1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây

85 808 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Tác giả Hoàng Đức Thắng
Người hướng dẫn Đào Thị Ngân Giang
Trường học Đại học kinh tế quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 860 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn: Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây

Trang 1

A- LỜI NÓI ĐẦU

Thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước đã có chủtrương, đường lối, chính sách khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế,đặc biệt đối với Nông nghiệp Nông thôn đã thúc đẩy kinh tế hộ phát triểnnhanh chóng hình thành và Phát triển kinh tế trang trại Sự hình thành kinh tếtrang trại đã góp phần khai thác thêm nguồn vốn trong các bộ phận dân cư,

mở mang thêm diện tích trồng trọt đặc biệt là đối với những vùng đất trốngđồi núi trọc, đất hoang hoá, tạo thêm việc làm cho lao động nông thôn và gópphần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm sản lượng nông sản hàng hoá, nâng caochất lượng hàng nông sản đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị hiếungười tiêu dùng đặc biệt là trong giai đoạn đất nước bước vào hội nhập nềnkinh tế với thế giới và khu vực

Hà Tây là tỉnh có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế trang trại, trong

đó các điều kiện về nguồn lực tự nhiên như đất đai, khí hậu thời tiết và cácđiều kiện về nguồn lực xã hội như cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực, yếu tố thịtrường (Hà Tây là cửa ngõ của Thủ đô có thị trường Hà Nội rộng lớn) lànhững điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh

Kinh tế trang trại ở Hà Tây mặc dù mới trở lại hình thành và phát triểnsong đã có những bước phát triển nhanh mạnh cả về chất và lượng đặc biệt là

kể từ năm 1995 trở lại đây Tuy nhiên phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh HàTây trước mắt và lâu dài còn có 1 số vấn đề cần giải quyết sau đây: quy môtrang trại nhỏ, sản xuất chủ yếu là theo kiểu tự cung tự cấp, mang nặng tính tựphân, trình độ kỹ thuật, quản lý và kiến thức về thị trường của các chủ trangtrại còn thấp, bên cạnh đó mặc dù nhà nước, tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Pháttriển Nông thôn (Bộ NN & PTNN) đã có nhiều chính sách khuyến khích kinh

tế trang trại phát triển song chưa có được một hệ thống các giải pháp thúc đẩyphát triển kinh tế trang trại hoàn chỉnh, bộ máy hành chính còn cồng kềnh gây

Trang 2

thêm nhiều phiền toái khó khăn cho các chủ trang trại do đó hiệu quả sử dụngđất, vốn và năng suất lao động trong các trang trại thực chất là còn thấp.

Để góp phần nghiên cứu và giải quyết những vấn đề kể trên đánh giáđúng tiềm lực và thực trạng phát triển kinh tế trang trại của vùng, từ đóđưa ra các phương hướng, giải pháp phù hợp thúc đẩy kinh tế trang trại

Hà Tây phát triển mạnh mẽ và đúng hướng trong những năm tới, em chọn

đề tài "Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh

tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây" làm chuyên đề nghiên cứu thực

tập tốt nghiệp của mình Mặc dù em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từphía nhà trường, khoa Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cô giáohướng dẫn Đào Thị Ngân Giang, tập thể cán bộ phòng trồng trọt Sở Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Hà Tây và từ gia đình, bạn bè…nhưng dokiến thức và thời gian có hạn nên không thể tránh khỏi được những sai sót và

sơ suất Với tinh thần cầu tiến cầu thị em rất mong nhận được sự giúp đỡ vàchỉ dậy từ phía thầy cô giáo và tất cả những ai quan tâm đến đề tài này Mộtlần nữa bằng tất cả tấm lòng biết ơn sâu sắc em xin chân thành cảm ơn tất cảnhững sự giúp đỡ quý báu dành cho em trong thời gian qua

Sinh viên thực hiện

Hoàng Đức Thắng

Trang 3

B- NỘI DUNG CHƯƠNG I -CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI I.1 - Khái niệm, vai trò, vị trí đặc trưng và tiêu chí nhận dạng của kinh tế trang trại:

I.1.1 Khái niệm về kinh tế trang trại:

Theo Giáo trình môn Kinh tế nông nghệp của trường Đại học kinh tế

quốc dân Hà Nội thì trang trại "Trước hết là một hình thức tổ chức sản xuất

cơ sở trong nông, lâm, ngư nghiệp, có mục đích là chủ yếu là sản xuất hànghoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một ngờichủ cụ thể, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sảnxuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ

kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường" Trang trại là mộthình thức tổ chức sản xuất cơ sở bên cạnh các hình thức tổ chức sản xuất cơ

sở khác như nông lâm trường quốc doanh, kinh tế hộ nông dân Trang trạikhông phải là một thành phần kinh tế "Trang trại" là một khái niệm rộng hơnkhái niệm về "kinh tế trang trại" bởi vì khi nói tới "trang trại" nó bao gồm tất

cả các mặt kinh tế, xã hội và môi trường trong đó mặt kinh tế là cốt lõi nộidung của trang trại còn nói đến "kinh tế trang trại" nghĩa là nói đến mặt kinh

tế của trang trại

Để nhận biết kinh tế trang trại cần phân biệt kinh tế trang trại với nhữnghình thức tổ chức sản xuất cơ sở khác trong nông nghiệp qua các đặc điểm sau

đó là:

Sản xuất hàng hoá là mục đích hàng đầu của trang trại

Sản xuất hàng hoá với quy mô lớn do đó yêu cầu về tập trung các yếu tốvật chất sản xuất phải đạt tới quy mô nhất định

Tư liệu sản xuất của trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụngcủa một người chủ cụ thể

Trang 4

Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại do chủ trang trại tự quyếtđịnh hoàn toàn từ phương hướng sản xuất, tổ chức sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đếnphân phối kết quả của sản xuất kinh doanh Chủ trang trại là người có ý chí, nănglực tổ chức quản lý, có kiến thức, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh đối với Nôngnghiệp và là người trực tiếp quản lý trang trại.

Trang trại có nhu cầu và khả năng về ứng dụng kỹ thuật, khoa học công nghệcao hơn, tiến bộ hơn hẳn so với loại hình kinh tế hộ và thường xuyên tiếp cận vớithị trường

Trang trại có nhu cầu thuê mướn lao động cao hơn hẳn so với kinh tế hộ doyêu cầu của sản xuất hàng hoá quy mô lớn do đó thu nhập của trang trại cũng caohơn hẳn so với mức thu nhập bình quân của kinh tế nông hộ trong vùng

Với cách hiểu về bản chất và đặc điểm của kinh tế trang trại như vậy ta cóthể khái quát lại và đưa ra khái niệm thống nhất như sau:

Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh cơ sở tronglĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, tư liệusản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc sử dụng của một người chủ cụ thể, sản xuấtđược tiến hành trên quy mô về ruộng đất và các yếu tố sản xuất đủ lớn, chủ trangtrại có quyền tự quyết, tự chủ về mọi mặt trong các hoạt động sản xuất kinh doanhtheo pháp luật, có cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ khoa học kỹ thuậtcao, sản xuất ra các hàng hoá nông sản phẩm hoặc cung ứng các dịch vụ vật tư kỹthuật với số lượng lớn, chất lượng cao, gắn với yêu cầu của thị trường và thoả mãnngày càng cao thị hiếu của người tiêu dùng

I.1.2 - Đặc trưng và tiêu chí xác định kinh tế trang trại:

I.1.2.1 Đặc trưng kinh tế trang trại

Với bản chất và khái niệm về kinh tế trang trại như đã phân tích và đãnêu ở trên ta có thể nêu ra các đặc trưng cơ bản làm cho kinh tế trang trại

Trang 5

khác biệt so với các loại hình sản xuất kinh doanh nông nghiệp cơ sở khácnhư sau:

- Về mục đích sản xuất: kinh tế trang trại có mục đích sản xuất chủ yếu

là sản phẩm nông sản hàng hoá Đây là đặc trưng quan trọng nhất của kinh tếtrang trại, nó chi phối, ảnh hưởng thậm chí quyết định các đặc trưng khác củakinh tế trang trại Đặc trưng về mục đích sản xuất của trang trại biểu hiện chủyếu bằng các chỉ tiêu đó là; tổng giá trị sản lượng hàng hoá trong một chu kỳsản xuất kinh doanh (thường lấy 1 năm) và chỉ tiêu về tỷ suất hàng hoá củatrang trại

- Về quan hệ sở hữu: Trong các trang trại tư liệu sản xuất thuộc quyền sởhữu hoặc sử dụng của một người chủ cụ thể Đặc trưng này là rất quan trọngtrong việc phân biệt kinh tế trang trại với các hình thức tổ chức sản xuất cơ sởtrong nông nghiệp thuộc quyền sở hữu của nhà nước hoặc tập thể như nông,lâm trường quốc doanh, kinh tế hợp tác xã, sản xuất nông nghiệp

- Về các yếu tố sản xuất: các yếu tố sản xuất của trang trại bao gồm:ruộng đất, tiền vốn và các yếu tố sản xuất khác được tập trung,với quy mônhất định theo yêu cầu của sản xuất hàng hoá Đặc trưng này được biểu hiệnbằng các chỉ tiêu đó là: quy mô về diện tích ruộng đất gieo trồng, quy mô về

số đầu gia súc, quy mô về khối lượng tiền vốn đầu tư cho trang trại

- Về tổ chức, quản lý sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ: Kinh tếtrang trại có cách tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ dựa trên cơ sở thâmcanh, đa canh, ứng dụng khoa học kỹ thuật, thực hiện hoạch toán kinh tế vàluôn luôn tiếp cận thị trường

- Về lao động: do đặc điểm sản xuất hàng hoá với quy mô lớn của trangtrại cho nên các trang trại có nhu cầu về lao động cao do đó trang trại thường

có sự thuê mướn lao động theo hình thức thường xuyên hoặc thời vụ

Trang 6

- Về chủ trang trại: Với những yêu cầu và đặc điểm của kinh tế trang trạinhư vậy cho nên người chủ trang trại phải là người có ý chí, nghị lực và kiếnthức kinh nghiệm về sản xuất và quản lý mới có thể hoàn thành tốt được cáccông việc của một chủ trang trại.

I.1.2.2 Tiêu chí nhận dạng trang trại

Để xác định xem một cơ sở sản xuất- kinh doanh nông nghiệp có phải làmột trang trại hay không cần phải kết hợp cả 2 mặt định tính và định lượngtrong tiêu chí nhận dạng trang trại đó Với các đặc trưng cơ bản để phân biệttrang trại với các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh cơ sở khác như:mục đích sản xuất hàng hoá, quy mô các yếu tố sản xuất đủ lớn, quyền sở hữuhoặc sử dụng tư liệu sản xuất thuộc về một người chủ cụ thể…đó là mặt chấttrong tiêu chí nhận dạng còn lượng hoá các đặc trưng đó bằng các con số cụthể là mặt lượng của tiêu chí nhận dạng Trước đây do không có sự thống nhất

về mặt lượng trong tiêu chí nhận dạng trang trại do đó đã có sự đánh giá về sốlượng và tốc độ phát triển của kinh tế trang trại thiếu chuẩn xác Ngày 23-6-

2000 Liên bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Tổng cục Thống kêban hành Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK hướng dẫn tiêuchí để xác định kinh tế trang trại với nội dung chủ yếu như sau;

- Về đối tượng xem xét để xác định là kinh tế trang trại bao gồm: các hộnông dân công nhân viên nhà nước và lực lượng vũ trang đã nghỉ hưu, các loại

hộ thành thị và cá nhân chuyên sản xuất (bao gồm: nông, lâm, ngư nghiệp) hoặcsản xuất nông nghiệp là chính, có kiêm các hoạt động dịch vụ phi Nhà nước ởnông thôn

-Về tiêu chí định tính dựa trên các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại baogồm:

+ Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hànghoá với quy mô lớn

Trang 7

+ Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sảnxuất cao hơn hẳn (vượt trội), so với sản xuất của các nông hộ, thể hiện quy

mô sản xuất như đất đai, đầu gia súc, lao động và giá trị nông sản phẩm hànghoá

+ Chủ trang trại phải có kiến thức và kinh nghiệm trực tiếp điều hành sảnxuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao công nghệvào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và lao động thuê ngoài sản xuất hiệuquả cao và có thu nhập vượt trội so với kinh tế hộ

- Về tiêu chí định lượng để xác định là kinh tế trang trại

Để được xác định là trang trại phải đạt được cả 2 tiêu chí định lượng sauđây:

+ Giá trị sản lượng và dịch vụ bình quân trên 1 năm

* Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu trở lên

* Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu trở lên

+ Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế hộtương ứng với từng ngành và vùng sản xuất

* Đối với trang trại trồng trọt:

Trang trại trồng cây hàng năm

- Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung

- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

Trang trại trồng cây lâu năm

- Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải Miền trung

- Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- Từ 0.5 ha trở lên đối với trang trại trồng hồ tiêu

Trang trại Lâm nghiệp:

Trang 8

- Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước.

* Đối với trang trại chăn nuôi

Chăn nuôi đại gia súc, trâu bò…

- Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa phải có thường xuyên 10 con trở lên

- Chăn nuôi lấy thịt phải có thường xuyên 50 con trở lên

Chăn nuôi gia súc: lợn, dê…

- Chăn nuôi sinh sản phải có thường xuyên đối với lợn 20 con trở lên với

dê, cừu là 100 con trở lên

- Chăn nuôi lợn thị phải có thường xuyên 100 con trở lên (không kể lợnsữa, với dê cừu thị là 200 con trở lên

- Chăn nuôi gia cầm, gà, vịt, ngan, ngỗng… phải có thường xuyên 2000con trở lên (không kể gia cầm dưới 7 ngày tuổi)

* Đối với nuôi trồng thuỷ sản: Diện tích mặt nước nuôi trồng phải có từ

2 ha trở lên (riêng đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp thì từ 1 ha trởlên)

* Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp và môi trường thuỷ sản cótính chất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, nấm, nuôi ông và giống thuỷ sản

và thuỷ đặc sản thì chỉ áp dụng tiêu chí giá trị sản lượng hàng hoá Với thông

tư liên tịch này kinh tế trang trị đã có căn cứ rõ ràng để xác định và thống kê

về số liệu kinh tế trang trại ngành, vùng một cách chuẩn xác để từ đó đánh giáthực trạng và xây dựng các chính sách về phát triển trang trại có hiệu quả hơn.Tuy nhiên vì những lý do nào đó mà ở một số địa phương, vùng chưa thật sựthống nhất áp dụng triệt để các tiêu chí này và các tiêu chí trên đây khi đưavào áp dụng thực tiễn đã gặp phải những hạn chế, khó khăn nên trên thực tế

số liệu thống kê hiện vẫn còn chưa phản ảnh hết được thực trạng kinh tếtrang trại ở Ngành, địa phương, vùng và cả nước Do đó để nâng cao độ tin

Trang 9

cậy từ các số liệu thống kê và nâng cao tính chuẩn xác trong xác định kinh tếtrang trại giúp cho việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế trang trạiphát huy được tính hiệu quả cao hơn [Theo nguồn tin từ VN express net:

"Ngày 21-12-2006 ông Nguyễn Phượng Vĩ, Cục trưởng Cục hợp tác xã vàPTNT cho biết Bộ NN & PTNN đang triển khai lấy ý kiến đóng góp các địaphương trong cả nước cho dự thảo bổ sung, hướng dẫn tiêu chí để xác địnhkinh tế trang trại" Theo tiêu chí mới này, tiêu chí về giá trị sản lượng hànghoá và dịch vụ bình quân 1 năm của trang trại phải đạt từ 100 triệu đồng trởlên, Quy mô sản xuất đối với trang trại trồng cây hằng năm tối thiểu phải đạt

2 ha và trang trại trồng cây lâu năm là 3 ha trở lên (tuỳ theo vùng)…Đối với

hộ sản xuất đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản thì tiêu chí xác định kinh tếtrang trại chỉ cần bảo đảm quy mô sản xuất Những hộ sản xuất, kinh doanhtổng hợp chỉ cần đảm bảo tiêu chí giá trị sản lượng hàng hoá bình quân trên

100 triệu đồng/năm Các hộ được công nhận là kinh tế trang trại được ưu tiêntrong vay vốn sản xuất.]

I.1.3 Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại

Thực tế ở nhiều nước trên thế giới trải qua hàng thể kỷ đến nay kinh tếtrang trại đã xuất hiện, tồn tại và phát triển cho thấy kinh tế trang trại đãkhẳng định được vai trò, vị trí quan trọng của nó trong nền kinh tế nói chung

và lĩnh vực Nông nghiệp nông thôn nói riêng

Ở nước ta kinh tế trang trại mặc dù mới hình thành và phát triển trở lạitrong những năm gần đây tuy nhiên nghiên cứu đã cho thấy vai trò tích cựccủa nó thể hiện rõ nét trên các mặt kinh tế xã hội - môi trường

I.1.3.1 Về mặt kinh tế:

Kinh tế trang trại có vai trò to lớn đối với nền kinh tế nói chung và Nôngnghiệp Nông thôn nói riêng Các trang trại tạo ra sản lượng nông sản hànghoá lớn với chất lượng cao, giá thành hạn, chủng loại, mẫu mã đa dạng phong

Trang 10

lớn vào kim ngạch xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh và quảng bá mở rộngthị trường hàng hoá năng xuất ra thế giới và khu vực đặc biệt là trong điềukiện đất nước bước vào thời kỳ hội nhập nền kinh tế thế giới Phát triển kinh

tế trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những sản phẩm cógiá trị hàng hoá cao, khắc phục được tình trạng manh mún nhỏ lẻ, phân tán,tạo điều kiện để ứng dụng khoa học - kỹ thuật - công nghệ tiến bộ vào sảnxuất Nông nghiệp và Nông thôn, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH ở Nôngnghiệp Nông thôn, góp phần từng bước tạo ra những vùng chuyên môn hoáthâm canh cao thúc đẩy tăng trưởng và phát triển Nông nghiệp và kinh tếNông thôn Phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy sự hình thành vàphát triển các khu công nghiệp chế biến và công nghiệp, dịch vụ sau thuhoạch

I.1.3.2 Về mặt xã hội:

Kinh tế trang trại phát triển tạo thêm nhiều việc làm, tăng thu nhập chongười lao động, làm tăng số hộ giầu trong nông thôn, làm giảm sự phân hoágiàu nghèo ở thành thị và nông thôn, đóng góp tích cực và công cuộc xoá đóigiảm nghèo hơn nữa kinh tế trang trại phát triển sẽ góp phần thúc đẩy kết cấu

hạ tầng trong nông thôn, tạo tấm gương cho các hộ nông dân về mặt tổ chức

và quản lý sản xuất kinh doanh, làm thay đổi bộ mặt nông thôn Tuy nhiênphát triển kinh tế trang trại kéo theo sự tích tụ tập trung ruộng đất và các tưliệu sản xuất khác về trong một số ít cá thể do đó sẽ dẫn đến một bộ phận laođộng nông thôn thiếu tư liệu sản xuất đặc biệt là ruộng đất nên trở thành một

bộ phận làm thuê, nếu mức thu hút lao động của các trang trại không đáp ứng

đủ số lượng lao động dư thừa này thì sẽ dẫn đến làm tăng thất nghiệp ở nôngthôn, một bộ phận người dân nông thôn vì thế mà trở nên nghèo đói làm phátsinh các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Đây là vấn đề mà nhà nước phảinghiên cứu kỹ và có những chính sách thiết thực cụ thể để giải quyết và lựachọn

Trang 11

I.1.3.3 Về mặt môi trường:

Do sản xuất kinh doanh tự chủ và vì lợi ích thiết thực lâu dài nên các chủtrang trại luôn có ý thức khai thác hợp lý và quan tâm bảo vệ môi trườngtrước hết là trong phạm vi trang trại Các trang trại vùng núi, đồi gò đã gópphần tích cực vào việc trồng rừng, bảo vệ rừng, phủ xanh đất trống đồi núitrọc, cải tạo và bảo vệ môi trường sinh thái…

Tuy nhiên nếu các chính sách về quy hoạch, các biện pháp chế tài xử lývấn đề môi trường ở các trang trại đặc biệt là các trang trại chăn nuôi gia súc,gia cầm, thuỷ sản…thì vấn đề ô nhiễm môi trường do các chất thải từ cáctrang trại chăn nuôi sẽ là gánh nặng cho môi trường nói chung và ảnh hưởngtrực tiếp đến môi trường sống của cư dân trong vùng nói riêng

I.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế trang trại

Trang trại với mục đích là sản xuất hàng hoá thoả mãn nhu cầu của thịtrường, đem bán ra thị trường và thu lợi nhuận cho chủ trang trại Vì vậy mànội dung cốt lõi bên trong có tính chất chi phối và ảnh hưởng mạnh mẽ nhấtđến mọi hoạt động khác của trang trại là nội dung về kinh tế, do đó khi đánhgiá hiệu quả của trang trại cho dù người đánh giá đứng trên vị trí là chủ trangtrại hay người quản lý thì các chỉ tiêu về kinh tế vẫn luôn là những chỉ tiêuquan trọng nhất Để đánh giá hiệu quả về mặt kinh tế của trang trại thì tuỳtheo từng mục đích của người đánh giá mà các chỉ tiêu được dùng là:

- Chỉ tiêu tổng doanh thu

Tổng doanh thu là một thước đo quan trọng trong việc đánh giá quy môsản xuất hàng hoá của trang trại, có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập và khảnăng tái, mở rộng quy mô sản xuất của trang trại

Tổng doanh thu bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các yếu tố:

Lượng của từng loại hàng hoá: Qi

Giá bán của đơn vị sản phẩm hàng hoá: Pi

và cơ cấu của sản phẩm hàng hoá

Trang 12

nTDT =∑QiPi i=1

- Chỉ tiêu tỷ suất giá trị hàng hóa

Chỉ tiêu này đựơc tính bằng cách lấy tổng giá trị sản phẩm và dịch vụhàng hóa của trang trại đem bán hoặc trao đổi trên thị trường chia chotổng giá trị sản phẩm và dịch vụ mà trang trại đã sản xuất ra trong mọtchu kỳ kinh doanh

- Chỉ tiêu giá trị sản xuất trên đơn vị lao động.

Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng giá trị sãn xuất của trang trạichia cho tổng số lao động của trang trại (quy đổi) trong một chu kỳ sản xuấtkinh doanh ( thường lấy một năm)

- Chỉ tiêu thu nhập trên đơn vị diện tích.

Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng thu nhập của trang trại( thường lấy 1 năm) chia cho tổng diện tích canh tác của trang trại

- Chỉ tiêu thu nhập trên đơn vị lao động.

Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng thu nhập của trang trại chiacho tổng số lao động của trang trại ( quy đổi) trong một chu kỳ sản xuất kinhdoanh ( thường lấy một năm)

- Chỉ tiêu giá trị thu nhập ròng hiện tại (NPV)

Giá trị thu nhập ròng hiện tại đó chính là giá trị thu nhập tính về thờiđiểm hiện tại của một phương án bỏ vốn đầu tư sau khi lấy tất cả các lợi íchkhấu trừ với tất cả các chi phí dự tính của phương án đó theo một tỷ lệ lãi suất

cố định nào đó

Đây là chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tếcủa trang trại dự tính trong tương lai nó là cơ sở căn cứ để chủ trang trại raquyết định về phương án bỏ vốn đầu tư cho trang trại Chủ trang trại chỉ lựachọn phương án bỏ vốn vào khi có NPV>0

T Bt - Ct

NPV = ∑ t=1 (1+r)t

Trang 13

Trong đó:

Bt: Tổng lợi ích thu được ở năm t

Ct: Tổng chi phí bỏ ra ở năm t

T: Tuổi thọ kinh tế của hoạt động bỏ vốn sản xuất kinh doanh

- Chỉ tiêu tỷ suất giá trị hàng hóa.

Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng giá trị hàng hóa của trang trại sãn xuất ra đem bán trên thị trường chia cho tổng giá trị sản phẩm của trang trại sãn xuất ra

-Chỉ tiêu giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích.

Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy tổng giá trị sãn xuất của trang trại chia cho diện tích đất canh tác của trang trại

- Tỷ lệ hoàn vốn nội tại (IRR)

Là tỷ lệ chiết khấu làm cho giá trị hiện tại ròng của dòng lợi ích tăngthêm bằng không và là tỷ lệ chiết khấu lớn nhất mà người bỏ vốn dự tính đạtđược khi sử dụng đồng vốn của mình Tỷ lệ chiết khấu là chỉ tiêu quan trọng

để chủ trang trại và nhà đầu tư xem xét đánh giá cơ hội và cân nhắc quyếtđịnh về phương án bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh Phương án được lựachọn là phương án có IRR lớn nhất và phải lớn hơn tỷ lệ chiết khấu cơ hội củađồng vốn đó sinh ra

IRR được tính theo công thức

n (Bt - Ct )

t=1 (1+IRR)t

Trong đó: Bt : là lợi ích dự tính đạt được của năm t

Ct : là chi phí dự tính của năm t

n : là thời gian (tính bằng năm) của chu kỳ sản xuất

Trang 14

kinh doanh của phương án.

- Tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C)

Tỷ số lợi ích trên chi phí là giá trị thu được khi lấy tổng các dòng lợi íchthu được trong tương lai chưa cho tổng các dòng chi phí bỏ ra trong tương laicủa phương án bỏ vốn Đây cũng là căn cứ để chủ trang trại và nhà đầu tưxem xét, quyết định hoặc đánh giá hiệu quả sử dụng đồng vốn của mộtphương án đầu tư sản xuất kinh doanh phương án được lựa chọn là phương án

có B/C >1

Tỷ số lợi ích/ chi phí được tính theo công thức sau:

n

∑ Bt /(1+i)t t=1

B/C =

n

∑ Ct /(1+i)t

t=1 Trong đó: Bt : là lợi ích dự tính đạt được của năm t

Ct : là chi phí dự tính của năm t

n : là thời gian (tính = năm) của chu kỳ sản xuất kinh doanh của phương án

i: tỷ lệ chiết khấu cơ hội của đồng vốn đầu tư

- Hệ số hiệu quả của vốn đầu tư

Hiệu quả của vốn đầu tư là vấn đề quan tâm hàng đầu của bất kể một nhàđầu tư nào vì nó thể hiện khả năng sinh lời của đồng vốn mà nhà đầu tư đã bỏ

ra Hệ số hiệu quả vốn đầu tư là giá trị được tính bằng cách lấy tổng lợi íchthuần thực tính về thời điểm hiện tại của các năm chia cho tổng lượng vốnđầu tư ban đầu Hệ số này càng cao phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư càngcao và được tính theo công thức

n

Trang 15

∑ Lt/ (1+i)n t=1

H =

Kb

Trong đó:

H: Hệ số hiệu quả vốn đầu tư của trang trại

Lt: Lợi nhuận thực của năm t của trang trại

Kb: Lượng vốn của trang trại, nhà đầu tư xây dựng cơ bản của trang

trại Lt = Bt - Ct

Bt: là lợi ích thu được ở năm t của trang trại năm t

Ct: là chi phí hoạt động và quản lý của trang trại năm ti: tỷ lệ chiết khấu cơ hội của vốn

- Thời gian hoàn vốn

Thời gian hoàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan tọng để chủ trangtrại và nhà đầu tư cân nhắc phương án bỏ vốn để sản xuất kinh doanh Thờigian hoàn vốn nhanh sẽ tránh bớt được những rủi ro và tăng vòng quay củavốn để tái mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc đầu tư vốn vào phương án sảnxuất kinh doanh khác Thời gian hoàn vốn là khoảng thời gian tối thiểu màchủ trang trại và nhà đầu tư thu hồi hết lượng vốn đầu tư ban đầu cho phương

án sản xuất kinh doanh đó

Nếu Kb: là lượng đầu tư ban đầu

Bt: là lợi ích thu được ở năm t

Ct: là chi phí hoạt động và quản lý của trang trại ở năm tThì thời gian hoàn vốn được tính theo công thức

I

∑(Bt -Ct) (t-1)

- K = 0

Trang 16

(1+r)T

Trang 17

I.3.1 Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên

Trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất trong nông, lâm, ngư nghiệpdiễn ra trong một không gian rộng lớn, gắn liền với các quá trình phát sinh pháttriển trao đổi chất giữa các cơ thể sống với môi trường tự nhiên, do đó chịu sự chiphối trực tiếp từ các điều kiện tự nhiên như: vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, nguồnnước và các điều kiện tự nhiên khác Trong đó vị trí địa lý là nhân tố quyết địnhđến các điều kiện tự nhiên khác, ứng với mỗi vị trí địa lý thì sẽ gắn với những điềukiện tự nhiên nhất định như chất lượng đất đai, khí hậu, nguồn nước và các điềukiện tự nhiên khác những thế mạnh ưu thế đối với những loại cây, con nhất địnhhình thành nên các vùng chuyên canh khai thác những lợi thế mà thiên nhiên bantặng đó, vì vậy điều kiện tự nhiên là căn cứ trước hết để chủ trang trại xem xét lựachọn phương hướng sản xuất kinh doanh, lựa chọn chủng loại, xác định cơ cấucủa cây trồng vật nuôi hợp lý, phương thức nuôi trồng về phương án tiêu thụ sảnphẩm nhằm tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao giá thành hạ, đáp ứng đượcthị hiếu người tiêu dùng và thu được lợi nhuận cao

Điều kiện tự nhiên đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách phát triển trangtrại cần phải có những chính sách cụ thể phù hợp với điều kiện tự nhiên của mỗivùng

I.3.2 Nhóm nhân tố về kinh tế, xã hội.

Điều kiện kinh tế xã hội là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thành vàphát triển kinh tế trang trại, nhóm nhân tố kinh tế xã hội bao gồm các nhân tố:

Trang 18

thị trường, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, vốn, nguồn nhân lực, sự hình thành cácvùng chuyên môn hoá, sự phát triển của công nghiệp chế biến và các nhân tốkinh tế, xã hội khá.

I.3.2.1 Nhân tố thị trường

Như đã phân tích ở mục trước, đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuấthàng hoá nông sản với quy mô lớn vì vậy sản xuất trang trại cần gắn chặt vớithị trường, đáp ứng yêu cầu và thoả mãn nhu cầu của thị trường Thị trườngnông nghiệp bao gồm; thị trường đầu vào các yếu tố sản xuất và thị trườngđầu ra đối với hàng hoá nông sản phẩm Thị trường ảnh hưởng trực tiếp đếnphương hướng, quy mô và cơ cấu sản phẩm của hoạt động sản xuất kinhdoanh trang trại, trong đó thị trường đầu ra đóng vai trò hết sức quan trọng.Thị trường đầu ra có thể phân loại theo hai cách sau đây:

- Phân theo phạm vi địa lý có: thị trường trong nước, thị trường xuấtkhẩu

- Phân theo mục đích tiêu dùng có, thị trường tiêu dùng trực tiếp và thịtrường tiêu dùng trung gian

Thị trường trong nước nếu xét trên quy mô dân số nước ta là khoảng hơn

80 triệu dân thì đây quả thật là một thị trường rộng lớn nhiều tiềm năng cònxét trên khía cạnh thu nhập bình quân đầu người và thói quen mua sắm thì thịtrường trong nước là thị trường có sức mua thấp đặc biệt là đối với nhữnghàng hoá có chất lượng cao với giá bán tương ứng Cầu của thị trường nội địa

co giãn mạnh với giá và người tiêu dùng khá dễ tính

Thị trường xuất khẩu: Sau khi nước ta thực hiện hội nhập nền kinh tế thếgiới và khu vực (Việt Nam là thành viên kinh tế của tổ chức WTO và AFTA)hàng hoá nông sản phẩm của nước ta có thể thực hiện giao dịch với rất nhiềunước trên thế giới, cùng với những chính sách khuyến khích xuất khẩu củanhà nước đối hàng hoá nông sản, hàng nông sản của nước ta đã được nhiều

Trang 19

nước trên thế giới biết đến và yêu thích, mở ra cho nền Nông nghiệp nước tathêm rất nhiều cơ hội để thâm nhập thị trường thế giới Đây là một trongnhững yếu tố góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại vì kinh tế trangtrại với những đặc trưng vốn có của nó nên tỏ ra có ưu thế trong việc đáp ứngyêu cầu của các thị trường này do thị trường xuất khẩu (đặc biệt là các nướcnhư Mỹ, EU, Nhật) là những thị trường khó tính, cầu ít co giãn đối với giá.Thị trường tiêu dùng trực tiếp có các đặc điểm, số lượng người mua nhiều,cầu co giãn mạnh đối với giá và yêu cầu về chất lượng, chủng loại sản phẩmnông sản tương đối cao như độ tươi, ngon, an toàn…, các trang trại sản xuấtcần phải có biện pháp về bảo quản, đóng gói và chuyên chở phân phối hợp lý

để đáp ứng được yêu cầu của thị trường này Thị trường tiêu dùng trung gian

có các đặc điểm, người mua ít, người bán nhiều, số lượng hàng hoá của mộtlần giao dịch lớn, cần được đáp ứng đủ và thường xuyên, co giãn cầu đối vớigiá ít Từ những đặc điểm đó đặt ra yêu cầu đối với các trang trại trong việctìm kiếm và tạo uy tín thiết lập quan hệ và tạo uy tín với các bạn hàng để đảmbảo khả năng về tiêu thụ sản phẩm một cách ổn định và bền vững lâu dài

I.3.2.2 Nhân tố về cơ sở hạ tầng kỹ thuật

Cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triểnkinh tế nói chung và kinh tế trang trại nói riêng do hoạt động của trang trạithường xuyên phải sử dụng các yếu tố đầu vào quan trọng như nguồn nước,năng lượng và thực hiện vận chuyển các yếu tố đầu vào khác cũng như phânphối các sản phẩm hàng hoá ra thị trường với quy mô lớn vì vậy kinh tế trangtrại chỉ có thể phát triển cao khi có đầy đủ các yếu tố về hạ tầng kỹ thuật phục

vụ sản xuất và phân phối sản phẩm như hệ thống thuỷ lợi cung cấp nguồnnước, hệ thống cung cấp điện, hệ thống giao thông vận tải

Trang 20

I.3.2.3 Nhân tố về sự hình thành các vùng chuyên môn hoá.

Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá, thúc đẩy việc xâydựng và phát triển các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hình thành và phát triển côngnghiệp chế biến tạo nên mối liên kết hiệp tác và phân công lao động bền vữnggiữa sản xuất - chế biến Thị trường đầu ra của trang trại là công nghiệp chếbiến, thị trường đầu vào của công nghiệp chế b biến là các trang trại Trình độchuyên môn hoá càng cao thì yêu cầu về liên kết kinh tế càng lớn, giữa trangtrại và công nghiệp chế biến có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau,cùng thúc đẩy nhau phát triển

I.3.2.4 Nhân tố về sự tích tụ tập trung cơ sở vật chất và điều kiện sản xuất trước hết là đất đai và vốn sản xuất.

Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt đối với sản xuất nôngnghiệp nói chung và hoạt động sản xuất hàng hoá nông sản của trang trại nóiriêng Ngoài yếu tốt về tự nhiên của đất thì quy mô đất đai là nhân tố hết sứcquan trọng có tính chất quyết định trong việc hình thành và phát triển kinh tếtrang trại nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay, một quốc gia đất chậtngười đông, quỹ đất dành cho sản xuất nông nghiệp đang ngày càng bị thuhẹp do tốc độ đô thị hoá và sản xuất phi nông nghiệp Trong lúc lao động ởnông nghiệp nông thôn vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn (gần 70%) Tiêu chí đểđược xác định là trang trại như đã trình bày ở phần trước là phải có tối thiểu 2

ha, ở miền Bắc và 3 ha ở miền Nam (tuỳ loại hình trang trại) vì vậy với quy

mô đất đai không đạt tiêu chuẩn và vì lý do nào đó các chủ cơ sở sản xuấtkhông tập trung được đất đai đủ lớn thì kinh tế trang trại rõ ràng là bị kìmhãm không thể phát triển được Vốn là yếu tố cần có cho bất kỳ một hoạtđộng kinh tế nào xẩy ra Các cụ ta ngày xưa có câu "có bột mới gột nên hồ",không có vốn thì hoạt động sản xuất kinh doanh không thể tiến hành được.Đối với trang trại do sản xuất hàng hoá trong lĩnh vực Nông nghiệp với quy

mô lớn Vì vậy đòi hỏi về nhu cầu lượng vốn phải nhiều, ngoài dùng để mua

Trang 21

sắm các tư liệu sản xuất, cải thiện điều kiện sản xuất còn phải dùng để dự trữ

do tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp là tính rủi ro cao và thời gian hoànvốn chậm

Để thúc đẩy kinh tế trang trại phát triển nhà nước và các tổ chức tín dụngcần phải có chính sách, biện pháp ưu đãi, tạo điều kiện cho các chủ trang trạiđược vay vốn

I.3.2.5 Nhân tố về lao động

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và kinh tế trang trại nóiriêng lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu kinh tế trang trại với bảnchất là sản xuất hàng hoá với quy mô lớn, sản xuất với quy trình quản lý vàcông nghệ kỹ thuật tiến bộ do đó trang trại phát triển ở mức cao sẽ làm tăngnhu cầu thuê mướn thêm lao động đặc biệt là những lao động có trình độchuyên môn, tay nghề và kinh nghiệm sản xuất

I.3.2.6 Nhân tố về bản thân chủ trang trại:

Chủ trang trại là người nắm quyền sở hữu hoặc sử dụng các yếu tố điềukiện sản xuất của trang trại, là người ra mọi quyết định trong hoạt động sảnxuất kinh doanh của trang trại từ lựa chọn phương hướng, tổ chức sản xuấtkinh doanh đến tổ chức tiêu thụ nông sản hàng hoá…Vì thế cho nên chủ trangtrại phải là người có trình độ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độquản lý, hiểu biết và có kiến thức về thị trường và kiến thức, kinh nghiệmtỏng lĩnh vực kinh tế Nông nghiệp nông thôn Hơn thế nữa do các tính chấtđặc thù của nông nghiệp cho nên hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại

có thể gặp phải nhiều sự rủi ro, khó khăn cản trở…Chính vì vậy mà ngườichủ trang trại phải là người có ý chí làm giầu, ý chí quyết tâm vượt qua trướcnhững khó khăn thách thức

I.3.2.7 Nhân tố về hạch toán và phân tích kinh doanh:

Động lực phát triển của trang trại suy cho cùng đó là lợi nhuận, muốn

Trang 22

thu được lợi nhuận cao thì phải sản xuất ra được những sản phẩm có chấtlượng cao, giá thành hạ, giá trị kinh tế lớn, thị trường cần, quy mô, cơ cấu sảnxuất hợp lý Để đạt được những điều đó một mặt phải lựa chọn được nhữngsản phẩm có lợi thế kinh doanh, kết hợp chuyên môn hoá với đa dạng hoá,mặt khác phải tiến hành hạch toán và phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh

vì đó là cơ sở căn cứ để chủ trang trại ra các quyết định về phương hướng, kếhoạch sản xuất kinh doanh của trang trại làm cho hoạt động sản xuất kinhdoanh của trang trại đạt được tính hiệu quả và hợp lý

I.3.2.8 Nhân tố về môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý là một trong những điều kiện để trang trại ra đời vàphát triển Thực tế ở nước ta cho thấy, trong một thời gian dài chúng ta đãkhông công nhận địa vị pháp lý của trang trại, không coi trang trại là một bộphận cấu thành của nông nghiệp nông thôn, trong thời kỳ đó trang trại khôngtồn tại Việc công nhận địa vị pháp lý của trang trại sẽ làm cho những người

có nguồn lực có thể yên tâm đầu tư vào phát triển sản xuất kinh doanh theo

mô hình trang trại hơn nữa đó là cơ sở, căn cứ để nhà nước xây dựng và banhành các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế trang trại

I.3.2.9 Nhân tố về chính sách Nhà nước.

Chính sách nhà nước có vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩyphát triển kinh tế trang trại Chính sách có thể tác động đến nhiều nhân tố thúcđẩy sự phát triển của kinh tế trang trại như: chính sách thị trường, nôngnghiệp nông thôn (chính sách trợ giá đầu vào, đầu ra sản phẩm nông nghiệp,chính sách giá sàn, giá trần sản phẩm nông nghiệp) Chính sách quy hoạch,xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật Nông nghiệp nông thôn, chính sách ưu đãivay vốn đối với trang trại, chính sách đầu tư cho công nghiệp chế biến nôngsản, chính sách lao động và đào tạo lao động, chính sách khoa học công nghệ,chính sách cây, con giống, chính sách đất đai, chính sách quản lý, chính sáchthuế, chính sách xuất nhập khẩu hàng hoá nông sản…Thực tế cho thấy nếucác nhóm chính sách tác động đúng hướng hợp lý và phát huy được tính hiệu

Trang 23

quả thì chính sách là nhân tố ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ đến quá trìnhtồn tại, hình thành và phát triển kinh tế trang trại.

1.4 Vài nét về kinh tế trang trại Việt Nam hiện nay

Về cơ bản kinh tế trang trại của nước ta đả có từ lâu đời, tuy nhiên trongmột thời kỳ dài chúng ta quản lý kinh tế theo hình thức tập trung hoá, chỉ cókinh tế nhà nước và kinh tế tập thể được công nhận vị trí pháp lý do đó kinh

tế trang trại nói riêng và kinh tế tư nhân, cá thể nói chung không có điều kiện

để tồn tại

Trong thời kỳ đổi mới quản lý nhà nước đối với nông nghiệp, Đảng vàNhà nước từ chỗ thừa nhận vị trí về mặt pháp lý đến đánh giá được vai trò vịtrí của kinh tế trang trại đối với kinh tế, xã hội, môi trường nên đả có nhữngchủ trương chính sách đường lối phù hợp, thực sự đả tạo được động lực thúcđẩy kinh tế trang trại phát triển mạnh mẽ

Về số lượng trang trại (theo tiêu chí nhận dạng mới) tăng nhanh, loạihình sản xuất đa dạng đã góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấusản xuất nông nghiệp

Kinh tế trang trại phát triển nhanh ( Nguồn số liệu từ Tổng cục thống kêcung cấp) về số lượng ở tất cả các vùng trong cả nước, đến thời điểm01/7/2006, cả nước có 113730 trang trại, so với năm 2001 tăng 52713 trangtrại (+86,4%), so với năm 2004 tăng 2898 trang trại (+2,5%) Đồng bằng sôngCửu Long, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là những vùng có nhiều đất đai,mặt nước thuận lợi để mở rộng quy mô trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồngthuỷ sản là những vùng tập trung số lượng trang trại nhiều nhất Ba vùng này

có 80077 trang trại, chiếm 70,4% Riêng Đồng bằng sông Cửu Long hiện có

54425 trang trại chiếm gần 50% số trang tại cả nước Laọi hình sản xuất củatrang trại ngày càng đa dạng và có sự chuyển dịch về cơ cấu theo hướng giảm

tỷ trọng các trang trại trồng cây hàng năm và cây lâu năm và tăng tỷ trọng cácloại trang trại chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất kinh doanh tổng hợp

Tỷ trọng trang trại trồng cây hàng năm giảm từ 35,6% (năm 2001), xuốngcòn 28,7% (năm 2006); trang trại trồng cây lâu năm từ 27,2% giảm xuống còn20,2%; trang trại chăn nuôi từ 2,9% tăng lên 14,7%; trang trại nuôi trồng thuỷ

Trang 24

sản từ 27,9% tăng lên 30,1% trong thời gian tương ứng Vùng Đồng bằngsông Cửu Long có từ 54425 trang trại; trong đó 24425 trang trại trồng câyhàng năm, chiếm 44,9% số lượng trang trại của vùng,25147 trang trại nuôitrồng thuỷ sản, chiếm 46,2% Đông Nam Bộ có 16867 trang trại chiếm 14,8%của cả nước; trong đó 9537 trang trại trồng cây lâu năm, chiếm 56,5% sốlượng trang trại của vùng, 3939 trang trại chăn nuôi, chiếm 22,8% TâyNguyên có 8785 trang tại, chiếm 7,7% của cả nước; trong đó 7046 trang trạitrồng cây lâu năm, chiếm 80,2% số lượng trang tại của vùng Đồng bằng sôngHồng có 13863 trang trại chiếm 12,2% của cả nước, trong đó 7562 trang trạichăn nuôi, chiếm 54% của vùng.

Trang trại sử dụng ngày càng nhiều ruộng đất, dấu hiệu tích tụ ruộng đất

- điều kiện tiên quyết cho nền sản xuất lớn nông nghiệp

Tại thời điểm 01/7/2006, diện tích đất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản docác trang trại đang sử dụng là 663,5 nghìn ha, tăng 290,3 nghìn ha so năm

2001 (bình quân 1 trang trại sử dụng 58 ha) Trong cơ cấu đất nông, lâmnghiệp và thuỷ sản trang trại đang sử dụng năm 2006, đất trồng cây hàng nămchiếm tỷ trọng lớn nhất với 286,4 nghìn ha (43,2%); đất trồng cây lâu năm

148 nghìn ha (22,3%); đất lâm nghiệp 94,7 nghìn ha (14,3%) và đất nuôitrồng thuỷ sản 134,4 nghìn ha (20,2%) Diện tích đất nông, lâm nghiệp vàthuỷ sản bình quân 1 trang trại cao nhất ở vùng Tây Bắc 9,82 ha, Đông Bắc8,87 ha, chủ yếu là do các vùng này có nhiều trang trại lâm nghiệp (tiêu chíquy định từ 10 ha trở lên) Đặcđiểm đất đai của các trang trại là đất sản xuấtliền bờ, liền khoảng, quy mô lớn nên rất thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất,bảo vệ, vận chuyển sản phẩm và nhất là cơ giới hoá, thuỷ lợi hoá, xây dựngkết cấu hạ tầng kỹ thuật

Kinh tế trang trại phát triển góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cholao động nông thôn

Tại thời điẻm 01/7/2006, các trang trại đã sử dụng 395,9 nghìn lao độnglàm việc thường xuyên, gấp 1,7 lần so năm 2001; trong đó lao động của hộchủ trang trại là 291,6 nghìn người, chiếm 73,6% tổng số lao động, còn lại làlao động thuê mướn Do tính chất thời vụ của sản xuất nông, lâm nghiệp và

Trang 25

thuỷ sản nên ngoài lao động thuê mướn thường xuyên,các trang trại còn thuêmướn lao động thời vụ Những trang trại trồng cây hàng năm, trồng cây lâunăm, nuôi trồng thuỷ sản sử dụng nhiều lao động thường xuyên nhất.

Thu nhập bình quân 1 lao động làm việc thường xuyên của trang trịa là17,5 triệu đồng/năm cao gấp trên 2 lần so lao động khu vực nông thôn Tuynhiên, lao động làm việc trong trang trại chủ yếu vẫn là lao động phổ thông,chưa qua đào tạo chỉ có khả năng đảm nhiệm những công việc giản đơn nhưlàm đất, trồng cây, chăn dắt gia súc, gia cầm, chế biến thức ăn,…,; có rất ítlao động đảm nhiệm các khâu yêu cầu trình độ kỹ thuật như điều khiển máymóc, chọn giống cây, con, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, mua vật tư, bán sảnphẩm,…Điều đó đang đặt ra yêu cầu cấp bách đào tạo nguồn nhân lực cótrình độ chuyên môn kỹ thuật cho khu vực nông nghiệp, nông thôn

Quy mô vốn sản xuất, kinh doanh của trang trại tăng nhanh do các chủtrang trại tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất, thâm canh cây trồng vật nuôi.Tại thời điểm 01/7/2006, tổng vốn sản xuất, kinh doanh của các trangtrại là 29320,1 tỷ đồng, bình quân một trang trịa 257,8 triệu đồng, tăng 122,7triệu đồng so năm 2001 (+90,8%) Vốn sản xuất, kinh doanh bình quân 1trang trại cao nhất là vùng Đông Nam Bộ 575,5 triệu đồng (tăng 341,6 triệuđồng so năm 2001) do chủ yếu trang trại trồng cao su, cà phê, hồ tiêu, điềutiếp đến là Tây Nguyên 279,6 triệu đồng (+100,7 triệu đồng); Đồng bằng sôngCửu Long 206,6 triệu đồng (+135,2 triệu đồng); Đồng bằng sông Hồng 200,9triệu đồng (+94,3 triệu đồng); Tây Bắc 200 triệu đồng (+90,5 triệu đồng);Đông Bắc 192,1 triệu đồng (+107,2 triệu đồng); thấp nhất là Duyên hải NamTrung Bộ 144,4 triệu đồng do chỷ yếu trang trại trồng cây hàng năm cần ítvốn hơn Những tỉnh có vốn sản xuất, kinh doanh bình quân 1 trang trại từ

500 triệu đồng trở lên là: Lâm Đồng, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, BàRịa – Vũng Tày

Kinh tế trang trại phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá ngày càng lớn,gắn với thị trường

Tổng thu sản xuất, kinh doanh của các trang trại năm 2006 đạt 19826 tỷđồng, gấp 3,6 lần năm 2001, bình quân 174,9 triệu đồng 1 trang trại, gấp 1,9

Trang 26

lần so năm 2001 Tổng thu sản xuất, kinh doanh bình quân 1 trang trậico nhất

là vùng Đông Nam Bộ 221 triệu đồng; Đồng bằng sông Hồng 193 triệu đồng;Đồng bằng sông Cửu Long 181 triệu đồng; Tây Nguyên 148,6 triệu đồng;Đông Bắc 139 triệu đồng; Duyên hải Nam Trung Bộ 112 triệu đồng; Tây Bắc

100 triệu đồng và thấp nhất là Bắc Trung Bộ 105 triệu đồng

Giá trị sản phẩm và dịch vụ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản bán ra năm

2006 là 18031 tỷ đồng, gấp 3,6 lần so năm 2001, bình quân 1 trang trại 159triệu đồng gấp 1,9 lần, tỷ suất hàng háo là 95,2% Các vùng có tỷ suất hànghoá cao là: Đông Nam Bộ 98,2%, Duyên hải Nam Trung Bộ 98,1%, TâyNguyên 96,2%, Đồng bằng sông Hồng 95,6%, thấp nhất là Tây Bắc 89,8% Thu nhập trước thuế của các trang trại năm 2006 đạt 6979 tỷ đồng gấp3,5 lần so năm 2001, tỷ lệ thu nhập trước thuế so tổng thu là 35,2% (giảm0,2% so năm 2001) Thu nhập trước thuế bình quân 1 trang trại 61,4 triệuđồng gấp 1,9 lần so năm 2001 Mức chệnh lệch giữa các vùng,các địa phương

về thu nhập bình quân 1 trang trại còn lớn: cao nhất là Đông Nam Bộ 85,2triệu đồng gấp hơn 2 lần vùng thấp nhất là Duyên hải Nam Trung bộ 38,3triệu đồng, Đồng bằng sông Cửu Long 64 triệu đồng, Đông Bắc 52,3 triệuđồng, Đồng bằng sông Hồng 47,6 triệu đồng Tỷ lệ thu nhập trước thuế sotổng thu sản xuất, kinh doanh của trang trại cũng có sự chênh lệch lớn giữacác vùng do chịu ảnh hưởng của loại hình sản xuất và hiệu quả của sản xuất,kinh doanh: cao nhất là Tây Bắc 47,1%, Tây Nguyên 43,4%, Đông Nam Bộ38,6%, thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng 24,6%

CHƯƠNG II

Trang 27

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI Ở TỈNH HÀ TÂY

II.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển kinh tế trang trại tỉnh Hà Tây.

II.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên.

II.1.1.1 Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình

Hà Tây là tỉnh thuộc châu thổ sông Hồng, kề cận thủ đô Hà Nội Địa bàn

Hà Tây nằm trong giới hạn 20o34’ – 21o17’ vĩ độ Bắc và 105o17’ – 106o00’kinh độ Đông, phía Bắc giáp Vĩnh Phúc, phía Nam giáp Hà Nam, phía Tâygiáp Hoà Bình, phía đông bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía đông nam giáp HưngYên

Với vị trí địa lý như vậy các trang trại tỉnh Hà Tây có nhiều lợi thế trongviệc tập trung các yếu tố đầu vào phục vụ sản xuất cũng như tổ chức tiêu thụnông sản hàng hóa trên các thị trường trong vùng và trong cả nước.Nhất là có

vị trí kế cận với thủ đô Hà Nội, đây là một thị trường rộng lớn đặc biệt là đốivới các hàng hoá nông, lâm, thuỷ sản, hàng hoá thủ công mỹ nghệ và dịch vụ

du lịch và là nơi có khả năng cung cấp chuyển giao tiến bộ khoa học – công

nghệ và dịch vụ kỹ thuật tốt và thuận tiện nhất

Hà Tây có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và được chialàm hai vùng chính

- Vùng đồng bằng phía đông của tỉnh có diện tích 1444 km2 chiếmkhoảng 2/3 diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh, đất đai màu mỡ và tương đốibằng phẳng, độ cao tuyệt đối trung bình của vùng này là khoảng từ 5-7m, tuynhiên có 2 vùng tương đối trũng thấp đó là khu vực Mỹ Đức và khu vực ỨngHoà, Phú Xuyên mang nét đặc trưng của đông bằng Bắc Bộ trũng đê viền

- Vùng đồi núi phía Tây của tỉnh có diện tích 704km2 chiếm khoảng 1/3diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Trong đó, vùng núi có độ cao tuyệt đối trên300m mà cao nhất là đỉnh núi Ba Vì cao 1281m, phía Nam (vùng Chương

Mỹ, Mỹ Đức) tập trung nhiều núi đá voi và hang động, vùng này có diện tích

Trang 28

khoảng 174 km Vùng gò đồi có độ cao từ 300m (chủ yếu có độ cao từ 100m) có diện tích khoảng 530 km2.

Với đặc điểm kiến tạo địa hình tương đối đa dạng, phức tạp như vậy tỉnh

Hà tây đặc biệt có lợi thế trong công tác quy hoạch, thiết kế và xây dựng các

mô hình trang trại đa dạng về phương hướng sản xuất kinh doanh với cơ cấucây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng miền nhằmkhai thác tận dụng tối đa lợi thế sánh trên cơ sở hình thành các vùng chuyênmôn hóa, tập trung hóa, tạo ra khối lượng sản phẩm lớn, chất lượng cao,chủng loại phong phú, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao và đa dạng củathị trường

Mùa lạnh (khoảng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) nhiệt độ trung bìnhtháng thấp, thấp nhất năm 2006 là tháng 1 ở 16,2oC Lượng mưa mùa này ít,chỉ chiếm 10-15% lượng mưa cả năm, mùa này thường có mưa phùn vàokhoảng từ tháng 1 đến tháng 4

Độ ẩm không khí trung bình hàng năm vào khoảng 77-85% Số giờnắng/tháng trong năm 2006 thấp nhất là tháng 2 có 22giờ, cao nhất là tháng 5

Trang 29

* Vùng gò đồi phía Tây (độ cao tuyệt đối 15-300m), khí hậu lục địa, chịuảnh hưởng gió Lào, nhiệt độ trung bình 23,5oC, lượng mưa trung bình năm2300mm – 2400mm.

* Vùng núi cao phía Tây (độ cao tuyệt đối trên 300m), khí hậu mát mẻnhiệt độ trung bình 18oC, vào mùa lạnh có khi nhiệt độ xuống đến 3oC, lượngmưa trung bình năm lên 2300mm

II.1.1.3 Đặc điểm tài nguyên đất đai.

Theo số liệu của Cục Thống kê Hà Tây, năm 2006 tổng diện tích đất tựnhiên của tỉnh là 219,296 ha (bảng 1), trong đó đất nông nghiệp chiếm 55,9%chủ yếu là đất lúa và mầu, đất lâm nghiệp chiếm 7,6% Đất Nông nghiệp vàlâm nghiệp có xu hướng tăng do khai hoang, phục hoá đất trồng đồi núi trọc,đất có nước mặn để nuôi trồng thuỷ sản

Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất ở Hà Tây qua các năm

Diện tích (1000 ha) Cơ cấu(%) (1000ha)Diện tích Cơ cấu(%) (1000 ha)Diện tích Cơ cấu(%)

Trang 30

Phân theo loại chất đất, Hà Tây có 2 vùng với các loại đất chủ yếu đặctrưng đó là:

- Vùng đồi gò có các loại đất chính sau đây:

+ Đất nâu vàng trên phù sa cổ, diện tích 20.603 ha chiếm 10% diện tíchđất tự nhiên

+ Đất đỏ vàng trên đá phiến sét, diện tích khoảng 10.783 ha chiếm 5%diện tích đất tự nhiên

Tóm lại, đất Hà Tây có độ phì tương đối cao, có nhiều loại địa hình vànhiều đất nên các trang trại thể bố trí được nhiều loại cây trồng vật nuôi khácnhau Đất có khả năng nông nghiệp và lâm nghiệp hiện còn khoảng 7,5 ngàn

ha (Thống kê năm 2006) nằm rải rác ở hầu hết các huyện thị Đây là điều kiện

để các chủ hộ có thể mở mang và tập trung ruộng đất cho hình thành và pháttriển kinh tế trang trại

Trang 31

II.1.1.4 Đặc điểm tài nguyên rừng:

Rừng Hà Tây không lớn, nhưng rừng tự nhiên (vùng Ba Vì) có nhiềuchủng loại thực vật phong phú, đa dạng, quý hiếm Hiện nay đã xác định được

872 loài thực vật bậc cao thuộc 427 chi nằm trong 90 họ Tuy nhiên theo dựđoán của các nhà thực vật học thì có thể lên tới 1700 loài Từ năm 1992 nhànước đã công nhận khu vực rừng Ba vì là vườn Quốc Gia Khu rừng tự nhiênthuộc huyện Mỹ Đức có nhiều chủng loại động thực vật quý hiếm Cùng vớiviệc rừng nơi đây được nhà nước công nhận là khu văn hoá - lịch sử môitrường, còn được phân loại thành rừng đặc dụng Rừng tự nhiên được quản lýkết hợp với tu bổ cải tạo và trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc Rừng

Hà Tây không những là tài nguyên quý giá của địa phương mà còn là của cảnước

II.1.1.5 Đặc điểm tài nguyên nước mặt:

- Sông suối: Hà Tây có mật độ sông suối khá dày và trải đều (trung bình60km/km2), các con sông lớn với chiều dài tương ứng chảy qua địa phận tỉnhgồm có: sông Hồng (127 km), sông Đà (32 km), sông Đáy (103 km), sôngTích (110 km), sông Nhuệ (47 km), sông Bùi (7 km)

Các hệ thống sông suối của Hà Tây ngoài nhiệm vụ tưới tiêu cho nôngnghiệp, cung cấp phù sa cho đất, phục vụ công tác thuỷ lợi và giao thông thuỷcòn là nơi để thực hiện đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản

Tuy nhiên do nằm trong hệ thống phân lũ của các hệ thống sông chínhnhư sông Hồng nên vào mùa mưa lũ sản xuất Nông nghiệp ở một số vùng củatỉnh gặp nhiều khó khăn

- Hồ đầm: Hà Tây có nhiều hồ, đầm lớn nhỏ (Trong đó có 14 hồ đầm códiện tích từ 50-1260 ha) với tổng diện tích trên 9,8 nghìn ha Các hồ lớn ở HàTây gồm có: Hồ Đồng Mô – Ngãi Sơn (1260 ha), hồ Suối Hai (671 ha), hồMèo Gù (113 ha), hồ Xuân Khanh (104 ha), hồ Tuy Lai (259 ha), hồ Quan

Trang 32

Sơn (283 ha), hồ Đông Xương (90 ha) Tổng dung tích các hồ đầm ước tínhkhoảng 168.106m3 đủ năng lực tưới cho 25.862 ha và có thể khai thác, đánhbắt, nuôi trồng thuỷ sản.

Đối với sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại nguồn nước mặt có

ý nghĩa hết sức to lớn, một mặt cung cấp lượng nước tưới cho cây trồng, sinhhoạt và vệ sinh trang trại, một mặt là tư liệu sản xuất đặc biệt trong nuôi trồngthủy sản

II.1.2 Điều kiện về kinh tế - xã hội.

II.1.2.1 Cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển Nông nghiệp.

- Giao thông vận tải:

Hà Tây có vị trí nằm ở cửa ngõ thủ đô nên đã sớm hình thành hệ thốnggiao thông tương đối hoàn chỉnh

+ Đường sắt do Trung ương quản lý qua địa bàn của tỉnh gồm có 2 tuyếnđường đó là: tuyến Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh và tuyến vành đai thủ

đô cầu Thăng Long

+ Đường sông có tổng chiều dài của các tuyến sống có thể khai thácđược là khoảng 199 km, bao gồm các tuyến chính là các hệ thống sông Đà,sông Hồng, sông Đáy, sông Bùi, sông Nhuệ, sông Tích, hình thành nên hệthống giao thông thuỷ khá thuận lợi Tuy nhiên do có sự hạn chế từ các côngtrình thuỷ nông, các bãi cạn, đá ngầm nên giao thông thuỷ chưa phát huyđược những thế mạnh vốn có của nó

+ Mạng giao thông đương bộ đã phủ đều trên toàn tỉnh, ở trung tâm các

xã đều có đường ô tô đến được, chiều dài toàn mạng là khoảng 4603,4 km(năm 2006) Mật độ đường ô tô là khoảng 0,46 km/km2 là khá so với vùngBắc Bộ (0,44 km/km2) và so với cả nước (0,35 km/km2) Tuy nhiên đường bộtrên địa bàn tỉnh (nhất là đường Nông thôn có chất lượng cầu, đường chia cao,

Trang 33

chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của địa phương, cầu đường cótải trọng trên 18 tấn chỉ đạt 45%, trên 13 tấn chỉ đạt 58%.

- Hệ thống thuỷ lợi:

Đến năm 2006 toàn tỉnh Hà Tây có 7 hệ thống đại thuỷ nông: Suối Hai,Phù Sa, Đồng Mô, Đan Hoài, La Khê, Hồng Vân, Sông Nhuệ và hai vùng độclập là Chương Mỹ, Mỹ Đức Các công trình thuỷ lợi toàn tỉnh có 12 hồ đápchứa nước, dung tích từ 1 triệu m3 -62 triệu m3; 5 cống lấy nước tự chẩy từsông Hồng, 529 trạm bơm với 2335 máy bơm tưới tiêu nước Hệ thống cáckênh tưới tiêu có tổng chiều dài khoảng 5548 km, có khả năng tưới hàng nămcho khoảng 218 nghìn ha đất gieo trồng, đáp ứng được 90% diện tích lúa và78% diện tích cây hàng năm khác; có khả năng tiêu thụ được cho 116,17nghìn ha Trong đó 82,27 nghìn ha đất Nông nghiệp và 33,9 ha đất phi Nôngnghiệp Tuy nhiên, bên cạnh đó có một thực tế là các công trình thuỷ lợi HàTây hầu hết đã quá cũ kỹ, xuống cấp, đa số các công trình được xây dựngcách đây hơn 30 năm nên năng lực thiết kế không còn phù hợp với yêu cầuhoạt động Trong giai đoạn hiện nay, do đó có một số vùng thường xuyênthiếu nước tưới và một số vùng hệ thống tiêu nước không thực sự chủ động

- Các cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác như điện, bưu chính viễn thông thamgia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạtcủa dân cư được chú trọng phát triển, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêudùng của người dân Theo số liệu của Cục Thống kê Hà Tây đến năm 2006tỉnh Hà Tây có 295 xã, 1815 thôn thì tuyệt đối các thôn đều đã có điện lướicung cấp đảm bảo tương đối đầy đủ về thời gian và công suất cấp Đây là điềukiện quan trọng để các trang trại trang bị các máy móc thiết bị kỹ thuật tiêuthụ điện góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất sản xuất và đadạng hoá chủng loại sản phẩm, tiết kiệm chi phí và thời gian lao động

Hệ thống cơ sở hạ tầng có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi hoạtđộng của kinh tế xã hội nói chung, riêng đối với

Trang 34

II.1.2.2 Dân số và lao động

Dân số tỉnh Hà Tây tính đến 1/7/2006 là 2.554.745 người (Bảng 2 ),chiếm 3,09% dân số cả nước và là địa phương đông dân thứ 5 (sau Thành phố

Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nghệ An, Thanh Hoá) Trong 64 tỉnh thành cả nướcmật độ dân số bình quân là 1.152 người/km2, đứng thứ 8 Trong số 64 tỉnhthành cả nước và gấp 4,6 lần mật độ dân số bình quân chung của cả nước

Hà Tây là tỉnh có nguồn lực lao động dồi dào Năm 2006 có 1346,2người trong độ tuổi lao động, chiếm 52,7% dân số toàn tỉnh Trong số đó ởnông thôn là 1219856 người, ở thành thị là 126344 người Lao động Hà Tâynhìn chung là có phẩm chất tốt, cần cù chịu khó, ham sáng tạo học hỏi và cóchí làm giàu

Bảng 2: Tình hình dân số Hà Tây biến động qua các năm.

Chỉ tiêu

1000 người

D- Phân theo độ tuổi

- Trong độ tuổi lao

Nguồn: Cục thống kê Hà Tây

Về chất lượng lao động trong những năm qua cũng đã có sự tiến bộ rõrệt Nếu năm 2000 trình độ học vấn của lao động ở mức tốt nghiệp Phổ thôngtrung học là 20,07% thì năm 2006 con số này đã tăng lên 26,4% Trình độ

Trang 35

thâm canh, chuyên canh khá, nhanh chóng biết tiếp thu ứng dụng khoa họccông nghệ vào sản xuất, bước đầu dã hình thành ý thức sản xuất theo phươngthức tập trung chuyên môn hoá, sản xuất hàng hoá chất lượng cao, phù hợpvới yêu cầu của thị trường và mang tính cạnh tranh cao Tuy nhiên chất lượnglao động tỉnh Hà Tây còn có một số hạn chế cần được khắc phục đó là; Tỷ lệlao động có trình độ tay nghề còn ở mức rất thấp; Số lao động đã qua đào tạochỉ đạt 29,97%, lao động khu vực Nông thôn chỉ quen thuần nông và gắn bóvới đồng ruộng, thiếu kiến thức hiểu biết về kinh tế thị trường, bên cạnh đó doviệc làm không đủ đáp ứng nên thời gian 1 lao động Nông thôn thực hiện mộtngày trung bình chỉ đạt ở mức thấp, khoảng 65% tương đương với 5,2giờ/ngày.

II.1.2.3 Điều kiện về kinh tế.

Trong xu thế phát triển chung của cả nước, thời quan qua với sự nỗ lựccủa toản tỉnh, kinh tế của tỉnh đã có những bước phát triển đáng kể, tổng giátrị sản phẩn (GDP), toàn tỉnh Hà Tây năm 2006 đạt 7779,06 tỷ đồng, nếu tínhtheo giá thực tế thì GDP năm 2006 là 13828.85 tỷ đồng (Bảng 3)

Bảng 3: GDP và GDP bình quân đầu người tỉnh Hà Tây qua các năm.

Trang 36

Trong giai đoạn 2003-2006 giá trị tổng sản phẩm trong tỉnh tăng bìnhquân 9,4% năm trong đó tốc độ tăng của các ngành công nghiệp, xây dựng

và dịch vụ ở mức cao, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Ngành nông nghiệp tăng

ở mức thấp hơn và có xu hướng giảm tỷ trọng So với năm 2003, năm 2006 tỷtrọng ngành công nghiệp xây dựng tăng từ 30,15 % lên đến 32,06 %, ngànhthương mại và dịch vụ tăng từ 29,26 % lên đến 31,42 %, ngành Nông nghiệpgiảm tỷ trọng từ 40,59 % xuống còn 36,52 %

Nhìn chung kinh tế của tỉnh có tốc độ phát triển khá và tương đối bềnvững trong những năm vừa qua, thu nhập của người dân ngày càng được nângcao, cuộc sống của người dân có sự cải thiện rỏ rệt Đối với các trang trại thunhập của người dân tăng là tín hiệu rất đáng mừng vì chứng tỏ sức mua củathị trường nông thôn tăng lên nhất là đối với những sản phẩm hang hoá nôngsản có chất lượng cao Tuy nhiên kinh tế tỉnh Hà Tây chủ yếu vẫn là kinh tếNông nghiệp, tổng giá trị sản phẩm ngành Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng ởmức cao, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tuy chưa đạt ở mức theo yêu cầunhưng đã có dấu hiệu chuyển đổi tích cực

II.1.3 Một số nhận xét đánh giá về điều kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội tỉnh Hà Tây ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại.

Qua nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Tây,đứng trên góc độ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại

em có một số nhận xét như sau:

Nhìn chung đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của tỉnh HàTây có nhiều ưu thế cho sự hình thành và phát triển các mô hình kinh tế trangtrại

Tỉnh Hà Tây có địa hình địa dạng ,thổ nhưỡng, khí hậu khá phong phú

đa dạng, phù hợp với điều kiện sinh trưởng và phát triển của nhiều lọai câytrồng vật nuôi Đây là lợi thế, nền tảng to lớn để các cơ quan chức năng thựchiện công tác thiết kế, quy hoạch các mô hình trang trại phù hợp với điều kiện

Trang 37

cụ thể của mỗi vùng, các trang trại có lợi thế trong việc lựa chọn phươnghướng sản xuất kinh doanh và xây dựng cơ cấu sản phẩm hợp lý nhằm khaithác, tận dụng tối đa lợi thế so sánh của mỗi vùng miền trên cơ sở hình thànhcác vùng sản xuất chuyên môn hóa tập trung, tạo ra sản phẩm với khối lượnglớn, chất lượng cao, chủng lọai đa dạng và phong phú đáp ứng được nhu cầungay càng cao của người tiêu dùng.

Với số lượng quỹ đất chưa sử dụng, đất có diện tích nước mặt có khảnăng khai thác phục vụ cho sản xuất nông nghiệp tương đối nhiều (16,3 ngànha) Đây là điều kiện thuận lợi để các hộ, cá thể tập trung đất đai hình thành

và phát triển mở mang thêm diện tích trang trại

Vị trí địa lý của tỉnh Hà Tây do nằm trong khu vực Đồng bằng Bắc Bộ,

tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội và nhiều địa phương lân cận có nền kinh tế đangphát triển mạnh, có hệ thống giao thông tương đối hoàn chỉnh, đây là điềukiện hết sức thuận lợi cho các trang trại trong việc tập trung các yếu tố đầuvào, chuyển giao ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất và thựchiện phân phối, tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa của trang trại trên các thịtrường trong vùng, khu vực và trong cả nước

Hà Tây là tỉnh có dân số đông, một mặt đây là thị truờng tiêu thụ sảnphẩm đầu ra cho các trang trại, mặt khác cung cấp nguồn nhân lực rất dồi dàovới giá tiền công tương đối rẻ cho các trang trại

Tuy nhiên bên cạnh những thuận lợi đó còn có một số hạn chế khó khăn

mà cụ thể là:

Quỹ đất chưa sử dụng, đất có khả năng nông nghiệp tuy còn khá nhiềunhưng nằm rải rác phân tán ở nhiều nơi với chất lượng đất rất kém nên saukhi đưa vào sử dụng cần chú ý công tác cải tạo, bảo vệ và phục hồi đất

Trang 38

Dân số đông, diện tích đất bình quân người thấp đây là một trong nhữngkhó khăn thực sự cho quá trình tập trung quỹ đất phục để vụ sản xuất cho cáctrang trại

Hệ thống các cơ sở hạ tầng quá cũ kỹ, lạc hậu, có thời gian đưa vào sửdụng khá dài nên đã xuống cấp, không đáp ứng được trước nhu cầu sản xuấthàng hoá với quy mô ngày càng lớn của các trang trại

II.2 Thực trạng về kinh tế trang trại tỉnh Hà Tây.

II.2.1 Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Hà Tây.

Cũng như cả nước, trước năm 1988 ở tỉnh Hà Tây kinh tế trang trạikhông có điều kiện để tồn tại và phát triển Sự hình thành của kinh tế trangtrại Hà Tây được đánh dấu từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị (KhoáVI) và thực sự phát triển sau khi luật đất đai năm 1993 được ban hành

Theo số liệu từ Sở Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Hà Tây, kinh tếtrang trại của tỉnh Hà Tây bắt đầu hình thành và phát triển từ năm 1989, từnăm 2000 trở lại đây có xu hướng tăng mạnh về số lượng, đa dạng theo nhiều

mô hình khác nhau Đến năm 2006 (Bảng 4 )toàn tỉnh có 1574 trang trại trênkhắp các huyện thị của tỉnh, tăng so với năm 2005 (Bảng 5) là 730 trang trạituơng ứng đạt 186,5%, nếu so với năm 2003 số lượng trang trại đã tăng 1083trang trại tương ứng đạt 320,57% Tổng diện tích các trang trại năm 2006 lênđến 6292 ha, thu hút 6564 lao động tham gia và tạo ra lượng sản phẩm cótổng giá trị sản lượng hàng hoá 325057 triệu đồng

Nguồn gốc hình thành của các trang trại tương đối đa dạng nhưng chủyếu là từ nền tảng kinh tế hộ - những người có vốn, có ý chí làm giàu, có kiếnthức kinh nghiệm thực hiện mở mang thêm diện tích đất chủ yếu từ quỹ đấthoang hoá, đất gò đồi, đất nhiễm phèn….có khả năng nông nghiệp Thôngqua đấu thầu, chuyển nhượng, uỷ thác 1 bộ phận nông dân đã tập trung đượcruộng đất đủ lớn để hình thành và phát triển kinh tế trang trại

Trang 39

Bảng 4 – Tình hình chung về trang trại tỉnh Hà Tây năm 2006

TT Huyện thị

Số lượng (tr.trại)

Tổng D.tích (ha)

Tổng số L.động (người)

Tổng số vốn S.xuất (tr.đ)

Tổng thu nhập của Tr.trại trong năm (tr.đ)

Tổng giá trị sản phẩm hàng hoá

và dịch vụ (tr.đ)

Nguồn: Báo cáo của Cục Thống kê tỉnh Hà Tây.

Tuy nhiên, do có sự khác nhau về tiêu chí nhận dạng trang trại, hoặctiêu chí về định lượng vì lý do nào đó nên chưa được sử dụng chuẩn xác trongviệc đánh giá và xác định trang trại nên trên thực tế số lượng trang trại trongbáo cáo thống kê có thể thấp hơn so với thực tế

II.2.2 Phương hướng sản xuất kinh doanh của các trang trại và xu hướng biến động trong thời gian qua.

Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế ở mỗi trang trại có sự khácnhau nên mỗi trang trại có phương hướng sản xuất kinh doanh riêng với mụcđích tận dụng tối đa các lợi thế sẵn có Dựa theo đối tượng sản xuất, các loạisản phẩm chính của các trang trại mà ta có thể chia thành các mô hình trangtrại với các phương hướng sản xuất kinh doanh đặc trưng chủ yếu ( Bảng 5)

Trang 40

Nhìn chung trong thời gian qua (từ năm 2003-2006) các mô hình trangtrại hầu hết đều tăng về lượng đặc biệt là các mô hình như trang trại kinhdoanh tổng hợp, trang trại chăn nuôi, trang trại nuôi trồng thuỷ sản có tốc độtăng nhanh qua các năm.

Bảng 5: Cơ cấu trang trại phân theo phương hướng sản xuất kinh doanh qua các

Tr.trại trồng cây lâu năm

Tr.trại chăn nuôi

Tr.trại lâm nghiệp

Tr.trại nuôi trồng thuỷ sản

Tr.trại kinh doanh tổng hợp

Nguồn : Cục thống kê Hà Tây

Các loại mô hình trang trại khác như mô hình trang trại trồng cây hàngnăm, trang trại trồng cây lâu năm, trang trại lâm nghiệp do không đạt đượchiệu quả kinh tế cao như các mô hình khác nên có tốc độ tăng chậm, có biếnđộng thậm chí giãn do chủ trang trại thay đổi phương hướng sản xuất kinhdoanh khác phù hợp với điều kiện của trang trại hơn Trong thời gian tới các

mô hình trang trịa như trang trại kinh doanh tổng hợp, trang trại nuôi trồngthuỷ sản, trang trại chăn nuôi do đạt được tính hiệu quả về kinh tế và có khảnăng linh động trong cơ chế thị trường với điều kiện tích tụ ruộng đất khôngcao lắm nên có thể sẽ còn tiếp tục phát triển cả về số lượng và chiều sâu

II.2.3 Tình hình về quy mô đất đai của các trang trại ở Hà Tây.

Hà Tây là địa phương có dân số đông bên cạnh đó quỹ đất cho nôngnghiệp và có khả năng nông nghiệp tính bình quân trên đầu người tương đốithấp Đất có khả năng tập trung để hình thành trang trại thường phân tán nhỏ

lẻ, có quy mô không lớn Có trang trại tập trung được diện tích đất đai lớn(trên 10 ha) nhưng chỉ mới tạm giao quyền sử dụng (trong khoảng 10-15

Ngày đăng: 11/12/2012, 10:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình môn : Kinh tế nông nghiêp trường Đại học kinh tế quốc dân Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế nông nghiêp
10. Một số webside:- http://www.mofa.gov.vn Link
2. Các văn bản pháp luật về kinh tế trang trại, NXB Chính trị Quốc gia (2001) Khác
3. Nghị quyết 03/2000/NQCP về kinh tế trang trại, Hà nội (2000) Khác
4. Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá Việt nam . Nguyễn Đình Hương, NXB Chính trị Quốc gia năm 2000 Khác
5. Văn bản pháp luật về nông nghiệp và phát triển nông thôn. NXB Chính trị Quốc gia năm 2000 Khác
6. Tư liệu về kinh tế trang trại. Ban vật giá Chính phủ, NXB Thành phố Hồ Chí Minh năm 2000 Khác
7. Cục thông kê tỉnh Hà Tây. Niên giám thống kê (2003-2006) Khác
8. Kết quả tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn và thuỷ sản năm 2006 Khác
9. Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK , Liên Bộ NN&PTNT- Tổng cục thống kê, Hà nội năm 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất ở Hà Tây qua các năm - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 1 Hiện trạng sử dụng đất ở Hà Tây qua các năm (Trang 29)
Bảng 2: Tình hình dân số Hà Tây biến động qua các năm. - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 2 Tình hình dân số Hà Tây biến động qua các năm (Trang 34)
Bảng 5: Cơ cấu trang trại phân theo phương hướng sản xuất kinh doanh qua các  năm(2003-2006) - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 5 Cơ cấu trang trại phân theo phương hướng sản xuất kinh doanh qua các năm(2003-2006) (Trang 40)
Bảng 6:  Cơ cấu số lượng trang trại phân theo quy mô đất đai qua các - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 6 Cơ cấu số lượng trang trại phân theo quy mô đất đai qua các (Trang 41)
Bảng 8: Vốn đầu tư các trang trại năm 2006 (Đvt: triệu đồng) - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 8 Vốn đầu tư các trang trại năm 2006 (Đvt: triệu đồng) (Trang 43)
Bảng 10: Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các trang trại Hà Tây năm  2006   (Đơn vị tính: %) - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 10 Tình hình tiêu thụ sản phẩm của các trang trại Hà Tây năm 2006 (Đơn vị tính: %) (Trang 48)
Bảng 11: Giá trị sản xuất bình quân của các trang trại tỉnh Hà Tây qua các  năm     (2004- 2006)             (   Đơn vin tính: Triệu đồng) - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 11 Giá trị sản xuất bình quân của các trang trại tỉnh Hà Tây qua các năm (2004- 2006) ( Đơn vin tính: Triệu đồng) (Trang 50)
Bảng 12 Một số chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả về mặt kinh tế của các mô hình  trang trại ở tỉnh Hà Tây năm 2006 - Thực trạng, phương hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh Hà Tây
Bảng 12 Một số chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả về mặt kinh tế của các mô hình trang trại ở tỉnh Hà Tây năm 2006 (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w