Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp của huyện bước đầu chuyển đổi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song vẫn chưa đáp ứng các mục tiêu: Khai thác có hiệu quả tiềm năng, áp dụng tiến
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế “Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh
tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” là kết quả của quá trình học
tập và nghiên cứu khoa học độc lập, nghiêm túc của bản thân, không sao chép từ bất
kỳ một nguồn nào dưới bất kỳ hình thức nào
Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn
có tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, các công trình nghiên cứu đã được công bố Kết quả nghiên cứu được rút ra từ việc phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La giai đoạn 2014 - 2018
Các giải pháp nêu trong luận văn được đúc kết từ cơ sở lý luận và quá trình nghiên cứu thực tiễn
Tác giả luận văn
Đặng Tiến Dũng
Trang 2Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Lãnh đạo Huyện ủy, Hội đồng nhân dân (HĐND),
Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; Chi cục Thống kê huyện Mai Sơn; Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mai Sơn; Phòng Tài chính -
Kế hoạch huyện Mai Sơn; Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Mai Sơn; Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện Mai Sơn đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ, cung cấp thông tin và số liệu để tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Quản lý - Trường Đại học Thủy lợi; các anh chị học viên lớp cao học 25QLKT23 chuyên ngành Quản lý Kinh tế của Trường Đại học Thủy lợi đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Cuối cùng, tôi xin dành tất cả tình cảm sâu sắc nhất tới gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ, hỗ trợ tôi về tinh thần cũng như vật chất trong suốt thời gian tôi học tập và thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn mặc dù đã có nhiều cố gắng Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP 6
1.1 Kinh tế nông nghiệp 6
1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp 6
1.1.2 Lý luận về kinh tế nông nghiệp 8
1.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp 9
1.1.4 Vai trò, vị trí của kinh tế nông nghiệp 12
1.1.5 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp 14
1.2 Phát triển kinh tế nông nghiệp 17
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp 17
1.2.2 Nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp 18
1.2.3 Chỉ tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp 18
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp 18
1.3.1 Yếu tố thuộc về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 18
1.3.2 Yếu tố thị trường ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp 20
1.3.3 Yếu tố về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp 21
1.3.4 Yếu tố nguồn lực đầu tư sản xuất và hoạt động cung ứng dịch vụ nông nghiệp 22
1.3.5 Yếu tố năng lực của chủ thể sản xuất 22
1.3.6 Yếu tố khoa học - công nghệ ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp 23
1.3.7 Các cơ chế, chính sách Nhà nước về phát triển kinh tế nông nghiệp 24
1.4 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của một số địa phương và trên thế giới 25
Trang 41.4.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của một số nước trên thế giới25
1.4.2 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của một số địa phương 32
1.5 Tổng quan những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 35
Kết luận Chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA 38
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 38 2.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 38
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 43
2.2 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế của huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 47
2.2.1 Trình độ phát triển kinh tế 47
2.2.2 Tăng trưởng kinh tế 47
2.2.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 49
2.3 Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 50
2.3.1 Thực trạng phát triển về lượng 50
2.3.2 Thực trạng phát triển về chất 60
2.3.3 Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn 66
2.4 Tình hình tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 67
2.4.1 Tác động của yếu tố tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 67
2.4.2 Tác động của thị trường đến phát triển kinh tế nông nghiệp 68
2.4.3 Tác động của hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp 69
2.4.4 Huy động các nguồn lực vào sản xuất và cung ứng dịch vụ nông nghiệp70 2.4.5 Khoa học công nghệ đối với phát triển kinh tế nông nghiệp huyện 71
2.4.6 Năng lực của chủ thể sản xuất đối với phát triển kinh tế nông nghiệp 72
2.4.7 Tác động của cơ chế, chính sách Nhà nước đến phát triển kinh tế nông nghiệp 72
2.5 Đánh giá chung về phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 73
2.5.1 Những kết quả đạt được 73
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 74
Trang 52.5.3 Bài học rút ra từ thực tiễn 78
Kết luận Chương 2 79
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA 80
3.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Mai Sơn 80 3.1.1 Phương hướng phát triển kinh tế nông nghiệp 80
3.1.2 Mục tiêu phát triển 81
3.2 Một số giải pháp chủ yếu thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 82
3.2.1 Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, thích ứng với tự nhiên 82
3.2.2 Giải pháp về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp 84
3.2.3 Thâm canh tăng năng suất cây trồng, con vật nuôi phù hợp 86
3.2.4 Giải pháp về khoa học công nghệ, môi trường và phát triển bền vững 87
3.2.5 Tăng cường đầu tư phát triển kinh tế nông nghiệp và tổ chức hệ thống nông nghiệp theo hướng nông thôn mới 89
3.2.6 Giải pháp về thị trường sản xuất, tiêu thụ nông sản 91
3.2.7 Tăng cường năng lực cho nông hộ, định hướng các loại hình sản xuất nông nghiệp chính 91
3.2.8 Phát huy vài trò của Nhà nước về phát triển kinh tế nông nghiệp 93
Kết luận Chương 3 95
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Các ngành cơ bản trong lĩnh vực nông nghiệp 7
Hình 2.1 Bản đồ hành chính huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La 39
Hình 2.2 Hình ảnh hồ Tiền Phong- Vừa phục vụ thủy lợi vừa khai thác du lịch 41
Hình 2.3 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế giai đoạn 2014-2018 48
Hình 2.4 Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Mai Sơn giai đoạn 2014-2018 (%) 50
Hình 2.5 Hình ảnh thu hoạch một số sản phẩm cây công nghiệp 54
Hình 2.6 Một số hình ảnh nông sản huyện Mai Sơn tại Hội chợ xúc tiến thương mại Bằng Tường, Quảng Tây, Trung Quốc 55
Hình 2.7 Rừng tự nhiên tại xã Tà Hộc được giao cho nhân dân quản lý và bảo vệ 56
Hình 2.8 Một sô hình ản chăn nuôi gia súc, gia cầm giống địa phương 57
Hình 2.9 Tăng trưởng các nhóm ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp (Tỷ) 58
Hình 2.10 Cơ cấu các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp giai đoạn 2014-2018 (%) 60 Hình 2.11 Việc sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật không đúng cách được VTV1 đưa tin 66 Hình 3.1 Mô hình trồng cây ăn quả trên đất dốc đem lại hiệu quả kinh tế cao tại bản Noong Xôm, xã Hát Lót, huyện Mai Sơn 84
Hình 3.2 Tuyến đường tỉnh lộ 113 nối liền trung tâm huyện với các xã vùng 2 và vùng 3 vừa được đầu tư xây dựng 85
Hình 3.3 Đập bản Củ, xã Chiềng Ban được đầu tư nâng cấp phục vụ cho công tác phòng chống thiên tai và thủy lợi 86
Hình 3.4 Mô hình trồng nhãn ghép chín muộn mang lại hiệu quả kinh tế cao 87
Hình 3.5 Mô hình trồng Dâu tây theo phương pháp hữu cơ trong nhà lưới của Hợp tác xã Nông nghiệp sinh thái Nà Sản 88
Hình 3.6 Thuốc bảo vệ thực vật sau sử dụng được người dân thu gom cho vào vể chứa đặt tại những nơi quy định 89
Hình 3.7 Điểm giao dịch lưu động của Ngân hàng Nông nghiệp huyện Mai Sơn nhằm giúp người nông dân tiếp cận vốn vay nhanh nhất 90
Hình 3.8 Hình ảnh ký kết xuất khẩu Xoài của huyện Mai Sơn sang thị trường Mỹ 91
Hình 3.9 Mô hình hỗ trợ Bò sinh sản thuộc Chương trình 135 cho các hộ nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn 92
Trang 7Hình 3.10 Thành lập Trung tâm Dịch vụ nông nghiệp huyện- Cầu nối giữa Nhà nước
và người nông dân trong phát triển nông nghiệp 94
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Mai Sơn năm 2018 40
Bảng 2.2 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Mai Sơn giai đoạn 2014-2018 48
Bảng 2.3 Diện tích sản xuất các nhóm ngành nông nghiệp giai đoạn 2014-2018 (ha)51 Bảng 2.4 Quy mô đàn gia súc, gia cầm giai đoạn 2014-2018 (con) 51
Bảng 2.5 Sản lượng một số sản phẩm nông nghiệp chính giai đoạn 2014-2018 52
Bảng 2.6 Giá trị sản xuất các ngành trong nội bộ ngành nông nghiệp giai đoạn 2014-2018 (%) 53
Bảng 2.7 Giá trị sản xuất nhóm ngành trồng trọt giai đoạn 2014-2018 (Tỷ) 58
Bảng 2.8 Giá trị sản xuất nhóm ngành chăn nuôi giai đoạn 2014-2018 (Tỷ) 59
Bảng 2.9 Giá trị sản xuất nhóm ngành lâm nghiệp giai đoạn 2014-2018 (Tỷ) 60
Bảng 2.10 Tổng hợp cơ cấu lao động và thu nhập bình quân của ngành nông nghiệp so với toàn huyện giai đoạn 2014-2018 64
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải thích thuật ngữ
CNH - HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KH - CN Khoa học công nghệ
KH - KT Khoa học kỹ thuật
KT - XH Kinh tế xã hội
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội (KT - XH) đối với tất cả các quốc gia trên thế giới Nó càng quan trọng hơn đối với các quốc gia có tiềm năng nông nghiệp đang phát triển trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Vì thế, nhiều tổ chức quốc tế, nhiều nhà kinh tế học vẫn tiếp tục quan tâm nghiên cứu về vai trò của nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp như thế nào để cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia vận động hợp lý, có hiệu quả, bền vững
Ngành nông nghiệp nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi, ngành dịch vụ Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng thì còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản
Kể từ sau đổi mới năm 1986, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu
to lớn và đóng vai trò quan trọng trong phát triển KT - XH của đất nước Nông nghiệp phát triển đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế đất nước Bất chấp những khó khăn về thị trường, thiên tai và dịch bệnh, nông nghiệp luôn duy trì tăng trưởng ở mức tương đối khá Kể từ năm 2007 đến nay, Việt Nam chứng kiến tình trạng suy thoái của nền kinh tế do những yếu kém trong quản lý chính sách vĩ mô trong nước và ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới, trong bối cảnh khó khăn, sản xuất nông nghiệp nổi lên như một mảng sáng đáng khích lệ nhất của nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp đã có sự tăng trưởng khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, bước đầu đã hình thành một nền sản xuất hàng hóa, nhiều vùng chuyên canh đã được xác lập, một số hàng nông sản của Việt Nam đã được thị trường thế giới biết đến và khẳng định vị thế trên thị trường thế giới Mặc dù tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong cơ cấu thu nhập quốc dân GDP có xu hướng giảm đi, nhưng năm 2018 nông nghiệp vẫn đóng góp khoảng 15% tổng của cải làm ra Đặc biệt, khối
Trang 12lượng và giá trị sản phẩm do nông nghiệp làm ra không ngừng tăng lên, nhờ đó nông nghiệp đã góp phần quan trọng vào ổn định và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Ngoài ra, nông nghiệp còn là khu vực tạo việc làm cho phần lớn lực lượng lao động xã hội Hơn nữa, nông nghiệp còn là bệ đỡ cho nền kinh tế trong những năm kinh tế đất nước gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhờ đó giúp giảm nhẹ các ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế tới nền kinh tế cả nước
Tuy nhiên, nông nghiệp Việt Nam vẫn còn đứng trước những thử thách lớn trong tiến trình chuyển đổi, đó là: Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp chuyển dịch chậm, không cân đối, quy mô sản xuất vừa nhỏ bé vừa sản xuất theo trào lưu chưa theo sát yêu cầu thị trường; cơ sở vật chất, kỹ thuật của nông nghiệp còn thấp kém đã làm hạn chế việc tiếp cận thị trường; lao động thủ công còn phổ biến, máy móc cơ giới nông nghiệp còn lạc hậu dẫn đến năng suất lao động nông nghiệp còn thấp
Mai Sơn là một huyện của tỉnh Sơn La, với vị trí địa lý mang tính chiến lược được xác định là vùng kinh tế trọng điểm, nằm trong tam giác kinh tế Mai Sơn - Thành phố Sơn
La - Mường La Trong những năm qua, huyện Mai Sơn đã vận dụng sáng tạo các chủ trương, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh vào điều kiện thực tế của địa phương, lãnh đạo nhân dân khai thác tiềm năng, thế mạnh phát triển KT - XH, nâng cao đời sống tinh thần, vật chất cho nhân dân trong huyện Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp của huyện bước đầu chuyển đổi theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, song vẫn chưa đáp ứng các mục tiêu: Khai thác có hiệu quả tiềm năng, áp dụng tiến bộ KH - KT vào sản xuất, giải phóng sức lao động nông nghiệp, nâng cao năng suất lao động, sản lượng hàng hóa
Để khai thác các lợi thế, nhanh chóng thay đổi bộ mặt nông nghiệp của huyện, từng bước hình thành và phát triển một nền nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững, hiệu quả trong thời gian tới, thì việc tìm ra các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn là vấn đề quan
trọng mang tính cấp thiết Xuất phát từ yêu cầu trên, tôi chọn đề tài: “Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La” để nhằm
tìm ra những giải pháp thích hợp để giải quyết những vấn đề tồn tại, tận dụng thế mạnh, tiềm năng huyện Mai Sơn để khai thác hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ngành nông nghiệp của huyện và của tỉnh
Trang 132 Mục tiêu của đề tài
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng phát triển kinh
tế nông nghiệp huyện Mai Sơn từ đó đề xuất những giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế ngành nông nghiệp huyện Mai Sơn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La theo nghĩa rộng (bao gồm cả trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản) trong mối liên hệ với phát triển kinh tế chung
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp huyện Mai Sơn
trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, từ đó đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
Về không gian: Trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Về thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018, đề xuất định hướng, giải pháp đến năm 2023
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được áp dụng trong nghiên cứu gồm: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản quy định và chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế nông
Trang 14nghiệp, phương pháp điều tra khảo sát, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh Số liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm số liệu
sơ cấp và số liệu thứ cấp Các loại số liệu được thu thập cụ thể như sau:
- Thu thập số liệu thứ cấp: Từ các số liệu, tài liệu của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện, Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện các số liệu công bố của Chi cục Thống kê huyện, Cục Thống kê tỉnh Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu liên quan, sách tham khảo chuyên ngành, tạp chí… cũng được thu thập, phân tích làm cơ sở cho phát triển nội dung của luận văn
- Thu thập số liệu sơ cấp: Đề tài chứa đựng nhiều khía cạnh liên quan đến quản lý nhà nước có tính vĩ mô vừa có tính vi mô nên tôi đã sử dụng phương pháp khảo sát, phỏng vấn một số chuyên gia, lãnh đạo huyện, lãnh đạo các phòng, ban, các xã trên địa bàn huyện Mai Sơn có kinh nghiệm về phát triển kinh tế nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp, qua đó hiểu và nắm bắt được thực trạng; đồng thời xác định cơ sở đề ra giải pháp mang tính khả thi đối với quá trình thúc đẩy kinh tế ngành nông nghiệp của huyện
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài nghiên cứu hệ thống hoá được những vấn đề lý luận và thực tiễn; các nhân tố tác động; kinh nghiệm một số nước trên thế giới và địa phương ở Việt Nam trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp và những bài học kinh nghiệm bổ ích có thể rút ra
- Đề tài là một công trình khoa học, là tài liệu tham khảo cho những người học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp; giúp cho lãnh đạo các địa phương có những giải pháp khoa học trong việc đánh giá thực trạng và đề ra những giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp
Trang 15Sơn La trong những năm qua Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, có tính khả thi nhằm phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La trong những năm tiếp theo
6 Kết quả dự kiến đạt được
Một số kết quả chính của đề tài dự kiến đạt được như sau:
- Hệ thống hóa được những vấn đề lý luận về kinh tế nông nghiệp, phát triển kinh tế nông nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp Từ kinh nghiệm phát triển kinh tế ngành nông nghiệp của một số nước, của Việt Nam và một số địa phương có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tương đồng với huyện Mai Sơn để từ
đó rút ra những vấn đề mang tính lý luận chung nhất và một số kinh nghiệm làm cơ sở cho quá trình phân tích việc phát triển kinh tế ngành nông nghiệp ở huyện Mai Sơn
- Đánh giá thực trạng quá trình phát triển kinh tế ngành nông nghiệp của huyện Mai Sơn và các yếu tố tác động đến nó Đồng thời chỉ ra những hạn chế của quá trình phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, đặc biệt là nguyên nhân của những hạn chế
- Từ việc phân tích thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Mai Sơn, đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện trong những năm tiếp theo, góp phần quan trọng vào phát triển KT - XH, nâng cao thu nhập và đời sống nhân dân
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài những nội dung quy định của một bản luận văn thạc sĩ như: Phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bởi 3 chương nội dung chính sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH
TẾ NÔNG NGHIỆP
1.1 Kinh tế nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm về nông nghiệp
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nông nghiệp là ngành sản xuất chủ yếu của xã hội, có
nhiệm vụ cung cấp sản phẩm ngành trồng trọt và chăn nuôi” [1]
Theo Từ điển kinh tế học: “Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm,
thức ăn gia súc, tơ sợi và sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt những cây trồng
chính và chăn nuôi đàn gia súc” [2]
Theo Bách khoa toàn thư: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội,
sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu
và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành, nông nghiệp theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông
nghiệp; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản” [3]
Qua những định nghĩa trên, có thể thấy khái niệm về nông nghiệp đang được nhìn nhận phù hợp với xu hướng phát triển, nông nghiệp hiện tại đã vượt ra khỏi nền nông
nghiệp truyền thống (tự cung tự cấp) Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất
vật chất quan trọng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời là ngành duy nhất sản xuất ra lương thực, thực phẩm Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải, vật chất mà con người phải dựa vào sự sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm tất cả những ngành sản xuất có đối tượng tác động là những cây
trồng, vật nuôi (kể cả lâm nghiệp, thuỷ sản) gắn liền tất yếu với tự nhiên; có thời gian
sản xuất bằng với thời gian lao động cộng với thời gian phát triển của cây trồng, vật nuôi dưới sự tác động của điều kiện tự nhiên
Trên cơ sở phân tích các khái niệm nông nghiệp ở trên, có thể được hiểu nông nghiệp
một cách khái quát: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, được
Trang 17hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành nông, lâm và ngư nghiệp”
Hình 1.1 Các ngành cơ bản trong lĩnh vực nông nghiệp Nông nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước, đặc biệt là trong các thế kỷ trước đây khi công nghiệp chưa phát triển
Trong nông nghiệp cũng có hai loại chính, việc xác định sản xuất nông nghiệp thuộc dạng nào cũng rất quan trọng:
- Nông nghiệp thuần nông hay nông nghiệp sinh nhai: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có đầu vào hạn chế, sản phẩm đầu ra chủ yếu phục vụ cho chính gia đình của mỗi người nông dân Không có sự cơ giới hóa trong nông nghiệp sinh nhai
- Nông nghiệp chuyên sâu: Là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp được chuyên môn hóa trong tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp, gồm cả việc sử dụng máy móc trong trồng trọt, chăn nuôi, hoặc trong quá trình chế biến sản phẩm nông nghiệp Nông nghiệp chuyên sâu có nguồn đầu vào sản xuất lớn, bao gồm cả việc sử dụng hóa chất diệt sâu, diệt cỏ, phân bón, chọn lọc, lai tạo giống, nghiên cứu các giống mới và mức độ cơ giới hóa cao Sản phẩm đầu ra chủ yếu dùng vào mục đích thương mại, làm hàng hóa bán
ra trên thị trường hay xuất khẩu Các hoạt động trên trong sản xuất nông nghiệp chuyên sâu là sự cố gắng tìm mọi cách để có nguồn thu nhập tài chính cao nhất từ ngũ cốc, các sản phẩm được chế biến từ ngũ cốc hay vật nuôi
Lĩnh vực nông nghiẹp
Quản lý, bảo vệ, khai thác rừng …
Trồng rừng
Đánh bắt
Nuôi trồng Trồng trọt
Chăn nuôi
Trang 181.1.2 Lý luận về kinh tế nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của quốc dân có chức năng phân tích ảnh hưởng của các quy luật kinh tế trong nông nghiệp, áp dụng những thành tựu kinh tế vào thực tế lãnh đạo các cơ sở nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, kinh tế nông nghiệp đóng vai trò nền tảng khởi đầu cho sự phát triển KT - XH của hầu hết các quốc gia trên thế giới, dựa vào sản xuất nông nghiệp (SXNN) để tạo sản lượng lương thực, thực phẩm cần thiết đủ để nuôi sống dân tộc mình và tạo nền tảng cho các ngành, các hoạt động kinh tế khác phát triển Khi nhu cầu xã hội ngày càng cao, các hoạt động KT-XH phát triển, nguồn lực
tự nhiên phục vụ phát triển nông nghiệp eo hẹp dần, khi đó nông nghiệp giảm bớt phụ thuộc vào tự nhiên còn điều kiện tự nhiên thì giảm dần khả năng tự tái tạo, lúc này phát triển nông nghiệp phải dựa trên cơ sở ứng dụng tiến bộ của khoa học kỹ thuật (KH - KT) để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khan hiếm phục vụ SXNN
Nông nghiệp không chỉ là ngành kinh tế đơn thuần, mà còn là ngành kinh tế phức tạp gắn với hệ thống sinh học và kỹ thuật, do bởi cơ sở để SXNN được dựa vào việc sử dụng tiềm năng sinh học của cây trồng, vật nuôi Kinh tế nông nghiệp chỉ phát triển khi các yếu tố tự nhiên vận động ổn định, đồng thời người sản xuất có sự quan tâm thỏa đáng, gắn lợi ích của họ với quá trình áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ sinh học nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng
Kinh tế nông nghiệp còn là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế của SXNN: Mối quan hệ giữa người và người, tác động và sự vận dụng cụ thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành nông nghiệp Hoạt động
kinh tế nông nghiệp thực hiện dưới hai dạng chính là SXNN thuần nông (kết hợp ít yếu tố) và SXNN chuyên sâu (sản xuất phức tạp, chuyên môn hóa cao, trình độ sản xuất cao, có sự kết hợp nhiều yếu tố) Hệ thống kinh tế nông nghiệp là tổng thể quan hệ sản
xuất trong nông nghiệp, biểu hiện bằng những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất trong nông nghiệp, những hình thức tiêu dùng các sản phẩm sản xuất ra với những hình thức
tổ chức sản xuất, trao đổi, phân phối và cơ chế quản lý tương ứng của Nhà nước đối với toàn bộ nền nông nghiệp
Trang 191.1.3 Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm riêng mà các ngành sản xuất khác không thể có đó là:
- Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Đặc điểm này cho thấy ở đâu có đất
và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp Thế nhưng ở mỗi vùng mỗi quốc gia có điều kiện đất đai và thời tiết - khí hậu rất khác nhau Lịch sử hình thành các loại đất, quá trình khai phá và sử dụng các loại đất ở các địa bàn có địa hình khác nhau, ở đó diễn ra các hoạt động nông nghiệp cũng không giống nhau Điều kiện thời tiết khí hậu với lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… trên từng địa bàn gắn rất chặt chẽ với điều kiện hình thành và sử dụng đất Do điều kiện đất đai khí hậu không giống nhau giữa các vùng đã làm cho nông nghiệp mang tính khu vực rất rõ nét
- Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được: Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của
nó lại rất khác nhau Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhưng sức sản xuất ruống đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả mãn nhu cầu tăng lên của loài người về nông sản phẩm Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống - cây trồng và vật nuôi: Các loại
cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh trưởng, phát triển và diệt vong) Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự thay đổi về điều
kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng Cây trồng và vật nuôi với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt được sản xuất trong bản thân nông nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu được ở chu trình sản xuất trước làm tư liệu sản xuất cho chu trình
Trang 20sản xuất sau Để chất lượng giống cây trồng và vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thường xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có, nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo
để tạo ra những giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phương
- Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao: Đây là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế liên hệ mật thiết với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu không thể xoá bỏ được, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó Mặt khác do sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó, dẫn đến những mùa vụ khác nhau Đối tượng của sản xuất nông nghiệp
là cây trồng - loại cây xanh có vai trò cực kỳ to lớn là sinh vật có khả năng hấp thu và tàng trữ nguồn năng lượng mặt trời để biến từ chất vô cơ thành chất hữu cơ, tạo nguồn thức ăn cơ bản cho con người và vật nuôi Như vậy, tính thời vụ có tác động rất quan trọng đối với nông dân
Tạo hoá đã cung cấp nhiều yếu tố đầu vào thiết yếu cho nông nghiệp, như: ánh sáng,
ôn độ, độ ẩm, lượng mưa, không khí Lợi thế tự nhiên đã ưu ái rất lớn cho con người, nếu biết lợi dụng hợp lý có thể sản xuất ra những nông sản với chi phí thấp nhưng chất lượng Để khai thác và lợi dụng nhiều nhất tặng vật của thiên nhiên đối với nông nghiệp đòi hỏi phải thực hiện nghiêm khắc những khâu công việc ở thời vụ tốt nhất như thời vụ gieo trồng, bón phân, làm cỏ, tưới tiêu… Việc thực hiện kịp thời vụ cũng dẫn đến tình trạng căng thẳng về lao động đòi hỏi phải có giải pháp tổ chức lao động hợp lý, cung ứng vật tư - kỹ thuật kịp thời, trang bị công cụ, máy móc thích hợp, đồng thời phải coi trọng việc bố trí cây trồng hợp lý, phát triển ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làm ở những thời kỳ nông nhàn
Ngoài những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp nêu trên, nông nghiệp nước ta còn có những đặc điểm riêng cần chú ý đó là:
- Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp
Trang 21sản xuất hàng hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp nước ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
là rất thấp so với các nước trong khu vực và thế giới Đến nay nhiều nước có nền kinh
tế phát triển, nông nghiệp đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công việc được thực hiện bằng máy móc, một số loại cây trồng vật nuôi chủ yếu được thực hiện
cơ giới hoá tổng hợp hoặc tự động hoá Năng suất ruộng đất và năng suất lao động đạt trình độ cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Tỷ lệ dân số và lao động nông nghiệp giảm xuống cả tương đối và tuyệt đối Đời sống người dân nông nghiệp và nông thôn được nâng cao ngày càng xích gần với thành thị Trong khi đó, nông nghiệp nước ta với điểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp…
- Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: Trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển
Đặc điểm này đem lại cho nông nghiệp nhiều thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng có những khó khăn rất lớn trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp
Thời tiết, khí hậu của nước ta có những thuận lợi rất cơ bản Đó là hàng năm có lượng mưa bình quân tương đối lớn, đảm bảo nguồn nước ngọt rất phong phú cho sản xuất và
đời sống, có nguồn năng lượng mặt trời dồi dào (cường độ, ánh sáng, nhiệt độ trung bình hàng năm là 23 o C…), tập đoàn cây trồng và vật nuôi phong phú, đa dạng Nhờ
những thuận lợi cơ bản đó mà ta có thể gieo trồng và thu hoạch quanh năm, với nhiều cây trồng và vật nuôi phong phú, có giá trị kinh tế cao, như cây công nghiệp lâu năm, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, điều kiện thời tiết - khí hậu nước ta cũng có nhiều khó khăn lớn, như: mưa nhiều và lượng mưa thường tập trung vào ba tháng trong năm gây lũ lụt, ngập úng Nắng nhiều thường gây nên khô hạn, có nhiều vùng thiếu cả nước
Trang 22cho người, vật nuôi sử dụng Khí hậu ẩm ướt, sâu bệnh, dịch bệnh dễ phát sinh và lây lan gây ra những tổn thất lớn đối với mùa màng
Trong quá trình đưa nông nghiệp nước ta lên sản xuất hàng hoá, chúng ta tìm kiếm mọi cách để phát huy những thuận lợi cơ bản nêu trên và hạn chế những khó khăn do điều kiện khắc nghiệt của thiên nhiên gây ra, đảm bảo cho nông nghiệp phát triển nhanh chóng và vững chắc
1.1.4 Vai trò, vị trí của kinh tế nông nghiệp
Trong nền kinh tế quốc dân vai trò và vị trí của kinh tế nông nghiệp vô cùng quan trọng Ngành nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học - cây trồng, vật nuôi Vai trò, vị trí của kinh tế nông nghiệp được thể hiện ở những khía cạnh cụ thể:
- Cung cấp lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết tất cả các nước, nhất là ở các nước đang phát triển Ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông Tuy nhiên ở những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc
dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống cho con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Lương thực thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước
Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: Sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người
Thực tiễn lịch sử các nước trên thế giới đã chứng minh, chỉ có thể phát triển kinh tế một cách nhanh chóng và ổn định, chừng nào quốc gia đó đã có và đảm bảo được an ninh lương thực Nếu không đảm bảo an ninh lương thực thì khó có sự ổn định chính
Trang 23trị và thiếu sự đảm bảo cơ sở pháp lý, kinh tế cho sự phát triển, từ đó sẽ làm cho các nhà kinh doanh không yên tâm bỏ vốn vào đầu tư dài hạn
- Cung cấp yếu tố đầu vào cho phát triển công nghiệp và khu vực đô thị: Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị; khu vực nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường…; khu vực nông nghiệp là nguồn cung cấp vốn lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong đó có công nghiệp, nhất là giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, bởi vì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động
và sản phẩm quốc dân Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí và vai trò rất quan trọng
- Làm thị trường tiêu thụ của công nghiệp và dịch vụ: Nông nghiệp và nông thôn là thị trường tiêu thụ lớn của công nghiệp Ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất thì sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm của nông nghiệp và có thể cạnh tranh với thị trường thế giới
- Nông nghiệp tham gia vào xuất khẩu: Nông nghiệp được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn Các loại nông, lâm thủy sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hóa công nghiệp Vì thế, ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thủy sản Tuy nhiên xuất khẩu nông, lâm thuỷ sản thường bất lợi do giá cả trên thị trường thế giới có xu hướng giảm xuống, trong lúc đó giá cả sản phẩm công nghiệp tăng lên, tỷ giá kéo khoảng cách giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghệ ngày càng mở rộng làm cho nông nghiệp, nông thôn bị thua thiệt so với công nghiệp và đô thị
Trang 24Gần đây một số nước đa dạng hoá sản xuất và xuất khẩu nhiều loại nông - lâm - thuỷ sản, nhằm đem lại nguồn ngoại tệ đáng kể cho đất nước
- Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường: Nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường vì sản xuất nông nghiệp gắn liền trực tiếp với môi trường tự nhiên: đất đai, khí hậu, thời tiết, thủy văn Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bệnh
… làm ô nhiễm đất và nguồn nước Quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… vì thế trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường
1.1.5 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Nông - lâm - ngư nghiệp là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn của cơ cấu kinh tế Cơ cấu nông - lâm - ngư nghiệp cũng là một cấu trúc gắn bó hữu cơ nhiều nhân tố tác động qua lại lẫn nhau cùng tồn tại và phát triển trong những thời gian và không gian nhất định Do đó, cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm các ngành sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng, nuôi trồng đánh bắt thủy sản Bản thân nhiều ngành trong nông nghiệp lại là những hệ thống nhỏ, có những yếu tố, những thuộc tính giống nhau tạo thành hệ thống nhỏ hơn Sản xuất nông nghiệp luôn phát triển, cơ cấu các ngành trong nông nghiệp cũng vận động, biến đổi mở rộng theo Nhờ tác động công nghiệp cơ cấu ngành nông nghiệp còn có thêm các ngành, như: chế biến lương thực, thực phẩm, dịch
vụ nông nghiệp… mang tính chuyên môn hóa rõ rệt Khi bước sang xã hội hậu công
nghiệp, không thể không phát sinh thêm những ngành mới nữa (công nghệ sinh học, tin học nông nghiệp) Thiếu những ngành này thì không thể có ngành nông nghiệp
hoàn chỉnh
Do vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp trước hết là một bộ phận của cơ cấu kinh tế, là một ngành lớn, một tổng thể hữu cơ của nhiều ngành nhỏ, với nhiều cấp hệ khác nhau, không ngừng hoàn thiện và phát triển trong sự ổn định tương đối, trong các mối quan
hệ khăng khít, tác động và tùy thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố, được xác định bằng các quan hệ tỷ lệ về số lượng và chất lượng Cơ cấu nông nghiệp chịu sự tác động mạnh
mẽ của các điều kiện tự nhiên và các điều kiện KT - XH
Trang 25Theo nghĩa chung nhất cơ cấu kinh tế nông nghiệp là mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền nông nghiệp của một quốc gia, một vùng, một địa phương Trong tổng thể các mối quan hệ phản ánh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, đáng chú ý nhất là quan hệ giữa các ngành sản xuất, giữa các vùng sinh thái và các thành phần kinh tế Các mối quan hệ này được xác định theo các yếu tố sản xuất và kết quả sản xuất Cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cơ cấu thành phần kinh tế
-Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp Trong từng ngành cụ thể được phân ngành theo sản phẩm, như: ngành sản xuất cây lương thực, thực phẩm, rau quả, cây công nghiệp ngắn và dài ngày, trồng rừng, chăm sóc, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản Chuyên môn hoá càng cao và phân công lao động càng sâu thì phân ngành càng chi tiết, đa dạng Sự hình thành các ngành sản xuất chuyên môn hoá phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, KT -
XH và được thể hiện trong chiến lược phát triển KT - XH của từng quốc gia, địa phương trong từng giai đoạn cụ thể Vì vậy, việc xác định và phát triển đúng hướng các ngành chuyên môn hoá trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế của địa phương và của từng vùng Nó sẽ sử dụng một cách hợp lý các điều kiện đặc thù, làm tăng năng suất lao động từng ngành và lao động xã hội, tiết kiệm vốn đầu tư, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, chất lượng cao, giả
rẻ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ và xuất khẩu
Các nhân tố làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành, gồm: Mức thu nhập
bình quân đầu người; các yếu tố đầu vào (đất đai, vốn, lao động và các nguồn lực khác); sự phát triển của KH - CN; quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng: Biểu hiện sự phân công lao động theo lãnh thổ trên phạm vi cả nước, trong từng địa phương Sự phân công lao động theo ngành kết hợp với sự chuyên môn hoá, kéo theo sự phân công lao động theo vùng lãnh thổ Đây là hai mặt gắn bó hữu cơ, khăng khít với nhau trong quá trình phân công lao động Việc bố trí các ngành trồng cây gì, nuôi con gì, tổ chức sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai đều phải được thực hiện trong những không gian nhất định, phù hợp với điều kiện tự nhiên, KT - XH của nó
Trang 26Hình thành cơ cấu vùng nhằm tạo ra khối tượng hàng hoá lớn tập trung, có hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu là xu thế chung hiện nay
Vì vậy, phải xác định được tính đặc thù của từng vùng và lợi thế so sánh để hình thành
cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý cho mỗi vùng Điều đó, đòi hỏi phải thận trọng nghiên cứu xem xét mục tiêu, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng Đồng thời, chủ động sáng tạo, tranh thủ thời gian, phát huy nội lực, tranh thủ sự
hổ trợ bên ngoài về vốn và kỹ thuật, đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được xác định theo vùng
Bảy vùng kinh tế nông nghiệp nước ta rất đa dạng, phong phú, đất đai hoang hoá còn nhiều, nguồn lao động dồi dào, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo và cùng với thành tựu, kinh nghiệm quý báu trong sản xuất nông nghiệp sau 33 năm đổi mới ở nước ta là cơ sở để xây dựng cơ cấu vùng kinh tế nông nghiệp hợp lý Để xây dựng một cơ cấu kinh tế vùng nông nghiệp hợp lý, chúng ta không chỉ đánh giá lợi thế và các điều kiện cụ thể trong vùng một cách tỉ mỉ, khách quan mà phải đặt trong sự tác động qua lại giữa các vùng trong một địa phương, một quốc gia và trong tương quan
cả khu vực và thế giới, trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay và dự báo cho cả tương lai Điều đó tránh được một cơ cấu kinh tế nông nghiệp biệt lập, manh mún, tự cung tự cấp, không có hiệu quả
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế: Đây là nội dung quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Trong một thời gian dài chúng ta đã xây dựng một nền kinh tế tập trung dựa vào hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế quốc doanh và
kinh tế tập thể Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986), Đại hội đổi mới cơ chế quản
lý kinh tế đã coi trọng các thành phần kinh tế với đầy đủ đặc trưng của nó, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ và được coi như một đơn vị sản xuất kinh doanh;
là đơn vị trực tiếp, chủ yếu sản xuất ra đại bộ phận sản phẩm nông nghiệp cho nền kinh tế quốc dân Trong nền kinh tế thị trường, nhiều hộ nông dân đã vượt lên làm giàu hình thành nên kinh tế trang trại; hiện nay, kinh tế trang trại ngày càng phát triển, tham gia vào các loại hình Hợp tác xã, liên kết với các doanh nghiệp nhà nước bằng nhiều hình thức
Trang 27Các nông - lâm trường quốc doanh sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, chế biến và dịch vụ trong những năm gần đây được rà soát, sắp xếp lại và đang có xu hướng giảm về số lượng và thay đổi hoặc bổ sung nhiệm vụ phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới nhằm làm cho nó ngày càng phát triển, giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nông nghiệp, trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
Hợp tác xã nông nghiệp đóng vai trò chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp, hiện nay đang đổi mới theo Luật Hợp tác xã; đổi mới điều hành hoạt động của ban quản trị theo yêu cầu nhiệm vụ mới, đa dạng hoá các hình thức, tính chất hoạt động, có quy mô thích hợp với điều kiện sản xuất cụ thể, dựa trên cơ sở tự nguyện, cùng có lợi Làm tốt vai trò liên kết giữa các hộ gia đình với các nông, lâm trường và thị trường tiêu thụ chế biến sản phẩm Kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành mà pháp luật cho phép
Xu thế cơ cấu thành phần kinh tế trong giai đoạn tới chuyển dịch theo hướng thực hiện nhất quán chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất, khai thác mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế với những hình thức kinh doanh đa dạng
1.2 Phát triển kinh tế nông nghiệp
1.2.1 Khái niệm và mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm phát triển kinh tế nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp thể hiện quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và về chất Phát triển kinh tế nông nghiệp theo những khía cạnh sau: Phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp; phát triển phân công lao động trong nông nghiệp; nâng cao dân trí; giải quyết tốt vấn đề môi trường
1.2.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp
Phát triển kinh tế nông nghiệp phải bảo đảm an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài, tăng nhanh sản phẩm nông sản hàng hóa và hàng hóa xuất khẩu, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông nghiệp và nông thôn, bảo vệ môi trường
Trang 28sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển
1.2.2 Nội dung phát triển kinh tế nông nghiệp
1.2.2.1 Phát triển kinh tế nông nghiệp về lượng
- Tăng quy mô, sản lượng
- Tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
- Tăng trưởng các ngành trong nội bộ nông nghiệp
1.2.2.2 Phát triển kinh tế nông nghiệp về chất
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý
- Hoàn thiện tổ chức sản xuất nông nghiệp
- Tăng năng suất nông nghiệp
- Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập lao động nông nghiệp
- Bảo vệ, tái tạo môi trường sống và sản xuất nông nghiệp
1.2.3 Chỉ tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp
1.2.3.1 Chỉ tiêu định lượng
- Giá trị sản xuất nông nghiệp
- Mức độ và tốc độ tăng giá trị sản xuất nông nghiệp
- Năng suất nông nghiệp
- Việc làm và thu nhập lao động
1.2.3.2 Chỉ tiêu định tính
- Thay đổi tỷ lệ đóng góp của các ngành trong nội bộ nông nghiệp
- Hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp: Với đất đai; với lao động; hiệu quả sử dụng vốn
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế nông nghiệp
1.3.1 Yếu tố thuộc về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
Trang 29Sản xuất nông nghiệp phải được tiến hành trên đất và phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên như thời tiết, khí hậu, thủy văn
- Đất là tài nguyên vô cùng quý giá và là tư liệu sản xuất không thể thay thế của ngành nông nghiệp Tài nguyên đất ở nước ta khá đa dạng với 14 nhóm đất khác nhau, trong
đó có hai nhóm đất chiếm diện tích lớn nhất là đất feralit và đất phù sa Việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả tài nguyên đất là rất quan trọng đối với phát triển kinh tế nông nghiệp ở nước ta, đặc biệt là đối với diện tích đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, xói mòn, bạc màu ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và cần được cải tạo
- Các nguồn lực tự nhiên như nguồn nước, khí hậu , có ảnh hưởng mạnh tới hướng phát triển ngành nông lâm thủy sản ở từng vùng, tiểu vùng địa lý Điều kiện tự nhiên khác nhau giữa các vùng, tiểu vùng đã tạo ra lợi thế so sánh và sức cạnh tranh riêng của ngành nông nghiệp ở từng vùng, tiểu vùng và là căn cứ quan trọng để xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế vùng về ngành nông nghiệp
- Việt Nam là quốc gia có sự đa dạng cao về điều kiện tự nhiên giữa các vùng, vì vậy
đã tạo ra tính đa dạng của các loại sản phẩm nông, lâm, thủy sản 7 vùng kinh tế sinh thái từ Bắc xuống Nam là: Trung du Miền núi phía Bắc; Đồng bằng Sông hồng; Bắc trung bộ; Nam trung bộ; Tây Nguyên; Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long
có điều kiện tự nhiên về đất đai, khí hậu rất khác nhau nên đã tạo ra các lợi thế và bất lợi thế ở từng vùng trong phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản, hình thành nhân tố tự nhiên, ảnh hưởng mạnh tới định hướng phát triển và cơ cấu sản phẩm của ngành nông nghiệp ở các vùng, tạo nên tính đa dạng về sản phẩm và sự khác biệt về cơ cấu ngành nông nghiệp theo vùng sinh thái
- Dưới tác động của nhu cầu thị trường trong và ngoài nước về hàng hóa nông sản trong những năm vừa qua, ngành nông nghiệp Việt Nam định ra được lợi thế riêng cho từng vùng và đã phát triển các sản phẩm cụ thể ở từng vùng, tạo nên cơ cấu sản phẩm của từng vùng phù hợp với thị trường, khai thác có hiệu quả đất đai, nguồn nước và các nguồn lực khác ở từng vùng sinh thái nông nghiệp
- Tuy nhiên phải thấy rằng, nhân tố nguồn lực tự nhiên không tự tạo ra ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới phát triển nông nghiệp và tạo dựng cơ cấu ngành nông nghiệp ở
Trang 30từng vùng, mà chính con người thông qua nhận thức của mình về những điểm mạnh, điểm yếu của nguồn lực tự nhiên ở từng vùng mà quyết định phát triển hướng ngành nông nghiệp cho phù hợp Như vậy, nhận thức đúng của con người về nguồn lực tự nhiên và quyết định phát triển nông nghiệp theo hướng nào cho phù hợp chính là nhân
tố ảnh hưởng trực tiếp tới phát triển nông nghiệp
- Để nhận thức đúng về nguồn lực tự nhiên, ngày nay Việt Nam vẫn tiếp tục phải nghiên cứu, tìm hiểu và đánh giá để đưa ra định hướng phát triển nông nghiệp hợp lý nhất so với nhu cầu thị trường tiêu thụ sản phẩm làm ra
1.3.2 Yếu tố thị trường ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp
Thị trường nông nghiệp là một tập hợp những thỏa thuận, dựa vào đó mà các chủ thể kinh tế trong và ngoài ngành nông nghiệp có thể trao đổi hàng hóa nông sản hay các dịch vụ cho nhau
Do sản xuất nông nghiệp có mục đích chính là sản xuất ra nông sản hàng hoá, nên điều kiện về thị trường tuy là nhân tố bên ngoài nhưng lại giữ vị trí quyết định đến sự tồn tại và phát triển kinh tế nông nghiệp Điều kiện về thị trường bao gồm cả thị trường các yếu tố đầu vào của sản xuất nông nghiệp và thị trường sản phẩm đầu ra, chúng ta không thể chỉ coi trọng thị trường sản phẩm đầu ra, mà coi nhẹ thị trường các yếu tố đầu vào của vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp
Thực tiễn cho thấy rằng, nếu sản xuất ra những nông sản không đạt yêu cầu về chất lượng, sản phẩm có giá thành cao, thì dù công tác tiếp thị được tiến hành hoàn hảo đến mấy cũng là vô ích Do vậy, khi đặt vấn đề giải quyết thị trường cho việc sản xuất nông nghiệp, cần đặt nó trong toàn bộ quá trình kinh doanh, điều kiện thực tế của mỗi vùng, địa phương để xem xét và giải quyết Sự phân tích, đánh giá thị trường sản phẩm đầu ra rất quan trọng và quyết định sự thành công và phát triển kinh tế nông nghiệp Chẳng hạn, cũng là sản phẩm đầu ra của nông nghiệp, nhưng đó là sản phẩm để tiêu dùng trực tiếp của dân cư, hay là sản phẩm làm nguyên liệu đầu vào của công nghiệp chế biến, hoặc đó là sản phẩm dễ vận chuyển đi xa hay khó vận chuyển đi xa… Những phân tích đó giúp cho sự định hướng phát triển kinh tế nông nghiệp đạt hiệu quả cao nhất trong kinh doanh, cũng như trong bảo vệ các tài nguyên nông nghiệp
Trang 31Ngoài ra khả năng cạnh tranh của hàng hóa nông sản có ảnh hưởng mạnh và trực tiếp đến phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Nếu năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông sản thấp thì nó sẽ làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp không thể đạt tới mục tiêu đề ra hoặc đạt ở mức thấp và cơ cấu ngành vẫn không đem lại hiệu quả, làm kéo dài quá trình này và gây tốn kém, lãng phí các nguồn lực xã hội Ảnh hưởng cụ thể của năng lực canh tranh sản phẩn tới chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp thể hiện trên các mặt sau: Tạo thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa nông lâm thủy sản, thị trường xuất hàng hóa nông lâm thủy sản mở rộng nhờ vào chất lượng hàng hóa tăng lên, giá thành sản xuất thấp, hệ thống quy trình sản xuất thực phẩm an toàn vệ sinh, xuất xứ nguồn gốc được hoàn thiện; giúp người sản xuất tiếp cận nhanh với thị trường để ra quyết định đầu tư đúng, nâng cao giá trị, mở rộng quy
mô sản xuất, tạo ra chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bền vững Hiện nay sức mua của thị trường trong nước còn nhiều hạn chế; sự biến động phức tạp của thị trường xuất khẩu làm tăng tính rủi ro, ảnh hưởng xấu đến chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta Do đó việc phân tích và đánh giá thị trường là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp
1.3.3 Yếu tố về kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
Đối với nông nghiệp, kết cấu hạ tầng cơ bản nhất là hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng, giao thông nông thôn, đường lâm sinh, hệ thống điện sẽ góp phần quan trọng tạo
ra sản phẩm, nâng cao năng suất, giảm chi phí sản xuất, mở rộng khả năng tiêu thụ nông sản và tăng thu nhập cho nông dân; ngoài ra trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay thì hệ thống thông tin liên lạc cũng tác động tới việc sản xuất nông nghiệp
Cũng do mục đích của sản xuất là sản xuất ra sản phẩm hàng hoá, hơn nữa là sản xuất hàng hoá với trình độ cao và qui mô lớn nên các yếu tố về kết cấu hạ tầng cũng có tác động quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của vùng chuyên môn hoá sản xuất nông nghiệp, cũng như đối với sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp nói chung Sự phát triển cơ sở hạ tầng, trong đó phải kể đến hệ thống thủy lợi, đường giao thông, thông tin liên lạc và điện Giao thông chính là đòn bẩy đối với quá trình phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; thông tin liên lạc và điện là yếu tố thúc đẩy quá trình sản xuất sẽ chuyển đổi theo
Trang 32hướng có lợi cho người sản xuất
1.3.4 Yếu tố nguồn lực đầu tư sản xuất và hoạt động cung ứng dịch vụ nông nghiệp
Các yếu tố nguồn lực có thể tồn tại dưới hình thái vật chất, bao gồm: đất đai, máy móc, thiết bị, kho tàng, nguyên nhiên vật liệu, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, thức ăn, sức lao động với kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất nhất định… Nguồn lực sản xuất nông nghiệp cũng có thể tồn tại dưới hình thái giá trị Chúng ta sử dụng đồng tiền làm thước đo để định lượng và quy đổi mọi nguồn lực khác nhau về hình thái vật chất được
sử dụng vào nông nghiệp thành một đơn vị tính toán thống nhất Sự kết hợp hợp lý các nguồn lực đầu tư cho sản xuất và các hoạt động cung ứng dịch vụ nông nghiệp có ảnh hưởng rất lớn tới quy mô, sản lượng và chất lượng đầu ra sản phẩm nông nghiệp, quyết định sự thành công của sản xuất nông nghiệp
Để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nhu cầu vốn sẽ rất lớn Cơ sở
hạ tầng như giao thông, thông tin liên lạc phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm, phát sinh nhu cầu mới từ khu vực lân cận nhằm phát huy các tiềm năng tự nhiên, khai thác các lợi thế mới của vùng, tạo điều kiện phát triển các ngành nghề kinh doanh mới Do đó, cần có một giải pháp về vốn phù hợp điều kiện về kinh tế của đất nước, địa phương nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nhanh và hiệu quả hơn Hiện nay, do thu nhập của người dân ngày càng tăng, sản phẩm tiêu dùng của họ cũng đòi hỏi khắt khe hơn về chất lượng Việc đầu tư cho nông nghiệp sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm
1.3.5 Yếu tố năng lực của chủ thể sản xuất
- Lực lượng lao động trong nông nghiệp là yếu tố năng động và cách mạng nhất của lực lượng sản xuất, nó quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh Nhân tố này luôn bao gồm hai khía cạnh, đó là số lượng và chất lượng lao động Cả hai khía cạnh này đều ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến sự phát triển kinh tế nông nghiệp Nếu lao động nông nghiệp có số lượng thích hợp, có chất lượng cao thì sẽ ảnh hưởng rất tích cực đến phát triển và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Ngược lại nếu lao động nông nghiệp thiếu hoặc đủ về số lượng so với yêu cầu của sản xuất, nhưng yếu kém về chất lượng thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến phát triển và chuyển dịch ngành nông nghiệp,
Trang 33đồng thời khó đạt năng suất và hiệu quả lao động cao
- Ngày nay, kinh tế thị trường đã phát triển đến sự thống nhất khu vực và thế giới, người lao động trong nông nghiệp muốn là chủ thể sản xuất kinh doanh nông nghiệp hàng hóa thì không thể chỉ dừng lại ở sản xuất hàng hóa giản đơn mà phải là những người có trình độ kinh doanh hàng hóa phát triển, phải có tri thức làm giàu Một mặt người lao động nông nghiệp phải tự vươn lên năng động, sáng tạo, dám nghĩ dám làm; phải có sự trợ giúp đắc lực của giáo dục và đào tạo, dịch vụ khuyến nông, đặc biệt là vai trò quy hoạch, đầu tư lớn và đồng bộ của Nhà nước Đặc biệt trình độ dân trí, khả năng lao động, kỹ năng nghề nghiệp, tính cần cù, thông minh… là những yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nền nông nghiệp hàng hóa Trong thực tế, trình độ sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp hàng hóa phải cao hơn người sản xuất trong nền kinh tế tự nhiên, phải từ bỏ tập quán và thói quen sản xuất theo kiểu tự cung,
tự cấp, dám bỏ sức và tiền của vào sản xuất cái gì có khả năng nhất, hiệu quả nhất
1.3.6 Yếu tố khoa học - công nghệ ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp
Sự phát triển của KH - CN là một trong các nhân tố chủ yếu tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng, là yếu tố quan trọng, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển Bởi vì, sự phát triển của KH -
CN không những làm thay đổi các công cụ sản xuất theo hướng hiện đại, tạo điều kiện nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất, mà còn làm thay đổi cả phương thức lao động, tạo khả năng đổi mới những nguyên tắc và công nghệ sản xuất trong các ngành kinh
tế Từ đó, làm cho năng suất của các ngành truyền thống tăng cao, hình thành nên các ngành sản xuất kinh doanh mới Sự thay đổi về tốc độ phát triển của các ngành và sự hình thành các ngành mới chính là sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế nói chung, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng dưới tác động của KH - CN Ngày nay, KH - CN trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sự tác động của nó đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp được thể hiện đậm nét cả khi xem xét về phương diện lịch sử Trong nông nghiệp, KH - KT đã có những tác động mạnh mẽ về cơ giới hoá, điện khí hóa, thuỷ lợi hoá, cách mạng về sinh học Từ đó, hàng loạt giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao và hiệu quả kinh tế từng bước được đưa vào sản xuất Nhờ đó, nông nghiệp có thể rút bớt các điều kiện để chuyển sang các ngành sản xuất có giá trị sử
Trang 34dụng và giá trị kinh tế cao Có thể nói, sự phát triển của KH - CN đã tạo điều kiện tiền
đề cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Sự phát triển của nông nghiệp nhờ tác động của KH - CN đã tạo ra những ngành mới trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn Đến lượt nó sự phát triển của nông nghiệp và kinh tế nông thôn sẽ tạo những điều kiện cho KH - CN phát triển
Nền sản xuất xã hội và kinh tế nông nghiệp từng bước phát triển và chuyển dịch theo những hướng vận động mang tính quy luật Do đó, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là kết quả tất yếu của quá trình phát triển khoa học Khi xác định được một cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ tạo điều kiện đầu tư, phát triển KH - CN, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông nghiệp
1.3.7 Các cơ chế, chính sách Nhà nước về phát triển kinh tế nông nghiệp
Quản lý nhà nước về kinh tế nông nghiệp có vai trò to lớn và không thể thiếu trong quá trình phát triển kinh tế nông nghiệp và thực hiện các chức năng: định hướng chiến lược phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước
- Nếu chính sách nông nghiệp đúng đắn, thích hợp nó sẽ phát huy được tính năng động của các chủ thể sản xuất - kinh doanh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa và ngược lại nếu các chính sách nông nghiệp không đúng đắn, không thích hợp nó sẽ trở thành yếu tố kìm hãm sự phát triển nông nghiệp hàng hóa
- Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước thông qua các chính sách để khắc phục những khuyết tật của thị trường, cụ thể như: chính sách đất đai, chính sách đầu tư và tín dụng, chính sách khoa học - công nghiệp, chính sách tiêu thụ nông sản… các chính sách này vừa tạo phân công lao động xã hội, vừa tạo điều kiện môi trường để thúc đẩy
sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa
- Thực tiễn cho thấy ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù điều kiện tự nhiên không được thuận lợi nhưng nông nghiệp hàng hóa đạt được tốc độ phát triển cao, là do các nước
đó có được các chính sách nông nghiệp đúng đắn, Nhà nước đã tạo được môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh tế hoạt động như: phát triển khoa học - công
Trang 35nghệ, cung cấp dịch vụ thông tin, cung cấp các loại hàng hóa công cộng (hệ thống đường giao thông, điện, thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc…), cung cấp vốn, tín
dụng, điều chỉnh lãi suất hợp lý có lợi cho người sản xuất nông nghiệp… những vấn đề này thể hiện sự can thiệp và trợ giúp của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng phát triển nông nghiệp hàng hóa
1.4 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của một số địa phương và trên thế giới
1.4.1 Kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của một số nước trên thế giới
1.4.1.1 Kinh nghiệm Nhật Bản
Nhật Bản là một quốc gia có điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt nhưng đã phát triển thành nước có nền kinh tế xếp thứ 3 thế giới với nền nông nghiệp hiện đại Đời sống nông dân được bảo đảm và có các chính sách an sinh xã hội tốt Hiện nay, chỉ có khoảng 3% dân số Nhật làm nông nghiệp nhưng lại cung cấp lương thực, thực phẩm chất lượng cao dư thừa cho dân số hơn 127 triệu người cùng xuất khẩu nhờ nền nông nghiệp công nghệ cao với chuỗi giá trị hiệu quả
Kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai, lương thực thiếu hụt rất trầm trọng Nhật Bản phải dựa vào sự viện trợ của Mỹ và thực hiện chế độ định lượng khẩu phần ăn Nhờ các chính sách khôn khéo về nông nghiệp, Nhật Bản nhanh chóng có sự đổi mới cơ bản trong nông nghiệp, nông thôn Đến nay, Nhật Bản đã có một nền nông nghiệp phát
triển đa dạng, hiện đại với cơ cấu hợp lý Phát triển “tam nông” thành công ở các tỉnh,
thành của Nhật Bản là bài học cho Việt Nam, có thể rút ra những kinh nghiệm sau đây:
- Nhật Bản đã tiến hành cải cách ruộng đất, tự do hoá nông dân, xem trọng hình thức nông trại gia đình, phát triển kinh tế trang trại gia đình gắn liền với Hợp tác xã, xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp
về tận các nông trại Coi trọng phát triển các vùng nông nghiệp đặc thù, đảm bảo mục
tiêu "an toàn lương thực", đồng thời phát triển nông nghiệp toàn diện, mở rộng sản
xuất các cây trồng khác và phát triển chăn nuôi thông qua phát triển các vùng nông nghiệp đặc thù Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, Nhật Bản áp dụng chính sách an toàn lương thực thông qua việc cải tạo đất đai, định cư cho nông dân, thiết lập
Trang 36chế độ sở hữu nhỏ, xoá bỏ quyền chiếm dụng ruộng đất bất hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi để nông dân yên tâm phát triển sản xuất
- Chiến lược sản xuất sản phẩm nông nghiệp và sự tăng cường quản lý vĩ mô bằng các chính sách nông nghiệp của Chính phủ Nhật Bản Sau 1945, Nhật Bản bước vào giai đoạn khôi phục và phát triển nông nghiệp, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là an toàn lương thực trên cơ sở phát triển chăn nuôi và các loại cây trồng khác Từ năm 1947 Nhật Bản thực hiện các chính sách và luật hướng dẫn, hỗ trợ nông nghiệp được ban hành như chính sách bình ổn giá, cải cách hành chính, khuyến khích đầu tư vốn, Luật tài trợ cho nông dân khi bị thiên tai, Luật đất đai nông nghiệp Từ năm 1975 khi nông nghiệp phát triển có phần không tương ứng với công nghiệp và nhu cầu xã hội, Nhật Bản đã thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp toàn diện trên cơ sở đảm bảo an toàn lương thực, thực hiện trợ giá nông sản, hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, đẩy mạnh các công trình phúc lợi ở nông thôn
- Công nghiệp hoá nông thôn, phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp: Do ruộng đất bình quân mỗi trang trại gia đình thấp nên Chính phủ đã chú trọng phát triển kinh
tế nông thôn, xây dựng các xí nghiệp công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp về tận các nông trại gia đình, kể cả những ngành công nghiệp tinh vi như lắp ráp điện tử, làm nghề thủ công mỹ nghệ Để phát triển nông nghiệp Nhật Bản coi phát triển khoa học - kỹ thuật nông nghiệp là biện pháp hàng đầu Nhật Bản tập trung vào các công nghệ tiết kiệm đất như: tăng cường sử dụng phân hoa học; hoàn thiện công tác quản lý và kỹ thuật tưới tiêu nước cho ruộng lúa; lai tạo và đưa vào sử dụng đại trà những giống kháng bệnh, sâu rầy và chịu rét; nhanh chóng đưa sản xuất nông nghiệp sang kỹ thuật thâm canh, tăng năng suất Đây là một thành công quan trọng về định hướng đầu tư khiến cho sản xuất nông nghiệp vào năm 1950 đã được phục hồi xấp xỉ mức trước chiến tranh, sản lượng tiếp tục tăng và tới năm 1953 đã vượt mức trước chiến tranh 30%, sản lượng nâng cao là điều kiện thuận lợi để Nhật Bản thực hiện Chương trình hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp
- Phát triển nông nghiệp có chọn lọc, nâng cao chất lượng nông sản Bước ngoặt của chính sách nông nghiệp của Nhật Bản thực sự bắt đầu khi Luật Nông nghiệp cơ bản được ban hành vào năm 1961, với hai phương hướng chính sách chủ yếu: Phát triển
Trang 37sản xuất có chọn lọc, cụ thể là đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm có nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng và giảm sản xuất những nông phẩm có sức tiêu thụ kém; hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp, kể cả việc phát triển những nông hộ và Hợp tác xã có năng lực về quản lý kinh doanh và canh tác Sự chuyển dịch tích cực cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn gắn liền với tập trung phát triển các vùng nông nghiệp đặc thù Chương trình vùng nông nghiệp đặc thù được triển khai từ năm 1977, nội dung của nó dựa trên nguyên tắc tôn trọng sáng kiến và tính truyền thống trong việc bố trí sản xuất của người nông dân, các vùng chuyên canh được hình thành trên cơ sở trao đổi thống nhất với người sản xuất trực tiếp trên vùng đó Các ngành thực phẩm chế biến phát triển, giúp cho người dân sống ở nông thôn có thêm nhiều việc làm, thu nhập được cải thiện,
do đó Nhật Bản đã tạo cho mình một thị trường nội địa đủ lớn cho hàng hóa công nghiệp tích lũy lấy đà chuyển sang xuất khẩu Khi sản xuất hàng hóa lớn phát triển, Nhật Bản tập trung đất đai, mở rộng quy mô sản xuất, phát triển nông hộ lớn hoặc trang trại để tạo điều kiện cơ giới hóa, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh cho nông nghiệp
- Tăng cường dịch vụ khuyến nông, hỗ trợ nông nghiệp, xây dựng hệ thống dịch vụ xã hội hoá nhằm phục vụ đầu ra, đầu vào cho nông nghiệp, cho các hộ trang trại Hệ thống các Hợp tác xã đã cung cấp các dịch vụ về kỹ thuật, tài chính, chế biến bảo quản
và tiêu thụ sản phẩm cho hầu hết số nông trại gia đình ở Nhật Bản, trên cơ sở bảo đảm tôn trọng quyền tự chủ kinh doanh của từng trang trại Nhật Bản luôn có chính sách hỗ trợ kịp thời để khuyến khích phát triển nông nghiệp như: Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp các trang thiết bị, vật tư cho nông nghiệp, cung cấp thông tin, xúc tiến thương mại, cho vay vốn tín dụng
- Với chính sách "ly nông bất ly hương", Nhật Bản đã thực hiện thành công với hai
nhóm chính sách chính: Phát triển doanh nghiệp nông thôn và đưa công nghiệp lớn về nông thôn để tạo sự gắn bó hài hòa phát triển nông thôn vối phát triển công nghiệp, xóa bỏ khoảng cách về mức sống giữa đô thị và nông thôn Đây là một thành công chưa từng có ở các nước công nghiệp hóa trước đây và hiện đây vẫn là thách thức lớn cho mọi quốc gia trong quá trình công nghiệp hóa Ở Nhật Bản, không chỉ các ngành công nghiệp chế biến nông sản mà cả các ngành cơ khí, hóa chất đều được phân bố
Trang 38trên toàn quốc Từ khi bắt đầu công nghiệp hóa (năm 1883), 80% nhà máy lớn đã được
xây dựng ở nông thôn; 30% lao động nông nghiệp tham gia hoạt động phi nông nghiệp, năm 1960 tỷ lệ này tăng lên 66% Nhờ chủ trương này mà công nghiệp sử dụng được một nguồn lao động rẻ, dân cư nông thôn có thu nhập cao Năm 1950 thu nhập phi nông nghiệp đóng góp gần 30% tổng thu nhập của cư dân nông thôn Nhật Bản, năm 1990 tăng lên tối 85%
- Phát triển cộng đồng nông thôn qua các tổ chức Hợp tác xã Góp phần vào việc đưa công nghiệp về nông thôn, các Hợp tác xã và tổ chức kinh tế hợp tác dịch vụ nông nghiệp đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, cung ứng vật tư và tiêu thụ nông sản Hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng trên nền tảng làng xã nông thôn Nhật Bản Trong mỗi làng xã, những mối quan hệ nhiều chiều đa dạng đã tồn tại từ rất lâu giữa các gia đình, giữa những người nông dân Tận dụng ưu điểm này, Hợp tác xã nông nghiệp được xây dựng trên cơ sở cộng đồng nông thôn để tạo quan hệ cộng đồng mối vững chắc được bắt nguồn từ bên trong cộng đồng làng xã Do vậy, Hợp tác xã cũng rất chú trọng đến các hoạt động mang tính cộng đồng để làm cho cuộc sống ở nông thôn tốt đẹp hơn
- Về vấn đề nông dân: Ở Nhật Bản, sau khi cải cách ruộng đất người nông dân có ruộng cày và các tư liệu sản xuất khác, các chính sách thúc đẩy sản xuất phát triển được áp dụng nhằm tiếp sức cho đối tượng nông dân này và họ đã thực sự trở thành một tầng lớp xã hội quan trọng trong xã hội Để khuyến khích nông dân đầu tư sản xuất kinh doanh, Nhật Bản đánh thuế nông nghiệp theo hạng đất và ổn định hàng chục năm, giá nông sản duy trì ở mức cao, giá vật tư được giữ thấp
Tầng lớp nông dân nhỏ cạnh tranh thành công trên thị trường là nhờ kinh tế hợp tác rất phát triển Gần 100% nông dân ở Nhật Bản là hội viên nông hội và xã viên Hợp tác xã
Hệ thống Hợp tác xã và nông hội được tổ chức theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng và dân chủ ra quyết định Các cấp quản lý có trách nhiệm thực hiện đúng nhiệm vụ được nông dân uỷ thác, bảo vệ và phản ánh quyền lợi của nhân dân Trên cơ
sở là tổ chức thực sự của dân, vì dân và do dân, Hợp tác xã và nông hội được nhà nước
hỗ trợ và trao cho các quyền hết sức quan trọng, quyết định vận mệnh sống còn của sản xuất và đời sống nông dân Hợp tác xã là kênh tiêu thụ nông sản chính cho phần
Trang 39lớn nông sản, cung ứng vật tư, máy móc thiết bị, tín dụng, bảo hiểm rủi ro, khuyến nông Từ năm 1990, Hợp tác xã còn mở rộng hoạt động ra các lĩnh vực phúc lợi xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa, cải thiện điều kiện sống, du lịch, tư vấn nông nghiệp và đặc biệt là thương mại
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Israel
Israel là nước xuất khẩu chính của các sản phẩm tươi sống và là nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới về công nghệ nông nghiệp bất chấp thực tế là nước này không được thiên nhiên ưu đãi về mặt địa lý để phát triển lĩnh vực này Là quốc gia dẫn đầu thế giới về nghiên cứu và phát triển nông nghiệp, các loại cây trồng của Israel đã gia tăng đáng kể
mà thế giới đang phải đấu tranh để ngăn chặn
Sự thành công của Israel hiện nay là nhờ chủ trương thay đổi cơ cấu nền nông nghiệp
từ cách đây hơn 2 thập niên, giúp giảm mạnh số lượng nông trại và nông dân cá thể trong khi tăng qui mô và tính hiệu quả của các nông trại Người nông dân Israel còn được trang bị các kỹ năng kinh doanh rất phát triển cũng như khả năng quản trị cần thiết để đương đầu với sự thay đổi nhanh chóng và năng động của nền nông nghiệp hiện đại
Trang 40Bên cạnh đó, sự thành công của Israel một phần do chính người nông dân biết thích nghi và sẵn sàng ứng dụng những đổi mới, bí quyết và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa người nông dân với các chuyên gia nghiên cứu và phát triển và các doanh nghiệp công nghệ nông nghiệp Nói cách
khác, khu vực nông nghiệp Israel đã trở thành một "phòng thí nghiệm" để phát triển
những công nghệ nông nghiệp mới rồi phổ biến ra khắp thế giới
Việc tái cơ cấu nền nông nghiệp của Israel còn nhằm một mục đích rộng hơn Đó là chấp nhận một hướng đi toàn diện hơn cho phát triển nông thôn, trong đó sản xuất lương thực, thực phẩm - xương sống của đời sống nông thôn - tác động tới một loạt những hoạt động kinh tế rộng lớn hơn, từ các ngành chế biến thực phẩm và đóng gói bao bì tới những dự án công nghiệp khác, các ngành dịch vụ và thậm chí phát triển du lịch sinh thái Israel ưu tiên phát triển nông nghiệp thân thiện với môi trường, phát triển nông thôn và sản xuất lương thực Cùng với đó là các chính sách gắn liền với người dân ở khu vực nông thôn, bao gồm hỗ trợ nghề và các sáng kiến đem lại lợi ích nhằm phát triển hạ tầng và dịch vụ
Bốn yếu tố cơ bản dẫn đến sự thành công của kinh tế nông nghiệp Israel là:
- Một là tất cả các khâu sản xuất nông nghiệp đều được tổ chức dựa trên nền tảng khoa học kỹ thuật tiên tiến, từ khâu đầu vào đến tổ chức sản xuất, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ sản phẩm
- Hai là nền nông nghiệp Israel áp dụng công nghệ quản trị rất cao trên cơ sở phát huy nền tảng của công nghệ thông tin trong tất cả các công đoạn của quá trình tổ chức sản xuất, như quy hoạch, định dạng và phân phối thị trường để đảm bảo hiệu quả tối đa cho quá trình tổ chức sản xuất nông nghiệp
- Ba là tiết kiệm tối đa các cơ sở đầu vào của sản xuất, từ tài nguyên đất, nước đến tất
cả vật tư nông nghiệp nhằm tăng hiệu quả tối đa song vẫn đảm bảo tính bền vững
- Bốn là sự kết hợp giữa các nhà trong sản xuất nông nghiệp tại Israel rất rõ và nhuần nhuyễn, gồm nhà doanh nghiệp, nhà nông, ngân hàng và nhà khoa học
1.4.1.3 Kinh nghiệm từ Thái Lan