MỤC LỤC MỤC LỤC Lời mở đầu I Phần mở đầu 1 Lý do chọn đề tài 2 Mục đích nghiên cứu 3 Lịch sử vấn đề 4 Phạm vi tư liệu 5 Phương pháp nghiên cứu 6 Kết cấu báo cáo II Phần nội dung 1 Nghệ thuật sử dụng đ[.]
Trang 15 Phương pháp nghiên cứu
6 Kết cấu báo cáo
II Phần nội dung
1 Nghệ thuật sử dụng điển cố - một đặc trưng
1.1 Khái niệm
1.2 Các loại điển cố thường gặp
1.3 Nguồn gốc điển cố
1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng điển cố
2 Nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi
2.1 Khảo sát điển cố trong Quân trung từ mệnh tập
2.2 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong Quân trung từ mệnh tậpIII Phần kết luận
IV Tài liệu tham khảo
V Phụ lục
1 Bảng thống kê
2 Bảng biểu tổng kết
3 Các bức thư trích dẫn
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Được đề cao với nhiều danh hiệu: nhà quân sự tài ba, nhà văn, nhà thơ lỗilạc, danh nhân văn hoá thế giới… Nguyễn Trãi đã có nhiều đóng góp to lớn cholịch sử Việt nam Trong cuộc đời hoạt động chính trị của mình ông đã để lạinhiều di văn có giá trị trên nhiều lĩnh vực Để tìm hiểu về những đóng góp củaông cũng như mong muốn tìm hiểu về con người lịch sử này mà người đời sau
đã có nhiều công trình nghiên cứu công phu về ông Các công trình đó đượcnghiên cứu trên nhiều lĩnh vực như: quân sự, chính trị, văn hoá, ngoại giao, địa
lí … Thừa hưởng thành tựu của người đi trước để lại cùng với những tìm tòi của
mình, tôi xin đưa ra một bài viết về việc “Tìm hiểu nghệ thuật sử dụng điển cố
trong Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi” Đây là đề tài rất ít được
nghiên cứu Thông qua đó nhằm tìm hiểu về đặc điểm, phong cách hành văn củaNguyễn Trãi qua tác phẩm này nói riêng và cách lập luận văn chính luận cũngnhư văn phong ngoại giao của ông nói chung
Trang 3I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nguyễn Trãi (1380-1442) là một nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoạigiao kiệt xuất trong lịch sử trung đại Việt Nam Không những thế ông còn làmột nhà tư tưởng, bậc danh nhân văn hoá thế giới đã để lại một khối lượng trước
tác đồ sộ, đáng khâm phục Trong đó tác phẩm “Quân trung từ mệnh tập”
(QTTMT) chiếm một vị trí quan trọng Bởi tác phẩm không chỉ phản ánh đượclịch sử của một giai đoạn xã hội quan trọng mà còn chứa trong đó nhiều nội
dung tư tưởng, nghệ thuật tiến bộ khác Đi vào nghiên cứu QTTMT chính là
khám phá ra những giá trị quý báu mà tác phẩm đem lại Có lẽ vì những lý do đó
mà có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về tác phẩm này Nó được khaithác trên nhiều lĩnh vực như: lĩnh vực tư tưởng, văn hoá, sử học, văn bản học…
QTTMT là một tập thư từ do Nguyễn Trãi thay mặt cho Lê Lợi soạn thảo để trao
đổi với tướng lĩnh nhà Minh Do đó nó là văn bản rất đặc biệt Để truyền tảinhững thông tin quan trọng đó, Nguyễn Trãi đã sử dụng hình thức viết thư Đây
là một hình thức hết sức đặc biệt, có thể xem xét trên nhiều phương diện Nhưngtrong phạm vi một báo cáo, tôi xin đi vào một khía cạnh đó là nghệ thuật sửdụng điển cố của Nguyễn Trãi qua "QTTMT" Sử dụng điển cố là một đặc trưngthi pháp của văn học trung đại, nhưng điển cố được sử dụng nhiều, linh hoạt,đặc sắc do một nhà chính trị kiệt xuất làm thì QTTMT được nâng lên trở thànhmột nghệ thuật độc đáo Đây chính là điểm hấp dẫn lôi cuốn tôi đi vào nghiêncứu
2 Mục đích nghiên cứu
Xác định vị trí và vai trò của điển cố đối với mục đích chung mà Nguyễn
Trãi đặt ra cho các bức thư Mục đích chung ấy là thông qua các bức thư,Nguyễn Trãi phân tích lẽ đúng sai hợp lí, hợp tình làm cho quân Minh phải bại ý
ý chí xâm lược Đây chính là chiến thuật “Tâm công” (đánh bằng tấm lòng nhânnghĩa)
Trang 4Trong mục đích chung ấy, việc dùng điển cố khôn khéo và hiệu quả đóng vaitrò:
- Khiến cho câu văn Nguyễn Trãi sử dụng trở nên thâm thuý, uyên bác hơn
- Điển cố không chỉ là phương thức mà còn trở thành công cụ sắc bén cho líluận “tâm công” của Nguyễn Trãi
- Điển cố giống như những hạt kim cương mấu chốt cho các câu chữ khácbám vào trở thành câu văn chiến luận hoàn chỉnh
- Nghệ thuật sử dụng điển cố giúp cho mục đích cũng như nội dung của tácphẩm được nổi bật hơn Qua đó thấy được tâm tư, tình cảm của tác giả
Qua nét nghệ thuật này rút ra được đặc điểm, phong cách văn chính luận trongtác phẩm “QTTMT” nói riêng và trong văn chính luận của Nguyễn Trẫi nóichung
3 Lịch sử vấn đề
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về "QTTMT" trênnhiều phương diện khác nhau Trên mỗi phương diện nghiên cứu đều có nhưnggiá trị nhất định
Trên lĩnh vực sử học có: “Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc” (PhạmVăn Đồng), “Thời đại Nguyễn Trãi trên bình diện quốc tế” (Văn Tạo)
Trên lĩnh vực tư tưởng có: “tư tưởng của Nguyễn Trãi” (Nguyễn Thiên Thụ),
“Nguyễn Trãi và Nho Giáo”(Trần Đình Hượu), “vài nét tư tưởng của NguyễnTrãi qua văn thơ ông”(Trần Thanh Mại)
Trên lĩnh vực văn hoá: “Nguyễn Trãi và nền văn hiến Đại Việt” (Võ NguyênGiáp), “Nguyễn Trãi trên tiến trình văn hiến nước nhà” (Lê Văn Lan)…
Trên lĩnh vực văn bản học như nghiên cứu, sưu tầm của Trần khắc Kiệm sau
đó là Dương bá Cung, Trần Văn Giáp, Nguyễn Văn Nguyên
Ngoài ra còn nghiên cứu trên nhiều phương diện khác như: Ngoại giao, ngônngữ, địa lí …
Nói riêng về "QTTMT" trong tác phẩm mang tính tổng hợp như “NguyễnTrãi về tác gia và tác phẩm” (Nguyễn Hữu Sơn) đã nghiên cứu các vấn đề như:
“Nguyễn Trãi- nhà văn chính luận kiệt xuất” (Bùi Duy Tân), “Tính chiến đấu
Trang 5của tập "QTTMT"” (Đỗ Văn Hỷ), “Bút pháp "QTTMT"” (Đinh gia Khánh),
“QTTMT đỉnh cao của dòng văn học luận chiến ngoại giao chống xâm lược”(Nguyễn Huệ Chi), “Tìm hiểu phương pháp lập luận của Nguyễn Trãi trongQTTMT” (Đặng Thị Hảo), “QTTMT tập văn chiến đấu có ý nghĩa lịch sử quantrọng ở thế kỷ XV” (Bùi Văn Nguyên) Có thể nói hầu như chưa có một tácphẩm nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực nghệ thuật trong văn phong chínhluận của QTTMT Do đó tìm hiểu “nghệ thuật sử dụng điển cố trong "QTTMT"”
là một hướng đi tương đối còn khó khăn Trên cơ sở tiếp thu thành quả nghiêncứu của những người đi trước, bài viết nhằm tìm hiểu thêm về văn phong ngoạigiao, cách lập luận trong văn chính luận của Nguyễn Trãi trong "QTTMT" nóiriêng và trong văn chính luận của ông nói chung Với trình độ sinh viên năm thứ
ba, hướng đi này cũng là bước tập dượt giúp tôi đi vào nghiên cứu
4 Phạm vi tư liệu:
Cũng như các tác phẩm khác của Nguyễn Trãi, trong "QTTMT" cũng chịuchung số phận tru di như ông Do đó để lưu truyền đến ngày nay không tránhkhỏi thất tán, mất mát Từ khi ra đời đến nay "QTTMT" đã được nhiều học giảnổi tiếng như Trần Khắc Kiệm, Dương Bá Cung, Trần Văn Giáp… thu thập,biên soạn Mỗi công trình đều có những giá trị riêng Song đối với một trước tácHán Nôm, đặc biệt là tác phẩm có quá trình lưu truyền lâu dài và phức tạp như
di văn của Nguyễn Trãi thì phạm vi tư liệu cần phải căn cứ vào văn bản gần vớinguyên bản nhất Đó là vấn đề thuộc về nguồn gốc văn bản
Căn cứ vào bản in Phúc Khê, gần đây nhà nghiên cứu Hán Nôm NguyễnVăn Nguyên đã dày công nghiên cứu về “ vấn đề văn bản học của QTTM” Đâyđược coi là tác phẩm khảo dị văn bản đầy đủ và chu đáo, đáng tin tưởng Sự sắpxếp lại của ông về cơ bản phù hợp với cách mô tả của Lê Quý Đôn, Ngô ThếVinh tức bao gồm 62 văn kiện Như vậy phạm vi tư liệu căn cứ vào 62 bức thư,bao gồm 40 văn kiện trong “Ức Trai di tập”, hai văn bản do Dương Bá Cung sưutầm và 20 trong 23 văn kiện do Trần Văn Giáp bổ sung Thứ tự sắp xếp được introng cuốn “Những vấn đề văn bản học Quân Trung Từ Mệnh Tập của Nguyễn
Trang 6Trãi” tác giả Nguyễn Văn Nguyên NXB Văn học Viện nghiên cứu Hán Nôm.
Hà Nội 1998
5 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp nhiều phương pháp: thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, thựcchứng…
6 Kết cấu luận văn
Gồm 5 phần chính:
I Phần mở đầu:
II Phần nội dung:
1 Nghệ thuật sử dụng điển cố- một đặc trưng thi pháp của văn học trungđại
2 Nghệ thuật sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi qua "QTTMT"
III Phần kết luận:
IV Phụ lục:
V Tài liệu tham khảo
Trang 7III PHẦN NỘI DUNG
Trước khi vào phần nội dung cũng cần phải nói thêm, những vấn đề liênquan đến khái niệm, lý luận báo cáo có sự tham khảo trong cuốn “Điển cố vànghệ thuật sử dụng điển cố” của Đoàn Ánh Loan
1 Nghệ thuật sử dụng điển cố- một đặc trưng thi pháp của văn học Trung đại:
Điển cố là một trong những thủ pháp nghệ thuật đặc thù được sử dụngtrong văn học cổ Việt Nam Thời trung đại do quan niệm sáng tác chịu nhiềuảnh hưỏng của Nho giáo, văn học được sáng tác với mục đích chính trị và giáohuấn về cách cư xử trong cuộc sống nên lời văn, lời thơ đều có âm hưởng trangtrọng để tránh dung tục tầm thường Để có mỗi từ, mỗi câu không chỉ hay màcòn súc tích theo cách nói ít hiểu nhiều của người xưa thì nhiều qui định nguyêntắc trở thành chuẩn mực cho phương pháp và thủ pháp sáng tác Từ sau khiThẩm Ước (Thời Nam Bắc Triều) đặt ra những qui tắc đầu tiên cho các thể thơthì sau đó nhiều nhà thơ trên cơ sở đó thêm thắt những qui định mới Lâu dầnnhững qui định ấy trở thành thuần mẫu Người đời sau dựa vào khuân mẫu ấy
mà dùng thì gọi là dụng điển cố Việc sử dụng điển cố được xem là tiêu chuẩn,thước đo đánh giá hiệu quả và mức độ thành công của bài thơ, bài văn Mộttrong thói quen của người Trung Hoa là sử dụng điển cố, có khi lấy thước đodung lượng điển cố sử dụng để đánh giá khả năng sáng tác Văn học cổ nước tathời bấy giờ chịu ảnh hưởng sáng tác của Trung Quốc tuy không hoàn toànnhưng những qui định và tiêu chuẩn đặt ra là cần thiết Việc dùng điển cố khéoléo, về mặt nào đó sẽ nâng cao tính “bác học” của tác phẩm Góp phần tạo hiệuquả cho sức mạnh của câu văn, câu thơ Điển cố không chỉ là biện pháp tu từ màcòn là dạng thức độc đáo để thể hiện tâm tư, tình cảm, cũng như xây dựng hìnhtượng nghệ thuật Vì vậy để hiểu một tác phẩm văn học cổ thì không thể khôngchú ý đến vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng điển cố trong đó
1.1 Khái niệm về điển cố:
Từ “điển cố” phát hiện sớm nhất được thấy trong “Hậu Hán thư”, thiên
“Đông Bình Tân Vương Thương truyện”
Trang 8Để có cái nhìn tổng quát ta đi vào tìm hiểu các cách định nghĩa về điển cố
trong văn học trung đại Việt Nam:
Theo Đào Duy Anh “điển cố ” là những truyện chép ở sách vở xưa (Đào
Duy Anh “Hán Việt từ điển” NXB Khoa học xã hội 2004).
Theo Từ điển Việt Hán có ghi về điển cố như sau: 此 此 此 此 此 此(Thử sự kiến vu điển cố) điển cố có nghĩa là truyện ấy có ở điển cũ (G.S Đinh
Gia Khánh hiệu đính “Từ điển Việt Hán” NXB Giáo Dục 2002).
Theo Tầm nguyên từ điển điển là việc cũ Điển cố tức là truyện xưa (Bửu
Kế, Vĩnh Cao “Tầm nguyên từ điển” NXB Thuận Hoá 2000).
Nhìn chung các cuốn từ điển đều hiểu điển cố là việc sử dụng tích xưa để ứngvới việc nay ở đây tôi tham khảo cách định nghĩa điển cố theo cuốn “Điển cố vànghệ thuật sử dụng điển cố” của Đoàn Ánh Loan Đây là công trình nghiên cứucông phu và cẩn thận về điển cố Theo “Việt Nam văn học sử yếu”, DươngQuảng Hàm định nghĩa: “Điển (nghĩa đen là việc cũ) là một chữ hay một câu có
ám chỉ đến một việc cũ, một tích xưa khiến cho người đọc sách phải nhớ đếnviệc ấy, sự tích mới hiểu ý nghĩ và cái lý thú của câu văn” Dùng điển chữ Nhogọi là “dụng điển” hoặc “sử sự” (sai khiến việc) ý nói sai khiến việc đời xưa cho
nó có thể ứng dụng vào bài văn của mình
Điển cố có thể ám chỉ đến sự việc thật được chép từ sử, truyện hoặc nhữngcâu chuyện hoang đường được chép từ truyện cổ tích, ngụ ngôn, có khi là mộtvài chữ từ câu văn, câu thơ cổ
Có thể nói ngắn gọn điển cố là những từ ngữ chuyện xưa, tích cũ, về tưtưởng, hình tượng trong sách xưa được tác giả dùng làm phương tiện để diễn đạt
ý tưởng một cách ngắn gọn, hàm súc
1.2 Các loại điển cố thường gặp:
Từ hay nhóm từ được lấy ra từ những câu truyện trong kinh, sử, truyện, cácsách ngoại thư… về các nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử, địa danh, những quanniệm trong cuộc sống
Trang 9Từ hay nhóm từ mượn ý, lời từ câu thơ hoặc bài thơ của người đi trước hayđược trích từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao có tích truyện được lưu truyền hoặc đãnổi tiếng.
Trang 101.3 Nguồn gốc điển cố trong văn học Trung đại:
Nhìn tổng thể, điển cố trong văn học cổ nước ta được hình thành từ thư tịch
cổ Trung Hoa, phân loại thành Kinh, Sử, Tử, Tập, Thơ văn và hý khúc
Điển cố từ Kinh bộ gồm Kinh thư, Kinh Xuân Thu, Luận ngữ
Điển cố từ Sử bộ: là kho sách ghi chép câu chuyện về cuộc đời nhân vật và
sự kiện lịch sử, gồm: sử ký, Hán thư, Hậu Hán thư, Tam Quốc Chí, Tấn thi…dùng để so sánh, chứng minh
Điển cố từ Tử bộ: Tử bộ là pho sách của bách gia, chư tử: Nho gia, Đạogia, Phật gia, Binh gia, Pháp gia…
Điển cố từ Tập bộ: là cách sách về thơ văn, phê bình thơ văn và từ khúc Điển cố từ thơ ca: thường sử dụng từ hay nhóm từ, mượn ý, lời từ câu thơhoặc bài thơ của người trước
Điển cố lấy từ văn học cổ Việt Nam: so với nguồn điển cố thì điển cố lấy từvăn học nước nhà không nhiều vẫn được khai thác sinh động Thường mang nộidung về các chiến trận oanh liệt, những sự kiện lịch sử nổi bật và các nhân vậtlịch sử quan trọng
Điển cố lấy từ văn học dân gian: loại này có phạm vi rộng được dùng nhiềunhất là điển có nội dung về thân phận, tình duyên, sinh hoạt trong cuộc sống…
1.4 Ý nghĩa của việc sử dụng điển cố:
Đặc điểm của điển cố là dùng biểu tượng biểu trưng, diễn đạt phong phú cáclĩnh vực của cuộc sống, được nhiều người gọt giũa thành cố định Điển cố hàmchứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc nhưng được thể hiện hết sức cô đọng, mangtính khái quát, gợi ra nhiều liên tưởng, mang tính hình tượng, đa dạng, linhđộng Hình thức của nó phụ thuộc vào sự vận dụng đa dạng của mỗi người.Người biết sử dụng điển cố, kết hợp được các đặc điểm và tính chất của nó sẽđem lại giá trị hiệu quả cho câu văn mình, làm nâng cao tính “bác học” của tácphẩm và trình độ uyên bác của tác giả Trên tạp chí văn học số 1.1997 NguyễnThuý Hồng có viết “sử dụng điển cố Hán học là biện pháp “mỹ từ” có tính đặcthù và thể hiện khuynh hướng điển nhã trong thao tác lựa chọn ngôn từ của cácthi sĩ trung đại” Hay như Nguyễn Ngọc San trong “tìm hiểu giá trị và cấu trúc
Trang 11của điển cố trong tác phẩm Nôm” có nhấn mạnh vào ý nghĩa của điển cố, baogồm: ý nghĩa hiện thực, ý nghĩ biểu trưng và ý nghĩa giá trị phong cách của điển
cố Khi những ý nghĩa này được vận dụng hiệu quả sẽ làm cho bài văn diễn đạtđược ý tình sâu kín và tinh tế
Bên cạnh những ý nghĩ tích cực của việc vận dụng điển cố thì còn cótrường hợp nếu dùng quá cầu kỳ, lạm dụng sẽ dẫn đến bị sáo mòn, rối rắm
1 Nghệ thuật sử dụng điển cố Nguyễn Trãi qua "QTTMT"
Nguyễn Trãi là một tác gia tiêu biểu và nằm trong hệ thống các tác giả thờitrung Đại, cũng giống như trào lưu văn học lúc bấy giờ, việc sử dụng điển cốtrong văn chương đối với Nguyễn Trãi trở thành một phương tiện đắc lực vàhiệu quả, giúp cho câu văn đạt giá trị nhất định Bằng chứng là trong hầu hết cáctác phẩm của ông đặc biệt là mảng văn thơ viết bằng chư Hán, việc sử dụng điển
cố đã ăn sâu vào câu chữ trở thành lối phong cách riêng Để nhận thấy cụ thể tôi
đi vào khảo sát hệ thống điển cố trong QTTMT bằng phương pháp thống kê và
phân loại là chủ yếu
2.1 Khảo sát hệ thống điển cố có trong QTTMT:
Căn cứ vào nguồn gốc, cách sử dụng, cách hiểu, mục đích dùng tôi phân loạinhư sau:
Căn cứ vào cách phân loại điển cố theo nguồn gốc trong cuốn Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố của Đoàn Ánh Loan, có thể chia điển cố thành 5
loại nguồn gốc: Truyện- Sử bộ; Kinh bộ; Về sách Binh pháp; Thi ca cổ và Vănhọc dân gian
Bên cạnh việc dựa vào các phân loại cơ bản này tôi còn đưa ra một số cáccách phân loại khác căn cứ vào các sử dụng điển cố, cách hiểu và mục đích sửdụng Gồm các phân loại như sau:
- Phân loại theo cách sử dụng:
Ngoài những chú thích của các học giả như Nguyễn Văn Nguyên, Mai QuốcLiên… tôi nhận thấy còn rất nhiều bức thư chưa được chú thích Đó là các bức
Nguyễn Trãi thường mở đầu bằng câu: ta thường nghe, kể ra, ta nghe nói … ở các bức thư như bức số5: Phù vi tướng chi đạo dĩ nhân nghĩa vi bản (Kể đạo
Trang 12làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, lấy trí dũng làm vốn) Hay bức số 6 có viết:
Phù thiện dụng binh giả, vô hiểm vô bất hiểm vô dị vô bất dị (Kể đạo làm tướng
không có đâu là không hiểm không có đâu là dễ đâu là không dễ), ngoài raNguyễn Trãi còn sử dụng ý ở trong các sách Binh pháp như ở các bức thư số 7,
33… Tôi xếp vào mục Về sách Binh pháp Gồm có 7 câu.Và tất cả những câu
mở đầu có viết: Ngạn hữu vân, cổ nhân vân, cố viết… như câu: Tác xá đạo bàng tam niên bất thành (Làm nhà bên đường ba nămkhông xong) (bức 16)… Tôi xếp
vào mục điển cố có nguồn gốc từ văn học dân gian Gồm có 15 câu Nhưvậyphần phân loại theo cách sử dụng gồm 19 điển (Văn học dân gian và về sáchBinh pháp), chiếm 17,27% Còn lại tôi vẫn tuân theo cách phân chia của ĐoànÁnh Loan, phần này có 91 điển, chiếm 82,83%
- Phân loại điển cố theo cách hiểu:
Hiểu điển cố theo nghĩa rộng và hiểu điển cố theo nghĩa hẹp Nghĩa hẹp:bao gồm những điển cố dùng văn, thi liệu có 50 điển cố , chiếm 45,45% Nghĩarộng: bao gồm những điển cố thêm cả việc mượn những từ hay nhóm từ lấy ra
từ những câu truyện trong Kinh, Sử… có 60 điển cố , chiếm 54,54%
- Phân loại điển cố theo mục đích sử dụng: chia lam 12 loại cơ bản
+ Ca ngợi những vị vua hiền, các triều đại thịnh trị trong lịch sử TrungQuốc, có 4 điển cố , chiếm 3,63%
+ Kéo dài thời gian hoà hoãn bằng việcnói về nỗi oan ức của ta và mongđược chuộc lỗi, có 5 điển cố , chiếm 4,54%
+ Trách nhiệm của kẻ làm Thiên tử có 13 Điển cố, chiếm 11,82%
+ Khuyên tướng lĩnh nhà Minh, phân tích lẽ đúng sai, việc thất đắc có 18điển cố, chiếm 16,36%
+ Khiêu chiến, cảnh cáo có 4 Điển cố, chiếm 3,64%
+ Tố cáo tội ác, vạch trần bộ mặt xâm lược của quân Minh có 18 Điển cố,chiếm 16,36%
+ Nói về chữ tín và chữ thành có 7 Điển cố, chiếm 6,36%
+ Khó khăn của địch có 10 Điển cố, chiếm 9,69%
+ Khuyên dụ lính hàng có 16 Điển cố, chiếm 14,54%
Trang 13+ Việc làm chính nghĩa và trách nhiệm của quân ta có 7 Điển cố, chiếm6,36%.
+ Đạo đức của người quân tử, Thánh nhân có 5 Điển cố, chiếm 4,54% + Bàn hoà ước có 3 Điển cố, chiếm 2,72%
Theo thứ tự sắp xếp của Nguyễn văn Nguyên với 62 bức thư với bản chữ.Kết quả khảo sát có được như sau:
Về mức độ bức thư có điển cố thống kê cho thấy có bức có, có bức không.Tức là không phải tất cả các bức thư đều có điển cố Nhưng số không có là rất ít,
đó là 13 bức: 10, 11, 12, 18, 19, 24, 39, 47, 48, 55, 59,60, 62 chiếm 20,9% trongtổng số 62 bức thư Còn lại 49 bức thư có điển cố, chiếm79,1%
Đối với những bức có điển cố, có bức có nhiều, có bức có ít điển cố Ít nhất
“Cân quắc chi nhục” (nhục khăn yếm) vốn là mượn chữ “cân quắc ” là đồ trangsức của đàn bà trong sách Tấn thư kể về truyện Gia Cát Lượng mang quân điđánh Nguỵy, khiêu khích nhiều mà Tư Mã Ý không chịu ra đánh Lượng bènmang đến cho y đồ dùng khăn yếm để làm nhục,ý thì có ở các bức 7, 33; điển
Trang 14điếu dân phạt tội có ở các bức 8, 26, 28; điển nói về chữ tín xuất hiện trong các bức 15, 17, 22, 23; điển Hán Đường hiếu đại Thang vũ điếu phạt có ở tới 6 bức
thư: 31, 40, 52, 53, 56,… Ngay cả trong một bức thư, một điển cố cũng có thể
được dùng lặp lại như điển về Bách Lý Hề và Lý Tả Xa là hai nhân vật sử tài giỏi
lại biết thời thế để nhằm thức tỉnh Thái đô đốc, điển này có ở bức 36 dùng lạihai lần…
Về nguồn gốc trích dẫn điển cố:
Điển cố có nguồn gốc từ Truyện, Sử bộ:
Kể về sự kiện hoặc nhân vật lịch sử, một triều đại lịch sử Đây là loại chiếm
số lượng cao nhất so với các điển cố có nguồn gốc khác với 60 lần (54,54%).Sau đó là điển có nguồn gốc từ Kinh bộ mà chủ yếu lấy trong sách Mạnh Tử,Trung Dung, Luận Ngữ, Kinh thi với 26 lần (23,63%) Nguồn gốc từ văn họcdân gian cũng khá phong phú như thành ngữ, tục ngữ, phương ngôn với 15 lần(13,64%) Mượn ý hoặc cả câu thơ cổ với 2 lần (1,82%) Rút từ sách Binh phápvới 7 lần (1,82%)
Các điển có nguồn gốc từ Kinh- Sử truyện- Thơ ca- Binh pháp chủ yếu làlấy trong sách Trung Quốc, ở giai đoạn chưa được Việt hoá Còn điển có nguồngốc từ văn học dân gian có cả của Trung Quốc cả của nước Nam nhưng nguồngốc sâu xa vẫn bắt nguồn từ vùng Hoa Hạ này Tuy nhiên nó đã được việt hoánhiều lâu ngày sử dụng thành khẩu ngữ mà người ta không phân biệt được rõràng từng câu đâu là của người phương Bắc đâu là của người phương Nam
Về phân loại theo cách sử dụng: Những điển cố sử dụng thi, văn liệu và cácđiển tích (thông qua từ nhóm từ được lấy ra từ các câu truyển trong Kinh, Sử…
về các nhân vật sử, các triều đại…) gần tương đương nhau Điều này chứng tỏviệc hiểu và sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi đối với cả hai loại này là rất hàihòa
Về phân loại theo mục đích sử dụng điển cố theo thống kê ta thấy: NhữngĐiển cố nói về việc tố cáo tội ác của giặc, vạch trần bộ mặt xâm lược của địch(16,36%), khuyên tướng lĩnh nhà Minh (16,36%), khuyên dụ lính hàng(14,54%), trách nhiệm của Thiên tử (11,82%), khó khăn của giặc chiếm số
Trang 15lượng cao hơn cả Điều này phù hợp chứng tỏ việc sử dụng Điển cố là nhắmđúng mục đích đề ra, nhằm chỉ rõ bộ mặt thật của quân nhà Minh thực chất làquân xâm lược, chỉ cho chúng lẽ đúng sai việc mất còn để chúng tự nhận sai vềmình, cùng với những khó khăn chúng mắc phải sẽ nhanh chóng bị thất bại, từ
đó khiến quân địch phải lung lay về tinh thần lần lượt đi tới chỗ thất bại Đâycũng chính là thuật tâm công (đánh bằng tấm lòng) của Nguyễn Trãi
Về tính chất của những điển cố có nguồn gốc Hán Việt thường tương đối
dễ hiểu và phổ biến Đối với những Nho sĩ xưa phải thông thạo Kinh sử thì khiđọc những bức thư này có lẽ không khó khăn gì Mà mục đích chính Nguyễn
Trãi hướng tới là tướng soái nhà Minh “từng đọc Thi, Thư” (bức 46) thì việc
hiểu điển cố là điều nắm trong lòng bàn tay
Về mức độ trọn vẹn khi dẫn điển đa số là trích dẫn không hoàn toàn thườngmượn ý, hình ảnh, tên đất, tên người, tên triều đại… sau đó gợi mở ra ý nghĩacần dùng Khi trích dẫn trọn vẹn, thường gặp ở điển có nguồn gốc từ Kinh bộhay văn học dân gian
2.2 Nghệ thuật sử dụng điển cố trong văn ngoại giao của Nguyễn Trãi:
Xét trong 62 bức thư mà có đến 110 lần xuất hiện điển cố, tức là bình quânmỗi bức gồm hai điển cố, nếu không kể đến 15 bức không xuất hiện điển cố thìbình quân mỗi bức khoảng gần 3 điển cố Cùng với 78 điển cố khác nhau thuộcnăm nhóm nguồn gốc, có thể nói nguồn điển cố mà Nguyễn Trãi dùng rất phongphú, từ văn học dân gian đến cả kinh, sử Điều đó nói nên Nguyễn Trãi là ngườirất am tường, vốn văn hoá uyên bác, khả năng vận dụng khéo léo, biết nhấnmạnh, xoáy sâu khiến quân giậc không thể coi thường Hơn nữa đó là những tích
để lại của chính cha ông họ, những câu truyện trong lịch sử nước họ Khi bọnPhương Chính bị ta tiến công chúng vì sợ mà không ra đánh Nguyễn Trãi đã chỉthẳng vào mặt chúng: “Nhĩ nãi bế thành cố thủ, chính như nhất lão ẩu, hà da?Ngô khủng nhữ đẳng bất miễn cân quắc chi nhục hĩ” (Thế mà ngươi vẫn cứđóng cửa thành bền giữ như mụ già thế cớ làm sao? Ta e bọn ngươi không khỏicái nhục khăn yếm vậy) Dùng truyện khi Gia Cát Lượng khiêu chiến với Tư
Mã Ý ở sông Vị Thuỷ để làm nhục y ghi trong sách Tấn Thư qua đó gián tiếp
Trang 16khiêu khích bọn Phương Chính (bức 7) Như thế Nguyễn Trãi trước đã rất khônkhéo vừa là tỏ ý ýtôn trọng lịch sử Trung Quốc nhưng sâu xa hơn là lấy chínhnhững tuyên ngôn, những chiến tích mà bọn giặc Minh tỏ ra nhân nghĩa mà kìthực chúng đã dẫm nát lên chính những lời nhân nghĩa đó của cha ông mình.Còn khi bọn chúng lớn tiếng hô khẩu hiệu “phù Trần diệt Hồ” thì ngay sau đóNguyễn Trãi đưa hàng loạt dẫn chứng để bẻ gẫy luận điệu gian trá của giặc đồngthời vạch trần bản chất xâm lược của chúng Trong thư “Lại thử trả lời PhươngChính” Nguyễn Trãi viết: “Nhĩ quốc vãn nhân Hồ thị thất đạo, giả dĩ điếu phạt
vi danh, tế kì bạo lệ chi thực, xâm đoạt ngã cương thổ ngư liệp ngã sinh dân”(nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo mượn tiếng điếu dân phạt tội kì thực làm việcbạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta) Đồng thời tỏ thái độ cươngquyết, dùng lí lẽ vững chắc, điển cố xác đáng để bọn chúng tự nhận lỗi về mình.Trong “Biểu cầu phong” Nguyễn Trãi lên giọng: “Hựu dĩ Hán chi ư Hung Nô,Đường chi ư Cao Ly vi ngôn, đại nhân khởi bất kiến Vũ Đế chi chiếu khí LuânĐài, Thái Tông chi ban sư Tân Thị” (Tất như Hán Võ lấy việc bỏ Luân Đài mànhận lỗi, Đường Thái Tông lấy việc đánh Cao Ly mà ăn năn) Đây chính là cái
mà Nguyễn Trãi gọi là nghệ thuật “tâm công” (đánh bằng tâm) đã mang lại hiệuquả cho lập luận của ông, vừa ra đòn “gậy ông đập lưng ông” lại vừa khiếnchúng tâm phục khẩu phục Về mảng này ngòi bút Nguyễn Trãi tỏ ra mạnh mẽ,sắc sảo đầy thuyết phục
Xét về nguồn gốc thì kinh, sử truyện có 87 lần xuất hiện tương đương với85% Có hiện tượng này là do Nguyễn Trãi vận dụng được ý nghĩa nội tại củanhóm nguồn gốc Đó là những lời giáo huấn, hay từ kinh nghiệm và trí tuệ củabậc thánh nhân từ lâu đã trở thành tấm gương, chân lí để đối chiếu với việc làmcủa người đời sau Đưa ra lời chỉ giáo của cha ông mình thì quân Minh sao cóthể chối cãi? Nhờ thế mà điển cố Nguyễn Trãi sử dụng càng mang tính thuyếtphục, nó giống như chỗ dựa vững chắc để lập luận của ông thêm phần đanh théplại thấu tình đạt lí
Bằng vốn điển cố đó Nguyễn Trãi đã bố trí một cách linh hoạt khiến câuvăn không bị cứng nhắc, sáo rỗng Ở giai đoạn đầu cuộc kháng chiến khi tương
Trang 17quan so sánh lực lượng nghiêng về bên giặc Nguyễn Trãi đã khôn khéo giữ thếhoà mà liên lạc với chúng dưới hình thức trá hàng vừa nêu nỗi oan khuất củamình, nỗi khốn khó của dân chúng đồng thời nêu lên tội ác của giặc Trong bứcthư thứ nhất gửi cho giặc, Nguyễn Trãi thể hiện sự tài tình của mình trong lậpluận, sử dụng điển cố xác đáng, uyển chuyển không chỉ phù hợp với nội dungbức thư mà còn nêu bật mục đích, ý tưởng của mình: “Nhiên tinh vệ vô từ điềnhải chi lao, oan khốc bất cố tử sinh chi báo” (song chim tinh vệ lấp biển há quảngian lao, kẻ oan ức trả thù cũng liều sống thác) Khi nghĩa quân giữ được thế tấncông, vây hãm thành Nghệ An nhưng địch vẫn chưa đầu hàng, Nguyễn Trãi viết
“Lại thư cho Phương Chính” khiêu khích để địch ra ngoài giao chiến: “Ngôkhủng nhữ đẳng bất miễn cân quắc chi nhục hĩ” (ta e là bọn mày không thoátkhỏi nhục khăn yếm) lời lẽ tưởng như đơn giản ngẫm kĩ mới thấy thâm thuý Đồng thời với việc lên án, tố cáo tội ác của giặc, Nguyễn Trãi tiếp tục sửdụng điển cố làm minh chứng cho lập luận của mình Trong thư gửi Liễu ThăngNguyễn Trãi dẫn ra một câu tục ngữ dùng hình ảnh con ong cái bọ, chỉ là thứcôn trùng, sâu bọ cũng có vũ khí sinh tồn của nó, từ đó nói về ý chí quyết tâmchống kẻ thù xâm lược của dân tộc ta: “sái do hữu độc, huống ngã nhất quốc chinhân, kỳ trung khởi vô mưu kế dũng lược chi sĩ” (con ong cái bọ còn có nọc độchuống chi trong cả nước tôi há lại không có người nào mưu trí hay sao? Các ôngchớ có thấy nước tôi ít người mà coi thường) (Bức thư số 54)
Với phương pháp dùng thủ pháp đối, Nguyễn Trãi đưa ra điển cố để đốilập giữa luận điệu xảo trá “hưng diệt kế tuyệt”(trấn hưng nước đã diệt nối dòng
đã mất) của địch với tấm lòng “điếu dân phạt tội”(thương dân đánh kẻ có tội)của nghĩa quân, qua đó khẳng định cuộc khởi nghĩa của ta là chính nghĩa còncủa quân Minh là vô đạo, phi nghĩa Đây là một khẳng định rất có ý nghĩa vì cóchính nghĩa thì mới khiến người dân tin Dân tin thì dân ắt sẽ theo về, có dân thìnhư nắm được gốc trong tay, như thế lo gì chính nghĩa không thắng hung tàn.Chẳng phải chính thánh nhân xưa đã dạy “phúc chu thuỷ tín dân do thuỷ” (lậtthuyền mới biết sức dân như nước) hay sao? Trong bức thư số 31 Nguyễn Trãicũng đưa ra sáu điều tất thua cho quân Minh trong đó có lí do mất lòng tin ở dân
Trang 18chúng là vậy Đứng trên lập trường của người chiến thắng Nguyễn Trãi cònkhẳng định quân ta không chỉ chính nghĩa mà còn có lòng khoan hồng Đây làđức tính quí báu mang tính truyền thống của dân tộc nay được nghĩa quân kếthừa và sử dụng lời dạy ấy rất đúng chỗ Truyền thống “thương người như thểthương ta” của dân tộc một lần nữa được thi hành cho tàn quân Minh Phải nóirằng Nguyễn Trãi thật là cao tay mới có thể viết được những lời lẽ đanh thépnhư thế Bằng chiến thắng vang dội, tuy đổ nhiều xương máu nhưng lịch sử đãchứng minh rằng “đại nghĩa” sẽ thắng “hung tàn” Chẳng thế mà khi kết thúcchiến tranh, ta đã không làm như nhà Hán, nhà Đường đánh cả kẻ chạy đi lẫn kẻchạy về, trái lại ta dải thảm hoa, sắm sửa thuyền bè cho quân Minh về nướckhiến chúng cảm động Trước khi về nước Vương Thông còn qua chào từ biệt
Lê Lợi Nghệ thuật “tâm công” thế là đã đến chỗ tột đỉnh của nó
Trong gới hạn bài viết nên chúng tôi không thể lấy dẫn chứng được hếtcác điển cố, với số lượng 78 điển cố như vậy có thể nói điển cố trong tayNguyễn Trãi thật là phong phú lại được sử dung rất linh hoạt và công phu Mộtcách ý thức Nguyễn Trãi đã khiến chúng thành phương tiện sắc bén cho lập luậncuả mình
So sánh giữa các loại điển cố Nguyễn Trãi dùng, như ta đã thống kê trêncho thấy nguồn gốc lấy từ kinh sử và về binh pháp là nhiều hơn cả còn điển lấy
từ tục ngữ, phương ngôn chiếm rất nhỏ Đó chính là điều chú trọng của NguyễnTrãi Bởi lẽ để đánh thắng được kẻ thù không gì bằng hiểu thấu đáo kẻ thù Từviệc xác định rõ đối tượng hướng tới chủ yếu là tướng soái nhà Minh Về mặtkhách quan mà nói họ là những người mà Nguyễn Trãi đã khẳng định “từng đọcThi, Thư” chứ không phải những kẻ tầm thường Như vậy lấy Thi, lấy Thư ra trảlời, Nguyễn Trãi không chỉ khẳng định trí tuệ của dân tộc mình mà còn nhằmmục đích rất rõ ràng, mục đích “thực dụng”- dùng chính ngôn ngữ huênhhoang, đắc thắng của kẻ thù làm vũ khí trang bị cho lí luận của ta Trong “BìnhNgô đại cáo” Nguyễn Trãi cũng sử dụng khá nhiều điển về kinh, sử để trợ giúpcho lí lẽ của mình Dẫn câu “dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xácnày gói trong da ngựa ta cũng nguyện làm” trích câu nói của Mã Viện trong
Trang 19Hậu Hán thư để nói lên ý chí quyết tâm đánh giặc của ta Có thể nói “Bình Ngôđại cáo” cũng như "QTTMT" nói riêng và mảng văn chính luận của NguyễnTrãi nói chung có một nét phong cách khá độc đáo, trong đó yếu tố điển cố được
sử dụng với mục đích chính trị, mục đích “thực dụng” đóng một phần quantrọng
Trong sáng tác thời kì văn học trung đại, điển cố được xem như là phươngthức đặc biệt để xây dựng câu văn, câu thơ Tuy nhiên việc đưa điển cố với mụcđích sử dụng lại khác nhau Điển cố có khi giúp câu văn hình ảnh thêm sinhđộng, tránh sự trần trụi, khô khan, có khi để bộc lộ chí hướng, diễn tả cái gọi là
“ý tại ngôn ngoại”, hay có khi là tỏ sự uyên bác, quí phái… Còn một loại màNguyễn Trãi dùng làm mục đích chính cho lối văn chính luận của mình Bêncạnh yếu tố tích cực vốn có mà điển cố mang lại Nguyễn Trãi đã khéo léo lôikéo nó vào mục đích của mình Một mục đích rất “thực dụng”, đó là dùng điển
cố làm ví dụ hay làm chứng cớ xác thực cho lập luận Không dẫn dắt dài dònghay liệt kê một cách chi tiết mà lợi dụng những tích cũ, những câu nói trongkinh điển đưa ra một vài điểm cũng đủ làm ví dụ dẫn chứng giúp cho lập luận có
cơ sở vững chắc, xác đáng, rõ ràng Để vạch trần tội ác của giặc, Nguyễn Trãihoặc là đưa ra ví dụ trực tiếp hoặc dùng biện pháp đối lập… từ đó để đối chiếu,
so sánh với việc làm của chúng Như là lúc thì dẫn chứng về tính hiếu đại củaHán Đường, lúc lại dẫn về gương điếu dân phạt tội của Thang Vũ Từ đó đưa rahai mặt của một vấn đề: vạch trần bộ mặt xâm lược của giặc đồng thời cho thấybọn chúng là kẻ đã bất chấp trà đạp lên đạo đức do chính cha ông chúng đề ra
Đó là mục đích chính do hiệu quả điển cố mang lại, tuy nhiên cũng không thểloại bỏ những yếu tố khác đã khiến câu văn mang tính sinh động, lời lẽ sâu sắc,nâng cao tính bác học cho tác phẩm
Như vậy, trên nền chung về cách sử dụng điển cố trong văn học cổ nước
ta thì Nguyễn Trãi đã dành cho mình một hướng đi riêng Phải nói thêm rằngviệc sử dụng điển cố của Nguyễn Trãi đạt tới một trình độ điêu luyện, sắc xảo,không hề xáo rỗng, hay khô khan mà ngược lại nó htrở thành thứ công cụ đắclực cho lập luận của tác giả Điều đó sở dĩ có được bên cạnh chủ ý của tác giả
Trang 20còn do hoàn cảnh khách quan tác động Khi giao thiệp thư từ với quân Minh căn
cứ vào từng hoàn cảnh, tuỳ đối tượng nhất định mà tác giả lúc dùng lời lẽ mềmmỏng, lúc thì cương quyết, rắn rỏi… Nhưng dù trong lúc yếu thế hay thắng thế,Nguyễn Trãi luôn đứng trên lập trường lấy tư tưởng nhân nghĩa làm nòng cốt,đồng thời dùng thuật “tâm công” đánh bằng tấm lòng, lôi kéo thuyết phục đốiphương nhằm kết thúc chiến tranh ít đổ máu nhất và luôn đặt quyền lợi củangười dân lên hàng đầu Xuất phát từ lí do hoàn cảnh, Nguyễn Trãi đã lựa chọncho mình phương thức viết riêng, trong đó cách dùng điển cố với mục đích cóthể nói là rất “thực dụng” đã góp phần đắc lực cho luận điệu của mình Và quảthực đó là một lựa chọn khôn ngoan, bằng chứng là bọn giặc Minh cứng đầucuối cùng đã tâm phục, khẩu phục Kẻ về đến nước mà vẫn “tim đập chân run”,
kẻ thì ân cần đến chào vị tướng Lê Lợi trước khi rút về nước… Như thế trongphong cách viết văn chính luận của tác giả, nghệ thuật sử dụng điển cố quả thực
đã đem lại cả giá trị nội dung và nghệ thuật cao Ở QTTMT, Nguyễn Trãi đã sửdụng phương pháp lập luận chặt chẽ, bao gồm cả cách chọn lọc từ ngữ và kếtcấu tác phẩm Đó chính là hình thức nghệ thuật quan trọng làm nên sức thuyếtphục cho các bức thư Kết cấu theo hình thức quy phạm: mở đầu, phần thân vàkết luận Đặc biệt xen lẫn giữa các đoạn trong bức thư tác giả thường luận điểmdưới dạng nguyên lí Cơ sở của các luận điểm đó từ những khái niệm đạo đứcNho giáo đã được hai bên công nhận, những chân lí khách quan rút ra từ thực tếcuộc sống, những vấn đề như chữ “thời” trong các sách Binh pháp đề cập đến
và người dụng binh đều thấu hiểu Mỗi bức thư đều mang tính chiến đấu rõràng: giương cao tính chính nghĩa, có biện pháp chiến đấu thích đáng, giảm tànsát Nguyễn Trãi quả đã khéo léo sử dụng ngòi bút thần kì của mình viết thành
hệ thống văn địch vận, vừa đậm đà khí phách dân tộc vừa đầy đủ tính chất hùngbiện đứng trên lập trường của người chiến thắng Trong đó phải kể đến sứcmạnh của việc sử dụng điển cố, nói một cách hình ảnh thì việc sử dụng điển cố
có khi đan cài có khi xuất hiện dồn dập như những viên kim cương lấp lánh màcác câu chữ khác bấu víu vào tạo ra thứ vũ khí sắc bén đâm thủng những luậnđiệu gian trá của kẻ địch Và có thể nói thứ văn địch vận này thực sự đã hỗ trợ
Trang 21đắc lực cho mặt trận quân sự và nó có sức mạnh bằng nhiều sư đoàn tinh nhuệ.Quả nhiên, bằng việc kết hợp giữa vũ khí quân sự và vũ khí ngoai giao đã khiến
kẻ thù bị đánh bại cả về lực và trí Kết thúc bọn vương Thông phải ra dự lễ ănthề,rút quân về nước
Trang 22IV PHẦN KẾT LUẬN Như vậy có thể khẳng định một lần nữa, điển cố chính là một thủ phápnghệ thuật đặc thù mà giá trị nó đem lại thật to lớn Văn học cổ nói chung vàđọc "QTTMT" nói riêng thì vấn đề điển cố hết sức được chú trọng Điển cốchính là chìa khoá để cảm thụ và thẩm định tác phẩm Việc sử dụng một cáchthuần thục, linh hoạt các điển cố, Nguyễn Trãi đã biến nó thành một phương tiệnsắc bén, là chỗ dựa cho lý luận của tác giả Những bức thư được mệnh danh cógiá trị như “mười vạn quân” (Phạm Văn Đồng) ấy được nâng cao hơn, manggiá trị hơn rất nhiều phần quan trọng phải kể đến nghệ thuật sử dụng điển cố củaNguyễn Trãi Sau khi cuộc chiến tranh kết thúc thắng lợi, những bức thư củaNguyễn Trãi viết trong thời gian ngoại giao với giặc Minh được coi là Quốc thư,
là minh chứng quan trọng để lập nên triều đại Lê Cũng chính bởi tầm cỡ lớn lao
và ý nghĩa lịch sử như vậy mà ngay cả khi bị thảm hoạ tru di các thư tịch di văncủa Nguyễn Trãi bị triều đình tiêu huỷ Chỉ cho tới khi Lê Thánh Tông minh oan(1467 đã hạ chỉ sưu tầm, thu thập) và cũng phải nhờ công lao của những ngườiyêu mến tài năng của Nguyễn Trãi lắm thì đến nay chúng ta mới còn đượcthưởng thức nhưng di văn của ông Những tác phẩm đó không chỉ mang giá trịhiện thực mà còn giúp ta hiểu thêm về những giá trị đặc sắc nhất trong đó baogồm cả phong cách nghệ thuật trong văn chính luận của vị quân sư lỗi lạc này
Để làm nên một nhà văn chính trị kiệt xuất như Nguyễn Trãi, phong cáchđộc đáo là yếu tố không thể thiếu Tính chiến đấu là nét đặc thù của văn chínhluận dân tộc ta Nhưng chiến đấu ngoan cường, trực diện, tập trung, thườngxuyên và có hiệu quả như Nguyễn Trãi phải xuất phát từ trí tuệ nhạy bén, tìnhcảm chân thành và nhất là từ ý thức dùng văn chương làm vũ khí “mạnh như vũbão, sắc như gươm đao”( Phạm Văn Đồng) thì chỉ có thể tìm sớm nhất trongvăn chính luận của Nguyễn Trãi Một trong yếu tố làm nên “cái hay” của vănchính luận Nguyễn Trãi là ở bút pháp hùng biện Đặc biệt trong “QTTMT" khiviết thư cho kẻ địch thì phải tự hiểu mình để giữ vững tư thế mà cũng phải rấthiểu kẻ địch để đánh cho trúng Tuỳ từng đối tượng, tuỳ từng diễn biến mà công
Trang 23kích hay nhún nhường… lại phải tìm lời lẽ thích hợp để kẻ địch hiểu được vàhướng chúng theo hành động của ta Ở điểm này việc lựa chọn điển cố xác đángcủa Nguyễn Trãi là rất khôn khéo và sáng suốt Việc vận dụng tinh vi đó có cơ
sở vững chắc từ nhận thức của Trung Quốc cũng như tìm hiểu về đất nước, kếthợp với tình cảm chân thành và ý chí gan thép của tác giả Cùng với các phươngpháp tu từ khác như liệt kê, chứng minh, phân tích… giọng điệu biến hóa lúclên giọng lúc xuống giọng… thì điển cố cũng góp phần tạo nên phong cách chobút pháp viết văn chính luận của Nguyễn Trãi
Để làm nên phong cách thì mỗi tác giả sẽ chọn cho mình hướng đi riêng,độc đáo và được sử dụng trong hầu hết các tác phẩm của mình Tuy nhiên phongcách trong mỗi tác phẩm không đơn thuần là việc lặp lại mà có sự đổi mới,nhưng đọc trong đó ta vẫn có thể nhận ra đó là tác giả đó chứ không thể là tácgiả khác Nếu tác giả nào không tìm cho mình một phong cách riêng thì khôngthể tồn tại được Một tác gia lớn thì phong cách được thể hiện rất đậm nét
Trước Nguyễn Trãi đã có văn chính luận, nhưng để trở thành nhà vănchính luận thì chỉ Ức Trai là riêng có Văn chính luận của Nguyễn Trãi có sốlượng khá lớn như: QTTMT, Bình Ngô đại cáo, chiếu, biểu viết dưới triều Lê…Trong mỗi một tác phẩm đều mang đậm phong cách viết văn chính luận đặc thùcủa ông Thông qua việc tìm hiểu tác phẩm QTTMT ta cũng có thể nhận thấyđược hơi thở và tiếng nói chung của ông trong đó
Văn chính luận thường bàn đến những vấn đề chính trị, xã hội có tầm cỡQuốc gia Do đề cập đến những vấn đề lớn của đất nước nên nó thường pháttriển mạnh trong những thời kì mà văn chính luận nổi lên hàng đầu của hiệnthực lịch sử Trong văn chính luận, tính chất và cảm hứng dân tộc nổi bật nhất.Bên cạnh nét chung đương thời, văn chính luận của Nguyễn Trãi còn mangphong cách riêng
Trước hết đó là tính chiến đấu xuất phát từ ý thức tự giác dùng vănchương phục vụ cho những mục đích chính trị, xã hội Tiếp thu những quanniệm văn học thời trước “văn dĩ chở đạo” phục vụ trực hoặc gián tiếp cho nhữngmục đích chính trị xã hội cao đẹp của dân tộc Hơn nữa Nguyễn Trãi lại là người
Trang 24trực tiếp sống và chiến đấu trong cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài và gian khổnên ông đã thổi vào dòng văn học một tinh thần tự giác về nhiệm vụ, sử dụngngòi bút như một vũ khí Do đó văn chính luận của ông có nội dung yêu nướcsâu sắc và có tính chiến đấu cao “Bình Ngô đại cáo” thì bừng bừng khí thế củanhững năm Bình Ngô, phục Quốc “QTTMT” thì được mệnh danh là “có sứcmạnh như mười vạn quân” (Phạm Văn Đồng) Ở đây ông đã dùng trí mưu đểphân tích thời- thế- lực nhằm chứng minh ta nhất định thắng địch nhất định thua.Nguyễn Trãi đã vận dụng đạo lí để lên án vua quan triều Minh về tội ác xâmlược dối trá bạo tàn, “cùng binh độc vũ”, “hiếu đại hỉ công”… Tuyên dươngnghĩa quân về việc làm chính nghĩa, trung thực, khoan hồng… Sức mạnh vănchính luận của Nguyễn Trãi đó là chiến lược “lấy đại nghĩa để thắng hung tànlấy chí nhân để thay cường bạo” Từ nhu cầu “tâm công” và từ nhận thức về tínhnăng chiến đấu của văn chương với tinh thần chiến đấu không mệt mỏi, kết hợpvới mưu trí hết sức linh hoạt, Nguyễn Trãi đã viết thư giáng cho địch những đòntới tấp, đánh cho chúng phải thua trên mặt tư tưởng, làm lung lay tinh thần chiếnđấu của quân giặc Chiến đấu là đặc thù của văn chính luận, nhưng chiến đáungoan cường, trực diện, tập trung có hiệu quả cao phải xuất phát từ trí tuệ nhạybén, tình cảm chân thành và nhất là ý thức dùng văn chương làm vũ khí thì chỉ
có thể tìm thấy sớm nhất trong văn chính luận của nguyễn Trãi
Văn chính luận của Nguyễn Trãi phản ánh trình độ cao của văn chính luậndân tộc Nguyễn Trãi viết văn chính luận với nhiều thể loại khác nhau, bút phápcủa tác giả cũng tùy theo yêu cầu của từng loại văn: thư, cáo, chiếu, dụ… màthay đổi Đối tượng của văn chính luận là những vấn đề chính trị xã hội Cái haycủa văn chính luận trước hết ở chỗ vấn đề tác giả đặt ra và giải quyết nó như thếnào Nguyễn Trãi đã đặt ra vấn đề độc lập dân tộc, số phận nhân dân trong
“Bình Ngô đại cáo”, vấn đề xây dựng một đất nước thịnh trị lâu dài, hoà bìnhmuôn thở trong chiếu dụ, và vấn đề “tâm công” trong “QTTMT”… Bút pháp tàitình của tác giả ở chỗ đặt rõ vấn đề và lí giải có sức thuyết phục Tư tưởng củatác phẩm và tư tưởng của tác giả bộc lộ qua phong cách biện luận, hoặc đốithoại, hoặc nói việc xưa chỉ việc nay… tứ trong bài văn khi thì đối lập, khi thì
Trang 25dẫn dắt nhau, khi cật vấn khi phản bác… nhằm lập đi lật lại vấn đề, xét soi mọi
lẽ để chứng minh cho quan điểm, lập luận của mình Đặc biệt khi viết thư chođịch, bút pháp của Nguyễn trãi tỏ ra điêu luyện, ông luôn tỏ ra là người thấuhiểu kẻ địch và luôn đứng vững trên quan điểm lập trường vững chắc của mình Nét đặc sắc của bút pháp hùng biện của Nguyễn Trãi còn ở nhiều phươngdiện khác như cách sử dụng biện pháp tu từ, kết hợp ngôn ngữ chính luận vớingôn ngữ hình ảnh, tính lôgic v.v…
“QTTMT” nằm trong hệ thống văn chính luận của Nguyễn Trãi, do đó nómang đầy đủ phong cách văn chính luận của ông Với giọng điệu ngôn ngữcách hành văn, cách sử dụng các biện pháp tu từ, dẫn dắt điển cố… riêng có,
“QTTMT” đứng có vị trí quan trọng trong hệ thống văn chính luận cũng nhưtrong toàn bộ sáng tác của ông Nguyễn Trãi xứng đáng là nhà văn chính luậnkiệt xuất Văn chính luận của Nguyễn Trãi có giá trị mẫu mực là cột mốc đánhdấu sự phát triển của văn chính luận dân tộc
Trang 26V TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Đoàn Ánh Loan “Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố” NXB
4 Nhóm Mai Quốc Liên “Nguyễn Trãi toàn tập” NXB KHXH.1969
5 Tuấn Thành, Anh Vũ “Nguyễn Trãi tác phẩm và dư luận” NXB Văn
học 2002
Trang 27Không hoàn toàn
Truyện , Sử
Kin h Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi
ca cổ
Văn học dân gian
1 Thỉnh hàng thư C 11 Tinh vệ vô từ điền hải… x x
C 13 Đặng Vũ dụ địch chi tâm x x Hoàng Bá hoá dân chi chính
4 Dữ Phương C 1 Thiên chi cung, bất vị… x x Chính thư
Phương Chính thư C 9 Nhân giả dĩ nhược chế
Phương Chính thư C 7 Cân quắc chi nhục x x
8 Tái phục C 3 điếu dân phạt tội x x
Phương Chính thư C 5 độc vũ cùng binh x x
C 5 can não đồ địa x x
Trang 28C 6 quý tôn chi ưu, bất tại… x x
9 Đáp tổng C 1 Thiên địa chi ư… x x
Thông thư tề nhân đa trá
15 Tái dữ Vương C 1 tín giả quốc chi bảo x x
Không hoàn toàn
Truyện , Sử
Kin h Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi
ca cổ
Văn học dân gian
16 Tái dữ Vương C 8 tác xá đạo băng… x x Thông thư
21 Dữ Vương C 17 Hồ mã tê Bắc phong… x x
Thông thư Việt điểu sào nam chi
22 Dữ Thái giám C 7 tự cổ giai hữu tử… x x
Sơn Thọ thư
Trang 29Thông thư C 13 điếu phạt chi sư x x
C 14 hưng diệt kế tuyệt x x
31 Dữ Vương C 6 cùng độc chi họa x x
Thông thư C 6 hưng diệt kế tuyệt x x
31… C 7 Hán Đường hiếu đại… x x
Trang 30Không hoàn toàn
Truyện , Sử
Kin h Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi
ca cổ
Văn học dân gian
32 Dữ Vương C 9 tiên thời giả, sát vô xá, hậu… x x
C 32 Đường Thái Tông cầm Kiến Đức…
C 52 Cân quắc chi di nhục x x
34 Dữ Vương C 22 Tuần, Viễn chi tiểu tiết x x
Thông thư C 22 Đường Thái Tông sở vị tận
trung…
35 Tái dữ Vương C 16 cùng binh độc vũ x x
Thông thư C 39 cùng tắc biến x x
C 36 Tuần, Viễn chi tiểu tiết x x
Trang 31C 37 nhất triêu vô thực… x
36 Dữ Thái Đô C 6 Bách Lý hề cư Ngu… x x
Đốc thư Lý Tả Xa chi tại Triệu…
36… C 12 Bách Lý Hề cư Ngu… x x
C 13 Hàn Tín chi khứ sở x x
Cơ Tử chi bất thần Chu…
C 19 Đường Thái Tông sở vị tận trung…
Không hoàn toàn
Truyện , Sử
Kin h Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi
ca cổ
Văn học dân gian
37 Dữ Vương C 2 Cùng khấu vật bức x x
Thông thư C 13 điểu cùng tắc trắc… x x
C 4 tiểu địch chi kiên, đại địch chi cầm
40 Dữ Vương C 11 cùng độc chi hoạ x x
Thông thư C 14 Hán Đường hiếu đại,
Thang Vũ hưng diệt…
41 An Nam quốc C 7 Sư xuất dĩ luật… x x
thư phụng… C 11 hoài nhu chi đạo x x
42 An Nam quốc C 2,3 Thành Thang phạt Kiệt
Vũ Vương phạt Thương
thư phụng… C 6 hưng diệt chi nghĩa… x x
Trang 32C 13 nhậm Châu Thiệu… x x
C 17 cam đường chi di… x x
43 Dụ Vân Nam C 2 nhân nhân chi tâm… x x
Phi tấu thư C 20 cùng độc chi giới x x
44 Dữ Vương C 2,3 thiên hạ chi an nguy… x x
Thông thư C 6 tâm quả thành… x x
49 Dụ thiên hạ C 6 Cao tiết như Tứ Hạo, x x
chư hào kiệt chiếu gia độn như Tử Phòng
50 An Nam quốc C 10 hoài nhu chi đạo x x
đầu mục thư… C 12 điểu cùng tắc trác… x x
Mức độ trọn
Hoàn toàn
Không hoàn toàn
Truyện , Sử
Kin h Bộ
Về sách Binh Pháp
Thi
ca cổ
Văn học dân gian
51 An Nam quốc C 3 Cổ Hồ chi lưu liên x x
đầu mục thư… C 7 Văn Hầu bất tham phạt x x
Nguyên, Thương Quân…
C 12 Tha nhân hữu tâm x x
Trang 3352 An Nam quốc C 5 nhất ngôn phẫn sự x x đầu mục Lê Lợi C 7 can não thảo dã x x
thư… C 18 Thang, Vũ hưng diệt… x x
Hán Đường hiếu đại
53 An Nam quốc C 25,26 Trương Tuần chi thủ Tuy
54 An Nam quốc C 15 Châu Thái Vương Chi x x
đầu mục Lê Lợi… sự Huân Dục,…
C 28 Tha nhân hữu tâm x x
56 Dữ Liễu
Thăng
C 2 hoài nhu chi đạo x x
thư C 2 Hán Đường hiếu đại… x x
Thang Vũ hưng diệt…
57 Dữ tổng binh C 1 Nam Bắc chi nhân x x
Sơn đại nhân
đẳng thư
sắt do…
58 Tái đáp
Vương
C 1 thiện dụng binh giả, x x
Thông thư dĩ cưỡng chế nhược
61 Dữ Liễu C 1,2 duy nhân giả vi năng dĩ đại… x x
Thăng thư C 20 Thang Thương hưng diệt… x x
Hán Đường cùng binh…
Trang 35BẢNG TỔNG KẾT
1 Tổng số lần xuất hiện điển cố 110 lần/62 bức thư Bình quân: 1,77
2 13 bức không xuất hiện điển cố 20,9%
3 49 bức có điển cố 79,1% Bình quân: 24
4 60 lần xuất hiện trong truyện, sử 54,54%
5 26 lần xuất hiện trong Kinh Bộ 23,63%
6 7 lần xuất hiện trong về sách Binh Pháp 6,36%
7 2 lần xuất hiện trong thi ca cổ 1,82%
8 15 lần xuất hiện trong văn học dân gian 13,64%
9 Trong 110 lần điển cố xuất hiện có 78 điển cố khác
nhau
Trang 361 請 請 請
Thỉnh hàng thư
(Thư xin hàng) Hoàn cảnh: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo bắt đầu từ 1418.
Thời gian đầu (1418- 1423) nghĩa binh gặp nhiều khó khăn, để tranh thủ thờigian củng cố lại lực lượng, Lê Lợi buộc phải gửi thư giảng hoà với quân Minh
Tóm tắt nội dung: Kể về việc Tri huyện Đỗ Phú vì hiềm khích riêng mà vô
cớ gây tội cho Lê Lợi, khinh nhờn quan trên Do đó mà Lê Lợi gửi thư kêu oan
và kể về tội ác bọn Lương Nhữ Hốt đối với gia quyến Lê Lợi Đồng thời nói vềlòng thành khẩn mong được quan Tổng binh mở cho đường sống
Điển cố: 2
1 Câu 11, dùng hình ảnh trong sách cổ:
此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此此
Phiên âm: Nhiên Tinh Vệ vô từ điền hải chi lao, oan khốc bất cố tử sinh chi báo
(Nhưng chim Tinh Vệ há từ cái nhọc lấp biển, kẻ oan ức không nề sống chếtbáo thù)
Chú thích:
Chim Tinh Vệ: Theo sách Thuật dị kí chép: Con gái vua Viêm Đế bị chết đuối ở
biển Đông sau hoá làm chim Tinh Vệ, hàng ngày ngậm đá ở núi ấy mang ra lấpbiển cho hả giận
2 Câu 13, dẫn nhân vật sử trong sách sử:
此 此 此 此 此 此 此 此 此此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此
此 此 此 此 此 此 此 此 此此
Trang 37Phiên âm: Kim văn Tổng binh quan đại đức tiếp nhân, dư ân cập vật, dĩ Đặng
Vũ dụ địch chi tâm vi tâm, dĩ Hoàng Bá hoá dân chi chính vi chính, thành bộccải quá tự tân chi nhật dã
(Nay ta nghe Tổng binh là bậc đức rải muôn người, ân trùm vạn vật, tâm nhưĐặng Vũ dụ địch, chính như Hoàng Bá dạy dân, thực là dịp để tôi đổi lỗi sửamình)
Chú thích:
Đặng Vũ: Được vua Hán Quang Vũ cử làm tiền tướng quân đi đánh quân Xích
Mi Ông hết sức dụ dỗ và chiêu hàng được một số nghĩa quân Ông đứng đầutrong số 28 danh tướng được vẽ hình treo ở Vân Đài
Hoàng Bá: Làm Thái thú đời Hán được khen là người khoan hoà, nhân chính
2 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此
Nghệ Tổng binh quan cập Thanh Hoá phủ Vệ quan thư
(Thư gửi quan Tổng binh quân Minh và quan phủ Vệ Thanh Hoá) Hoàn cảnh: Đây là thư Lê Lợi gửi cho Tổng binh quân Minh lúc bấy giờ
là Trần Trí và các viên phủ Vệ ở Thanh Hoá
Tóm tắt nội dung: Tiếp tục nói về nỗi oan khốc của Lê Lợi, kể tội ác của
giặc Minh Xin được đi miền Tây để chuộc lỗi
Điển cố: 3
1 Câu 11, mượn ý của một bài thơ cổ:
此 此 此 此 此 此 此 此此
Phiên âm: Phù vật bất đắc kì bình tắc minh
(Ôi phàm vật bất bình thì kêu lên)
Câu này mượn ý ở bài Tống Mạnh đông dã tự của Hàn Dũ đời Đường.
2 Câu 4, trích sách Trung Dung:
此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此此
Phiên âm: Thử tuy bộc chi tội, diệc do thượng ty hoài nhu bất tận kì đạo dã
Trang 38 (Đó tuy là tội của tôi nhưng cũng là do quan trên vỗ yên không phải đạo)
Hoài nhu: Vỗ yên, lấy từ sách Trung Dung: Nhu viễn nhân dã, hoài chư hầu dã
(Đối đãi hoà nhã với khách ở phương xa, tưởng nhớ các nước Chư hầu) Người
sau dùng chữ hoài nhu để chỉ việc vỗ yên dân chúng ở nơi xa xôi.
3 Câu 10, nhắc đến nhân vật trong sách sử:
Quan Vũ: Tức Quan Vân Trường theo Lưu Bị, lúc đầu bị Tào Tháo (Tào Công)
bắt ở Hạ Bì Tháo đối rất trọng hậu Gặp khi Viên Thiệu đánh tháo rất gấp, Vũchém dũng tướng của Thiệu là Nhan Lương để báo ơn Tháo Tháo dâng biểu xinphong cho Vũ tước Hán Thọ đình hầu Sau Vũ tìm về với Lưu Bị Khi Tháo bịthảm bại ở Xích Bích chạy đến đường Hoa Dung gặp Vũ chặn đón, được Vũ thacho chạy thoát
3 此 此 此 此 此 此
Dữ Thái giám Sơn Thọ thư (Thư gửi Thái giám Sơn Thọ) Hoàn cảnh: Khoảng tháng 9 đầu tháng 10- 1424, Lê Lợi viết thư đáp lại
ơn về việc Thái giám Sơn Thọ mang sắc sang phong cho Lê Lợi làm tri phủThanh Hoá nhưng với ý đồ dùng quan tước để mua chuộc Lê Lợi
Trang 39Tóm tắt nội dung: Nói về lòng trung nghĩa của Lê lợi đối với triều Minh.
Thành khẩn đội ơn công đức của Thiên triều
Điển cố: 1
1 Câu 7, trích từ thành ngữ:
此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此此
Phiên âm: Thả cổ nhân vân: dĩ thù trị thù kì hoạ bất hưu
(Người xưa có câu: Lấy thù trả thù, tai hoạ không dứt)
4 此 此 此 此
DỮ PHƯƠNG CHÍNH THƯ (Thư gửi Phương Chính) Tóm tắt nội dung: Chỉ cho phương Chính thấy việc thất, đắc Là một
nước lớn mà đi đánh nước nhỏ, thắng thì cũng li loạn, mà thua để tiếng chê cười.Tính kế khuyên chúng cởi bỏ giáp binh là cái lợi cho cả đôi bên
Điển cố: 1
Câu 1, trích Tục ngữ:
此 此 ;此 此 此 此 此 此 此 此 此 此此
Phiên âm: Bộc văn: Thiên chi cung, bất vị hề thử nhi phát cơ
(Tôi nghe cái nỏ nghìn cân không vì con chuột nhắt mà bắn)
5 此 此 此 此 此 Hựu đáp Phương Chính thư
(Lại thư trả lời Phương Chính) Hoàn cảnh: Giặc tiến công không ngừng, có thư dụ ta đến để kể tội, nên
ta viết thư này đáp lại Đầu 1425, để tăng cường lực lượng về mọi mặt, BìnhĐịnh Vương tiến đánh Nghệ An mở rộng khu giải phóng
Trang 40Tóm tắt nội dung: Chỉ ra tội ác của bọn Phương Chính, nêu lên khó
khăn của chúng, chính thức ra mặt khiêu khích giặc
Câu 1, thuộc điển về sách Binh pháp:
此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此 此此
Phiên âm: Phù thiện dụng binh giả, vô hiểm vô bất hiểm, vô dị vô bất dị
(Kể người dùng binh giỏi thì không đâu là hiểm không đâu là không hiềm,không có đâu là dễ, đâu là không dễ)
7 此 此 此 此 此