Hiện nay chúng ta đang bước sang thời kỳ mới, thời kỳ của sự ổn định và phát triển, một yêu cầu đặt ra là phải sử dụng một cách cố hiệu quả các công cụ, đặc biệt là công cụ chi Ngân sách
Trang 1LÊ THỊ DUNG
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ CHI NSĐP NHẰM THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ QUANG QUÝ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực, trích dẫn rõ ràng
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả
Lê Thị Dung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các Thầy
Cô trong Phòng Quản lý Đào tạo sau đại học của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới PGS-TS Đỗ Quang Quý đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, những người đã quan tâm giúp đỡ và động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian qua để tôi hoàn thành luận văn được tốt hơn
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Học viên
Lê Thị Dung
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục iv
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Những đóng góp của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHI NSNN 4
1.1 Tổng quan về Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước 4
1.1.1 Một số vấn đề chung về Ngân sách Nhà nước 4
1.1.2 Đặc điểm và nội dung chi Ngân sách Nhà nước 9
1.1.3 Cơ cấu và các nhân tố ảnh hưởng đến chi Ngân sách Nhà nước 11
1.2 Vai trò của chi Ngân sách địa phương đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn 13
1.2.1 Vai trò, vị trí của Ngân sách địa phương trong hệ thống Ngân sách Nhà nước 13
1.2.2 Căn cứ xác định nội dung thu - chi Ngân sách địa phương 16
1.2.3 Nội dung thu, chi Ngân sách địa phương ở nước ta 17
1.2.4 Đặc điểm của chi Ngân sách địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương 20
1.2.5 Vai trò của chi Ngân sách địa phương đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương 22
Trang 51.3 Quản lý chi Ngân sách địa phương 23
1.3.1 Sự cần thiết phải quản lý chi Ngân sách địa phương 23
1.3.2 Nội dung quản lý chi Ngân sách địa phương 26
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Hệ thống các câu hỏi nghiên cứu 27
2.2 Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu 30
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 32
Chương 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NSĐP ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KT - XH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2009 - 2011 33
3.1 Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh 2009 - 2011 33
3.2 Thực trạng chi Ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2009 - 2011 37
3.2.1 Tình hình chi Ngân sách địa phương 37
3.2.2 Cơ cấu chi ngân sách địa phương 39
3.2.3 Thực trạng quản lý chi Ngân sách địa phương 44
3.3 Đánh giá về quản lý chi Ngân sách địa phương đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 47
3.3.1 Nội dung chi Ngân sách địa phương 47
3.3.2 Mức độ đảm bảo chi NSĐP cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn 49
3.3.3 Cơ cấu chi NSĐP tác động đến sự phát triển KT- XH trên địa bàn 49
Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2012 - 2015 54
4.1 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2015 54
4.1.1 Căn cứ định hướng 54
4.1.2 Định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong những năm tới 56
4.1.3 Một số chỉ tiêu dự kiến cho chi ngân sách đối với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương giai đoan 2012 - 2015 57
Trang 64.2 Giải pháp tăng cường công tác quản lý chi Ngân sách địa phương
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2015 58
4.2.1 Các giải pháp 58
4.2.2 Định hướng hoàn thiện về nội dung chi Ngân sách địa phương 62
4.2.3 Định hướng hoàn thiện cơ cấu chi Ngân sách địa phương 70
4.2.4 Một số biện pháp để hoàn thiện chi Ngân sách địa phương trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2015 77
4.3 Các điều kiện để nâng cao hiệu quả chi Ngân sách địa phương 80
4.3.1 Về nguồn thu cho NSĐP 80
4.3.2 Về chính sách chế độ chi Ngân sách địa phương 80
4.3.3 Thống nhất đầu mối chi Ngân sách địa phương 81
4.3.4 Xây dựng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tích cực và khoa học 82
4.3.5 Kiện toàn và nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy Tài chính địa phương 83
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1- Tốc độ và tỷ trọng chi NSĐP với GDP 38
Bảng 3.2- So sánh chi NSĐP với chi NSTW và chi NSNN trên địa bàn 39
Bảng 3.3- Cơ cấu và tỷ trọng chi đầu tư, chi thường xuyên trong NSĐP 39
Bảng 3.4 - Cơ cấu chi đầu tư phát triển theo loại 40
Bảng 3.5 - Cơ cấu chi Ngân sách địa phương 48
Bảng 3.6- Chi đầu tư từ NSĐP trong tổng đầu tư xã hội trên địa bàn và phát triển của các ngành trong giai đoạn 2009 - 2011 51
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) là một trong những mục tiêu cơ bản của mọi quốc gia, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển như nước ta
Trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển, Ngân sách Nhà nước (NSNN) thường được các Nhà nước sử dụng như một công cụ Tài chính chủ yếu phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội Trong phạm vi nhất định, Ngân sách địa phương (NSĐP) phục vụ cho chính quyền Nhà nước địa phương thực hiện chức năng quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội của mình
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đang hết sức coi trọng việc sử dụng có hiệu quả NSNN, trong đó có Ngân sách của các cấp chính quyền địa phương để thực hiện mục tiêu nhằm phát triển kinh tế -
xã hội
Hiện nay chúng ta đang bước sang thời kỳ mới, thời kỳ của sự ổn định
và phát triển, một yêu cầu đặt ra là phải sử dụng một cách cố hiệu quả các công cụ, đặc biệt là công cụ chi Ngân sách địa phương để trực tiếp tác động đến sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Đến nay, sau gần 10 năm triển khai thực hiện luật ngân sách nhà nước năm 2002, công tác quản lý chi NSĐP vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và tồn tại chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới Nhiều bất cập tồn tại trong cơ chế quản lý, sự phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa các đơn vị, cơ quan trong việc quản lý NSNN chưa thực sự rõ ràng do vậy
Cũng như mọi địa phương khác trong cả nước, vấn đề kể trên luôn mang tính thời sự thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý và nghiên cứu của tỉnh Quảng Ninh
Trang 10Trên nhận thức đó em chọn đề tài Luận văn là: “Giải pháp tăng cường quản lý chi NSĐP nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh” để nghiên cứu với mong muốn góp phần giải quyết yêu
cầu bức xúc của thực tiễn trong khi tìm kiếm các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
2 Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung
Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn về đặc điểm kinh tế
- xã hội và chi Ngân sách của địa phương, xác lập những căn cứ có tính phương pháp luận để đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý chi Ngân sách địa phương nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về chi NSĐP, nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Nghiên cứu trong giới hạn chi NSĐP của tỉnh Quảng Ninh và các mối quan hệ của chi NSĐP với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trang 11* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu về công tác quản lý
chi NSĐP nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
- Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 2009 - 2011
- Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về công tác quản lý
chi NSĐP và những nhân tố tác động tới công tác quản lý chi NSĐP trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
4 Những đóng góp của đề tài
Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước, chi Ngân sách địa phương
Đánh giá thực trạng quản lý chi NSĐP trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi NSĐP góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục những tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu 4 chương, gồm có:
Chương 1: Tổng quan về quản lý chi NSNN
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản lý chi NSĐP đối với phát triển KT- XH trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2009 - 2011
Chương 4: Giải pháp tăng cường quản lý chi NSĐP trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2012 - 2015
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1 Tổng quan về Ngân sách Nhà nước và chi Ngân sách Nhà nước
1.1.1 Một số vấn đề chung về Ngân sách Nhà nước
Trong lịch sử nhân loại sự tồn tại và phát triển của tất cả các thể chế chính trị, trước hết đều phải có những nguồn lực tài chính nhất định nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ, cũng như các mục tiêu và định hướng của Nhà nước Nguồn lực tài chính đó được gọi là Ngân sách Nhà nước hay Ngân sách Chính phủ Ngân sách Nhà nước là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử Để củng cố và duy trì quyền lực chính trị , Nhà nước đã sử dụng ngân sách như một công cụ hữu hiệu , gắn chặt với bản chất của Nhà nước , thể hiện
ở việc Ngân sách Nhà nước phục vụ cho những giai cấp thống trị xã hội và thể hiện quyền lực của giai cấp thống trị đối với các giai cấp khác
Thuật ngữ “Ngân sách Nhà nước” được sử dụng rất phổ biến trên mọi quốc gia, trong mọi lĩnh vực của đời sống nhưng khái niệm chưa thống nhất như một định nghĩa chuẩn mang quy ước quốc tế Khái niệm Ngân sách Nhà nước được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy đinh
trong luật Ngân sách Nhà nước ban hành ngày 16/12/2002 như sau: “Ngân
sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước cố thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 01 năm để đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước ”
Ngân sách Nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm.Quốc hội quyết định dự toán ngân sách Nhà nước, phân
bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước.(trích
điều 3 - luật Ngân sách Nhà nước 2002 )
Trang 13Yêu cầu tiên quyết đối với Ngân sách Nhà nước là phải thống nhất các khoản thu - chi trên cơ sở dự toán và hạch toán Do đó Ngân sách Nhà nước phải tập hợp và cấn đối thu chi của Nhà nước , bắt buộc mỗi khoản chi phải theo dự toán , mỗi khoản thu phải theo luật định , chấm dứt sự tuỳ tiện trong quản lý thu - chi của Nhà nước Như vậy ta có thể kết luận chức năng của Ngân sách Nhà nước bao gồm:
Một là, điều tiết thu nhập đối với nguồn thu nhập của các tổ chức, cá
nhân để đảm bảo công bằng xã hội đối với chính sách an sinh xã hội của Nhà nước
Hai là, quản lý, khai thác nguồn thu Ngân sách Nhà nước theo luật
Ngân sách Nhà nước
Ba là, cân đối Thu, Chi Ngân sách Nhà nước về: Chi thường xuyên, Chi
Đầu tư Phát triển, Chi thanh toán nợ công, Chi dự phòng
Bốn là, quản lý và điều hành hoạt động Tài chính công để hạn chế hiện
tượng bội Chi Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, an ninh quốc phòng và các nhiệm vụ ngoại giao của Nhà nước, hay nói chung là đảm bảo các nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Xét riêng trong nền kinh tế thị trường, Ngân sách nhà nước là một trong những công cụ hữu hiệu để Nhà nước điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, xã hội Mục tiêu của Ngân sách Nhà nước không phải để Nhà nước đạt được lợi nhuận như các doanh nghiệp và cũng không phải để bảo vệ vị trí của mình trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường Ngân sách nhà nước ngoài việc duy trì sự tồn tại của bộ máy Nhà nước còn phải xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội để tạo ra môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động
Trang 14Ngân sách nhà nước được sử dụng như là công cụ tác động vào cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo cân đối hợp lý của cơ cấu kinh tế và sự ổn định của chu
kỳ kinh doanh Trước xu thế phát triển mất cân đối của các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế, thông qua quỹ ngân sách, Chính phủ có thể áp dụng các chính sách ưu đãi, đầu tư vào các lĩnh vực mà tư nhân không muốn đầu tư vì hiệu quả đầu tư thấp; hoặc qua các chính sách thuế bằng việc đánh thuế vào những hàng hoá, dịch vụ của tư nhân có khả năng thao túng trên thị trường; đồng thời, áp dụng mức thuế suất ưu đãi đối với những hàng hoá mà Chính phủ khuyến dụng Nhờ đó mà có thể đảm bảo sự cân đối, công bằng trong nền kinh tế
Vai trò của Ngân sách Nhà nước tại trong nền kinh tế quốc dân ở nước
ta hiện nay được thể hiện trên 3 khía cạnh sau:
Một là, vai trò điều chỉnh trong lĩnh vực kinh tế, Ngân sách Nhà nước
kích thích sự phát triển kinh tế, chống độc quyền
Khác biệt với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, trong nền kinh tế thị trường, Ngân sách Nhà nước không còn điều chỉnh các hoạt động kinh tế một cách thụ động Thông qua việc thực hiện các khoản chi một cách hợp lý như xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn có khả năng cạnh tranh trên thị trường; đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng thuộc thế mạnh xuất khẩu , Chính phủ có thể tạo điều kiện và hướng nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp vào những lĩnh vực, những vùng cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế mới cũng như tạo ra môi trường thuận lợi, hạn chế độc quyền cho sản xuất kinh doanh Các khoản chi này của Ngân sách Nhà nước không thu hồi trực tiếp, nhưng hiệu quả của nó lại được tính bằng sự tăng trưởng của GDP, sự phân bố chung hợp lý của nền kinh tế hoặc bằng các chỉ tiêu khác như tạo ra khả năng tăng tốc độ lưu chuyển hàng hoá và dịch vụ Thông qua thu ngân sách mà chủ yếu là thuế cũng góp phần định hướng phát triển sản
Trang 15xuất Việc đặt ra các loại thuế với thuế suất ưu đãi, các quy định miễn, giảm thuế có tác dụng kích thích mạnh mẽ đối với các doanh nghiệp Một chính sách thuế có lợi sẽ thu hút được doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vào nơi cần thiết, ngược lại, một chính sách thuế khắt khe sẽ giảm bớt luồng di chuyển vốn vào nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh
Rõ ràng là chính sách thu, chính sách chi ngân sách gắn liền với chính sách phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ trực tiếp cho chính sách này của
Nhà nước
Hai là, vai trò điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường, Ngân sách Nhà
nước góp phần ổn định thị trường, giá cả, kiềm chế lạm phát
Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cung cầu chi phối đến giá cả thị trường rất mạnh mẽ Mọi sự biến động của giá cả trên thị trường đều có nguyên nhân từ sự mất cân đối giữa cung và cầu Để ổn định giá cả, chính phủ
có thể thông qua công cụ Ngân sách Nhà nước để tác động vào cung hoặc cầu hàng hoá trên thị trường dựa trên cơ sở lý thuyết của quy luật cung cầu Cụ thể như sau:
- Điều chỉnh cơ cấu hệ thống thuế, thuế suất, chính sách miễn giảm thuế hợp lý… Chính phủ tác động vào tổng cung hoặc tổng cầu để góp phần ổn định giá cả trên thị trường
- Thông qua nguồn cấp phát của chi tiêu Ngân sách hàng năm các quỹ
dự trữ của Nhà nước (bằng tiền, bằng ngoại tệ, các loại hàng hoá, vật tư chiến lược ) được hình thành Từ các quỹ này, Chính phủ thực hiện điều tiết thị trường bình ổn giá cả
- Trong trường hợp xảy ra lạm phát, Chính phủ cũng có thể sử dụng Ngân sách Nhà nước để khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách hiệu quả bằng các biện pháp nhằm nâng đỡ cung và giảm bớt cầu tiền tệ, đó là:
+ Thắt chặt chi tiêu của NSNN, nhất là các khoản chi cho tiêu dùng; + Tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế thu nhập
Trang 16Ba là, vai trò điều chỉnh trong lĩnh vực xã hội, Ngân sách Nhà nước
góp phần giải quyết các vấn đề xã hội
Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sau năm 1975 đã tạo ra một hiệu ứng tâm lý tiêu cực trên toàn bộ đất nước Việt Nam Nó thể hiện qua tâm lý trông chờ và ỷ lại vào Nhà nước, không tạo được sự cạnh tranh trong công việc, dẫn đến tình trạng kém hiệu quả công tác, hiệu quả sử dụng các khoản chi Ngân sách Nhà nước Sự bao cấp bất hợp lý khiến cho sức lao động và hiệu quả kinh tế không được đánh giá đúng Điều này tác động ngược chiều với việc đảm bảo công bằng xã hội
Hiện nay, bằng việc sử dụng công cụ Ngân sách Nhà nước, cụ thể là chính sách thuế và chính sách chi tiêu Ngân sách, Chính phủ đã làm giảm bớt
sự chênh lệch quá lớn về thu nhập giữa người giàu và người nghèo nhằm ổn định đời sống của các tầng lớp dân cư trong phạm vi cả nước Hay nói cách khác, vai trò quan trọng của Ngân sách Nhà nước trong điều chỉnh phân phối thu nhập được thể hiện trên phạm vi rộng lớn ở cả hai mặt hoạt động thu và chi Ngân sách Nhà nước Cụ thể:
+ Thông qua thuế thu nhập cá nhân, Nhà nước thực hiện việc điều tiết một phần thu nhập của những người giàu, để đảm bảo mức tiêu dùng hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới đảm bảo công bằng xã hội về thu nhập
+ Với việc đánh thuế tiêu thụ đặc biệt, đánh thuế giá trị gia tăng với thuế suất cao đối với các mặt hàng xa xỉ, các loại dịch vụ cao cấp, Nhà nước
có thể để điều tiết một phần thu nhập của những người giàu có- đối tượng chủ yếu sử dụng các loại hàng hoá cao cấp này
+ Thông qua các khoản chi an sinh xã hội, chi cho các chương trình giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, chi trợ cấp trợ giá các mặt hàng thiết yếu (lương thực, điện, nước), chi phí cho việc cung cấp hàng hoá khuyến
Trang 17dụng, hàng hoá công cộng,v.v thì NSNN như một trung tâm phân phối lại thu nhập, nhằm chuyển bớt một phần thu nhập từ các tầng lớp giàu có sang tầng lớp những người nghèo Thông thường ở các quốc gia trên thế giới, các khoản chi phí cho mục tiêu phúc lợi xã hội, mục tiêu trợ cấp cho người nghèo được bố trí theo chiều hướng tăng lên theo một tỷ lệ nhất định so với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế
1.1.2 Đặc điểm và nội dung chi Ngân sách Nhà nước
* Đặc điểm của chi Ngân sách Nhà nước:
Tại khoản 2 điều 2 Luật Ngân sách Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ
nghĩa Việt Nam quy định: “Chi Ngân sách Nhà nước bao gồm các khoản chi
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đảm bảo hoạt động của bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật”
Như đã biết, cách định nghĩa của mỗi quốc gia trên thế giới về Ngân sách Nhà nước khác nhau, do đó đặc điểm và nội dung của vấn đề chi Ngân sách Nhà nước đều có những điểm riêng biệt Trong một Nhà nước, để phù hợp với tình hình kinh tế - chính trị - xã hội thì mỗi gia đoạn chi Ngân sách Nhà nước cần phải có sự đặc trưng riêng Giai đoạn hiện nay, chi Ngân sách nước ta có những đặc điểm cần chú ý sau:
Một là, chi Ngân sách Nhà nước gắn với tất cả các phạm vi hoạt động
của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội
Nhà nước cần phải tập trung nguồn lực tài chính của mình vào phạm vi
đã hoạch định để tập trung giải quyết các vấn đề lớn, vấn đề mang tính trọng tâm của đất nước trong từng giai đoạn Do vậy, chi Ngân sách Nhà nước cần phải được xây dựng dựa trên những mục tiêu quốc gia, dựa trên cơ sở thu Ngân sách Nhà nước
Trang 18Hai là, chi Ngân sách Nhà nước gắn với quyền lực Nhà nước, có tính
chất pháp lý cao
Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi và phân bổ nguồn lực tài chính cho các mục tiêu quan trọng nhất, Chính phủ là cơ quan hành pháp có nhiệm vụ quản lý và quyết định các khoản chi Ngân sách Nhà nước Chi ngân sách là cơ sở đảm bảo sự tồn tại, thể hiện quyền lực của toàn bộ bộ máy Nhà nước
Ba là, hiệu quả của các khoản chi Ngâm sách Nhà nước được xem xét
trong tầm vĩ mô
Mục tiêu của Nhà nước hướng tới là những mục tiêu vĩ mô về các vấn
đề kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại Nhà nước cũng tham gia đầu tư trong một số lĩnh vực và mang tính chất độc quyền (như điện, nước, phát triển hạt nhân…) nhưng các hoạt động đầu tư này hướng tới mục tiêu cao nhất là ổn định kinh tế và tình hình chính trị xã hội cho quốc gia Tuy nhiên, một số lĩnh vực khác, nhất là các lĩnh vực sử dụng vốn vay phải chú ý tới hiệu quả kinh tế để tăng nguồn thu cho đất nước
Bốn là, các khoản chi Ngân sách Nhà nước mang tính chất không hoàn
trả trực tiếp
Các khoản chi Ngân sách Nhà nước được cấp cho các ngành, cấp, đơn
vị để hoạt động và duy trì quyền lực và các mục tiêu của Nhà nước không yêu cầu phải hoàn trả lại cho Nhà nước Trường hợp yêu cầu hoàn trả là những khoản Nhà nước đứng ra bảo lãnh tín dụng hoặc Nhà nước cho vay
Năm là, chi Ngân sách Nhà nước gắn chặt với sự vận động của các
phạm trù giá trị khác như giá cả, lãi suất, tỷ giá, tiền lương, tín dụng… (các phạm trù thuộc lĩnh vực tiền tệ)
Chi ngân sách Nhà nước chi phối mạnh mẽ lên sự vận động của tất cả các luồng tiền tệ Điều này thể hiện qua các chính sách về chi, quản lý chi Ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến các cán cân tài chính, các vấn đề an sinh
Trang 19xã hội, mức sống nhân dân hay bao quát chung là tác động đến toàn bộ quy luật cung cầu của nền kinh tế thị trường
* Nội dung chi Ngân sách Nhà nước
- Theo tính chất phát sinh các khoản chi thì chi Ngân sách Nhà nước, bao gồm: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển
Chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước
- Theo mục đích sử dụng cuối cùng thì chi Ngân sách Nhà nước được chia thành chi tích luỹ và chi tiêu dùng
Chi tích lũy của Ngân sách Nhà nước là những khoản chi làm tăng cơ
sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác
Chi tiêu dùng của Ngân sách Nhà nước là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh
Tóm lại, như đã nêu trên, để quản lý có nhiều cách phân loại nội dung
chi NSNN, vì lẽ đó, phân loại theo cách nào cũng có mặt tích cực và hạn chế riêng của nó Do vậy ở đây, chúng tôi chỉ nêu các cách phân loại chủ yếu, mang tính ưu việt nhất, nó vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý chi NSNN, vừa tạo cơ sở để xác định rõ phạm vi chi NSNN trong nền kinh tế thị trường, hướng đổi mới quản lý chi ngân sách để phục vụ, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế và giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội
1.1.3 Cơ cấu và các nhân tố ảnh hưởng đến chi Ngân sách Nhà nước
* Nội dung cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước
Cơ cấu là một danh từ chỉ cách tổ chức sắp xếp các thành phần, bộ phận trong nội bộ nhằm thực hiện chức năng chung của chủ thể
Trang 20Do đó, cơ cấu chi Ngân sách là thuật ngữ chỉ cách tổ chức, sắp xếp các khoản mục chi trong tổng thể chi Ngân sách Nhà nước nhằm thực hiện chức năng của Ngân sách Nhà nước
Như vậy, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước bao gồm toàn bộ các yếu tố cấu thành chi Ngân sách Nhà nước và chúng được sắp xếp, bố trí theo các trình tự, tỷ trọng nhất định nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ
Theo cách hiểu cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước như trên, nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước sẽ bao gồm hai phần chính đó là các yếu tố (nội dung) của chi Ngân sách Nhà nước và trình tự sắp xếp, tỷ trọng của các yếu tố
* Các nhân tố ảnh hưởng đến nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước:
Một là, Chế độ xã hội, cơ cấu kinh tế là nền tảng cơ bản để xác lập cơ cấu
chi Ngân sách Nhà nước, là yếu tố cơ bản ảnh hưởng có tính chất quyết định đến chi Ngân sách Nhà nước Nhà nước là chủ thể của chi Ngân sách Nhà nước vì thế tất yếu nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước chịu sự ràng buộc của chế
độ xã hội và nó cũng thể hiện một phần bản chất xã hội của Nhà nước đó
Chế độ xã hội quyết định bản chất, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, chủ thể của chi Ngân sách Nhà nước
Cơ cấu kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với cơ chế quản lý kinh tế, nó là nhân
tố cơ bản quyết định phân bổ nguồn lực đầu tư và quá trình phân phối thu nhập quốc dân Vì thế, Ngân sách Nhà nước nói chung và nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước nói riêng chịu sự ràng buộc của các nhân tố này
Trang 21Hai là, Nhóm nhân tố về sự phát triển của nền kinh tế - xã hội nói
chung và sự phát triển của lực lượng sản xuất, khả năng tích luỹ GDP, nguồn thu của Ngân sách Nhà nước nói riêng Đây là nhóm nhân tố vừa tạo ra khả năng và điều kiện cho việc hình thành nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước một cách hợp lý, vừa đặt ra yêu cầu thay đổi nội dung, cơ cấu chi trong từng thời kỳ nhất định Khả năng tích luỹ của nền kinh tế càng lớn thì khả năng chi đầu tư đầu tư phát triển kinh tế càng lớn
Ba là, Cơ chế tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước cũng ảnh hưởng
nhiều đến nội dung, cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước, có thể nói đây là nhân tố nội tại bên trong của hoạt động Ngân sách Nhà nước Tuỳ theo mức độ phát triển kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế - xã hội mà mỗi nước có mô hình tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước khác nhau
Bốn là, Nội dung cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước của mỗi nước trong giai
đoạn hiện nay còn chịu ảnh hưởng bởi nền kinh tế của các nước trong khu vực
và thế giới Ngày nay, nền kinh tế - xã hội của các nước nói chung, trong đó có Việt Nam của chúng ta đang chịu ảnh hưởng của hai xu hướng cơ bản đó là: xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá và xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức
Ngoài các nhân tố nêu trên, nội dung cơ cấu chi Ngân sách Nhà nước còn chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố khác như: giá cả, lãi xuất, tỷ giá, sự biến động kinh tế - chính trị - xã hội… và các chính sách cụ thể trong từng lĩnh vực
1.2 Vai trò của chi Ngân sách địa phương đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
1.2.1 Vai trò, vị trí của Ngân sách địa phương trong hệ thống Ngân sách Nhà nước
Từ lịch sử hình thành và phát triển Ngân sách Nhà nước có thể nhận thức rằng:
+ Xét về mặt hình thức Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Trang 22quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
+ Xét về nội dung vật chất, NSNN là quỹ tiền tệ của Nhà nước
+ Xét về nội dung kinh tế - xã hội, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủ thể khác trong xã hội phát sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia, tức là các quan hệ tiền tệ nảy sinh trong lĩnh vực phân phối
+ Xét về tính chất xã hội, NSNN là công cụ của Nhà nước đại diện cho một giai cấp nhất định phục vụ cho việc thực hiện chức năng của Nhà nước và
vì lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội
Mặc dù các mối quan hệ kinh tế thuộc nội dung NSNN chỉ có thể ra đời
và phát triển trên cơ sở sự vận động không ngừng của các mối quan hệ tài chính tiền tệ trong quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá, Ngân sách Nhà nước hoàn toàn không mang tính thụ động mà còn có tác động tích cực trở lại đối với quá trình đó Sự tác động trở lại đó của Ngân sách Nhà nước hoàn toàn phụ thuộc vào Nhà nước, chủ thể của Ngân sách Nhà nước, mà rõ nhất là
mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước quyết định mô hình tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước
Ở Việt Nam theo hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định có 4 cấp hành chính là: Trung ương; Tỉnh, Thành phố trực thuộc TW; Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Xã, phường và thị trấn Nói tóm lại, tổ chức hành chính gồm: Chính quyền trung ương; chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) Ở mỗi cấp vẫn tồn tại UBND và HĐND; trong đó HĐND có nhiệm vụ ra nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Ngân sách Về tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước qua nhiều lần phân cấp,
bổ sung, sửa đổi, thực tế hiện nay theo quy định tại điều 4 của Luật Ngân sách Nhà nước thì Ngân sách Nhà nước gồm: Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương (Ngân sách địa phương bao gồm Ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND)
Trang 23Trong hệ thống Ngân sách Nhà nước, Ngân sách Trung ương chi phối phần lớn các nguồn thu và khoản chi quan trọng của cả nước, tập trung đại bộ phận nguồn tài chính quốc gia và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu có tính chất huyết mạch của cả nước Ngân sách Trung ương phản ảnh nhiệm vụ thu, chi theo ngành và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống Ngân sách Nhà nước, nó cấp phát kinh phí cho yêu cầu yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Trung ương và là trung tâm điều hoà hoạt động của Ngân sách địa phương
Ngân sách địa phương là tên chung để chỉ các cấp ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp, được giao đảm nhận các khoản thu và nhiệm vụ chi có tính chất địa phương (phản ảnh nhiệm vụ thu chi theo vùng lãnh thổ), đảm bảo tổ chức quản lý toàn bộ kinh tế
- xã hội của chính quyền cùng cấp
Vị trí độc lập của Ngân sách địa phương được thể hiện ở các cấp chính quyền có quyền độc lập, chấp hành và quyết toán Ngân sách cấp mình trên cơ
sở chính sách, chế độ đã ban hành Chính quyền địa phương được phép ban hành quy định về một số khoản thu (phí, lệ phí và các khoản đóng góp…) tùy theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội mà ban hành một số chính sách chi Mặt khác, chính quyền địa phương phải chủ động sáng tạo trong việc động viên khai thác các thế mạnh của địa phương để tăng nguồn thu, đảm bảo chi, thực hiện cân đối Ngân sách
Ở nước ta, tổ chức bộ máy của Nhà nước thống nhất từ Trung ương xuống địa phương Nguồn lực tài chính quốc gia được sáng tạo ra từ nền kinh
tế thống nhất, phân bổ trên các vùng lãnh thổ của quốc gia, nên Ngân sách nhà nước (bao gồm Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương) là thể thống nhất và bao gồm toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong một năm để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Sự thống nhất này khác với các nước khác là ở chỗ dự toán và quyết toán Ngân sách hàng năm bao gồm tất
Trang 24cả các khoản thu, chi của Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương Dự toán và quyết toán Ngân sách hàng năm của Ngân sách địa phương bao gồm tất
cả các khoản thu, chi của Ngân sách cấp tỉnh, cấp huyện và Ngân sách cấp xã
Tóm lại, Tổ chức hệ thống Ngân sách Nhà nước như đã trình bày ở
trên, dù ở mô hình hệ thống hành chính nào thì vẫn tồn tại Ngân sách địa phương, đó là sự cần thiết tất yếu và là yếu tố vật chất quan trọng để chính quyền địa phương thực hiện công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của mình
Để hiểu rõ hơn vai trò của Ngân sách địa phương cần nghiên cứu nội dung cụ thể các khoản thu, chi cấu thành nên Ngân sách Nhà nước
1.2.2 Căn cứ xác định nội dung thu - chi Ngân sách địa phương
Nội dung thu, chi Ngân sách địa phương được xác định trên cơ sở một số căn cứ sau:
+ Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương, đây là căn cứ đảm bảo cho Ngân sách địa phương có đủ nguồn thu và
bố trí các khoản chi để chính quyền địa phương thực hiện tốt các chức năng, nhiệm vụ của mình
+ Ngân sách Trung ương nắm vai trò chủ đạo và chi phối Ngân sách địa phương, Ngân sách địa phương đóng vai trò phụ thuộc vào Ngân sách Trung ương Do vậy, những nguồn thu chủ yếu, những khoản chi quan trọng then chốt đều thuộc về Ngân sách Trung ương Tuy nhiên các khoản thu, chi gắn trực tiếp với quyền lợi và nghĩa vụ của địa phương đều thuộc về Ngân sách địa phương
+ Có những nguồn thu, khoản chi khai thác được thế mạnh của địa phương mà Trung ương quản lý khó khăn thì giao cho địa phương Ngược lại
có những nguồn thu, khoản chi cần để điều tiết các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương thì Trung ương phải nắm giữ
Trang 251.2.3 Nội dung thu, chi Ngân sách địa phương ở nước ta
1.2.3.1 Về thu ngân sách địa phương, bao gồm
+ Các khoản thu Ngân sách địa phương được hưởng 100% (thu cố định):
Thuế nhà, đất
Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí
Thuế môn bài
Thuế chuyển quyền sử dụng đất
Thuế sử dụng đất nông nghiệp
Tiền sử dụng đất
Tiền cho thuê đất
Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
Lệ phí trước bạ
Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết
Thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương
Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các
cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương;
Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật
Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác
Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước
Thu kết dư ngân sách địa phương theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước (Kết dư ngân sách trung ương, ngân sách cấp tỉnh được trích 50% chuyển vào quỹ dự trữ tài chính, 50% chuyển vào ngân sách năm sau, nếu quỹ
dự trữ tài chính đã đủ mức giới hạn thì chuyển số còn lại vào thu ngân sách năm sau Kết dư ngân sách các cấp khác ở địa phương được chuyển vào thu ngân sách năm sau)
Trang 26Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa Ngân sách Trung ương và Ngân sách địa phương (Thu điều tiết) bao gồm:
Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu quy định tại các khoản thu Ngân sách địa phương được hưởng 100%
Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành quy định tại các khoản thu Ngân sách địa phương được hưởng 100%
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao
Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí quy định tại các khoản thu Ngân sách địa phương được hưởng 100%
Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước;
Phí xăng, dầu
Như vậy, các khoản thu quan trọng, chủ yếu của Ngân sách Nhà nước tập trung 100% cho Ngân sách Trung ương là: Thuế xuất, nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hoá xuất nhập khẩu; thuế thu nhập của các đơn vị hạch toán toàn ngành, các khoản thu từ dầu khí Tuy nhiên, Trung ương cũng dành cho địa phương 100% các khoản thu trực tiếp từ địa phương và phân chia cho địa phương một phần các khoản thu quan trọng là thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hoá, dịch vụ trong nước, phí xăng dầu… tạo cho Ngân sách địa phương chủ động về nguồn thu của mình Nhưng so với yêu cầu chi thì hiện nay số tỉnh mất cân đối Ngân sách phải xin trợ cấp của Ngân sách Trung ương vẫn còn lớn
Tóm lại, Ngân sách Trung ương vẫn giữ vai trò chủ đạo, chi phối ngân
sách địa phương
Trang 271.2.3.2 Về chi ngân sách địa phương, bao gồm
- Chi thường xuyên gồm: Chi cho các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội, thông tin liên lạc, thể dục thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do địa phương quản lý; Chi quốc phòng, an ninh và đảm bảo trật tự an toàn xã hội (Phần giao cho địa phương quản lý); Chi tài trợ cho các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp; Chi cho các hoạt động của các cơ quan Đảng và các
tổ chức chính trị - xã hội do địa phương quản lý; Chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia do Chính phủ giao cho địa phương quản lý; Chi trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Trả lãi tiền vay đầu tư; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật
- Chi đầu tư phát triển gồm: Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội do địa phương quản lý; Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, Ngân sách địa phương còn có các khoản chi trả nợ gốc tiền vay cho đầu tư và chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính
Tóm lại, trên địa bàn các khoản chi của NSĐP thể hiện rất rõ trách
nhiệm của chính quyền địa phương trên các mặt kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng Nội dung của các khoản chi nêu trên được gắn liền với trách nhiệm và lợi ích của chính quyền địa phương, sự gắn kết này có vai trò rất quan trọng
Mặt khác, trong nội dung thu chi Ngân sách địa phương theo quy định của luật NSNN chúng ta cần lưu ý thêm một số điểm đó là:
- Luật Ngân sách quy định ổn định các khoản thu cho NSĐP trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 năm (kể cả các khoản thu phân chia và thu bổ sung) Quy định đó sẽ khuyến khích các địa phương lập kế hoạch thu được tích cực hơn, đồng thời tích cực tăng thu để đảm bảo cân đối cho ngân sách địa phương
Trang 28- Luật cũng quy định các địa phương được thực chế huy động và phụ thu thêm đối với một số khoản thu đóng góp của các cá nhân và các tổ chức
để tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Điều đó tạo thế chủ động cho các địa phương có nguồn vốn để đầu tư cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, nhằm huy động tối đa sức mạnh của các nguồn lực tài chính trên địa bàn
- Luật Ngân sách xác định rõ chức năng, quyền hạn trách nhiệm của các cấp chính quyền, các cấp, các ngành, các đơn vị đối với quá trình lập, chấp hành và quyết toán Ngân sách Nhà nước
- Luật cũng ghi rõ Ngân sách địa phương bao gồm Ngân sách tỉnh, Ngân sách huyện và Ngân sách xã, phường, thị trấn
Như vậy, Luật Ngân sách Nhà nước ra đời đã tạo nên một sức mạnh
tương đối toàn diện để Ngân sách địa phương thực thiện tốt hơn vai trò thúc đẩy sự phát triển toàn diện sự nghiệp kinh tế - xã hội của địa phương
1.2.4 Đặc điểm của chi Ngân sách địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Trong mọi thời đại, ở mỗi quốc gia, Ngân sách địa phương luôn luôn là công cụ tài chính của một chủ thể duy nhất đó là chính quyền Nhà nước địa phương Ngân sách địa phương không bao gồm nhiều thành phần mà chỉ có một chủ sở hữu duy nhất đó là chính quyền địa phương Có thể nói đây là đặc điểm chung nhất bao trùm nhất của Ngân sách địa phương, từ đặc điểm này cho thấy mọi quan hệ tài chính hội tụ ở Ngân sách địa phương dù là việc hình thành hay sử dụng các nguồn tài chính đều được đảm bảo để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, thông qua các hoạt động thu chi của Ngân sách địa phương Nói cách khác Ngân sách địa phương mang tính pháp
lý cao, nó luôn gần với quyền lực kinh tế, chính trị của Nhà nước
Trang 29Đặc điểm này của Ngân sách địa phương là đặc điểm chung cho mọi chế
độ xã hội và mọi cơ chế quản lý, nhưng điểm đáng chú ý là trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội hiện nay thì NSĐP lại mang những đặc điểm mới, đó là:
- Trong mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nội dung thu chi Ngân sách địa phương mang nặng dấu ấn của chế độ công hữu XHCN (quốc doanh và tập thể), bao cấp cho mọi hoạt động của nền kinh tế Trong cơ chế mới, Ngân sách địa phương huy động nguồn tài chính từ mọi thành phần kinh tế (không bị
bó khung trong quốc doanh và tập thể) và nó là công cụ quan trọng của Nhà nước để thúc đẩy mọi quá trình kinh tế - xã hội phát triển lên một bước mới
- Trong cơ chế quản lý cũ, hoạt động Ngân sách địa phương gần như thoát ly với xu hướng phát triển của nền kinh tế và quan hệ thị trường, mà nó chỉ trở thành chỗ thu, chi cho các hoạt động kinh tế - xã hội của địa phương
- Ngày nay, hoạt động Ngân sách địa phương mang đặc điểm là luôn gắn với thực trạng kinh tế - xã hội, gắn với quan hệ thị trường, không tách rời các phạm trù như: giá cả, lãi suất, đầu tư, công nghệ, vốn, tỷ giá hối đoái… do
đó, Ngân sách địa phương không chỉ phục vụ nền kinh tế mà còn được sử dụng như công cụ để điều chỉnh các hoạt động kinh tế, giải quyết được những vấn đề khó khăn và phức tạp như các vấn đề xã hội và cơ sở hạ tầng
- Một đặc điểm mới đó là: trong thời đại ngày nay với chức năng của mình, Nhà nước thông qua các hoạt động thu, chi của Ngân sách địa phương
để giải quyết, xử lý một cách có hiệu quả đến các vấn đề quan trọng của nền kinh tế như: vấn đề về tăng trưởng kinh tế, về khoa học công nghệ, kiểm soát
và kiềm chế lạm phát, giải quyết việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội khác…, mà chỉ có thông qua công cụ Ngân sách Nhà nước mới giải quyết được một cách có hiệu quả và toàn diện
Các đặc điểm nêu trên của Ngân sách địa phương đều được bắt nguồn từ chính vai trò của chính quyền Nhà nước địa phương và những nhận thức mới đầy
đủ về các hoạt động thu chi ngân sách trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
Trang 301.2.5 Vai trò của chi Ngân sách địa phương đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Vai trò của chi Ngân sách địa phương đối với sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội về mặt chi tiết, có thể đề cập tới nhiều nội dung và nó có sự biểu hiện đa dạng, song trên góc độ tổng hợp có thể khái quát vai trò đó trong một
số khía cạnh sau đây:
Một là, ngân sách địa phương có vai trò quan trọng trong việc ổn định
và tăng cường bộ máy quản lý Nhà nước, quản lý Y tế, Giáo dục - Đào tạo, đảm bảo an ninh trật tự xã hội và các dịch vụ xã hội khác… tạo môi trường thuận lợi cho công tác quản lý xã hội và tạo điều kiện cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Thông qua các khoản chi thường xuyên Ngân sách địa phương đáp ứng các nhu cầu về chi tiêu cho hoạt động của bộ máy Nhà nước và các hoạt động chủ yếu của xã hội Có thể nói Ngân sách địa phương đã thường xuyên duy trì sự ổn định các hoạt động này một cách trực tiếp và hiệu quả hơn rất nhiều so với Ngân sách Trung ương Các hoạt động này chủ yếu là phục vụ không vì mục đích lợi nhuận nên việc chi tiêu chỉ có thể do Ngân sách đảm nhiệm, mà sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội muốn được ổn định, tăng trưởng và phát triển chỉ có thể trên cơ sở các hoạt động này được duy trì, ổn định và tăng cường
Như vậy, có thể nói các hoạt động tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho công tác quản lý Nhà nước, xã hội, quản lý Giáo dục - đào tạo, Y tế, Văn hoá… trên địa bàn chủ yếu là do Ngân sách địa phương đảm nhiệm
Hai là, bằng việc chi đầu tư cho kết cấu hạ tầng kinh tế, chi cho sự
nghiệp kinh tế, chi Ngân sách địa phương đã tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ
ổn định và phát kinh tế - xã hội trên địa bàn
Trang 31Các kết cấu hạ tầng kinh tế như: giao thông, thuỷ lợi, điện, nước trên địa bàn chủ yếu do Ngân sách địa phương chi, hay nói cách khác các khoản chi này chủ yếu là do Nhà nước địa phương đảm nhận, còn các thành phần kinh tế khác chủ yếu là sử dụng để phát triển sản xuất kinh doanh
Ba là, thông qua các khoản chi đầu tư phát triển, Ngân sách địa
phương góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Bằng việc đầu tư, Ngân sách địa phương có thể hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, các công trình thuộc ngành kinh tế mũi nhọn… có tác dụng đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Trong những trường hợp cần thiết, nguồn kinh phí Ngân sách địa phương có thể được sử dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp Đặc biệt Ngân sách địa phương trong điều kiện cho phép còn được huy động thêm nguồn lực góp phần tạo nguồn vốn rất quan trọng cho việc thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Bốn là, chi Ngân sách địa phương góp phần ổn định thị trường giá cả,
chống lạm phát, tạo môi trường lành mạnh cho nền kinh tế - xã hội
Bằng nguồn dự trữ tài chính, nguồn dự phòng của Ngân sách địa phương trong những trường hợp cần thiết Nhà nước có thể dùng nguồn dự trữ, dự phòng
để điều hoà các quan hệ hàng hoá, tiền tệ, vật tư để bình ổn giá trên thị trường
Việc chỉ ra những đặc điểm của Ngân sách địa phương trong nền kinh
tế - xã hội trên địa bàn và khẳng định vai trò của chi Ngân sách địa phương trong công cuộc đổi mới hiện nay, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu nhằm tăng cường công tác quản lý chi Ngân sách địa phương phục vụ có hiệu quả trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
1.3 Quản lý chi Ngân sách địa phương
1.3.1 Sự cần thiết phải quản lý chi Ngân sách địa phương
Một là, quản lý các khoản chi Ngân sách địa phương đảm bảo tiết kiệm
và có hiệu quả vừa là nguyên tắc, vừa là yêu cầu của quản lý kinh tế Tài chính
Trang 32Quản lý chặt chẽ các khoản chi Ngân sách địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc tập trung nguồn lực Tài chính để phát triển kinh tế - xã hội; thực hành tiết kiệm, chống các hiện tượng tiêu cực, chi tiêu lãng phí; góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ và làm lành mạnh hoá nền Tài chính địa phương nói riêng và quốc gia nói chung Bên cạnh đó, nó còn góp phần nâng cao trách nhiệm cũng như phát huy được vai trò của các ngành, các cấp, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến việc quản lý và sử dụng Ngân sách địa phương
Hai là, các khoản chi Ngân sách địa phương thường mang tính không
hoàn trả trực tiếp Tính không hoàn trả trực tiếp thể hiện ở chỗ các đơn vị được Ngân sách cấp phát kinh phí sẽ không phải hoàn trả lại trực tiếp cho Nhà nước số kinh phí đó sau một thời gian sử dụng, mà phải “hoàn trả” cho Nhà nước bằng chính kết quả công việc đã được Nhà nước giao cho Tuy nhiên, việc lượng hoá các kết quả của các khoản chi Ngân sách địa phương thường rất khó khăn và nhiều khi không toàn diện Mặt khác, lợi ích của các khoản chi Ngân sách địa phương mang lại thường ít gắn với lợi ích cụ thể, cục bộ
Vì thế, sự quan tâm của người sử dụng Ngân sách địa phương phần nào bị hạn chế Do vậy, cần thiết phải có các cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, kiểm soát các khoản chi của Ngân sách địa phương để đảm bảo cho việc Nhà nước sẽ nhận được những kết quả tương xứng với số tiền mà Nhà nước đã bỏ ra
Ba là, xuất phát từ tính chất, đặc điểm của các khoản chi Ngân sách địa
phương là diễn ra trên phạm vi rộng, liên quan đến nhiều đối tượng trong xã hội Trong khi đó, cơ chế quản lý chi Ngân sách địa phương thì chỉ quy định được những vấn đề chung nhất, mang tính nguyên tắc, không thể bao quát hết tất cả các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện chi Ngân sách địa phương Hơn nữa, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động chi Ngân sách địa phương cũng ngày càng đa dạng hơn, phức tạp hơn Điều này làm cho cơ chế
Trang 33quản lý chi nhiều khi không theo kịp với sự biến động của hoạt động chi Ngân sách địa phương Ví dụ như: cấp phát nhưng thực chất chỉ mang tính chất xuất quỹ Ngân sách địa phương, cho đơn vị rút về chi tiêu; phân bổ dự toán không chính xác; hệ thống tiêu chuẩn, định mức không đồng bộ, xa rời thực tế; cơ chế quản lý chi một số lĩnh vực đặc biệt như chi đầu tư xây dựng
cơ bản, chi chương trình mục tiêu, chi Ngân sách xã chưa phù hợp; công tác
kế toán, quyết toán chưa nghiêm túc, chặt chẽ Tình trạng này đã tạo ra những kẽ hở trong cơ chế quản lý chi Ngân sách địa phương, tạo môi trường cho tham nhũng, lãng phí nảy sinh Vì vậy, phải có cơ quan có thẩm quyền thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình chi tiêu để phát hiện và ngăn chặn kịp thời những hiện tượng tiêu cực; đồng thời phát hiện những kẽ hở trong cơ chế quản lý Từ đó, có những kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung hay kịp thời ban hành những cơ chế quản lý phù hợp, chặt chẽ hơn
Bốn là, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là xu thế tất yếu và là một
yêu cầu khách quan đối với một quốc gia trên con đường phát triển Một nền kinh tế hướng tới mở cửa và hội nhập hết sức năng động và đầy những thách thức gay gắt cũng đã và đang đặt ra yêu cầu về sự hoàn thiện chức năng của Tài chính Tài chính không chỉ đảm nhận chức năng phân phối, giám đốc bằng đồng tiền, mà từng bước phải tạo dựng, duy trì, kiểm soát có hiệu quả thị trường Tài chính và các luồng vốn cho sự tăng trưởng kinh tế Mặt khác, hội nhập là sự thừa nhận và vận hành nền kinh tế Tài chính tuân thủ các nguyên tắc, thông lệ, các chuẩn mực quốc tế Trong đó, tự do hoá, minh bạch, công khai… là những nguyên tắc cơ bản của hội nhập Chính vì vậy, vai trò của kiểm soát chi lại càng cần thiết, nhằm quản lý chặt chẽ ngân quỹ quốc gia, đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả Từ đó, tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời góp phần xây dựng một nền Tài chính công khai, minh bạch, đáp ứng được các yêu cầu của hội nhập
Trang 341.3.2 Nội dung quản lý chi Ngân sách địa phương
Quản lý chi Ngân sách địa phương gồm ba vấn đề: Lập dự toán Ngân sách địa phương, chấp hành Ngân sách địa phương, quyết toán Ngân sách địa phương
Đối với khâu lập dự toán, quản lý chi Ngân sách địa phương là việc
xem xét lại các dự báo, đánh giá số liệu dự toán của các đơn vị lập đảm bảo phù hợp với thực tế phát sinh, với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị hoặc của ngành
Đối với khâu chấp hành, là việc quản lý, giám sát việc thực hiện chi và
sử dụng Ngân sách địa phương, đối chiếu việc chấp hành Ngân sách địa phương với các tiêu chuẩn định mức của cấp có thẩm quyền phê duyệt, phải
có trong dự toán Ngân sách địa phương, đảm bảo đúng chế độ, với luật Ngân sách Nhà nước, trường hợp không đúng chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức thì yêu cầu cơ quan phân bổ Ngân sách địa phương điều chỉnh lại
Đối với khâu quyết toán ,quản lý chi Ngân sách là việc xem xét đánh
giá sự đúng đắn, tính chính xác của các loại báo cáo tổng hợp, từ đó đưa ra các kết luận
Trang 35Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Hệ thống các câu hỏi nghiên cứu
a Đến nay, sau gần 10 năm triển khai thực hiện luật ngân sách nhà nước năm 2002, công tác quản lý chi NSĐP vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế và tồn tại chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới Nhiều bất cập tồn tại trong cơ chế quản lý, sự phân định trách nhiệm, quyền hạn giữa các đơn vị, cơ quan trong việc quản lý NSNN chưa thực sự rõ ràng do vậy cũng như mọi địa phương khác trong cả nước, vấn đề kể trên luôn mang tính thời sự thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý và nghiên cứu của tỉnh Quảng Ninh
b Chi Ngân sách trong những năm qua thường xuyên được các ngành, các cấp đặc biệt quan tâm và tăng cường quản lý, từng bước phát huy được hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tài chính tiền tệ Tuy nhiên tình hình quản lý chi Ngân sách ngày càng phức tạp, đa dạng, nó đòi hỏi các nhà quản lý phải luôn thay đổi phương thức quản lý để phù hợp với yêu cầu đặt ra Trong phần cơ cấu chi Ngân sách đã nêu một số vấn đề quản lý ở một số khoản chi chủ yếu, phần này chúng tôi xin đề cập đến một số vấn đề có tính tổng hợp, khái quát nhất về công tác quản lý chi NSĐP trên địa bàn Quảng Ninh trong những năm gần đây:
Một là, công cụ quản lý chi NSNN là chế độ chính sách của Nhà nước,
trong mấy năm qua tuy đã ban hành được một số cơ chế chính sách cơ bản, song nhìn chung việc ban hành các chế độ chính sách của Nhà nước là quá chậm, còn nhiều bất hợp lý, thiếu đồng bộ, chủ yếu là mang tính chất xử lý tình thế là chính, điển hình là các chính sách về tiền lương, phụ cấp lương, công tác phí, học bổng học sinh, chế độ điện thoại, hội nghị, cơ chế thu học phí, viện phí…
Trang 36Hai là, căn cứ để chi là các chế độ, định mức, nhưng chế độ, định mức
ban hành thường không phù hợp, lạc hậu, chậm bổ sung, sửa đổi… nên thực
tế chế độ, định mức chỉ mang tính kế hoạch, hướng dẫn là chính, còn quá trình triển khai thực hiện thì ít được các cơ quan đơn vị tuân thủ chấp hành, vì
thế công tác quản lý chi hành chính rất tuỳ tiện, “dễ thêm, bớt và cắt xén”
Ba là, về vấn đề phân cấp chi, nghĩa là cấp nào và ai chi đó là vấn đề
nổi cộm và gay cấn hiện nay, mặc dù đã có Luật Ngân sách Nhà nước, song vấn đề triển khai thực hiện thì quá là phức tạp
Một điều dễ hiểu là ai cũng muốn chi nhưng trong Luật, trong các văn bản hướng dẫn thực hiện, đặc biệt là trong quá trình điều hành trực tiếp, các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa khẳng định được một cách dứt khoát
là ai được chi, cấp nào chi, cho nên thường xảy ra hiện tượng chi trùng lắp, chồng chéo giữa các cấp Ngân sách, giữa trung ương và địa phương, giữa ngành này với ngành khác, đơn vị này với đơn vị khác
Bốn là, nhiều cấp, nhiều cơ quan ban hành cơ chế chính sách nên chế
độ chi tiêu không đồng nhất, trùng lắp, trong quá trình thực hiện chi Ngân sách rất khó khăn và phức tạp, tạo ra sự thất thoát, lãng phí…
Tóm lại, thực trạng quản lý chi trong mấy năm qua, nhất là kể từ khi
Luật Ngân sách Nhà nước ra đời, có phần đi vào khuôn khổ pháp lý, song nói chung công tác quản lý chi Ngân sách trong những năm qua còn nhiều bất
cập, mới chỉ quản lý được “cái ngọn” là chính, còn "cái gốc, cái rễ" thì nhiều
khi còn đang bị bỏ ngỏ Vậy vấn đề đặt ra là trong sự nghiệp phát triển kinh tế
- xã hội trên địa bàn cần phải tìm ra và đổi mới cách quản lý “cái gốc, cái rễ”
đó, từ đó làm cho vấn đề chi Ngân sách địa phương được ổn định và ngày càng góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh lên tầm cao mới, tương xứng với vùng kinh tế trọng điểm ở phía bắc Tổ quốc Việt Nam
Trang 37c Những định hướng chung của việc tăng cường quản lý chi NSĐP cần hướng tới là:
Một là, chi Ngân sách địa phương phải đảm bảo về mặt kinh phí cho
chính quyền địa phương thực hiện các nội dung và mục tiêu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Ngân sách địa phương phải tăng chi trên cơ sở cân đối vững chắc, tích cực thì mới đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế - xã hội phát triển được
Trong điều kiện khó khăn hiện nay của địa phương việc đảm bảo kinh phí Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội là một yêu cầu tất yếu, nhưng cũng là một sự thách thức lớn đối với tỉnh Quảng Ninh
Hai là, chi Ngân sách địa phương phải được bố trí phân bổ tập trung, trực
tiếp cho các nội dung và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Ba là, chi Ngân sách địa phương phải có sức mạnh mới là: Tác động tăng
trưởng kinh tế - xã hội, khơi dậy các tiềm năng, khai thác các nguồn vốn ở tất cả các thành phần kinh tế, tạo cơ hội thuận lợi cho các vùng, các lĩnh vực
Bốn là, chi Ngân sách địa phương phải được bố trí phù hợp với từng
bước đi từng giai đoạn trong tiến trình của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Quảng Ninh là cả một quá trình, trong đó có những giai đoạn bước đi cụ thể, nên chi Ngân sách địa phương phải chủ động bố trí cho phù hợp với từng giai đoạn từng bước đi cụ thể đó
Năm là, chi Ngân sách địa phương phải được bố trí đảm bảo cho sự
phát triển bền vững, ưu tiên cho chi đầu tư phát triển ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo để thúc đảy phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng này; nâng cao mức sống của nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển, giảm dần sự chênh lệch so với các vùng đô thị, tạo môi trường sống của con người gần với thiên nhiên và đảm bảo xanh, sạch, đẹp
Trang 38Sáu là, chi Ngân sách địa phương phải được quản lý khoa học, tích cực
phù hợp với mục đích, yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội
Các yêu cầu trên thấy rằng chi Ngân sách địa phương trên địa bàn Quảng Ninh cần phải mạnh dạn đổi mới một cách toàn diện
2.2 Các phương pháp sử dụng trong nghiên cứu
Phương pháp luận
Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin
Phương pháp thu thập thông tin
Từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về ngân sách nhà nước nói chung và quản lý chi ngân sách địa phương nói riêng ,… Những thông tin về tình hình cơ bản , tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương , các chính sách của địa phương đối với quản lý chi ngân sách địa phương và các vấn đề có liên quan đến đề tài do các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ninh cung cấp
Các tài liệu , số liệu thứ cấp có liên quan đến đề tài còn được thu thập thông qua các ấn phẩm , các tài liệu , báo cáo của các địa phương , của ngành Tài chính, website của Chính phủ và các Bộ, Ngành khác có liên quan
Phương pháp xử lý thông tin
Sau khi thu thập, các thông tin được tiến hành phân loại, lựa chọn, sắp
xếp thành các bảng số liệu để đưa vào sử dụng trong nghiên cứu đề tài
Phương pháp phân tích thông tin
* Phương pháp so sánh
- So sánh là việc đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế, xã hội
đã được lượng hoá có cùng một nội dung, tính chất tương tự nhau:
- Biểu hiện bằng số: Có thể tính theo giá trị tuyệt đối hoặc tỷ lệ phần trăm (%)
Trang 39- Phương pháp so sánh gồm các dạng:
+ So sánh các nhiệm vụ kế hoạch
+ So sánh qua các giai đoạn khác nhau
+ So sánh các đối tượng tương tự:
+ So sánh các yếu tố, hiện tượng cá biệt với trung bình hoặc tiên tiến Sử dụng phương pháp so sánh thống kê trong nghiên cứu đề tài để so sánh kết quả hoạt động chi ngân sách nhà nước giữa các năm , các thời kỳ , hoặc cơ cấu của các loại chi ngân sách trong tổng số chi ngân sách địa
phương ở tỉnh QN
* Phương pháp thống kê mô tả:
Thống kê mô tả được sử dụng để mô tả những đặc tính cơ bản của dữ
liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau
Thống kê mô tả và thống kê suy luận cùng cung cấp những tóm tắt đơn giản
về mẫu và các thước đo Cùng với phân tích đồ họa đơn giản, chúng tạo ra
nền tảng của mọi phân tích định lượng về số liệu Để hiểu được các hiện tượng và ra quyết định đúng đắn, cần nắm được các phương pháp cơ bản của
mô tả dữ liệu Có rất nhiều kỹ thuật hay được sử dụng Có thể phân loại các
kỹ thuật này như sau:
+ Biểu diễn dữ liệu bằng đồ họa trong đó các đồ thị mô tả dữ liệu hoặc giúp so sánh dữ liệu;
+ Biểu diễn dữ liệu thành các bảng số liệu tóm tắt về dữ liệu;
+ Thống kê tóm tắt (dưới dạng các giá trị thống kê đơn nhất) mô tả dữ liệu Dựa trên các số liệu thống kê để mô tả sự biến động cũng như xu hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế xã hội Sử dụng phương pháp này trong nghiên cứu đề tài để mô tả quá trình chi ngân sách và quản lý chi ngân sách địa phương ở tỉnh Quảng Ninh
Phương pháp chuyên gia
Sử dụng phương pháp này nhằm thăm dò ý kiến của các chuyên gia, các lãnh đạo có kinh nghiệm đánh giá về hoạt động thu, chi và quản lý chi ngân sách
Trang 40địa phương và những dự báo về chính sách chi ngân sách nhà nước, về đổi mới trong quản lý chi ngân sách địa phương trong tương lai ở tỉnh Quảng Ninh
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
Đề tài đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu chủ yếu sau:
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương
+ Về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân (theo giá so sánh ) (%);
- Giá trị sản xuất các ngành công nghiệp, nông lâm nghiệp và dịch vụ (tỷ đồng);
- Tốc độ xuất khẩu (%);
- Thu ngân sách trên địa bàn (tỷ đồng);
- Thu nhập bình quân đầu người (USD);
- Tỷ lệ rừng che phủ đạt 50%;
- Lượng khách du lịch (người)
+ Về văn hoá - xã hội - giáo dục - y tế:
- Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm (%);
- Số lao động được giải quyết việc làm (người);
- Tỷ lệ hộ đói, nghèo (%);
- Tỷ lệ số xã có điện (%); Số máy điện thoại/100 dân (máy/100 dân);
- Tỷ lệ hộ đạt gia đình văn hoá mới (%);
- Tỷ lệ hoàn thành chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục trung học cơ sở (%)
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh hoạt động chi ngân sách địa phương:
- Tốc độ và tỷ trọng chi NSĐP với GDP (%);
- So sánh chi NSĐP với chi NSTW và chi NSNN trên địa bàn (%);
- Cơ cấu và tỷ trọng chi đầu tư, chi thường xuyên trong NSĐP (%);
- Cơ cấu chi đầu tư phát triển phân theo loại XDCB (XDCB xây lắp và XDCB khác) (%);
- Cơ cấu chi Ngân sách địa phương theo phân cấp quản lý ngân sách (gồm các cấp: tỉnh, huyện, xã) (%);
* Nhóm chỉ tiêu phản ánh hoạt động quản lý chi ngân sách