong văn học hiện đại nó trở
thành một thủ pháp nghệ thuật
Trên Tạp chí Ngôn ngữ, số 3.1991, trong bai Chi thich một câu Kiều, Trương Chính giải thích nguồn gốc câu chuyện
của Thôi Oanh Oanh và Trương Quân Thụy trong Hội chân
ký của Nguyên Vi Chi đời Đường, và cho rằng nó không
hoàn toàn giống chuyện nàng Oanh Oanh và Trương Quân
Thuy trong Tay Sương ký của Vương Thực Phủ đời Nguyên
về chủ đề tư tưởng Vương Thực Phủ không đồng tình với
cách suy nghĩ của Nguyên Vi Chỉ Ông cho rằng nam nữ phải
được kén chọn người mình sẽ sống trọn đời Vì vậy, ông đã
thay đổi đoạn kết đi khi viết vớ tạp kịch Tây Sương Ký Còn trong Về một điển cố trong Truyện Kiều (TCVH, số 4.1991), Trần Ngọc Chùy đưa ra ý kiến về nội dung giải thích
điển “tái sinh“ và “trúc mai” trong Truyện Kiều xuất phát từ
những chuyện kể dân gian mà chưa thấy sách nào giải thích Nguyễn Ngọc San, trong Từm hiểu giá trị oà cấu trúc của điển cố trong tác phẩm Nôm (Tạp chí Hán Nôm, số 2.1992), nhấn mạnh ý nghĩa hiện thực, ý nghĩa biểu trưng và ý nghĩa giá trị phong cách của điển cố Điển cố mang hai cấp độ
nghĩa: tính lịch sử cụ thể (sự thật về một sự kiện, sự vật
lịch sử) và tính biểu trưng hay phong cách học (ám chỉ) Tác
giả bài viết chúa nguồn gốc điển cố thành hai loại : dụng điển (sự việc hay sự vật cốt lõi, nhân vật, địa danh) và dẫn kinh
(lấy trọn một ie một đoản ngữ trong nguyên văn, cắt một vài chữ đầu hay chữ cuối của câu văn, lựa chọn một vài từ trong kinh truyện, cấu tạo theo cách riêng) Mỗi loại đều
được thi gia sử dụng trên cơ sở theo trật tự cú pháp tiếng
Hán hoặc địch điển cố sang quốc âm
Tạp chí Hán Nôm số 2.1995 có bài Thi liệu Hán học trong
các uăn bẩn thơ Nôm của Nguyễn Thúy Hồng Tác giả bài viết
14 Diễn cố và.Nghệ Thuật sử dụng Điển Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 14cho rằng trong các văn bản thơ Nôm, thi liệu Hán được các
thi gia khai thác theo ba cấp độ: thứ nhất là chuyển dịch một
câu thơ, một đoạn thơ Hán đưa vào sáng tác thơ Nôm Cấp
độ thứ hai là khai thác thi liệu Hán theo cách chỉ mượn từ ngữ Cấp độ thứ ba là vay mượn ý tứ, hình ảnh thơ ca Hán
Mỗi cấp độ đều có ý nghĩa và giá trị làm đẹp cho văn bản, gia tăng sức thuyết phục cho câu thơ, ý thơ Đặc biệt ở cấp
độ thứ ba, sự vay mượn được thực hiện ở mức độ cao nhất,
thực tế nhất, hòa tan trong câu thơ trên cơ sở hòa đồng về
tâm tư, tình cảm với thi gia Hán, chứ không phải lặp lại
nguyên xi thi liệu Hán <
Gần đây nhất, có bài Việc sử dụng điển cố Hán học trong
Chỉnh phụ ngâm nguyên tác va bản dịch hiện hành cũng của
Nguyễn Thúy Hồng, oe trén Tap chy Văn học, số 1.1997, Trong đó, tác giả cho rằng sử dụng điển cố Hán học là biện
pháp “mỹ từ” có tính đặc thù và thể hiện khuynh hướng
điển nhã trong thao tác lựa chọn ngôn từ của các thi sĩ trung
đại Trong Chỉnh phự ngam, Đặng Trần Côn đã dùng những
cặp điển cố trên cơ sở đối từ, đối ý một cách chặt chế và linh hoạt, chủ động, thích hợp với tâm lý nhân vật Khi
chuyển dịch sang thơ Nôm, dịch giả hoặc biến đổi vỏ ngữ
âm điển cố Hán học, hoặc giữ nguyên âm Hán, thêm vào các từ Việt cho dễ hiểu Vì thế, số điển cố Hán học được
gia giảm hẳn để thích hợp với câu thơ Việt
Nhìn chung, qua các bài viết trên, các nhà nghiên cứu
có những nhận xét cơ bản về nguồn gốc, vai trò và ý nghĩa của điển cố trong thơ văn xưa
Cố gắng tiếp thu ý kiến của người đi trước, trên cơ sở cách nhìn riêng theo quan điểm lịch sử, cuốn sách này sẽ trình
bày một cách hệ thống, cụ thể những đặc điểm về lịch sử, nguồn gốc, nội dung, tính chất, chức năng, ý nghĩa, quan hệ
giữa điển cố với thể loại văn học, lý do, cách dùng điển cố,
nhằm tiến đến sự nhìn nhận thỏa đáng về vai trò của điển
'Điển cố rà Nghệ Thuật rà sử dụng Điển C6 15
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 15cố trong văn học xét về mặt lịch sử, triết học và thẩm mỹ
Ở góc độ tu từ học, với những đặc tính chung như khái quát, hình tượng, giản lược, cô đọng, hàm súc trên nền
tảng triết lý cổ điển của Trung Hoa và quan điểm thẩm mỹ
cổ phương Đông, điển cố trở thành một phương thức sáng
tác và cảm thụ cái đẹp trong một giai đoạn nhất: định
Công trình này tập trung khảo sát nghệ thuật sử dụng
điển cố ở hai thể loại đặc thù của văn học Việt Nam thời
trung đại: truyện thơ và ngâm khúc giai đoạn nửa cuối thế
kỷ XVII-đầu thế kỷ XIX, lấy Truyện Kiều, Hoa tiên, Sơ kính lân trang là các tác phẩm tiêu biểu của thể loại truyện thơ
và Chỉnh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc, Tự tình khúc là các tác phẩm tiêu biểu của thể loại ngâm khúc để khảo sát
Cố nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ không dừng lại ở đó mà mở rộng sang những tác phẩm khác khi
can thiết để so sánh, đối chiếu nhằm tiến đến khẳng định
tính phổ quát, vai trò tích cực của điển cố trong văn học cổ, đồng thời có cái nhìn đúng đắn về nghệ thuật sử dụng điển
cố của các tác giả ta xưa _
Mặc dù đã cố gắng tiếp cận các nguồn tư liệu khác nhau
để đưa ra những kiến giải phù hợp, cuốn sách này bước đầu
nghiên cứu về điển cố này chắc chắn không tránh khỏi những
hạn chế và thiếu sót Tác giả ước mong nhận được sự chỉ
giáo của các bậc thức giả và bạn doc gan xa
Trang 16Chương _1
ĐIỂN CỐ - SỰ HÌNH THÀNH
VÀ ĐẶC ĐIỂM
Te trung đại, do quan niệm sáng tắc chịu ảnh hưởng
của Nho giáo, văn học được sáng tác với mục đích chính trị và giáo huấn về cách cư xử trong cuộc sống, nên
lời văn, lời thơ thường có âm hưởng trang trọng để tránh
dung tục tầm thường Để có được mỗi từ, mỗi câu là một
bông hoa vẹn toàn theo quan niệm sáng tác xưa, nhiều qui
định, nguyên tắc trở thành chuẩn mực AP dung cho phuong pháp và thủ pháp sáng tác
Từ sau khi Thẩm Ước (thời Nam Bắc triều) đặt ra những
qui tắc đầu tiên cho các thể thơ, nhiều nhà thơ sau không chỉ theo những qui tắc đó mà còn thêm vào nhiều qui định mới Những qui định ấy đượè áp dụng lâu đời trở thành những khuôn mẫu Khuôn mẫu được xem là tiêu chuẩn, thước đo đánh giá hiệu quả, mức độ thành công của bài thơ,
bài văn Văn học cổ nước ta thời bấy giờ chịu ảnh hưởng
sáng tác của Trung Quốc, tuy không hoàn toàn, nhưng những
qui định và tiêu chuẩn đặt ra cho việc sáng tác như trên đã
nói cũng được xem là đương nhiên và cần thiết Đối với các
tác giả của ta và Trung Hoa thời đó, một trong những thói
quen sáng tác là dùng điển cố Về mặt nào đó, việc dùng điển cố khéo léo sẽ nâng cao tính “bác học” của tác phẩm
và trình độ uyên bác của tác giả Ở Trung Hoa, có thời kỳ người ta lấy thước đo dung lượng điển cố được sử dụng trong tác phẩm để đánh giá khả năng sáng tác Có khi người
ta lấy việc am tường điển cố làm nội dung cuộc thi đố để
thử kiến thức Nzm sử, chương Vương Si truyện có chép câu
Dién ova Nghe Thudt sử dụng Điễn Cố 17
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 17chuyện sau: “Thượng thư lệnh cho Vương Kiệm tập hợp các
sĩ tử mới học cho thi để xem hư thực ra sao, phân biệt sự việc nào thuộc nguồn gốc nào, gọi đó là lệ sự Từ “lệ sự”
bắt đầu từ đó” Câu chuyện này cho thấy Vương Kiệm dùng phương pháp khảo hạch các sĩ tử mới học, đưa ra sự việc,
rồi cho thí sinh căn cứ vào đó mà phân biệt xem thuộc về
điển nào Trong cuộc thi, thí sinh dùng bao nhiêu lệ sự sẽ
quyết định kết quả thắng hay bại Vương Sỉ là người thắng
cuộc vì không chỉ học rộng, giỏi lệ sự mà còn van dung lam
thành văn chương =
Vai trò và tác dụng của điển cố có một vị trí nhất định trong văn học Về mặt nào đó, điển cố có yếu tố tích cực,
góp phần tạo hiệu quả cho sức mạnh của câu văn, câu thơ
Chính vì vậy mà trong một thời gian-khá dài, các tác giả văn học trung đại Trung Quốc xem trọng việc sử dụng điển cố,
đã hình thành hẳn những học phái sáng tác theo quan niệm
“không có từ nào không có xuất xứ“ (phái Tây Côn thể, do
Hoàng Đình Kiên đời Tống khởi xướng) Các tác giả Việt
Nam tuy không xem việc dụng điển là quan trọng đến độ hình thành học phái như Trung Quốc, nhưng đã vận dụng
điển cố trong văn chương như một công việc tự nhiên
Điển cố có vai trò nhất định trong văn chương thời trang đại Vì vậy, việc tìm hiểu về điển cố và việc sử dụng điển
cố trong văn học nói chưng, nhất là trong văn học cổ nước
ta cần thiết được đặt ra
1 KHÁI NIỆM VỀ ĐIỀN cô
=1 Định nghĩa:
Trong Việt Nam oăn học sử yếu, Dương Quảng Hàm định nghĩa: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hoặc một câu
có ám chỉ đến một việc cũ, một tích xưa khiến cho người đọc
sách phải nhớ đến việc ấy, sự tích ấy mới hiểu ý nghĩa và
cái lý thú của câu văn Dùng điển chữ Nho gọi là “dụng
Trang 18điển” hoặc “sử sự” (nghĩa đen là khiến việc), ý nói sai khiến việc đời xưa cho nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình“
Ông còn nói các văn sĩ của ta và của Trung Quốc xưa thường
mượn một sự tích hoặc một câu văn, câu thơ cổ để diễn tả
ý tình Điển cố có thể ám chỉ đến các việc thật được chép
từ sử, truyện, hoặc là những chuyện hoang đường được chép
từ truyện cổ tích, ngụ ngôn, có khi là một vài chữ từ câu
văn, câu thơ cổ Từ “điển cố” sớm nhất được thấy trong
Hậu Hán thư, thiên Đông Bình Tân.uương Thương truyện Dong
Bình Tân vương Lưu Thương nhân lúc làm lễ thọ ân, viết
sớ tâu rằng: “Bệ hạ chí đức quảng thi, từ ái cốt nhục, mỗi
tứ yến kiến, chiếp hứng tịch cải dung, trung cung thân bái,
sự quá điển cố”? (Bệ hạ đức độ to lớn, yêu thương người
thân ruột thịt Mỗi khi ban yến tiệc, thì đổi nét mặt vui vẻ
(thân mật), hoàng hậu đích thân vái chào, sự việc qua thành
điển cố” Hình Thiệu truyện trong Bắc sử có câu “Mỗi công
khanh hội nghị, sự quan điển cố, Thiệu viên bút lập tựu,
chứng dẫn cai hợp”® (Mỗi khi các quan hội họp bàn Be
có những việc liên quan dén huyện xưa, tích cũ, Thiệu cẩm bút đứng lên giảng giải, dẫn chứng đây đủ, thích đáng) “Sự
việc qua thành điển cố” có nghĩa là những điển chế đã vượt
qua quá khứ trở thành khuôn phép Vì tính chất của những
điển chế qua thời gian thành khuôn phép mà điển cố mang
ý nghĩa của quá khứ Đối với điển cố trong thơ văn, Từ nguyén ban ci và bản Quốc ngữ từ điển giải thích điển cố
là “những sự việc cũ làm điển chế mẫu mực”® Tờ hả bản
cũ chỉ nói là “chuyện cũ“® Nội dung giải thích về điển
cố về cơ bản là giống nhau, Từ #gz/êz bản mới giải thích
Trang 19là “trong thơ văn dân dụng các chuyện cũ thời cổ đại hay những từ ngữ có xuất xứ từ trước”® Còn Han ngit dai từ điển thì cho là “những chuyện xưa thời cổ đại hay từ cú có nguồn
gốc xa xưa được dẫn dụng trong các tác phẩm văn hoc’
Điển cố là kho tàng quí báu của một nền văn hóa, chứa đựng những hình ảnh sinh động của lịch sử (nhà cỏ, Thang,
Võ, ngọa tân thường đảm .), hình ảnh của đất nước, của địa phương (Xích Bích, Mịch La, Lư sơn chân diện ), là kinh
nghiệm quí báu được tích lũy từ cuộc sống của tiền nhân
(thực thiểu sự phổn, Ngu công di sơn ), là phẩm chất đạo
đức của con người (nghĩa tào khang, dâng mâm ngang mày
-.), la tri tuệ phong phú của người xưa (ôm cây đợi thỏ,
khắc thuyền tìm gươm, vẽ rắn thêm chân .)
Có thể nói điển cố là những từ ngữ về chuyện xưa, tích
cũ, về tư tưởng, hình tượng trong sách xưa được tác giả dùng làm phương tiện để diễn đặt ý tưởng một cách ngắn gọn, hàm súc Điển cố bao gồm:
1 Từ hay nhóm từ được lấy ra từ những câu chuyện
trong kinh, sử, truyện, các sách ngoại thư về nhân
vật lịch sử, sự kiện lịch sử, địa danh, những quan niệm
trong cuộc sống
2 Từ hay nhóm từ mượn ý, lời từ câu thơ hoặc bài thơ
của người trước, hay được trích từ thành ngữ, tục ngữ,
ca dao có tích chuyện được lưu truyền hoặc đã nổi tiếng
Trang 20- “Cố điển”: trong Hồng lâu mộng, hồi 19 có đoạn: “Bảo
Thoa cười nói: “A, Bảo huynh đệ đó sao! Thảo nào! Cố điển
vốn đầy một bụng anh ấy Nhưng chỉ tiếc một điều là lúc dùng cố điển lại quên khuấy di mat’
- “Cổ điển”, “điển thực”, “cựu điển”, “vãng điển” : Tôn
Đức Khiêm trong Lực triều lệ chỉ viết : “Cho nên cổ điển không
thể không am tường”; “Cho nên điển thực không cần phải
chính xác”; “Sau đó biết được rất nhiều cựu điển, quí và có
thể vận dụng biến hóa”; “Lại đủ trong việc chứng yan tiy
theo øãng điển, không liên quan đến đề tài“®,
- “Sự”: Lưu Hiệp treng Văn tâm điêu long, chương Sự loại:
“Cho nên sự quan trọng, tuy kết quả không nhiều, nhưng ví
Ähư cái chốt xe một tấc mà khống chế cả bánh xe, cái chốt cửa một thước mà xoay được cửa ải vậy”®
- “Điển”: Viên Mai trong Tùy oiên thi thoại : “Người ta
có điển mà không dùng, giống như có quyền thế mà không
sinh vay”
- “Cổ sự”, “cố thực”: Nhan Diên Chỉ trong Thỉ phẩm :
“Thích dùng cổ sự càng bị câu thúc”% Ngụy Thái trong Lam
Hán ẩn cử thi phẩm : “Những tác phẩm thi ca cia Duong Uc, Lưu Quân đều chất chứa cố thực”02
Việc sử dụng điển cố cũng có nhiều tên gọi khác nhau:
11 82 # ø:"# Hở #78 Răng",
12 RRERR ERNE, SHG BRAK
'Điễn cố và Nghe Thudt sử dụng Điển Cố 2T
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 21- “Dụng sự”: Chung Vinh trong Thỉ phẩm : “Cho đến việc
ngâm vịnh về tình và tính cũng quí ở việc đựng s20,
- “Dung dién”: Hoàng Đình Kiên đời Tống trong Bạt Cao
tit khuyến thi: “Dụng điển như ra lệnh trong quân đội, đặt một
- “Sử sự”: Hỗ Tế đời Tống trong Điều khế ngư ẩn Hùng
thoại “Thi gia mang bénh sit suv rat nang”,
- “Dẫn sự”: Lưu Hiép trong Van tam diéu long, chuong
Su loại: “Dẫn sự mà trái ngược sai lầm, dù ngàn đời vẫn
- “Biên sự”: Hồ Tể đời Tống trong Thiéu Khê ngư ẩn tùng
thoại “Thái Khoan Phu trong Thi thogi noi : “Ong Kinh da
từng nói: “Nhà thơ mắc bệnh sứ sự rất nặng, cho nên đều lấy đó làm văn cho thích hợp và phân biệt ra, như thế gọi
là biển sự Tuy có khéo, nhưng có ích gì?“0%
- “Vận điển” : Tôn Đức Khiêm trong Lực triểu lệ chỉ nói:
“Văn chương mà øận điển thì biển văn càng cần hơn”
Ở Việt Nam, điển cố và việc dùng điển cố cũng có nhiều tên gọi khác nhau:
Trang 22- “Điển tích”, “dụng điển”: Bưu Văn Phan Kế Bính trong
Việt Hán oăn khảo: “Dụng điển là tìm những điển tích cũ” Co
sở ngữ oăn Hán Nôm (Lê Trí Viễn ): “Với một điển tích hoàn
toàn Việt Nam“
- “Dùng điển” và “lấy chữ”: Dương, Quang Ham trong
Việt Nam uăn học sử yếu: “Cách làm văn ấy có thể gọi chung
là dùng điển cố Nhưng nói tách bạch ra thì có hai phép:
một là đàng điển, hai là lấy chữ”
~ “§ử dụng điển cố”, “Dùng điển cố”: Cơ sở ngữ oăn Hán
Nom (Lê Trí Viễn ): “Việc sử đựng điển cố không phụ thuộc vào thể loại”, “Việc đùng điển cố không phải là biện pháp
tu từ riêng biệt của các tác phẩm thơ Nôm” Nguyễn Lộc
trong Văn học Việt Nam, nữa cuối thế ký XVIII- đầu thế kỷ XIX
: “Việc sử dụng điển cố lấy từ văn học cổ Trung Quốc”
Như vậy, tên gọi điển cố và việc sử dụng điển cố ở
Trung Quốc và Việt Nam nói chung rất đa dạng Trong các
cách gọi và sử dụng điển cố trong văn chương, chúng tôi dùng cách gọi phổ biến ở nước ta là điển, điển cố, điển tích
và dùng điển, dụng điển, sử dụng điển cố
» 3 Sự nhận dợi
Bên cạnh phép ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, điển cố
được xem là một biện pháp tu từ đặc biệt Sự gặp nhau của
các phương thức tu từ này thể hiện ở chức năng so sánh ngầm và biểu hiện ước lệ dựa trên những nét tương đồng
giữa hai đối tượng vốn khác loại, không cùng bản chất Điển
cố cũng phần nào mang những đặc trưng ấy, nhưng sự khác
biệt của điển cố thể hiện ở tính chất đặc thù trong nội dung
phong phú và hình thức đa dạng Để có thể nhận biết là điển
cố chứ không phải là ẩn dụ, hoán dụ hay tượng trưng, và
để phân biệt điển cố với từ Hán Việt, cần phải nhận dạng
được nó
- điển cố
Nhìn chung, điển cố xuất hiện trong các tác phẩm văn
Điễn cố tà.Nghệ Thuật sử dụng Dién Cố 23
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 23thơ Điển cố bao gồm hai loại: điển cố câu chuyện và điển
cố từ ngữ Điển cố câu chuyện là những chuyện thuộc thời
cổ đại, hoặc ở trong sách xưa Điển cố từ ngữ được dẫn dụng phải có xuất xứ từ trong sách xưa
Tuy nhiên, có hai loại quan niệm : một là xem điển cố
thể hiện qua từ ngữ, hai là xem điển cố thể hiện qua câu
Nhưng tính phổ quát của điển cố từ ngữ được công nhận nhiều hơn là điển cố thể hiện qua câu Hơn nữa, không phải câu nào được dẫn dụng trong thơ văn đều được xem là điển
cố Vì vậy, đa số các sách giải thích thường, chú ý điển cố thể hiện qua từ ngữ,
Điển cố bao gồm hai loại : câu chuyện và từ ngữ, từ
lâu đã được Lưu Hiệp nước Lương thời Nam triéu dé ra
Thiên Sự loại trong Văn tâm điêu long của ông có nói đến
dẫn sự và dẫn ngôn trong sáng tác Ông phân chia thành hai
loại: “đưa ra sự việc của người ta để dẫn chứng ý nghĩa“
(tức là cố sự) và “dẫn thành từ để làm sáng tỏ lý lẽ” (tức
là ngữ điển)#U,
Qua đó có thể thấy, điển cố giúp người đọc hiểu được
giá trị câu thơ qua hồi ức, tưởng tượng, liên tưởng và gợi
mở một hướng mới để thong | hiểu nội dung, ý nghĩa câu văn, câu thơ Sự thấu hiểu điển cố dựa trên nền tảng nắm được
nguồn gốc điển cố Quá trình tiếp nhận câu có điển cố là
20 Gọi điển cố là `những câu chuyện thời cổ đợi và tử ngữ có xuốt xứ
tử trước được đến dụng trong thơ võn” lò phù hợp với thực tế khách quen củo việc dụng điển, là khói quót được việc dụng điển vẻ mat
hên đỡ nói đến từ lôu Triệu Dực đời Thonh trong Âu Đóc thi thoọi cho điển cố lò : "Chuyện xươ đố thònh điển cố, thi một điển đỗ có một ý rồi, người làm tho mượn ý đó diễn tả thành tình củœ
mình, thì tự nhiên cảm gióc còng nhiều hon gép doi”
Trang 24quá trình vỏ từ ngữ qua khúc xạ tâm lý trở về câu chuyện
(thơ văn) quá khứ, chuyển hóa thành hình ảnh chủ quan của người tiếp nhận Vỏ từ ngữ của điển cố được thay thể bởi
hình ảnh mới sinh động, đầy cảm xúc Trong văn chương cổ,
sự cô đọng, hàm súc, ngắn gọn nhưng chuyên chở được
nhiều nội dung, ý nghĩa được xem là phương thức thể hiện
hay nhất Tính hướng nội trong văn chương cổ được chú
trọng và để cao Vì vậy điển cố được tác giả xưa ủng hộ
và thực hiện tích cực vì nó làm tăng thêm giá trị từ tưởng
và sự hấp dẫn sâu sắc
a Phương thức hình thành điển cố dựa trên cơ sở rút gọn
tỉnh thần chung, hình tượrg chung của toàn bộ hay một vài
khía cạnh của một câu chuyện, của một câu thơ, câu văn hoặc
bài thơ, bài văn thành những từ ngữ ngắn gọn
+ Rút gọn câu chuyện: Từ toàn bộ hay một vài khía cạnh
của câu chuyện lịch sử, truyền thuyết hoặc thần thoại
người ta đúc kết lại thành một vài từ ngữ ngắn gọn mà hàm
chứa được nội dung và ý nghĩa của nó Phương thức đúc
kết được thể hiện qua các cách sau:
- Dùng tên gọi nhân at Từ một câu chuyện lịch sử,
truyền thuyết, người ta chỉ cần rút gọn thành tên gọi của một
nhân vật nào đó điển hình thì toàn bộ câu chuyện, diễn đạt, kết luận hay tính chất điển hình của nhân vật đó nổi bật lên
Ví dụ Chỉnh phụ ngâm có câu: “No thì ả Chức, chàng Ngâu
Tới trăng thu, lại bắc cầu qua sông” để diễn tả sự xa cách của hai người yêu nhau “Ả Chức, chàng Ngâu” là truyền thuyết về vợ chồng Ngưu Lang, Chức Nữ, vì tội biếng nhac,
bỏ bê công việc, bị Thượng đế phạt phải sống xa nhau, chỉ
gặp nhau mỗi năm một lần vào ngày mồng bảy tháng bảy
bên sông Ngân
- Dùng tên sách: Chỉ cần nêu lên tên sách được nhiều
người biết đến cũng có thể khái quát được nội dung của sách
®iển cố tà.Nghệ Thuật —- sử dụng Điền Cố 25
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 25ấy và cô đúc thành câu thơ nhiều ý nghĩa Ví dụ Nguyễn Du
trong Đô thành thu da vii trung tác có câu “Khiêu tận hàn đăng độc Sở tao”#? (Khêu ngọn đèn lên, đọc Lự tao) “S6 tao” tric
thiên Ly fao của Khuất Nguyên, người nước Sở làm để nói lên
tâm sự của kể tôi trung trước thế lực đen tối Tác giả câu
thơ muốn nói cố gắng học tập tấm gương trung nghĩa ấy
- Dùng tên địa phương, tên lâu đài, thành quách ở một
nơi nào đó xảy ra một sự kiện nổi bật, nhiều người biết đến
hay được ghỉ vào lịch sử, người ta có thể chỉ nêu tên nơi
ấy là khái quát được toàn bộ sự kiện Ví dụ Nguyễn Thuong
Hiền trong Lữ Ngô có câu “Ngô môn hàn nguyệt dạ xuy
tiêu” (Cửa Ngô đêm trăng lạnh, thổi sáo) “Ngô môn” là
tên huyện Ngô huyện tỉnh Giang Tô Xưa Ngũ Tử Tư trốn đến Lãng Thủy, bị đói, vỗ bụng thổi sáo, xin ăn ở chợ Ngô
Ý câu thơ nói nỗi lòng của tác giả _khi phải chịu cảnh cùng
- Dùng số từ: Câu nói hay sự việc có liên \ quan đến số
từ, được các tác giả đời sau chọn lấy số từ ấy, khái quát
lên thành ý nghĩa sâu sắc hơn, thể hiện tư tưởng, trong tác
phẩm của minh Bui Tén Am trong Truy phong tiền hình bộ
thượng thư diễn phái hầu hà quận công chế có câu “Túc dạ trực
tai duy thanh, Bá Khởi hữu tứ trí chỉ đặc tháo”#) (Đêm tối
lòng thẳng ngay trong sáng, Bá Khởi giữ tiết tháo tứ tri) “Tứ trí“ là bốn cái biết, chỉ lòng thẳng ngay, trong sạch, mượn
chuyện trong Hậu Hán thư, Dương Chấn truyện : Chấn đang
đương nhiệm ở Xương Ấp, tiến cử Vương Mật làm xương ấp
lệnh Vương Mật đợi đến tối mới đem mười cân vàng đến
tặng cho Dương Chấn Dương Chấn từ chối Vương Mật nói:
22.7 4k #4 d Tí nh AG oe oe SR
2 RAORAR AKT
~“a#na #% J # Ð & ñ ñ!A fl:"A ñ #\ 1` ï# RADY ZR
26 Điền cố cả.Nghệ Thuật xử dụng Diễn Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 26“Trởi tối rồi không ai biết được chuyện này đâu” Dương
Chấn bảo: “Trời biết, thần biết, tôi biết, ngài biết, sao lại bảo không ai biết?“? (Thiên tri, thần tri, nga tri, tử trí, hà vị vô
tri?) Vương Mật xấu hổ đi ra Từ đó, người ta sone chữ
“tứ trí” để chỉ sự trung trực, liêm khiết
+ Rút sọn câu 0ăn, câu thơ hoặc bài uăn, bài thơ: Thông
thường, để khái quát loại điển cố từ ngữ, người xưa thường
dựa vào từ gốc rồi đổi hình thức đi một #, chẳng hạn trong kinh Thí, phần Bội phong, chương Bách Chu có câu “Nhật cư nguyệt chư, cố dật nhỉ ví” (Mặt trai đi, mặt trăng chuyển, vì
thế mà ẩn dật)9, người xưa cắt lấy hai chữ “cư” và “chư” ghép
thành từ “cư chư” dùng thay:cho “nhật nguyệt”, tức mặt trời,
mặt trăng Giản Văn Đế đời Nam triều, nước Lương trong Thiện
Giác tự bị mình có câu: “Cư chư bất tức; hàn thử thôi di”#2 (Mặt trời, mặt trăng không nghỉ, lạnh nóng đổi đời) Từ đó “cư chư” còn có nghĩa là ánh sáng, như bài Phù độc th thành nam của
Hàn Dũ có câu: “Khởi bất đán tịch niệm, vi nhĩ tích cư chư #9(Há chẳng nghĩ sớm chiều, để bạn tiếc ánh sáng)
Người ta cũng có thể từ một câu thơ, câu văn, một bài
thơ, bài văn rút gọn lại thành vài từ Ví dụ, dùng bài thơ
ly biệt Vị thành khúc của Vương Duy đời Đường®®, tóm lại
toàn bộ ý thơ thành “chén khuyên” trong Truyện Kiều để tả
25 X #m, 3t ?o, BB, Ý 2a, Tĩ TR # #n?"
26 # - È Ã - l #:"H B ñ lš, 13k TH"
27.1 x# # # ‡ #1:"5 16 ^ 8.73 lệ "
20 tỆ Ất 2F X # 44 H:" 3© 8 ý 4, ðM lễ Z 0E"
29 Bởi fhơ tiễn bạn Vị Thờnh khúc của Vương Duy đời Đường : “Vi Thanh
triệu vũ ốp khinh trồn Khóch xớ thơnh thanh liều sốc tôn Khuyến quên
cánh tện nhốt bõi tửu Tây xuốt Dương Quơn vô cố nhôn”
+ #® jt 4 -"ïB 3ä ĐỊ f l6 E /# # # ñ Ñ ft Gồ fh 8 # & —†ri5 #tờM SA
(Ở Vị Thònh mươ sớm thốm bụi nhẹ Nơi quớn khóch sóc liều mới xonh xơnh Xin bạn hãy cọạn chén rượu nòy Phia tay, khỏi Dương Quơn, không còn cố nhên)
Dién cH ra Nghe Thudt sử dụng Dién C6 27
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 27cảnh chia tay giữa nàng Kiều và gia đình: “Vài tuần chưa cạn
chén khuyên Mái ngoài nghỉ đã giục liền ruổi xe” (c 893-
894); thành “Dương Quan” trong Kứm Thạch kỳ duyên của Bùi
Hữu Nghĩa: “Châu Thị viết: Thương ỷ thương rẽ phút Dương
Quan Đoạn ly kỳ, nát một lá gan Câu biệt hận rơi hai hàng
Có khi người xưa dùng chữ đồng âm để diễn tả ý nghĩa
Ví dụ, trong Kim Thạch kỳ duyên của Bùi Hữu Nghĩa có câu:
“Cho muội nương hiệp nghĩa bố kinh Cùng Thiết đệ vầy
duyên châm kiểu ” (hỏi 3, cảnh 5, lớp 3) Điển “châm kiểu”
do chữ “cảo châm ®(cảo: lúa; châm: chày đá) có nghĩa là
cái chày đá để đập lúa; chỉ người chồng: Sách Danh nghĩa khảo giải thích rằng, xưa, người có tội phải cúi xuống cái chày đá đập lúa để người ta dùng cây rựa chém đầu Hễ nói đến
chày đập lúa thì nói luôn đến cây rựa (tức chữ phu mang
bộ Kim) Âm “phu” đồng âm với chữ “phu” (người chồng),
nên người ta ngầm nói người chồng là “cdo cham” (cham kiểu)
Phương thức cấu tạo nên điển cố rất phong phú, vì thế hình thức của nó cũng rất đa dạng
b Hình thức thể hiện của điển cố
Với lối cấu trúc đặc biệt, điển cố thực hiện sức mạnh
của mình trên cơ sở xây dựng một đối tượng được so sánh
gắn liền với hình ảnh tượng trưng trong một tương quan mở
rộng.Vì thế, hình thức thể hiện đa dạng và linh động của
điển cố là một yếu tố quan trọng góp phần lớn cho sự hoàn
thiện các chức năng tưởng tượng và liên tưởng
+ Điển cố uới đặc tính da dạng oề biến thể hình thức, thể hiện trong các cấu trúc từ, ngữ, câu Điển cố có thể là:
Trang 28- Một từ: Sơ kính tân trang có câu: “Muộn màng thay giấc
diém bi” (c.37) “Vay 4 Hang vì ta xe mối” (c.531) “Bi” 1a chữ mượn trong kinh Thi, tức là chiêm bao thấy con gấu, ý
nói sinh con trai “Hằng” tức Hằng Nga trong truyền thuyết
- Một cụm từ “Trải qua một cuộc bể dâu” (Truyện Kiểu,
c1) “Bể dâu” chỉ sự thay đổi trong cuộc sản mượn trong sách Liệt tiên truyện
- Một câu: “Như mình là: Sấm vang- bia Phước Còn
người ta là: Gió xuôi các Đằng” (Kim Thạch kỳ duyên, hồi thứ
3) “Sấm vang bia Phước“ là chuyện kém may mắn của một
thư sinh nghèo được Phạm Trọng Yêm giúp tiền để mua mực
in chữ lên bia bán kiếm lời, nhưng một đêm, cái bia bị sét
đánh tan tành Ý nói không còn cơ may nào cứu vớt được
hoàn cảnh khó khăn “Gió xuôi các Đằng” nói về chuyện may
mắn ngẫu nhiên như cơn gió định mệnh thổi xuôi, đẩy
thuyền Vương Bột đến gác Dang Vuong, để rồi ông được
nổi danh về tài văn chương từ đó
- Hai câu: “Trước sau nào thấy bóng người Hoa đào năm ngoái còn cười gió-đông” (Truyện Kiều, c 2747-2748)
mượn ý bài thơ của Thôi Hộ đời Đường “Khứ niên kim nhật
thử môn trung Nhân điện đào hoa tương ánh hồng Nhân điện bất tri hà xứ khứ Đào hoa y cựu tiếu đông phong”
(Ngày này năm ngoái ở cửa này Mặt người với hoa đào cùng
ánh màu hồng Mặt người không biết ở nơi nào Hoa đào vẫn cười với gió đông như trước)
+ Ban than tit ngữ của điển cố sau khi được rút gọn thể hiện dưới hai hình thức Hán Việt va thuần Việt
Hình thức điển cố âm Hán Việt đa số thường cố định,
nhưng khí đã đi vào tiếng Việt thì có nhiều biến thể đa dạng
Trang 29vợ chồng) còn có thể diễn thành : ông tơ, bà nguyệt, trăng
già, tơ hồng, tơ thắm, tơ đỏ, tơ trao, chỉ đỏ, chỉ dắt, dây
thắm, xe mối, xe tơ, xe duyên v.v Cwng oán ngâm khúc :
“Quyết đem dây thắm mà giam bông đào” (c 120), “Trêu
ngươi chỉ bấy trăng già Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành
(c 335-336), Truyện Kiều : “Dù khi lá thắm chỉ hông VV
- Dién “tang thuong” (tang: cay dau, nuong tréng dau;
thương là biển khơi) thể hiện qua các hình thức từ ngữ như:
tang hải, tang điền, bãi bể nương dâu, bể dâu Thạch Sanh:
“Xem trong tang hải vận may bỡn bờ” (c 216), Cung oán ngâm
khúc : “Ai bày trò bãi bể nương dâu” (c 58), Truyện Kiều :
“Trải qua một cuộc bể dâu” (c 1) v:v
Tóm lại, yếu tố để phân biệt điển cố với một số biện
pháp tu từ khác được sử dụng trong văn chương là trên
cơ sở ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, điển cố mang một nội
dung về các câu chuyện lịch sử, truyền thuyết, thần thoại
- được rút gọn trong một vài từ ngữ ngắn gọn, cô đọng
nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa sâu xa Vì điển cố có nội dung phong phú, nên hình thức thể hiện cũng rất đa dạng
Đặc điểm nổi bật khác của phương thức tu từ đặc thù này
là chỉ cần đọc lên câu thơ có điển cố, người đọc có thể
tưởng tượng đến hình ảnh và nội dung cốt truyện từ các
tên nhân vật, tên sách, tên địa phương, lâu đài, thành
quách, thậm chí số từ hoặc liên tưởng đến nội dung câu
thơ, bài thơ của người trước, từ đó có thể rút ra được ý
nghĩa của nó rồi kết hợp với ngữ cảnh để có được ý nghĩa rốt ráo cho toàn câu thơ Sự nhận dạng điển cố giúp phân
biệt điển cố với ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng, từ Hán Việt
và cũng để qua đó giúp nắm được một số đặc điểm cơ
bản của phương thức tu từ đặc biệt được người xưa ưa chuộng và sử dụng phổ biến trong sáng tác văn học
c Điều kiện để người đọc hiểu được điển cố
30 Ditn cd va Nghe Thuật sử dụng Diễn Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 30Sử dụng điển cố, các tác giả xưa muốn khai thác lợi điểm
của một phần kiến thức nền mà người đọc có văn hóa có được nhằm khơi gợi ở họ kiến thức và sự thông hiểu trọn vẹn ý
tưởng tác phẩm Điển cố với chức năng kích thích ký ức của người đọc đã mang lại sự cảm hứng thú vị, bởi vì lời giải đáp
sẽ không đến ngay nếu bỏ qua giai đoạn trung gian.của hình
tượng điển cố Sự trở về của ký ức tạo cảm giác nối tiếp
những giá trị của quá khứ về kiến thức và kinh nghiệm Bất kể nguyên tắc nào đề ra cho lối dùng điển cố, bất
kể tác phẩm hay tác giả của thời đại nào, điển cố trong tác
phẩm phải được hiểu, phải được người đọc biết đến Nếu điển
cố bao gồm quan hệ giữa sự gợi ý và ám chỉ một cách độc
lap, thì quan hệ đó rõ ràng không tổn tại trong nội dung Chỉ
có người đọc mới thiết lập được sự tiếp nối bằng cách tiếp
nhận mối quan hệ ấy và cho phép điển cố hoạt động Vì rõ
ràng, hình thức của điển cố không ngang bằng với cái được
ám chỉ, nó không thể chuyển tải ý nghĩa ám chỉ nếu không
có sự giúp đỡ của người đọc Nói ngắn gọn hơn, để quá trình
hoạt động của điển cố thực sử có hiệu quả, nội dung và ý nghĩa của điển cố cần được người đọc biết đến
Vai trò của người đọ
như người sáng tác Nhưng qua đó có thể thấy rằng, sự am hiểu ý nghĩa điển cố đồi hỏi người đọc một kiến thức phong
phú hay chuyên môn về một hay nhiều lĩnh vực Đối với họ,
sự am tường nội dung kinh tịch cổ, lịch sử, văn thơ cổ Trung
Hoa và Việt Nam sẽ là hành trang vững chắc giúp đi đến
mục đích và ý nghĩa cuối cùng của điển cố, hơn nữa, của tác phẩm có điển Và ngược lại, tính chất sâu sắc của điển
cố không thể đến được với người đọc thiếu kiến thức cơ bản
về văn hóa; xã hội, lịch sử, văn học v.v thời quá khứ Điều
này gây ít nhiều khó khăn cho người đọc hiện đại muốn
am hiểu văn thơ xưa, bởi nền học vấn ngày nay không thể
Điễn cố rà Nghệ Thuật —- sử dụng Điển Cố 3T
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 31cung cấp kiểu kiến thức “đi về với bài học quá khứ muôn
đời”, vả chăng, nếu có thì cũng luôn hướng về phía trước
để tìm đến những giá trị thiết thực cho tương lai
Ii TÍNH CHẤT €CỦA ĐIẾN CỐ
Trong văn học, do đặc điểm của điển cố mang tính chất hình tượng, nên biện ' pháp tu từ được sử dụng phổ biến
là hình thức so sánh, ẩn dụ, hoán dụ Thông thường, trong
so sánh hay ẩn dụ, hoán dụ, người ta thường lấy những hiện
tượng thiên nhiên để làm rõ những hiện tượng xã hội, hay phẩm chất của con người Về mặt nào đó, điển cố cũng có
phần giống với những hình thức ẩn dụ, hoán dụ Nhưng có
điều khác là, điển cố là chất liệu không phải lấy trong thiên
nhiên, mà lấy từ tác phẩm của các thời đại quá khứ
Đặc điểm của điển cố là dùng hình tượng biểu trưng,
diễn đạt bất cứ lĩnh vực nào của cuộc sống, được nhiều
người gọt giũa, sửa chữa thành cố định Hình thức thì nó tùy thuộc vào sự vận dụng đa dạng của mỗi người trong cách diễn đạt của mình Điển cố bao giờ cũng có hai nghĩa:
nghĩa đen và nghĩa bóng _ Nghia den nhiéu hinh anh, cu thé,
sinh động Nghĩa bóng mang tính khái quát, trừu tượng, có
khi ám chỉ một sự vật, một tính chất, hay một hành động,
nên rất đa dạng, nhiều màu sắc biểu cảm Sử dụng điển cố
một cách hữu hiệu chính là vận đụng hài hòa thống nhất
giữa nghĩa đen và nghĩa bóng Dàng nghĩa đen làm phương
tiện biểu đạt, dùng nghĩa bóng làm nội dung ý nghĩa, mục
đích biểu trưng và sau đó thể hiện thái độ của người sử dụng Vì vậy, tính khái quát của điển cố nổi bật như một
nét đặc trưng trong phương thức thể hiện
“1 Tính khái quát
Thể hiện một hình thức cô đọng trong vài chữ, nhưng
điển cố chứa đựng một thế giới bao la, nhiều hình tượng, sự
32 Điễn od va Nghe Thudt sit dung Dién C6
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 32tích, lịch sử, ý tưởng sinh động sâu sắc, thể hiện tính khái quát
cao Chỉ cần qua hai từ, có khi một từ, điển cố dẫn người đọc
vào thế giới cổ xưa và đi đến một ý nghĩa chung, khái quát
cho hình ảnh ấy Tính khái quát của điển cố không dừng lại
ở đó, một điển cố còn có thể mang nhiều ý nghĩa, khái quát
cho những tính chất và hình tượng khác nhau có mối liên quan
gần gũi Ví dụ, câu chuyện về ngọc bích họ Hòa$? được truyền
tụng, biết bao văn nhân lấy làm điển cố, thể hiện dưới nhiều
dạng khác nhau: Hòa thị, Biện Hòa, Sở nhân, Sở sơn, Kinh nhân,
Kinh Sơn mang nhiều nội dung và ý nghĩa: khác nhau:
- Nói về cái đẹp: Tào Thực đời Tam Quốc trong Hiến bích biểu có câu: “Phục trì sở tiến phi Hòa thi chỉ phác”S9(Được
biết vật dâng lên không phải là ngọc họ Hòa) Ý nói vật được dâng lên không đẹp &
- Ca ngợi phẩm chất thuần phác, chân thành của một
người: Lư Chiếu Lân đời Đường trong Ngữ bi có câu: “Cảo
chỉ vi nhân dã, phong lưu nhỏ nhã, vi nhất đại chỉ Hòa
ngoc’* (Ong Céo mà làm người ấy, phong lưu nho nhã, là
32 Hàn Phi Tử, chương Hòa Thị (ưu Hướng trong Tớn tự, chương Tap sy cũng chép chuyện tương tu) kể câu chuyện như squ : Có người nước
Sở họ Hòa được một viên ngọc trong núi nước Sở, dem dang cho vua
Lệ Vương Vua cho thg xem viên ngọc, Người thợ nói : "Chỉ là viên đó
mở thôi !” Vua cho họ Hòa lửa dối, truyển chặt chain trói Khi Lệ Vương mết, Vũ Vương nối ngôi, họ Hòo lợi dâng viên ngọc ốy Vũ Vương sai thợ xem ngọc Người thợ lợi nói : "Là đó chứ không phỏi ngọc !” Vuo lại cho họ Hòơ lừa dối, lệnh phỏi chịu hình phat chặt chôn phổi Vũ 'Vương mết, Võn Vương lên ngôi Họ Hòa ôm viên ngọc khóc dưới chôn
núi nước Sở, khóc đến bq ngày bơ đêm, đến nỗi mốt chảy cổ móu
rơ Vụo nghe nói, sơi người đến hỏi nguyên cớ : `Người bị chặt chến
trong thién hạ không thiếu gì, ngươi lồm sao mà khóc bị thổm thế 2”
Họ Hòa đớp : *Không phỏi tôi buồn vì bị chốt chân mờ buôn vì ngọc
quí mờ bị cho lờ đớ, người trung chính mò bị xem lờ lửa dối Vì vậy mở Tôi buồn” Vua bèn sơi thợ ngọc xem kỹ lợi, thì ra đó là ngọc thét Vua bèn lệnh đột tên viên ngọc ốy là ngọc bích họ Hòg
Trang 33viên ngọc họ Hòa một đời) Phẩm chất của ông Cảo được
ví như viên ngọc họ Hòa, tức là thuần hậu, đáng quí
- Ca ngợi kể sĩ có tài: Lý Ích đời Đường trong Hoa âm
đông tuyền đồng trương xứ sĩ nghệ tàng luật sư kiêm giản huyện nội đồng quan nhân ký tễ trung thư có câu: “Đại quốc bản đa
sĩ, Kinh sảm vô đi bích“®(Nước lớn vốn nhiều kẻ sĩ, núj Kinh không còn ngọc) “Núi Kinh không còn ngọc“ là nói
không còn những kẻ có thực tài
- Chỉ cái hay của trước tác : Trương Viêm đời Minh trong
Tào Tử Kiến tập có câu: “Tư Vương thiê: _ đỉnh nhân hào, thất
bộ hùng tài, trác tuyệt trần hoàn đãi thi gia chi Tùy châu,
từ lâm chi Hòa bích”°9(Tư Vương tài giỏi xuất chúng trong
thiên hạ, bảy bước tài hùng, tuyệt vời ở cõi trần là viên ngọc nước Tùy trong thi gia, là viên ngọc họ Hòa trong rừng từ) Tư Vương tức Tào Thực, con thứ hai của Tào Tháo thời
Tam Quốc, giỏi về văn thơ, nổi tiếng làm bài thơ trong thời
gian đi bảy bước, được xem là nhân tài quí hiếm (viên ngọc
họ Hòa) về sáng tác thơ văn
- Chỉ sắc diện, vẻ đẹp: Lưu Nghĩa Cung đời Nam triều nước
Tống trong Dư tử đi có câu: “Tam hà du đãng tử, lệ nhan mại Kinh bảo”#2(Kẻ lãng tử nơi Tam hà, sắc mặt đẹp vượt ngọc báu
Kinh) “Kinh bảo” ở đây không chỉ sự quí báu, hiếm hoi mà ¢hi
vẻ mặt, nét đẹp, ý câu thơ nói kẻ lãng tử có vẻ mặt rất đẹp
- Chỉ mặt trăng sáng trong: Dữu Bao đời Đường trong
Ngọa a hỉ tễ khai phi oọng nguyệt giản cung nội trí hữu có câu:
“Hốt đối Kinh Sơn bích, uy chiếu việt ngâm nhân”°%(Bỗng
Trang 34đối trước hạt ngọc Kinh Sơn, chiếu sáng cả người ngâm thơ)
“Kinh Sơn bích” chỉ mặt trăng, hơn thế, mặt trăng sáng như
viên ngọc ở Kinh Sơn, soi sáng người ngâm thơ
- Chỉ nơi tụ hội nhiều nhân tài: Tảo Thi đời Tấn trong
Tạp thỉ có câu: “Khai quốc kiến nguyên sĩ Ngọc bạch sính
hiển lương Dư phi Kinh Sơn phác Mậu đăng Hòa thi
trường”Ê9(Mở nước dựng chức quan nguyên sĩ, lụa ngọc ưa
kể hiền lương Ta chẳng là ngọc Kinh Sơn thuần khiết, sai
lâm lên chốn Hòa thị) Trường hợp này “Kinh Sơn phác” chỉ
người có tài và “Hòa thị trường” thi noi tập hợp người tài
- Chỉ việc biết được tài năng: Cát Hồng đời Tấn trong
Bão Phác tử, chương Tái nan: “Phù kiến ngọc nhi chỉ chỉ viết
thạch, phi ngọc chi bat chân dã, đãi Hòa thị nhỉ hậu thức yên* (Ôi xem ngọc mà cho là đá, không phải chất ngọc không
thật, đợi đến Hòa Thị rồi sau mới biết ra) Ý tác giả nói người
có tài nhưng lại không được biết đến, phải đợi đến khi chất
thuần phác thực thụ của viên ngọc quí (tức thực tài được
khám phá ra, rồi mới biết được khả năng của người ấy
- Chỉ sự trung trinh, một lòng báo quốc: Đới Lương đời
Nguyên trong Khốc Liông Đôn trai nhị thập tứ oận có câu:
“Hiến Kinh tư báo quốc, phủng hịch ký vinh thân”®(Hiến
ngọc Kinh báo quốc, dâng hịch mong được vinh thân) Trong trường hợp này, ngọc Kinh mang nghĩa mới, là sự trung trinh
đối với đất nước Tác giả bày tỏ ý muốn cống hiến cho tổ
quốc tấm lòng yêu nước của mình
- Chỉ tấm lòng trung thành mà bị nghỉ ngờ, chịu tội oan:
Lý Bạch đời Đường trong Cổ phong có câu: “Bão ngọc nhập
Trang 35Sở quốc, kiến nghi cổ sở văn Lương bảo chung kiến khí, đồ
lao tam hiến quân”“(Ôm ngọc vào nước Sở, bị ngờ Ngọc quí cuối cùng bị vứt bỏ, mà cực khổ ba lần dâng vua) “Bão ngọc nhập Sở quốc“ chỉ họ Hòa tìm được ngọc ở trong núi
đem dâng cho vua Sơ, dà không được vua xem trọng và bị
oan, phải bị tội chặt chân đến hai lần, vẫn tiếp tục đến dâng vua ngọc quí, giống như kẻ bể tôi một lòng kiên định, hết lòng hiến dâng tình cảm ấy cho vua :
- Chỉ người có tài nhưng không gặp thời: Lục Sướng đời
Đường trong Hạ đệ hậu bệnh trung có câu: “Hiến ngọc tần
niên mệnh vị thông, cùng thu thành bệnh ngộ chân
không”®(Dâng ngọc mấy năm mệnh chưa thông, cuối thu
thành bệnh hiểu lẽ không) “Hiến ngọc“ là dâng ngọc, nói
về câu chuyện họ Hòa, chỉ người có tài, có tấm lòng trung
với nước, với vua, nhưng không được vua đoài hoài đến, thất
chí sinh bệnh, mới hiểu ra chân lý về “lẽ không” ở đời
- Chỉ tâm sự tự cố gắng hay an ủi người, chúc người thành công: Đậu Trường đời Đường trong Thử i¿ Vĩ Khanh
nhị thập ngũ huynh phủ tặng chiếp cảm thư tình: “Kinh Sơn phác
tại chung ưng thức, Sở quốc nhân tri bất thị cuồng”#9(Ngọc
đẹp Kinh Sơn cuối cùng cũng được biết đến, người nước Sở
biết đó không phải ngông) Đây là trường hợp tác giả tự
an ủi khi bản thân được người khác hiểu ra khả năng thực
Trang 36trò của mình là Thuần Cương nên ẩn nhẫn chờ thời cơ ra tay giết tên cướp Hóa Long, kẻ đã giết cha, cướp mẹ của mình, để cho “Ngọc Kinh Sở” là bản chất thực của vấn đề,
là lai lịch của Thuần Cương và gia đình chàng, một si nào
đó sẽ được làm sáng tỏ
Câu chuyện họ Hòa dâng ngọc cho vua đã trở thành
điển cố nổi tiếng trong văn học cổ Từ một sự kiện, một điển
cố, các tác giả đứng ở nhiều góc độ khác nhau, khai thác
nhiều ý nghĩa khác nhau Mỗi góc độ điển cố mang tính khái
quát cao, biểu hiện một nội hàm ý nghĩa cụ thể và sâu sắc
dưới nhiều hình thức đa dàng, linh động Sự phong phú của
những hình thức vừa do nội dung quyết định, vừa do những qui định về luật của các thể loại văn học chi phối, nên sự thể hiện thật muôn hình vạn trạng*®
Với lối cấu trúc đặc biệt, điển cố vừa mang chức năng
45 Tùy theo nội dung, ý nghĩa cửo điển họ Hòa dông ngọc mờ có rốt
nhiéu fu: “Tam hién”, “Tam triểu Sở”, "Hiến ngọc” ` Hiến phóc”, "Hiến
bẻo”, `Hiến Sở” Sự kiện họ Hò bị chợt chân, 6m ngọc khóc cũng được
†hể hiện thònh : "Bão phúc", `Bão ngọc”, `Bẽo bích”, `Biện khốp”, "Biện Hòo khốp huyết”, 'Khốp ngọc”, "Ho thị lệ”, Hòơ thị tội”, “Tam ngoọt Viên ngọc họ Hòg hiếm có trên đời : "Hòo thị bích”, `Hòa bích”, "Hòa thị ngọc”, "Hòa ngọc”, `Hòo thị phóc”, "Biện bích”, Biện ngọc” *Kinh bích”, "Kinh phóc”, "Kinh Sở”
Dùng điển cũng không được tùy tiện Chẳng hạn, dùng điển ngọc bích
họ Hòa, nhưng nếu nói "hiến bích” thì lại nhằm sơng điển Trương Lương
†hơy một Lưu Bơng dông ngọc bích cho Họng Võ có nói: "Cố sử than hiến bích” (Cho nên sơi thẳn dông ngọc bích) trong Cơo đế kỷ sách Hón thư Cũng không thể nói "hiến ngọc” vì từ này thường ém chỉ đến chuyện dông ngọc củc Ngu Thúc trong Tở fruyện, chương Hoàn công thợp niên: Ñgụ Thúc có ngọc Ngu công tìm đến vì ngọc ấy, nhưng Ngu Thúc không dỡng Sou Ngu Thúc hối hộn nói: `Ngọn ngữ nhờ Chu có
côu : Thốt phu võ tội, hodi bích kỳ tội” (Kẻ thốt phu vô Tội, mang ngọc
mở có tội) Tơ sao dùng ngọc nòy được, chỉ có hợi mở thôi” Ngoòi rơ còn từ 'Tơm hiến“ dùng để chỉ nghỉ thức tế lễ trong ộu Hón thư,
chương Bóch quơn chí nhị đö nói: ` việc tế tự bơ lên đông hiến”
'Điển cố và Nghệ Thuật sử dụng Điển Cố 37
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 37nhận thức, vừa mang chức năng biểu cảm, tạo sự liên tưởng,
hấp dẫn, biểu hiện tâm hồn tác giả, gợi cảm, nâng cao nhận thức cho người đọc Tác dụng tích cực ấy có được là do điển
cố có nhiều tính chất sinh động khác
`» 2 Tính hình tượng
Lối so sánh của điển cố vừa xa lại vừa gần, vừa kín đáo, vừa sinh động và biểu cảm mạnh mẽ, giúp người cảm thụ nhận thức sâu sắc hơn, có thể bày tỏ thái độ khẳng định,
yêu thích hoặc phủ định, chán ghét Sự tác động mạnh mẽ
đó có được là do điển cố ngoài tính biểu cảm còn biểu hiện
rõ tính hình tượng Chẳng hạn, Truyện Kiểu có câu: “Dập dìu
lá gió cành chim Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh”
(c 1231-1232) “Lá gió cành chim“ mượn câu thơ của nàng Tiết
Đào đời Đường: “Chi nghênh nam bắc điểu Diệp tống vãng
lai phong”#9(Cành đón chim nam bắc: Lá đẩy gió qua lại)
Qua điển cố này, người đọc có thể hình dung Tình ảnh lá
đưa đẩy vì gió, cành có chửm hóc đậu xôn xao Từ “dập
diu” ding để chỉ cảnh người đi, đến, qua, lại đông đúc, chứng tổ “lá gió cành chim⁄ là cảnh nhiều người tụ tập vui
chơi Hơn nữa, hình ảnh “sớm” đưa người này (Tống Ngọc),
ối“ đưa người khác (Tràng Khanh) làm cho người đọc hiểu
được đó là cảnh ở lầu xanh
» 8 Tính liên tưởng
Điển cố là nghệ thuật xây dựng hình tượng bằng ngôn
ngữ, kích thích sự tưởng tượng và liên tưởng Đằng sau lớp
vỏ từ ngữ là cả một cuộc sống sinh động mà khi đọc đến
nó, toàn bộ những hình ảnh về cuộc sống ấy được khơi dậy Điển cố vận dụng khả năng tư duy hình tượng phong phú, khả năng liên tưởng nhạy bén Khi điển cố tổn tại và hoạt
A6 "33 1t Btw RARER"
38 Điền cố rà.Nghệ Thuật sử dụng Điễn Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 38động trong một ngữ cảnh nhất định thì từ hình tượng cụ thể của nó, người đọc nhanh chóng tái hiện một sự liên tưởng
trong đầu óc của mình Nội dung điển cố lập tức được lĩnh
hội với tư cách là những hình ảnh cụ thể, sinh động, gợi cảm
và hấp dẫn Sự liên tưởng, so sánh trong quá trình tư duy
của người đọc là chất “xúc tác” kết hợp nghĩa trực tiếp của
điển cố với hiện thực văn cảnh tạo nên đặc trưng của điển
cố Có thể biểu diễn quá trình này qua các bước sau, lấy
điển “liễu đường” trong Chỉnh phụ ngâm làm ví dụ::“Liễu,
sen là thức cổ cây Đôi hoa cùng dính, đôi cây cùng liền”
(c 353) Hai câu thơ điễn tả nội dung điển “liễu đường” Đọc điển này, những hình ảnh về câu chuyện được tái hiện : Hàn
Bằng đời Chiến quốc làm chức xá nhân cho Tống Khang
vương, bị Tống Khang vương cướp vợ là Hà thị và phải bị
tù Hàn Bằng buổn bã tự tử Trước khi chết theo chồng, Hà
thị đề thư xin được chôn cùng chồng Tống Khang vương tức
giận cho chôn riêng hai nơi Chẳng bao lâu có hai cây liễu
mọc ở hai ngôi mộ, rễ và cành liền nhau Người đọc từ câu
chuyện sinh động này liên tưởng đến tâm trạng người chỉnh
phụ nhớ thương chồng, so sánh với hình ảnh câu chuyện mà hiểu được tình cảm của người vợ một lòng yêu thương chồng khi cả hai phải chịu cảnh chia ly
ưu thiên (Người nước Kỷ lo trời đổ), nhưng chỉ gói gọn trong
hai từ “ưu thiên”: “Tiện tác ưu thiên khách Hoàn vi xuất thế nhân”#? (Làm khách lo trời đổ Lại làm người xuất thế)
47 lŸ lì :"4E {E X X # \ 3ð th A",
Điển cố và Nghệ Thuật sử dụng Điển Cố 39
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 39Ý nói mâu thuẫn của bản thân, vừa làm người trần thế Ic
toan cho đời, vừa là kẻ tu hành xa lánh đời
»= 5 Tinh da dang va linh déng
Thông thường, trong chức năng tượng trưng và so sánh,
đối tượng được so sánh gắn liền với vật tượng trưng trong
một tương quan khép kín: hơa sen chỉ sự thanh khiết, cây
tùng, cây bách chỉ đức tính hiên ngang của người quân tử Nhưng hình thức điển cố không ở trong cái thế khép kín
cứng nhắc mà nó có thể có nhiều dạng với nhiều ý nghĩa
khác theo chiều sâu của hồi tưởng về câu chuyện quá khứ,
để hết hợp với những câu văn, câu thơ trong một tương quan gần Sự thể hiện biến thể hình thức của điển cố thật nhiều
màu, nhiều vẻ, nhưng tựu trung, nổi bật ở hai điểm: 1 Điển
cố có cùng ý nghĩa được nhiều người dàng dưới nhiều hình
thức khác nhau như điển nguyệt lão, ông tơ, bà nguyệt, chỉ
đỏ, chỉ hồng, trăng già ; 2 Điển cố có cùng ý nghĩa nhưng được biểu hiện bằng cách thay đổi một số yếu tố từ vựng,
ví dụ điển “tang thương” thể hiện qua các hình thức từ ngữ
như: tang hải, tang điền, bãi bể nương dâu, bể dâu
Điển cố là một khu rừng bao la, trong đó chứa đựng nhiều loại thực vật phong phú, có thể diễn đạt rất nhiều mặt
của đời sống từ cụ thể đến trừu tượng, từ vật chất đến tỉnh
thân Điển cố dùng cho nhiều mục đích: so sánh, ca ngợi,
châm biếm, giáo dục, kể chuyện khẳng định, phủ định
Một điển cố có thể được biểu đạt theo nhiều nghĩa Vì tính
đa nghĩa ấy mà điển cố có phạm vi hoạt động rộng rãi, tính
năng động đổi dào, có thể hoạt động trong nhiều ngữ cảnh
có nội dung khác nhau (xem ví dụ về điển ngọc bích họ Hòa
ở trên) h
Ill ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÀNH DIEN CO
Sự hình thành điển cố phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
nhau, trong đó có ảnh hưởng của quan niệm triết học, mỹ
40 Điễn cố và.Nghệ Thuật sử dụng Điền Cố
THU VIEN
HUE QUANG
Trang 40học cổ phương Đông và đặc điểm kỹ thuật
» 1 Ảnh hưởng của quan niệm triết học Trung
Hoa trong việc sử dụng điển cố
Các trường phái triết học Trung Hoa để cập đến vũ trụ
quan, nhân sinh quan tuy có khác nhau, nhưng chung quy
đều nói đến con người với những quan hệ xung quanh, đều
đi đến công nhận thế giới này là nhất thể Con người là một
phần tử, là tỉnh hoa của trời đất, vạn vật Trong văn học trung đại, người ta thường thể hiện cái chung của trời đất,
trong đó tâm lý cá nhân được bao bọc bởi sự to lớn của tâm
trạng chung trước cảnh, nỗi lòng hay tình yêu trước mối lo
lớn của dân tộc.4®
a Nho giáo lấy cái lý về thái cực làm căn bản cho triết
lý của mình, rồi xét cái thể động của cái lý ấy, biết rõ sự
biến hóa của vạn vật, lấy điều chí thiện để làm mục đích
cho đạo luân lý của con người Theo mục đích ấy, sáng tác thơ ca không phải là công việc của người nghệ sĩ mà là việc
của thánh nhân để nói về đạo lý Vì vậy, từ hiện tượng trong
48 Có thé xem bai the bi hing Cam hoời củc Đặng Dung lờ một ví dụ
4#:"uU 81% E # 1118 l X1 À BỊ 9 tt J8 9l 8 1h 8 Bee REKRE KREARKUM RASBRAM ORRARMH A RRCRE AB
"Thế sự du du nọi läo hờ Vô cùng thiên địơ nhập hẻm cơ Thời loi đỏ điếu thènh công đị, Sự khứ, anh hùng ém hén da Tí chủ hữu hoài phù địơ trục Tẩy binh vô lộ vẽn thiên hờ Quốc thi vi bdo, déu tiên bạch
Kỷ độ long tuyển đới nguyệt me” (Sự thế mong mơng tuổi tóc rồi Hớt
vong trời đốt, chén mềm môi Vận may, hèn mọn nên trò dễ Việc lỡ anh hùng nuốt giộn thôi Phò chúo, những toan nông trới đết Rửa gươm, ơi thể rốc sông trời Quốc thù chưa béo, đều rêu bạc Bơo độ
gươm mời ónh nguyệt soi (Đông Xuyên dich)
"Tẩy binh”_ tức rửo khí giới cốt đi, ý nói chếm dứt chiến tranh Đỗ Phủ
có thơ: #f#t#t+# X1, BH AT *An đốc trúng sĩ van thién
hờ Tĩnh tổy giớp binh trường bết dung” (Sao có được tráng sĩ kéo sông
trời xuống RỬc sạch binh giớp không dùng đến nữo)
Dién c va Nghé Thug sit dung Bién C6 41
THU VIEN
HUE QUANG