1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ

92 1,1K 10
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ
Tác giả Nguyễn Nhật Hưng
Người hướng dẫn Th.s Võ Hòa Loan
Trường học Khoa KTNN & PTNT
Thể loại chuyên đề tốt nghiệp
Thành phố Phú Thọ
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 351 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận Văn: Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Có thể nói rằng, một đất nước hay một nền kinh tế dù phát triển đến đâu thì cũng không thể không quan tâm tới việc làm sao để kinh tế nông nghiệp phát triển được Nông nghiệp và nông thôn là hai vấn đề cần quan tâm phát triển, như vậy mới đảm bảo cho một nền kinh tế phát triển nhanh, cân đối và bền vững Việt nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, chúng ta đang trong quá trình thực hiện công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nhận thức rõ được tầm quan trọng của nông nghiệp nông thôn Chính vì lẽ đó mà Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tồn tại và phát triển Sự quan tâm đó được thể hiện bằng các chủ trương, đường lối, chính sách…trong đó có ưu tiên phát triển kinh tế trang trại (KTTT) trong NN & NT.

Khái niệm về trang trại hayKTTT đã trở nên quen thuộc,KTTT đã và đang tồn tại, phát triển ngày càng nhanh, mạnh và vững chắc cả về sô lượng và chất lượng, cũng như tính ổn định mà trang trại đem đến cho sản phẩm của mình Những năm gần đây, với cơ chế đổi mới của Đảng và Nhà nước, KTTT đã đạt được rất nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn, đem lại hiệu quả cao trong việc khai thác các nguồn lực, hạn chế đi nhiều sự manh mún tự cung tự cấp, tạo ra

sự đa dạng trong sản phẩm nông nghiệp, đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm, góp phần giải quyết được các vấn đề về kinh tế xã hội, ổn định đời sống cho nhân dân.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, KTTT vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế thiếu sót như: hiệu quả kinh tế chưa như mong muốn từ việc sử dụng đất chưa hợp lý, sản phẩm làm ra khó

Trang 2

tiêu thụ, giá trị sản phẩm vẫn còn ở mức thấp…ngoài ra, còn có nhiều bất cập về cơ chế, chính sách của Nhà nước chưa được triển khai tới các trang trại.

Huyện Phù Ninh thuộc tỉnh Phú Thọ, là một huyện trung du miền núi phía Bắc, huyện có những điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các mô hình (MH) KTTT: đất đai rộng lớn, lao động dồi dào, khí hậu đa dạng…bên cạnh đó, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước cũng như các cấp chính quyền địa phương, một lợi thế rất lớn

Cùng với sự phát triển của loại hình kinh tế này trên cả nước, KTTT trên địa bàn huyện Phù Ninh cũng đã có những bước phát triển đáng kể Hiện nay, trên địa bàn huyện có nhiều MH KTTT, sau một thời gian hình thành và phát triển đã hát huy được kết quả bước đầu, mang lại những thắng lợi mới Nhưng sự phát triển KTTT trong huyện hiện nay còn gặp nhiều vấn đề khó khăn mà chưa giải quyết được: trình độ quản

lý còn hạn chế; hiểu biết về khoa học kỹ thuật còn ít; thông tin về vốn, về thị trường còn nhiều thiếu xót;…

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễnở địa phương, em đã lựa chọn nghiên cứu đề

tài " Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ".

Để hoàn thành việc nghiên cứu về đề tài này, em xin chân thành cảm ơn Thạc sỹ

Võ Hòa Loan và các thầy cô trong khoa KTNN&PTNT, em cũng xin cảm ơn các cô bác cán bộ trong Phòng Kinh tế thuộc UBND huyện Phù Ninh, nơi em đã về thực tế suốt 4 tháng Tuy nhiên, với trình độ lý luận còn non nớt nên vẫn còn nhiều thiếu xót trong việc trình bày đề tài này, em mong có sự đóng góp ý kiến.

Trang 3

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Hệ thống hoá lý luận và thực tiễn về KTTT

- Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh của một số MH KTTT trên địabàn huyện nhà

- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinhdoanh của các MH KTTT trên địa bàn huyện

3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trang 4

Đề tài tập trung nghiên cứu mô hình một số trang trại điển hình trên địa bànhuyện cùng một số mối quan hệ giữa các ngành nghề trong trang trại.

4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

+ Không gian: Các MH KTTT trên địa bàn các xã thuộc huyện Phù Ninh

+ Thời gian: Nghiên cứu tình hình phát triển KTTT qua 3 năm (2004 - 2006).+ Thời gian thực hiện đề tài từ 03/01/2007 đến 28/4/2007

PHẦN TRÌNH BÀY NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG I

Cơ sở lý luận về KTTT trong nông nghiệp nông thôn.

CHƯƠNG II

Trang 5

Thực trạng phát triển KTTT ở huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

Trang 6

1.1.1 Trang trại

Để có một khái niệm thật đúng đắn và chuẩn mực về trang trại là rất khó, nóthường bị lẫn lộn với khái niệm hộ nông dân Chúng ta cần có sự phân biệt rõ ràng giữatrang trại và hộ nông dân dựa trên những tiêu chí mà Nhà nước đã quy định

Theo Ellis năm 1998 thì "hộ nông dân là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộngđất, sử dụng lao động gia đình vào sản xuất, luôn nằm trong một hệ thống kinh tế rộnghơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bởi sự tham gia từng phần vào thị trường với mức

độ hoàn hảo không cao"

Theo tác giả Nguyễn Thế Nhã thì "trang trại là hình thức tổ chức nông nghiệp dựatrên cơ sở gia đình là chủ yếu, tự chủ sản xuất và bình đẳng với các tổ chức kinh doanhkhác"

Trang trại là đơn vị sản xuất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp là chủyếu (theo nghĩa rộng bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản) Như vậy, trang trại khônggồm những đơn vị thuần tuý hoạt động chế biến và tiêu thụ sản phẩm Nếu có hoạt độngchế biến hay tiêu thụ sản phẩm thì đó là những hoạt động kết hợp với hoạt động sản xuấtnông nghiệp

Theo những giáo trình em đã được học, trang trại ban đầu là hình thức tổ chức sảnxuất nông, lâm, ngư cơ sở do các chủ trang trại gia đình và chủ trang trại tư nhân trựctiếp tiến hành tổ chức sản xuất trên một khu đất tập trung, liền khoảnh đủ lớn để chuyêncanh, thâm canh, ứng dụng những công nghệ mới nhằm cung cấp hàng hoá thườngxuyên cho thị trường và quản lý chặt chẽ để tiết kiệm các chi phí sản xuất Mục đích chủyếu của trang trại là sản xuất hàng hoá; tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền

Trang 7

sử dụng của chủ thể độc lập; sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu

tố sản xuất được tập trung tương đối lớn; với cách tổ chức tiến bộ và trình độ kỹ thuậtkhá cao; hoạt động tự chủ và luôn gắn với nhu cầu từ thị trường Khi đi vào kinh tế thịtrường thì hoạt động của trang trại không chỉ dừng lại ở tổ chức và sản xuất mà được mởrộng sang kinh doanh với mục đích thu lợi nhuận tối đa và từ đấy trang trại phải xử lýnhiều vấn đề kinh tế, phải đưa ra các chiến lược kinh doanh thích ứng với thị trường,phải quản lý theo phương thức marketing, theo chế độ kế hoạch và hạch toán gắn vớiphân tích tài chính với hiệu quả kinh, với doanh lợi

1.1.2 Kinh tế trang trại

Khác với trước đây, ngày nay trang trại phải được hiểu đầy đủ là kinh tế trangtrại, hoặc kinh tế của chủ trang trại - đơn vị kinh doanh cơ sở trực tiếp sản xuất trồng trọttrên đồng ruộng và chăn nuôi trong chuồng trại

Theo PGS.TS Lê Trọng thì "kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở làdoanh nghiệp trực tiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hiệp tác vàphân công lao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầuhết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầu củanền kinh tế thị trường được Nhà nước bảo hộ theo luật định"

Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thuỷsản với mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá, có quy mô ruộng đất và các yếu tố sảnxuất đủ lớn, có trình độ kỹ thuật cao, tổ chức và quản lý tiến bộ

Nhận thức được vai trò của kinh tế trang trại trong nền kinh tế đất nước, nhất làtrong quá trình đưa nông nghiệp nông thôn phát triển, Nghị quyết của Chính phủ số

Trang 8

03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trại đã chỉ rõ: "kinh tế trang trại làhình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộgia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt,chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông,lâm, thuỷ sản"

Để góp phần nhận dạng đúng trang trại, các tiêu chí nhận dạng trang trại cần đápứng các yêu cầu sau:

- Phải chứa đựng những đặc trưng của trang trại, nhất là đặc trưng cơ bản củatrang trại Yêu cầu này nhằm đảm bảo tính chính xác của việc nhận dạng trang trại trongcác cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp

- Đơn giản hoá và dễ vận dụng khi nhận dạng trang trại

- Phản ánh được tính phong phú của các loại hình trang trại và sự biến động của

* Về số lượng cụ thể: Tuỳ theo loại hình kinh doanh trang trại và những điều kiện

cụ thể để quy định Hiện nay, trang trại được quy định là đơn vị kinh doanh sản xuấtnông nghiệp có giá trị sản phẩm hàng hoá từ 40 triệu đồng trở lên đối với miền Bắc, và

từ 50 triệu đồng trở lên đối với miền Nam (ở Mỹ năm 1970, người ta quy định ở mức

Trang 9

1000 USD, tương đương 16triệu đồng) Có những trường hợp cụ thể chưa thể căn cứ vàotiêu chí này, ví dụ trang trại đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản, hoặc mới bước vàokinh doanh, do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp tuy chưa đạt yêu cầu này, nhưng nếutính tới khả năng trang trại sẽ đạt được khi đi vào kinh doanh và các tiêu thức khác nếuđạt vẫn có thể coi là trang trại khi vận dụng tiêu chí này để xem xét.

+ Thứ hai: Xét về quy mô diện tích ruộng đất (nếu là trang trại trồng trọt là sản

xuất chính), số lượng gia súc, gia cầm (nếu trang trại chăn nuôi là chính)

* Về số lượng cụ thể: Cũng tuỳ thuộc loại hình kinh doanh (cây hàng năm hay

cây lâu năm, cây có giá trị kinh tế thấp hay cây có giá trị kinh tế cao, ví dụ: Hiện naytrong trồng trọt, trang trại được quy định là đơn vị kinh doanh nông nghiệp có quy môdiện tích 2ha với cây hàng năm ở phía Bắc, 3 ha với cây hàng năm ở Tây nguyên vàĐồng bằng sông Cửu long… Có 3 ha với cây lâu năm ở tất cả các miền trong cả nước.Đối với những cây trồng có giá trị kinh tế cao như hoa, cây cảnh thì diện tích có thểxuống đến 0,5 ha

+ Thứ ba: Xét về quy mô cho sản xuất kinh doanh, trong đó lưu ý hai yếu tố là

vốn và lao động Quy mô sản xuất của trang trại phải tương đối lớn và vượt trội so vớikinh tế hộ nông dân Các tiêu chí này cũng được quy định cụ thể cho từng loại hình kinhdoanh của trang trại Hiện nay, người ta quy định trang trại có vốn đầu tư trên 20 triệuđồng, thuê từ 2 lao động trở lên

Hiện nay, theo Thông tư liên tịch số 62 ngày 20/5/2003 của Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê, một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp,

Trang 10

thuỷ sản được xác định là trang trại chỉ cần đạt tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hoá,dịch vụ bình quân một năm, hoặc về quy mô sản xuất trang trại.

1.1.3 Tính tất yếu của việc hình thành kinh tế trang trại

1.1.3.1 Vị trí của kinh tế trang trại trong nền kinh tế

Kinh tế trang trại là một tế bào quan trọng của nền nông nghiệp hàng hóa, nó có

vị trí chủ lực trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.Kinh tế trang trại có quy mô chuyên môn hoá cao và đa dạng hoá có hiệu quả, thoát khỏi

sự tự cung tự cấp hướng sang sản xuất hàng hoá theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường

Kinh tế trang trại là bộ phận cấu thành của hệ thống kinh tế nông nghiệp, nó làđơn vị kinh tế trung gian tiếp nhận và chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại

Kinh tế trang trại là đối tượng để tổ chức lại nền kinh tế nông nghiệp, dựa vào đó

mà Nhà nước có thể đầu tư, hợp tác và tạo mối quan hệ gắn kết giữa thành thị và nôngthôn

1.1.3.2 Vai trò của kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại là hình thức doanh nghiệp trực tiếp sản xuất ra nông sản phẩm,hàng hóa cho xã hội, phù hợp với đặc điểm sản xuất nông nghiệp và quy luật sinh họccủa cây trồng vật nuôi

Kinh tế trang trại góp phần phát triển kinh tế của nhiều vùng, tập trung khai thácnhững vùng đất trống, đồi núi trọc, những vùng hoang hoá tạo vai trò to lớn về mặt xã

Trang 11

hội Đồng thời sử dụng lao động dư thừa đặc biệt là lao động thời vụ ở nông thôn gópphần cải thiện đời sống, tránh những tệ nạn xã hội.

Kinh tế trang trại có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, xây dựng vàphát triển nông thôn mới tiến tới phát triển bền vững nền nông nghiệp hàng hoá, nềnnông nghiệp sinh thái bền vững

1.1.3.3 Đặc trưng của kinh tế trang trại

Trang trại sản xuất kinh doanh nông sản phẩm hàng hoá cho thị trường, cho nhucầu của xã hội Vì vậy, quy mô sản xuất hàng hóa của trang trại phải có mức độ tươngđối lớn, tỷ suất hàng hoá thường đạt 70 - 80% trở lên Tỷ suất hàng hoá càng cao càngthể hiện bản chất và trình độ phát triển của kinh tế trang trại, hoạt động sản xuất củatrang trại phải có sự khác biệt với hộ sản xuất hàng hóa nhỏ, đặc biệt là hộ sản xuất tựcấp tự túc Đây cũng là điểm đặc thù của trang trại trong điều kiện kinh tế thị trường vớicác hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tập trung như trước đây

Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá các điều kiện và yếu tố sản xuất caohơn hẳn so với sản xuất của nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, đầu congia súc, lao động, giá trị nông sản hàng hoá Quy mô sản xuất của trang trại trước hết làquy mô đất đai được tập trung đến mức đủ lớn theo yêu cầu của sản xuất hàng hóa,chuyên canh và thâm canh, song không nên vượt quá tầm kiểm soát quá trình sản xuất -sinh học trên đồng ruộng hoặc trong chuồng trại của chủ trang trại

Mục đích sản xuất của trang trại là sản xuất nông, lâm, thuỷ sản hàng hoá với quy

mô lớn, chính vì vậy mà người chủ trang trại cũng cần phải có một trình độ quản lý vàtrình độ chuyên môn nhất định Người làm chủ trang trại hay chủ kinh tế cá thể (bao

Trang 12

gồm kinh tế gia đình và kinh tế tiểu chủ) nắm một phần quyền sở hữu và toàn bộ quyền

sử dụng đối với ruộng đất và tư liệu sản xuất Người làm chủ trang trại là người có ý trí

và có năng lực tổ chức quản lý, có kinh nghiệm và kiến thức nhất định về sản xuất kinhdoanh nông nghiệp và thường là người trực tiếp quản lý trang trại của mình Những đặctrưng ấy được so sánh với chủ nông hộ tự cấp, tự túc, vì vậy mà đây có thể coi là nhữngđặc trưng phân biệt chủ trang trại với chủ nông hộ sản xuất tự cấp, tự túc Những đặctrưng trên của chủ trang trại không được hội tụ đủ ngay từ đầu mà được hoàn thiện dầncùng với quá trình phát triển của trang trại Trang trại được sở hữu bởi một cá thể độc lậpnên trang trại hoàn toàn tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ lựa chọn phươngthức sản xuất, quyết định kỹ thuật công nghệ cho đến tiếp cận thị trường, tiêu thụ sảnphẩm… Đây là đặc trưng cho phép phân biệt giữa trang trại và hộ công nhân trong cácnông, lâm trường đang trong quá trình chuyển đổi ở nước ta hiện nay

Trang trại có cách thức quản lý và tổ chức đi dần vào phương thức kinh doanh,song trực tiếp, đơn giản và gọn nhẹ lại vừa mang tính gia đình vừa mang tính doanhnghiệp Tổ chức quản lý sản xuất của trang trại tiến bộ hơn, trang trại có nhu cầu cao hơnnông hộ về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và thường xuyên tiếp cận thị trường.Điều này được thể hiện:

* Do mục đích của trang trại là sản xuất hàng hoá nên hầu hết các trang trại đềukết hợp giữa chuyên môn hoá với phát triển tổng hợp Đây là điều khác biệt của trangtrại so với hộ sản xuất tự cấp, tự túc

Trang 13

* Cũng do sản xuất hàng hoá, đòi hỏi các trang trại phải ghi chép, hạch toán kinhdoanh, tổ chức sản xuất khoa học trên cơ sở những kiến thức về môn học, về kinh tế thịtrường.

* Sự hoạt động của trang trại đòi hỏi phải tiếp cận với thị trường, để biết được thịtrường cần loại sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại ra sao, giá

cả và thời điểm cung cấp như thế nào… Nếu chủ trang trại không có những thông tin vềcác vấn đề trên, hoạt động kinh doanh sẽ rất tù mù, không mang lại hiệu quả như mongmuốn Vì vậy, tiếp cận thị trường là yêu cầu luôn luôn, cấp thiết với mỗi trang trại

1.1.3.4 Những yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển của KTTT

Sản xuất cần có sự kết hợp của nhiều yếu tố, các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đếnquy mô và sự phát triển của kinh tế trang trại, bao gồm các yếu tố:

- Đất đai: Là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế được, là yếu tố đầutiên trong việc xác định tiêu chí trang trại, các trang trại muốn hình thành cần có mộtdiện tích đất đủ lớn với quy mô nhất định Dựa vào đó mà người ta có thể tập trung quỹđất bằng các hình thức khác nhau để phù hợp với ý đồ sản xuất kinh doanh của chủ trangtrại

- Lao động: Là yếu tố quan trọng để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, nógóp phần quyết định đến sự phát triển của trang trại Trong lao động, ngoài chú ý đếnmặt số lượng thì yếu tố chất lượng có ý nghĩa rất quan trọng đối với tình hình sản xuấtkinh doanh của chủ trang trại Vì lao động am hiểu kỹ thuật, hiểu biết thị trường… đảmbảo cho trang trại sử dụng hợp lý các nguồn lực, sản xuất đúng hướng, đạt hiệu quả caotrong kinh doanh

Trang 14

- Vốn: Là yếu tố quan trọng để thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh, nó là cơ

sở để chủ trang trại hình thành ý tưởng kinh doanh và quy mô sản xuất Vốn để đảm bảocho trang trại đầu tư đúng mức, đảm bảo phù hợp với quy luật của cây trồng vật nuôi đểđạt năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất kinh doanh

- Chính sách: Là tập hợp các chủ chương và hành động do Chính phủ thực hiện,các chính sách tác động đến trang trại bao gồm: đất đai, tín dụng, lao động… Chính sáchđúng, nó sẽ là động lực cho sự phát triển còn đối với một chính sách không hợp lý sẽkìm hãm sự phát triển

- Thị trường: Thị trường ở đây bao gồm cả đầu tư vào và đầu tư ra, thị trường ổnđịnh thì các chủ trang trại yên tâm đầu tư hơn trong sản xuất, đầu tư và thúc đẩy sản xuấtngày càng nhiều hơn

- Khoa học và công nghệ: Là yếu tố thúc đẩy nhanh hơn công cuộc công nghiệphóa - hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển mộtcách bền vững, tạo nhiều sản phẩm, đa dạng về chủng loại, với chất lượng cao

- Ngoài các yếu tố kể trên còn có các yếu tố khác như khí hậu, thời tiết, địa hình,phong tục tập quán… có ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành và phát triển của kinh

tế trang trại Vì vậy, trong quá trình phát triển của kinh tế trang trại cần phải coi trọngcác yếu tố ảnh hưởng một cách đúng đắn để kinh tế trang trại phát triển một cách đúnghướng đạt hiệu quả cao trong sản xuất kinh doanh

1.1.4 Các loại hình trang trại

Trang trại có những loại hình khác nhau với các nội dung và quản lý khác nhau.Xét về tính chất sở hữu có các loại hình trang trại:

Trang 15

+ Trang trại gia đình:

Đây là loại hình trang trại phổ biến chủ yếu trong nông, lâm, ngư nghiệp với cácđặc trưng, được hình thành từ hộ nông dân, từ kinh tế hộ sản xuất tự cấp, tự túc đi dầnvào kinh doanh sản xuất hàng hoá và trở thành hộ sản xuất giỏi rồi chuyển lên kinh tếtrang trại gia đình

Loại hình này chiếm số đông, thông thường khoảng 60 -80% tổng số trang trại,tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể ở từng vùng, từng địa phương Mỗi gia đình là một chủthể kinh doanh, có tư cách pháp nhân do chủ hộ hay người có uy tín và năng lực tronggia đình đứng ra quản lý Ruộng đất tuỳ theo từng thời kỳ có nguồn gốc khác nhau (từđịa chủ, thực dân chuyển sang cho hộ nông dân, từ Nhà nước giao, do kế thừa, do muabán hay chuyển nhượng) Quy mô ruộng đất khác nhau giữa các trang trại ở các nướckhác nhau hay ngay trong cùng một nước, nhưng so với các loại hình trang trại khác,trang trại gia đình có quy mô đất nhỏ hơn

Vốn của trang trại do nhiều nguồn tạo nên, như vốn của nông hộ tích luỹ thànhvốn cho trang trại; vốn vay; vốn cổ phần; vốn liên kết; vốn trợ cấp khác; nhưng trongtrang trại gia đình thì nguồn vốn tự có chiếm tỷ trọng lớn và chủ yếu được tích luỹ theophương châm "lấy ngắn nuôi dài" Điều tra 3.044 trang trại năm 1999 của trườngĐH_KTQD cho thấy, vốn tự có của trang trại chiếm 91,03% tổng số vốn của trang trại,

có nơi như Đăk lắc chiếm tới 96%, nơi có tỷ trọng vốn tự có thấp như Sơn La cũng có tỷ

lệ lên tới 79,9%

Sức lao động của các trang trại cũng do nhiều nguồn, của trang trại thuê mướnngoài, nhưng trong trang trại gia đình, lao động chủ yếu là lao động thời vụ, lao động

Trang 16

thuê thường xuyên chỉ có ở trang trại gia đình có quy mô lớn, kinh doanh sản phẩmmang tính liên tục như trồng hoa, trồng rau, chăn nuôi bò sữa…

Quản lý trang trại tuỳ theo quy mô khác nhau có các hình thức quản lý khác nhau,nhưng trang trại gia đình thì do trực tiếp gia đình quản lý, nếu chủ trang trại không cóđiều kiện trực tiếp quản lý thì giao cho một thành viên trong gia đình có năng lực và uytín quản lý

+ Trang trại được uỷ thác:

Loại này thường được giao cho người nhà, bạn bè quản lý sản xuất kinh doanhtừng việc theo từng vụ hay liên tục nhiều vụ Các trang trại loại này thường có quy mônhỏ, đất ít nên đã chuyển sang làm nghề khác, nhưng không muốn bỏ ruộng đất vì sợ saunày muốn trở về khó đòi hay chuộc lại ruộng đất Ở nhiều nước, hình thức này trở nênphổ biến, đặc biệt là các vùng lãnh thổ ở Châu Á như Đài Loan có tới 75% chủ trang trạigia đình áp dụng hình thức này…

Các loại hình trang trại khi được phân chia theo hướng sản xuất:

+ Trang trại kinh doanh nông, công nghiệp, dịch vụ đa dạng, nhưng hoạt động nôngnghiệp vẫn là chủ yếu

+ Trang trại sản xuất cây thực phẩm, các trang trại loại này thường có ở vùng sản xuấtthực phẩm trọng điểm xung quanh đô thị, khu công nghiệp, gần thị trường tiêu thụ

+ Trang trại sản xuất cây ăn quả nằm ở vùng cây ăn quả tập trung, có cơ sở chế biến vàtiêu thụ thuận lợi

+ Trang trại nuôi trồng sinh vật cảnh thường phát triển ở gần khu đô thị, các khu du lịchlớn, thuận tiện cho việc tiêu thụ

Trang 17

+ Trang trại nuôi trồng đặc sản như hươu, nai, trăn, rắn, ba ba, cây dược liệu… nằm ởnhững nơi thuận lợi cho nuôi trồng và tiêu thụ.

+ Trang trại chăn nuôi đại gia súc như trâu, bò…, gia súc như lợn hoặc gia cầm thì có thểchăn nuôi tổng hợp hoặc chuyên môn hoá theo từng loại gia súc

+ Trang trại kinh doanh nông, lâm nghiệp tổng hợp thường phát triển ở vùng trung du vàmiền núi có điều kiện về đất đai nhưng hạn chế về điều kiện thị trường tiêu thụ

1.1.5 Nhận định xu hướng phát triển của mô hình kinh tế trang trại

Phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng kinh tế trang trại là con đường tất yếu

ở nước ta trong những năm tới đây Sự phát triển mô hình kinh tế trang trại theo hướngsau:

+ Khuyến khích phát triển các hình thức kinh tế trang trại, nhưng đặc biệt quan tâm đếnhình thức trang trại gia đình

+ Khuyến khích mọi hình thức kinh doanh của trang trại, nhưng tập trung phát triển cáclâm trại, các trang trại chuyên môn hóa cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi đại giasúc… ở các vùng trung du và miền núi Đối với vùng đồng bằng, nên khuyến khích cáctrang trại chăn nuôi lợn, gia cầm, gắn sản xuất nông nghiệp với chế biến… Đối với vùngven biển, khuyến khích các trang trại nuôi trồng thuỷ sản, hải sản

+ Khuyến khích các hình thức trang trại tư nhân phát triển ở các vùng đất trống đồi núitrọc, đất hoang hoá ở trung du, miền núi và vùng ven biển

1.1.6 Cơ sở thực tiễn

1.1.6.1 Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Trang 18

Các mạng công nghiệp và cách mạng tư sản nổ ra ở Châu Âu kéo theo sự pháttriển của kinh tế hàng hoá thay thế kinh tế tự cung tự cấp, tạo ra số lượng hàng hoá nhiềuhơn, chất lượng tốt hơn.

Với hai hình thức kinh tế trang trại chủ yếu là trang trại tư bản và trang trại giađình (gia trại), kinh tế trang trại đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển ở một

số nước đặc biệt là các nước công - nông nghiệp Mỗi nước có một cách quản lý riêng,

có quy định cụ thể riêng về tiêu chí trang trại, nó giúp thúc đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hoá Cơ cấu trang trại đã thay đổi dần theo thời gian

- Kinh tế trang trại ở Pháp: Theo tài liệu thống kê cho thấy số lượng trang trại ởPháp đã giảm qua các thời kỳ nhưng quy mô diện tích lại tăng thêm một lượng đáng kể

Sự giảm về số lượng trang trại do lao động bị thu hút vào các ngành công nghiệp, đấtnông nghiệp dần bị thay thế, lại lâm vào cảnh chiến tranh suốt từ những năm 1930 -

1960 Do đó, đã làm cho số lượng trang trại giảm đi chỉ còn 982.000 trang trại, vào năm

1987 đã giảm đi gần 4 lần so với năm 1929 Tuy nhiên, do nhu cầu hàng hoá nông sảnngày càng tăng lại được thừa hưởng những thành quả của khoa học kỹ thuật, áp dụngtrình độ cao vào sản xuất, dùng máy móc hiện đại nên quy mô trang trại đã được tăng lênphù hợp với yêu cầu khoa học kỹ thuật Kết quả đạt được là số thực phẩm gấp 2,2 lầnnhu cầu trong nước, tỷ lệ hàng hoá về hạt ngũ cốc đạt 95%, thịt sữa là 70 - 80%, rau quảtrên 70%

Kinh tế trang trại ở Nhật Bản: Từ năm 1950 1970, trang trại có quy mô 0,3 1ha giảm từ 66% còn 57% trong khi đó trang trại có quy mô từ 1 - 2ha tăng từ 24,5 -32% Nhóm trang trại có quy mô bình quân từ 2 - 5ha tăng từ 8 - 11% Đến nay, khi nền

Trang 19

-kinh tế chuyển dần sang nền -kinh tế tri thức, -kinh tế trang trại vẫn đang phát triển giữ vaitrò quan trọng trong công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn,thu hút lao động nhàn rỗi và cải tạo môi trường.

- Kinh tế trang trại ở Đài Loan: Đài Loan là nước có nền công nghiệp đang pháttriển, cơ cấu kinh tế chuyển dần sang công nghiệp và dịch vụ Từ năm 1955 có 732.000trang trại đến năm 1970 là 880.274 trang trại, cùng với sự tăng lên về số lượng là sựgiảm đi về quy mô (từ 1,29ha / trang trại xuống còn 0,83ha / trang trại) Đến năm 1984,

số lượng trang trại giảm còn 796.000 trang trại và quy mô tăng lên 1,42ha / trang trại.Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các trang trại ngày càng nâng cao về số lượng

và chất lượng sản phẩm hàng hoá của mình

1.1.6.2 Sự hình thành và phát triển KTTT ở Việt Nam

Cùng với sự phát triển của đất nước, kinh tế trang trại ở nước ta cũng có nhữngbước phát triển phức tạp qua các mốc lịch sử Từ thời kỳ Nhà Lý - Trần đến thời kỳ NhàNguyễn và trước Cách mạng tháng Tám 1945, trang trại ở Việt nam đã phát triển rấtnhiều, mặc dù có những lúc chỉ là sự tồn tại của các điền trang, thái ấp hoặc sự khai thácquá mức của thực dân Pháp

Thời kỳ 1945 -1975: Ở miền Nam, các đồn điền vẫn tồn tại nhưng không pháttriển, chúng bị tàn phá bởi chiến tranh và không được sự quan tâm của bọn đế quốc, kinh

tế trang trại hoạt động cầm trừng, sản xuất yếu kém Còn ở miền Bắc, sau khi có cải cáchruộng đất năm 1953, nông nghiệp đã có những bước phát triển nhưng vẫn còn mangnặng tính tự cấp tự túc Các đồn điền được tịch thu chia cho dân cày hoặc chuyển thành

Trang 20

nông trường quốc doanh Hình thức sản xuất HTX hình thành và phát triển, kinh tế đivào bao cấp và kinh tế trang trại không được phát triển.

Thời kỳ 1976 - 1986: Sau khi cả nước thống nhất, bước vào thời kỳ quá độ lênChủ nghĩa xã hội, là thời kỳ thực hiện chủ trương cải tạo nông nghiệp, lấy nông nghiệp

là cơ sở để phát triển kinh tế đất nước, đảm bảo tự túc lương thực thực phẩm và hướngtới xuất khẩu

Thời kỳ 1986 - hiện nay: Sau Đại hội Đảng VI tháng 12 / 1986 và Nghị quyết10/1988, kinh tế cá thể đã khẳng định được vai trò của mình Kinh tế trang trại lại đượchình thành và phát triển mạnh mẽ chủ yếu là loại hình kinh tế trang trại gia đình nhờ cóchính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, các chính sách đó đã tạo điều kiện thuận lợicho kinh tế trang trại ngày càng phát triển như: Chỉ thị 29 / CT - TW về giao đất, giaorừng và củng cố quan hệ sản xuất miền núi, chỉ thị chế khoán sản phẩm đến nhóm vàngười lao động, chương trình 327 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc và cũng do đặctrưng của kinh tế trang trại trên các trang trại hình thành nhiều hơn, tập trung nhiều ở cácnơi đất hoang hoá, ven biển, vùng đồi núi nơi đất rộng người thưa có điều kiện cho kinh

tế trang trại phát triển

Theo Tổng cục Thống kê, đến năm 2004 cả nước có 110.852 trang trại đang hoạtđộng, tăng 53.763 trang trại so với năm 2000 Hàng năm, các trang trại tạo ra hơn 10.000

tỷ đồng (trong đó 87,5% là hàng hóa), thu hút và tạo việc làm ổn định cho hơn 578.000lao động nông nhàn ở nông thôn, bình quân đạt hơn 36.000.000đồng / năm và mỗi laođộng đạt khoảng 580.000 đồng / tháng

Trang 21

Nét mới khá rõ nét của các trang trại hiện nay là tỷ suất hàng hoá rất cao chungcho cả nước là 92,6%, trong đó Nam Trung Bộ là 97%, Đông Nam Bộ là 95,3%, TâyNguyên là 91,6%, đồng bằng sông Cửu Long là 91,2%, đồng bằng sông Hồng là 94,6%,thấp nhất là Tây Bắc là 82,1% Điều này chứng tỏ tính chất sản xuất hàng hóa của cáctrang trại là rõ rệt và đó là nét vượt trội của trang trại so với kinh tế hộ nông dân hiệnnay.

Quy mô của các trang trại ở các mức độ khác nhau, tuỳ theo loại hình kinh doanh,vùng và thành phần xuất thân, nhưng nhìn chung các trang trại có quy mô nhỏ là chủyếu Quá trình chuyển đổi kinh tế hộ sang kinh tế trang trại đã trở thành xu hướng nhưngbên cạnh đó vẫn còn tồn tại hàng loạt những khó khăn:

* Vẫn còn có những nhận thức chưa đúng về trang trại và kinh tế tran trại, băn khoăn vềviệc phát triển kinh tế trang trại ở nước ta

* Quỹ đất đai hạn hẹp đang là một trong các nguyên nhân hạn chế phát triển kinh tế theohướng trang trại

* Việc quy hoạch định hướng phát triển các vùng sản xuất hàng hóa tập trung chưa tốt

* Thị trường nông sản chưa ổn định, sản phẩm làm ra khó tiêu thụ, quan hệ giữa nôngdân với các tổ chức thương mại, các doanh nghiệp chế biến chưa thoả đáng, gây trở ngạicho sản xuất và sự đầu tư theo hướng sản xuất hàng hóa

* Trình độ công nghệ thấp, dẫn đến chất lượng nông sản thấp, khả năng cạnh tranh kém

và chưa thích ứng với nhu cầu ngày càng cao, ngày càng khắt khe của thị trường trongnước và đặc biệt là ngoài nước

Trang 22

* Các chính sách vĩ mô của Đảng và Nhà nước chưa thực sự tác động đồng bộ, chưatheo kịp yêu cầu của sản xuất nên chưa thực sự khuyến khích hộ phát triển theo hướngkinh tế trang trại.

* Trình độ chủ trang trại chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế

1.1.6.3 Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển KTTT

Nhận thức được vai trò của kinh tế trang trại trong phát triển nông nghiệp và nôngthôn, Đảng và Nhà nước đã có những chủ trương, chính sách khuyến khích sự phát triểncủa kinh tế trang trại

Trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành TW Đảng (12/1997) vàNghị quyết số 06 ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về phát triển nông nghiệp nôngthôn, cần giải quyết một số vấn đề về quan điểm và chính sách nhằm tạo môi trường vàđiều kiện thuận lợi hơn cho sự phát triển mạnh mẽ kinh tế trang trại Các chính sáchgồm: Chính sách đất đai, chính sách thuế, chính sách đầu tư - tín dụng, chính sách laođộng, chính sách khoa học công nghệ và môi trường, chính sách thị trường… được cụthể hóa qua: Thông tư của Bộ Tài chính số 82/2000/TT - BTC ngày 14/8/2000 hướngdẫn chính sách tài chính nhằm phát triển kinh tế trang trại, Quyết định của Thống đốcNgân hàng Nhà nước số 423/2000/QĐ - NHNN1 ngày 22/9/2000 về chính sách tín dụngngân hàng đối với kinh tế nông nghiệp…

Chủ trương và chính sách của Đảng và Nhà nước đã góp phần thúc đẩy sự pháttriển của kinh tế trang trại tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng đóng góp vào quátrình công nghiệp hóa - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn

Trang 23

1.2.NHỮNG KẾT LUẬN RÚT RA TỪ NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN

Kinh tế trang trại đã thể hiện là một hướng đi đúng đắn, một hướng sản xuất tiênphong xoá bỏ dần sự nhỏ lẻ, manh mún của kinh tế hộ nông dân trong nền kinh tế thịtrường hiện nay Kinh tế trang trại đã khẳng định vị thế của mình như sau:

1.2.1 Kinh tế trang trại là mô hình kinh tế sản xuất hàng hoá

Kinh tế trang trại khác với mô hình kinh tế tiểu nông hay mô hình sản xuất HTXnông nghiệp bao cấp trước đây, lấy mục tiêu là tự cung tự cấp, toàn bộ nông sản sản xuất

ra đều nhằm phục vụ nhu cầu của cá nhân, đối với mô hình kinh tế trang trại hướng tớiviệc bán gần như toàn bộ sản phẩm của mình ra ngoài thị trường Chính vì vậy, việctrồng cây gì, nuôi con gì, bán ở đâu… là một trong những yếu tố quan trọng của chủtrang trại Trong quá trình tham gia vào nền kinh tế của đất nước, thu nhập của trang trạikhông chỉ là những sản phẩm nội tại của nó mà còn có phần lợi nhuận do thị trường đemlại Với những đòi hỏi khắt khe đó của thị trường, các trang trại bắt buộc phải đầu tưmạnh mẽ, phải có sự linh hoạt trong sản xuất kinh doanh, tìm đối tác… thì mới có thểtồn tại và phát triển được

1.2.2 Kinh tế trang trại là mô hình kinh tế hộ gia đình sản xuất hàng hóa ở trình độ cao.

Sản xuất nông nghiệp có một đặc thù rất riêng biệt đó là quá trình sản xuất tácđộng lên những sinh vật sống chịu nhiều tác động của yếu tố không thể kiểm soát nổinên độ rủi ro thường rất lớn Vì vậy, ngay từ cuối thế kỷ XVII, một số nước có nền nông

Trang 24

nghiệp phát triển như: Anh, Pháp, Mỹ… đã cho rằng nông nghiệp cũng phải tiến hànhsản xuất tập trung, quy mô lớn, sử dụng nhiều lao động làm thuê giống như các xí nghiệpcông nghiệp Trải qua thực tế sản xuất đã nhận ra rằng hiệu quả cuối cùng của các xínghiệp nông nghiệp đều thấp hơn của các trang trại gia đình quy mô vừa và nhỏ, cho dùphần lợi nhuận thu từ bóc lột lao động làm thuê ở các xí nghiệp nông nghiệp là khá lớn,thực tiễn điều đó đã được C.Mác thừa nhận "ngay ở nước Anh, với nền công nghiệp pháttriển, hình thức sản xuất nông nghiệp có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nôngnghiệp quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không sử dụng lao động làm thuê".Trong các trang trại gia đình, người chủ trang trại vừa làm công tác quản lý, vừa là ngườilao động trực tiếp cùng các thành viên khác trong gia đình hoặc lao động thời vụ.

Cần phân biệt rõ: nếu như ở mô hình sản xuất tự cung tự cấp tận dụng khả năngkhai thác đất và mô hình "xí nghiệp nông nghiệp" mang nặng tính bóc lột lao động làmthuê thì mô hình kinh tế trang trại lại lấy kinh tế hộ gia đình làm trung tâm phát triển sảnxuất hàng hoá có hiệu quả cao

Ngày nay, nhờ tính ưu việt của nó mà kinh tế trang trại gia đình đã trở thành một

mô hình sản xuất chủ yếu phổ biến ở nền nông nghiệp nhiều nước trên thế giới từ nhữngnước đang phát triển tới những nước phát triển Mô hình này tồn tại và mở ra một triểnvọng lớn trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hoá

1.2.3 Kinh tế trang trại là mô hình tận dụng được các lợi thế tự nhiên - xã hội của vùng

Tham gia vào nền kinh tế sản xuất hàng hoá nên các chủ trang trại phải tận dụngmọi điều kiện, mọi khả năng để tồn tại và phát triển được Có những điều kiện ở nơi này

Trang 25

là bất lợi cho quá trình sản xuất nhưng nó lại là lợi thế vô cùng to lớn để phát triển chonhững nơi khác Chẳng hạn, ở một vùng đồng chiêm trũng, thì việc tận dụng đất nôngnghiệp dư thừa, đất đai của các hộ gia đình không muốn làm nông nghiệp để xây dựngtrang trại trồng trọt, chăn nuôi kết hợp… khép kín lại vô cùng thuận lợi Mặt khác, cáctrang trại phải nhìn lại một cách nghiêm túc đến những khó khăn do vấn đề thị trường,giao thông vận tải, công nghệ sau thu hoạch… nếu muốn tồn tại và phát triển mạnh Dùsao, mô hình kinh tế trang trại vẫn là một mô hình kinh tế hàng hóa, lợi nhuận phi sảnxuất đóng góp một phần không nhỏ trong hoạt động của các mô hình này Vì vậy, mọi cốgắng áp đặt các mô hình sản xuất tiến bộ từ nơi khác vào vùng mình, trang trại mình màkhông tính đến những điều kiện trong vùng đều khó có thể tạo ra một mô hình kinh tếtrang trại có hiệu quả được Nói một cách khác, mô hình trang trại phải được nay sinh từthực tiễn đòi hỏi của đời sống trong các vùng khác nhau.

1.2.4 Kinh tế trang trại đòi hỏi một trình độ sản xuất cao

Mô hình kinh tế trang trại muốn đạt hiệu quả trong sản xuất thì phải đáp ứng cácphương thức sản xuất và quản lý ở trình độ cao Các trang trại thành công của các nướctrên thế giới đều sử dụng không nhiều nhân công lao động, như Nhật Bản, Hàn Quốc…quy mô trang trại khoảng 1 - 1,2 ha và chỉ có bình quân 1 - 2 lao động, ở Châu Âu trangtrại có quy mô 20 - 30 ha cũng chỉ có 1 - 2 lao động của gia đình là chính

Để làm được điều này, ở nhiều nước khác nhau trên thế giới người nào muốn trởthành chủ trang trại, được nhà nước công nhận trình độ quản lý và tư cách pháp nhân đềuphải tốt nghiệp các trường, các lớp đào tạo về quản lý, kỹ thuật, thực tập là lao động kinhdoanh một năm trong các trang trại tốt Có bằng tốt nghiệp nông học, có kiến thức về

Trang 26

kinh tế, pháp luật, thị trường… Với một nền tảng kiến thức và kinh nghiệm dầy dặn, mộtnền khoa học kỹ thuật phát triển, những chủ trang trại đã biết tự hoạch định cho mìnhnhững chiến lược sản xuất kinh doanh thích hợp cho trang trại mình như một giám đốc

xí nghiệp

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTTT Ở PHÙ NINH

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình

Trang 27

- Vị trí địa lý: Phù ninh là một huyện miền núi được tái lập tháng 9/1999, nằm ởphía Đông Bắc của tỉnh Phú thọ, có toạ độ từ 21015' - 21033' độ vĩ Bắc, 105013' - 105024'

độ kinh Đông Có vị trí địa lý hành chính như sau:

* Phía Bắc giáp với huyện Đoan Hùng

* Phía Nam giáp với thành phố Việt Trì

* Phía Tây giáp với thị xã Phú Thọ

* Phía Đông là sông Lô giáp với huyện Lập Thạch_ tỉnh Vĩnh Phúc

Trung tâm huyện lỵ Phù Ninh là thị trấn Phong Châu, trên địa bàn huyện có công

ty Giấy Bãi Bằng, Viện nghiên cứu cây nguyên liệu giấy, một phân xưởng của công tyZ121, có cụm làng nghề Đồng Lạng Phù Ninh, cụm tiểu thủ công nghiệp Rừng xanhthuộc thị trấn Phong Châu, có 1 bến cảng An Đạo, có 1 tuyến đường sắt chuyên dùngcủa công ty Giấy Bãi Bằng…

Huyện Phù Ninh được chia thành 20 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị trấn,còn lại là 19 xã:

1 LIÊN HOA 11 BÌNH BỘ

2 PHÚ MỸ 12 TỬ ĐÀ

3 TRẠM THẢN 13 VĨNH PHÚ

Trang 28

9 TIEN DU 19 GIA THANH

10 AN ĐẠO 20 TT.PHONG CHÂU

- Địa hình: Huyện Phù ninh trải dài theo dòng sông Lô về phía Đông bắc, địa hìnhcủa huyện khá đa dạng, có địa hình dốc, bậc thang, lòng chảo, tạo cho huyện có hệ thốngnúi thấp, đồi bát úp, có vùng bán địa, hình thành những sườn đồi, ruộng bậc thang, cóvùng đồng bằng và hồ đầm

Địa hình huyện nhà được chia thành 6 cấp độ dốc:

+ Cấp I (dưới 30), diện tích 6.559,17ha, chiếm 39,22% tổng diện tích

+ Cấp II (từ 3 - 80), diện tích 1.072,01ha, chiếm 6,41% tổng diện tích

+ Cấp III (từ 8 - 150), diện tích 3.846,17ha, chiếm 23% tổng diện tích

+ Cấp IV (từ15 - 200), diện tích 4.348,25ha, chiếm 26% tổng diện tích

+ Cấp V (từ 20 - 250), diện tích 667,29ha, chiếm 3,99% tổng diện tích

+ Cấp VI (trên 250), diện tích 230,79ha, chiếm 1,38% tổng diện tích

Từ những phân tích trên cho thấy địa hình huyện nhà rất phong phú đa đạng, độcao trung bình không lớn lắm (không quá 50 - 60 m) Địa hình thuận lợi cho việc sửdụng đất vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thuận lợi cho việc bố trí quy hoạch, xây dựngcác công trình công cộng như giao thông, thuỷ lợi…

2.1.1.2 Khí hậu thuỷ văn

- Khí hậu: Phù Ninh nằm ở vùng núi phía Bắc nên mang đặc điểm chung của khíhậu miền Bắc Việt nam đó là nhiệt đới gió mùa và nóng ẩm, một năm có 4 mùa rõ rệt

Trang 29

- Thuỷ văn: Địa phận huyện nhà có sông Lô chảy qua, tổng chiều dài phần sôngchảy qua là 32km Theo kết quả tính toán, lượng nước sông Lô chảy qua huyện Phù ninhhàng năm khá lớn Trong các tháng mùa mưa, lưu lượng dòng chảy trung bình khoảng1.647m3 / giây, trong các mùa khô, lưu lượng dòng chảy trung bình khoảng 520m3 / giây.

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Tình hình đất đai(2004 - 2006)

Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sảnxuất chủ yếu Do đó, việc khai thác và sử dụng tài nguyên này đòi hỏi phải hợp lý trên cơ

sở bảo vệ và cải tạo

Qua bảng 2.1, cơ cấu các loại đất của huyện nhà thay đổi qua các năm theo sựphát triển kinh tế của huyện

Với tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 16.724ha Trong đó, diện tích đất nôngnghiệp chiếm một tỷ lệ cao, năm 2006 là 12.182ha (chiếm 72,8% tổng diện tích) Diệntích đất nông nghiệp giảm dần qua 3 năm là 120,5ha (bình quân qua 3 năm giảm là0,5%) Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp và đất lâm nghiệp giảm là 34,6ha và103,7ha (tương ứng bình quân qua 3 năm giảm là 0,2% và 1,6%) diện tích đất nuôi trồngthuỷ sản tăng qua 3 năm là 17,8%ha tương ứng tăng là 6,8%

Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ hơn với diện tích năm 2006 là:3.765ha chiếm 22,5% tổng diện tích Qua 3 năm diện tích đất phi nông nghiệp tăng là doquá trình đô thị hoá, dân số cũng tăng nhanh là cho nhu cầu đất ở và đất chuyên dùngđược mở rộng Diện tích đất ở qua 3 năm tăng là 52,3ha (bình quân tăng 4,0%), đấtchuyên dùng tăng là 65,8 ha (bình quân tăng 1,6%)

Trang 30

Diện tích đất chưa sử dụng giảm qua 3 năm là: 1,85ha (bình quân giảm 0,12%),đất chưa sử dụng chuyển sang đất ở, đất chuyên dùng.

Các chỉ tiêu bình quân của huyện có sự biến động nhỏ, bình quân đất nông nghiệp/ khẩu giảm dần qua các năm, đến năm 2006 chỉ còn 0,11 ha / khẩu đã giảm 0,003 ha(bình quân qua 3 năm giảm 1,34%) Bình quân đất nông nghiệp / lao động cũng giảmdần qua 3 năm, lượng giảm là 0,019 ha (giảm 4,6%)

Bình quân đất sản xuất nông nghiệp / khẩu cũng giảm, từ 0,081 ha (2004) còn0,079 ha (2006), giảm 1,24% Đất sản xuất nông nghiệp / lao động giảm từ 0,17 ha(2004) còn 0,159 ha (bình quân qua 3 năm giảm 3,29%)

Tóm lại, điều kiện đất đai ở huyện nhà khá thuận lợi cho phát triển kinh tế trangtrại, vùng núi phát triển cây ăn quả, cây lâm nghiệp; vùng đồng bằng phát triển chăn nuôi

và thuỷ sản

2.1.2.2 Tình hình dân số và lao động

Trong quá trình sản xuất, dân số và lao động là một trong những yếu tố quyếtđịnh quan trọng đến hiệu quả công việc, là một trong những nguồn lực tác động mạnhđến quá trình sản xuất của xã hội Dân số ngày một tăng, nhu cầu đất ở tăng theo đã làmcho diện tích đất nông nghiệp giảm xuống đáng kể

Qua bảng 2.2, ta thấy tổng số nhân khẩu tăng lên 2035 khẩu từ 108.625 khẩu(2004) đến 110.660 khẩu (2006), bình quân qua 3 năm tăng 0,93% Trong đó, khẩu nôngnghiệp chiếm một lượng lớn, năm 2006 là 91.460 khẩu chiếm 82,65% tổng nhân khẩu,qua 3 năm, khẩu nông nghiệp tăng là 1.802 khẩu (bình quân tăng 0,99%) Khẩu phi nôngnghiệp chiếm tỷ lệ nhỏ hơn, năm 2006 là 19.200 khẩu chiếm 17,35%, tuy khẩu phi nông

Trang 31

nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng đang chuyển dịch cơ cấu, bình quân qua 3 năm tăng

233 khẩu (tăng 0,61%)

Tổng số lao động của huyện qua 3 năm tăng lên 3.616 lao động (bình quân qua 3năm tăng 3,45%) Trong đó, lao động nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn là 86,02%(2006), lao động nông nghiệp tăng lên 2.844 lao động (tăng 3,14%) Lao động phi nôngnghiệp tăng với tốc độ khá cao là 772 lao động (tăng 5,39%) Đó là sự chuyển dịch cơcấu lao động sản xuất nông nghiệp sang lao động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xâydựng và dịch vụ… đã có nhiều nhà máy, cơ sở sản xuất được hình thành Đây là tín hiệutốt cho sự chuyển dịch cơ cấu lao động trong huyện, lao động chuyển dần sang lao độngphi nông nghiệp với trình độ, thu nhập cao hơn, góp phần không nhỏ vào quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Tổng số hộ qua 3 năm tăng lên là 1.492 hộ (bình quân tăng 2,95%) Trong đó, hộnông nghiệp tăng lên là 2,82% từ 20.612 (2004) đến 21.790 (2006) Hộ phi nông nghiệptăng lên là 314 hộ (bình quân tăng 3,59%) Hộ nông nghiệp tuy số tương đối tăng thấphơn hộ phi nông nghiệp nhưng số tuyệt đối của hộ nông nghiệp tăng lên là 1.178 người

Bình quân khẩu trên hộ giảm dần qua 3 năm từ 4,36 khẩu (2004) còn 4,19 khẩu(2006), bình quân qua 3 năm giảm 1,97% Bình quân lao động trên hộ qua 3 năm tănglên là 0,22 lao động (bình quân tăng 0,48%)

Nói chung, tình hình dân số lao động ở Phù ninh ổn định, lực lượng lao độngnông nghiệp đã chuyển dần sang lao động phi nông nghiệp Với số lao động bình quântrên hộ ta thấy, lao động ở huyện là khá dồi dào thuận lợi cho phát triển kinh tế trang trại

2.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật

Trang 32

Cơ sơ vật chất kỹ thuật thể hiện trình độ, năng lực sản xuất cũng như sự phát triểnkinh tế xã hội của địa phương Cơ sở vật chất là điều kiện không thể thiếu trong mọi hoạtđộng của đời sống kinh tế xã hội Mức trang bị ngày càng cao thì sản xuất càng pháttriển, năng suất lao động ngày càng tăng Tuy nhiên, trong việc trang bị cơ sở vật chất kỹthuật phải đảm bảo tính hợp lý, đồng bộ, phù hợp với trình độ quản lý và điều kiện sảnxuất cụ thể của từng vùng thì mới có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao Trong sản xuấtnông nghiệp, cơ sở hạ tầng cần thiết và trực tiếp phục vụ cho sản xuất như hệ thống thuỷlợi, nhà kho, hệ thống dường giao thông, thông tin liên lạc, điện lưới,… ngoài ra, cònnhóm cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất như y tế, giáo dục, dịch vụ…

Qua bảng 2.3, ta thấy tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật của huyện nhà khá pháttriển

* Giao thông: Huyện nhà có tuyến quốc lộ số 2 chạy qua với tổng chiều dài là 17

km, chạy dọc theo phía Tây của huyện, bên cạnh đó, hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ và cáctuyến giao thông nông thôn được bố trí hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại vàlưu thông hàng hoá trên địa bàn huyện cũng như với các huyện lân cận Trong đó, đườngtỉnh lộ dài 78,5 km đã được giải nhựa, đường huyện lộ cũng có chiều dài là 16 km đãđược dải nhựa 3 km Hệ thống đường liên xã, liên thôn, nội thôn, nội đồng có tổng chiềudài 770 km đã được dải nhựa 30 km

* Hệ thống thuỷ lợi: Huyện Phù ninh có tuyến sông Lô dài 32 km cung cấp nướcchính, phục vụ cho công tác thuỷ lợi của huyện Toàn huyện có 100 hồ đập lớn nhỏ phục

vụ cho sản xuất nông nghiệp của các xã vùng đồi và khoảng 1.100 km kênh thuỷ lợi

Trang 33

* Hệ thống điện: Trên địa bàn huyện có một số tuyến điện cao thế chạy qua nhưtuyến 220 KV và hệ thống đường trung, hạ thế được bố trí hợp lý đảm bảo việc cung cấpđiện cho sinh hoạt của nhân dân cũng như điện cho sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp.Hiện nay, trên địa bàn huyện Phù ninh có tỷ lệ số hộ sử dụng điện đạt 100%.

* Bưu chính - viễn thông: Hiện nay, trên địa bàn huyện có 2 trạm trung chuyểnthông tin chính, bên cạnh đó tại 20 / 20 xã, thị trấn đều đã có điểm bưu điện văn hoá xã,

số máy điện thoại tăng nhanh bình quân đạt 7 máy / 100 dân

* Y tế: Y tế của huyện đảm bảo chữa trị cho nhân dân trong huyện, ngoài bệnhviện còn có các trạm xá với đội ngũ cán bộ có tâm huyết với nghề, hiện nay toàn huyện

có 11 bác sỹ và 23 y sỹ

* Giáo dục: Giáo dục của huyện nhà có bước phát triển đáng kể, số trường THPT

là 5 trường, có 21 trường THCS, có 21 trường tiểu học Tháng 10 / 2003, đã hoàn thànhphổ cập giáo dục THCS, đến nay, toàn huyện đã có 11 trường đạt chuẩn quốc gia

2.1.3 Kết quả phát triển kinh tế của huyện Phù ninh qua 3 năm (2004 - 2006)

Kết quả phát triển kinh tế thể hiện sự phát triển của một nền kinh tế, một khu vựckinh tế, là một chỉ tiêu rất quan trọng

Qua bảng 2.4, tình hình kinh tế của huyện nhà có những bước phát triển nhất định

cả về sản lượng và giá trị, cơ cấu giữa các ngành sản xuất thay đổi theo hướng tăng tỷtrọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp

Tổng giá trị sản xuất qua 3 năm tăng nhanh từ 390.400 triệu đồng (2004) lên475.768 triệu đồng (2006), bình quân qua 3 năm tăng 10,4%, thể hiện sự phát triển đáng

kể trong nền kinh tế của huyện Trong đó, ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 8.527 triệu

Trang 34

đồng (bình quân tăng 2,6%), đặc biệt ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xâydựng cơ bản và thương mại dịch vụ tăng cao tương ứng là 16% và 15,7% đã góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Cơ cấu kinh tế của huyện thay đổi qua 3 nămđược thể hiện là nông - lâm - ngư nghiệp; công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng

cơ bản; thương mại dịch vụ

42,5% - 35,14% - 22,37% (2004) 39,43% - 37,17% - 23,4% (2005) 36,66% - 38,80% - 24,55% (2006)

Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển từ nông - lâm - ngư nghiệp chiếm tỷ trọng lớn(2004) chuyển sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản (2005) Sựphát triển mạnh của công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản ở huyện nhà

đó là chủ trương và đường lối của Đảng - Nhà nước và chính quyền địa phương khuyếnkhích phát triển, tạo bước tiến nhanh, mạnh, vững chắc cho quá trình công nghiệp hóa -hiện đại hoá của huyện Trên địa bàn huyện có các nhà máy lớn như: công ty Giấy Bãibằng, các khu công nghiệp, cơ sở chế biến, các làng nghề truyền thống… đã có bướcphát triển vượt bậc trong những năm qua

Trong ngành nông - lâm - ngư nghiệp, nông nghiệp tăng 12.221 triệu đồng (bìnhquân 3 năm tăng 3,92 %), trồng trọt tăng 3,69%, chăn nuôi tăng 4,81%, dịch vụ nôngnghiệp tăng 0,78% Chăn nuôi phát triển nhanh, tiến tới thay đổi cơ cấu trong sản xuấtnông nghiệp

Thu nhập bình quân / khẩu / năm thay đổi rõ rệt từ 3,6 triệu đồng (2004) lên4,3triệu đồng (2006) bình quân qua 3 năm tăng 9,3% Thu nhập bình quân / lao động /

Trang 35

năm tăng mạnh qua 3 năm từ 7,57 triệu đồng (2004) lên 8,62 triệu đồng (2006) bìnhquân qua 3 năm tăng 13,87%.

Nói chung, tình hình phát triển kinh tế của huyện trong 3 năm đã có những biếnchuyển rất lớn, kinh tế ngày càng vững mạnh, đời sống của nhân dân ngày càng đượcnâng lên rõ rệt

2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KTTT Ở HUYỆN PHÙ NINH

2.2.1 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở huyện nhà

Trước năm 2001, trên địa bàn huyện đã hình thành các trang trại nhưng chưa tậptrung thành vùng lớn, hầu hết do người dân tự phát xây dựng và hình thành, quy mô nhỏ,chưa xác định được phương hướng sản xuất một cách rõ rệt Phần lớn các trang trại vừatrồng cây ăn quả vừa trồng cây lâm nghiệp, cây trồng, con gia súc được tuyển chọn

Vốn đầu tư vào các trang trại vẫn còn ở mức thấp, từ 8 - 10 triệu đồng / trang trại,doanh thu của các trang trại còn thấp, một số cơ chế chính sách chưa có do vậy tốc độphát triển các loại hình kinh tế trang trại còn hạn chế

Sau khi có Nghị quyết của Chính phủ số 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 vềkinh tế trang trại, năm 2001 Huyện uỷ đã có Nghị quyết về phát triển kinh tế trang trại,UBND huyện xây dựng thành chương trình; quy hoạch phát triển cây trồng, vật nuôitheo vùng sản xuất

Năm 2002, Tỉnh uỷ có Nghị quyết về phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnhđến năm 2005 và định hướng 2010

Trang 36

Với cơ chế chính sách ra đời tạo điều kiện của Đảng và Nhà nước và chính quyềnđịa phương đã tạo điều kiện thuận lợi cho các trang trại phát triển nhanh và mạnh, đónggóp vào quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn của huyện.

2.2.2 Thực trạng và sự phát triển trang trại trên địa bàn huyện

Theo bảng 2.5, đến ngày 31/12/2006, trên địa bàn huyện nhà có 30 trang trại đạttiêu chuẩn của Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê Trong đó,trang trại trồng cây ăn quả tăng thêm 3 trang trại từ 7 trang trại (2004) lên 10 trang trại(2006), trang trại chăn nuôi tăng nhanh nhất với 8 trang trại (2004) lên 12 trang trại(2006), trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp tăng từ 2 trang trại (2004) lên 4 tran trại(2006) Đối với trang trại nuôi trồng thuỷ sản và trang trại nuôi ong giảm qua 3 năm qua,trang trại nuôi trồng thuỷ sản với 5 trang trại (2004) giảm xuống còn 4 trang trại (2006),còn đối với trang trại nuôi ong thì đến năm 2006 không có trang trại nào vì không thoảmãn được tiêu chí đề ra

Bảng 2.5 : C¸c m« h×nh KTTT ë huyÖn Phï ninh qua 3 n¨m (2004 - 2006)

Mô hình trang trại

Trang 37

(Nguån: Phßng Thèng kª - UBND huyÖn Phï Ninh)

Cơ cấu các mô hình kinh tế trang trại của huyện, chăn nuôi đang là hướng đi chủyếu của các trang trại hiện nay chiếm 40% (12 trang trại), trang trại trồng cây ăn quảchiếm 33,34% (10 trang trại) còn lại là 2 mô hình trang trại thuỷ sản và trang trại kinhdoanh tổng hợp

Qua cơ cấu mô hình trang trại như trên ta thấy, trang trại đang hướng về sản phẩmchăn nuôi, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong hệ thống trang trại góp phần vào quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp của huyện

2.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC MH KTTT

2.3.1 Thông tin đặc điểm chung của mẫu điều tra

2.3.1.1 Số lượng và dạng hình trang trại

Số lượng trang trại được nghiên cứu trong đề tài gồm có 15 trang trại, được thểhiện nhiều dạng trang trại khác nhau Các mô hình trên đây đã thể hiện đầy đủ các dạnghình trang trại của huyện theo tiêu chí của Bộ nông nghiệp & phát triển nông thôn vàTổng cục thống kê

Mô hình 1: Cây ăn quả với 5 trang trại

Mô hình 2: Chăn nuôi với 6 trang trại

Mô hình 3: Thuỷ sản với 2 trang trại

Mô hình 4: Tổng hợp với 2 trang trại

2.3.1.2 Thông tin chung của các trang trại điều tra

Trang 38

- Phương hướng sản xuất kinh doanh của trang trại

Với mục đích tìm ra mô hình sản xuất có hiệu quả nhất, phù hợp nhất với tìnhhình kinh tế của huyện, tôi tập trung nghiên cứu phân tích đánh giá theo hình thức phânloại này

BẢNG 2.6: Phương hướng sản xuất kinh doanh của các MH KTTT

Mô hình 1, với 5 trang trại chiếm 33,34% tổng số trang trại điều tra Số trang trại

chủ yếu trồng các loại cây có giá trị cao như: vải, nhãn, xoài…

Mô hình 3, là mô hình trang trại nuôi trồng thuỷ sản, với số trang trại điều tra là 2

trang trại, ở trang trại này chủ yếu là chăn thả cá trắm, trôi, mè…

Mô hình 4 là mô hình trang trại tổng hợp với số lượng là 2 trang trại, mô hình

này phát triển sản xuất đa dạng vừa kết hợp chăn nuôi, trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản

Trang 39

Tóm lại, các trang trại ở huyện Phù ninh đã phát triển nhanh, phản ánh đúng tìnhhình phát triển sản xuất của huyện, chuyển nền sản xuất tự túc tự cấp sang phát triển sảnxuất hàng hóa, phù hợp với yêu cầu của thị trường.

- Lao động

Lao động là nguồn nhân lực quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói chung vàcủa trang trại nói riêng, đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả củahoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Các chủ trang trại thường chọn nhữngngười có sức khoẻ, chịu khó, không có thói xấu, có kinh nghiệm và kiến thức thực tế.Nếu biết quản lý và sử dụng tốt, biết quan tâm thoả đáng đến lợi ích vật chất và tinh thầncủa người lao động thì nó sẽ là nhân tố quan trọng làm tăng năng suất, chất lượng sảnphẩm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho chủ trang trại

Qua bảng 2.7, ta thấy số lao động làm việc trong các trang trại là khá cao, bìnhquân là 4,47 lao động / trang trại Do yêu cầu của sản xuất nông nghiệp đồng thời việc ápdụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế, lao động đa số phải làm việctrực tiếp bằng những công cụ thô sơ như cuốc, xẻng, liềm… trong các việc như: dãy cỏ,phun thuốc, thu hoạch… Bình quân các trang trại có 4,91 người / hộ, cao hơn mức bìnhquân chung của toàn huyện là 4,19 người / hộ (2006)

Qua bảng 2.7, số lao động cao nhất thuộc về MH4 với 5,25 lao động / trang trại,trong đó lao động gia đình là 2 lao động, lao động thuê thường xuyên là 3 lao động và0,25 lao động thuê thời vụ (quy đổi) Bởi đây là trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợpvới khối lượng công việc, diện tích khá lớn đòi hỏi cần nhiều nhân công, mà đặc biệt đếnmùa thu hoạch là rất lớn Công việc ở đây khá vất vả với nhiều loại cây trồng vật nuôi…

Trang 40

Tiền công đối với người lao động thường xuyên được chủ trang trại trả với 2 mức đó là350.000đồng / tháng (nuôi ăn) và 650.000đồng / tháng (không ăn) Công việc mà các laođộng thuê thời vụ thường làm là khi chủ trang trang trại thu hoạch hoa quả, hái chè, phátcây… và tiền công được trả bình quân là 30.000đồng / ngày công.

Mô hình 3 có tổng số lao động tham gia sản xuất là 4,2 lao động / trang trại, ở loạihình này, lao động chủ yếu là lao động gia đình đảm nhiệm, tính bình quân là 3 laođộng / trang trại, lao động thuê thường xuyên với 1lao động, thuê thời vụ (quy đổi) là 2lao động Mô hình này là chuyên về thuỷ sản là thả cá nên chăm sóc không cần nhiềungười, chỉ bận rộn nhất là khi thả và thu hoạch nên mới cần thuê Đối với lao độngthường xuyên được trả bình quân là 630.000đồng / tháng

Mô hình 2 với tổng lao động tham gia sản xuất là 4,57 lao động / trang trại, trong

đó lao động gia đình là 2,33 lao động, lao động thuê thường xuyên là 2,17 lao động vàlao động thời vụ (quy đổi) với số lượng ít nhất là 0,067 lao động Với mô hình chănnuôi, khi thu hoạch thì cũng không quá bận rộn nên tỷ lệ thuê lao động ngoài là khôngcao Đối với lao động thuê thường xuyên thì trang trại thuê 1 người đã học qua trung cấpchăn nuôi để đảm bảo chăm sóc, vì đây là những người có kiến thức, chuyên môn Tiềncông chủ trang trại trả là 650.000đồng / tháng / lao động

Mô hình 1 có tổng số lao động là 4,14 lao động / trang trại Trong đó, lao độnggia đình với 1,8 lao động / trang trại, lao động thuê là 2,34 lao động / trang trại, số lượnglao động thuê thời vụ (quy đổi) là cao nhất với 0,34 lao động / trang trại, lao động thuêthường xuyên với 2 lao động Mô hình này vào thời gian thu hoạch là lúc cần đến nhiều

Ngày đăng: 11/12/2012, 10:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng   2.5     :     Các mô hình KTTT ở huyện Phù ninh qua 3 năm (2004 - 2006) - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ
ng 2.5 : Các mô hình KTTT ở huyện Phù ninh qua 3 năm (2004 - 2006) (Trang 36)
Bảng 2.10:  Trình độ quản lý của các chủ trang trại - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.10 Trình độ quản lý của các chủ trang trại (Trang 44)
Bảng 2.13:  Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa của mô hình KTTT (Tính bình quân cho 1 trang trại) - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.13 Cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa của mô hình KTTT (Tính bình quân cho 1 trang trại) (Trang 49)
Bảng 2.15 : Kết quả đạt được của các trang trại ở huyện năm 2006 - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ
Bảng 2.15 Kết quả đạt được của các trang trại ở huyện năm 2006 (Trang 52)
Bảng 3.2: Trình độ quản lý của chủ trang trại - Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Phù Ninh_ tỉnh Phú Thọ
Bảng 3.2 Trình độ quản lý của chủ trang trại (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w