LỜI CAM ĐOAN Chúng em xin cam đoan đề tài tiểu luận “Phân tích chứng khoán” là một công trình nghiên cứu của nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn Lương Thị Hải Yến Đề tài, nội dung báo cáo l.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
1
Trang 2Chúng em xin cam đoan đề tài tiểu luận: “Phân tích chứng khoán” là một
công trình nghiên cứu của nhóm dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn:Lương Thị Hải Yến Đề tài, nội dung báo cáo là sản phẩm mà nhóm em đã nỗlực nghiên cứu, tìm hiểu trong quá trình thu thập và tổng hợp thông tin Các kếtquả nghiên cứu trình bày trong bài là hoàn toàn trung thực, em xin chịu hoàntoàn trách nhiệm, kỷ luật của bộ môn và nhà trường đề ra nếu như có vấn đề xảyra
2
Trang 3Em xin chân thành cảm ơn!
3
Trang 4MỤC LỤC
4
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
5
Trang 6Đầu tư CK luôn có mục tiêu là lợi nhuận, và luôn gắn liền với rủi ro Điềunày thuộc về những tri thức cơ bản trong lĩnh vực thị trường chứng khoán Tuynhiên, đối với một thị trường mới mẻ như thị trường, chủ đề này cần đượcnghiên cứu với những lý do sau:
6
Trang 7Hiểu những nguyên lý về rui ro trong đầu tư chứng khoán nói chung và nóiriêng là đầu tư cổ phiếu, là cơ sở quan trọng để cho các nhà đầu tư, các nhàphân tích và các nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định, các ý kiến tư vấn.Nhìn chung đây là mảng kiến thức còn rất yếu trong cộng đồng người tham giaNhững hạn chế hiểu biết về rủi ro nói chung , sẽ dẫn đến một trong hai trạng tháicực đoan của người đầu tư: hoặc ngộ nhận thị trường chứng khoán là nơi làmgiầu nhanh chóng và ăn chắc, sẵn sàng dốc hết tiền của vào đó với hy vọng trởthành triệu phú một sớm, một chiều; hoặc là ngược lại, coi môi trường đầu tưnày không khác gì một sòng bạc với những rủi ro không gì hạn chế được, dẫnđến việc sợ hãi không muốn tham gia đầu tư Cả hai trạng thái đó đều có nhữngtác hại tới cá nhân và hệ thống, trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn.
7
Trang 8Mặt khác, vấn đề rủi ro trên thị trường chứng khoán bị quy định bởi bốicảnh kinh tế thị trường Phân tích rủi ro, phát hiện những nét đặc thù trong môitrường đó, gắn nó với thực trạng và xu hướng vận động của nền kinh tế, cón làvấn đề bức xúc cho việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm giámthiểu bớt rủi ro và tăng cơ hội lợi nhuận cho doang nghiệp, từ đó khuyến khíchngười đầu tư bỏ tiền vào thị trường vốn dài hạn Mục tiêu của quá trình phântích chứng khoán là giúp cho nhà đầu tư ra các quyết định mua bán chứng khoánmột cách có hiệu quả nhất, tức là mang lại lợi nhuận và sự an toàn về vốn chonhà đầu tư.
Phân tích chứng khoán được nhà đầu tư tiến hành nhằm trả lời các câu hỏitrước khi đưa ra các quyết định đầu tư như: khi nào là thời điểm thuận lợi để đầu
tư, khi nào cần phải rút ra khỏi thị trường; đầu tư vào loại chứng khoán nào đểphù hợp với mục tiêu đề ra;
Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ PHÂN TÍCH VÀ ĐẦU TƯ CHỨNG
KHOÁN 1.1 khái niệm phân tích và đầu tư chứng khoán
Phân tích chứng khoán là một tập hợp các khái niệm, phương pháp và cáccông cụ cho phép xử lý các thông tin nhằm trợ giúp cho việc ra quyết định đầu
tư chứng khoán
• Hoạt động phân tích chứng khoán cuối cùng phải giúp nhà đầu tư xác địnhgiá trị của chứng khoán và thời điểm để ra quyết định đầu tư
1.2 Hệ thống thông tin trong phân tích và đầu tư chứng khoán
1.2.1 Các nguồn thông tin trên thị trường chứng khoán
8
Trang 9●Thông tin từ tổ chức niêm yết
Chứng khoán là một dạng tài sản tài chính ( khác với tài sản thực ) đượcniêm yết giao dịch trên thị trường thị trường chứng khoán bởi chính tổ chức pháthành NgoàI yếu tố quan hệ cung- cầu , giá chứng khoán được hình thành dựatrên “ sức khoẻ “ của chính công ty phát hành Do vậy , các thông tin liên quanđến tổ chức phát hành đều tác động tức thời lên giá chứng khoán của chính tổchức đó , và trong những chừng mực nhất định có thể tác động lên toàn bộ thịtrường Trên thị trường chứng khoán , vấn đề công bố thông tin công ty( corporate disclosure ) được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu trong hệ thốngthông tin của thị trường , bảo đảm cho thị trường hoạt động cong bằng , côngkhai và hiệu quả , bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cả nhầ đầu tư
Nội dung thông tin liên quan đến tổ chức phát hành bao gồm các thông tintrước khi phát hành , sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng , và sau khichứng khoán được niêm ýêt giao dịch trên thị trường tập trung Các thông tinbao gồm :
● Thông tin trên bản cáo bạch ( prospectus ) Bản cáo bạch là bản thông cáo
của tổ chức phát hành khi thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng ,nhằm giúp nhà đầu tư hiểu rõ về tình hình họat động kinh doanh , tàI chính vv
và các thông tin khác về mục tiêu phát hành chứng khoán của tổ chức phát hành
● Thông tin định kỳ là những thông tin do tổ chức niêm yết công bố vào những
thời điểm theo qui định của cơ quan quản lý như : hằng năm , hàng quý , hàngtháng Nội dung thông tin liên quan đến các báo cáo tàI chính , kết quả hoạtđộng kinh doanh ; báo cáo lưu chuyển tiền tệ vv Các báo cáo thường niên phảI
có ý kiến của tổ chức kiểm toán độc lập được UBCK chấp thuận
● Thông tin bất thường là thông tin được tổ chức niêm yết công bố ngay sau khi
xảy ra các sự kiện quan trọng , làm ảnh hưởng đến giá chứng khoán hoặc lợi íchcủa nhà đầu tư
Thông thường , các thông tin này được công bố trong vòng 24h sau khixảy ra sự kiện hoặc sau 3 ngày Nội dung của các thông tin bất thường do cơquan quản lý qui định
● Thông tin theo yêu cầu là việc công bố thông tin khi UBCK hoặc SGDCK yêu
cầu phảI công bố thông tin do có những dấu hiệu bất thường , hoặc nguồn tinđồn trên thị trường có tác động đến giá chứng khoán
9
Trang 10● Thông tin từ sàn giao dịch chứng khoán
+ Hệ thống các văn bản , chính sách ban hành mới ; thay đổi , bổ sung , huỷ bỏ
…vv
+ Đình chỉ giao dịch hoặc cho phép giao dịch trở lại các chứng khoán
+ Công bố ngày giao dịch không được hưởng cổ tức , lãi và các quyền kèm theo+ Các chứng khoán thuộc diện bị kiểm soát , cảnh báo
+ Đình chỉ thành viên hoặc cho phép niêm yết trở lại
+ Thông tin về tình hình thị trường : thông tin giao dịch của năm cổ phiếu hàngđầu ; dao động giá cổ phiếu hàng ngày ; cổ phiếu đạt mức giá trần , sàn …
10
Trang 11●Thông tin về diễn biến thị trường
11
Trang 12+ Thông tin về giao dịch trên thị trường ( giá mở cửa , đóng cửa , giá cao nhất,thấp nhất trong ngày giao dịch ; khối lượng giao dịch ; giá trị giao dịch ; giaodịch lô lớn ; giao dịch mua bán lại cổ phiếu của tổ chức niêm yết )
+ Thông tin về lệnh giao dịch ( giá chào mua , chào bán tốt nhất , quy mô đặtlệnh ; số lượng mua hoặc bán )
+ Thông tin về chỉ số giá ( chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp ; bình quân giá cổphiếu ; chỉ số giá trái phiếu )
+ Thông tin về tình hình các tổ chức niêm yết
+ Thông tin về các nhà đầu tư : giao dịch lô lớn ; giao dịch thâu tóm công ty ;giao dịch đấu thầu mua cổ phiếu vv
12
Trang 13● Thông tin về giao dịch chứng khoán
Các thông tin về giao dịch chứng khoán được thông báo trên bảng điện tử kếtquả giao dịch trên SGDCK và trên các phương tiện thông tin đại chúng như : báo, tạp chí … vv
1.2.2.Chỉ số giá chứng khoán
13
Trang 14Tất cả các TTCK đều xây dựng hệ thống chỉ số giá cổ phiếu cho riêngmình
Giá bình quân thời kỳ gốc trong so sánh thường được lấy là 100
14
Trang 15b) Chỉ số giá cổ phiếu được tính cho
Từng cổ phiếu
Tất cả các cổ phiếu của từng thị trường , ví dụ :chỉ số KOSPI; HangsengTừng ngành , từng nhóm ngành : như chỉ số ngành công nghiệp của Mỹ (DJIA)
Thị trường quốc tế như chỉ số Hang Seng Châu á (HSAIS)
Ngoài ra , một số chỉ tiêu sau cũng thường được thống kê , tổng hợp đốivới chỉ số giá và thông báo rông rãi : chỉ số giá trong ngày ; ngày đó so với ngàytrước ; so với đầu năm ; chỉ số cao nhất hoặc thấp nhất trong năm …
Chỉ số giá có thể tính theo thời gian ( so sánh theo thời gian ) hoặc theokhông gian để so sánh giữa các lãnh thổ khác nhau Bất kỳ một thị trường chứngkhoán nào cũng có một chỉ số chứng khoán của riêng nó Ví dụ thị trường chứngkhoán New york có chỉ số Dow Jones, thị trường chứng khoán Tokyo áp dụngchỉ số Nikkei, Hong Kong áp dụng chỉ số Hang - xieng, Singapore áp dụng chỉ
số "Strai taime"…
Một loại chỉ số chứng khoán được nhiều người biết đến nhất là chỉ sốDow Jones ra đời cách đây vừa tròn 100 năm (1896) Chỉ số này được coi nhưmột cột mốc của thị trường chứng khoán thế giới Chỉ số này do hai nhà kinh tế
Mỹ Edward David Jones và Charles Hery Dow đề xuất đo lường mức độ biếnđộng của thị giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán New York Chỉ số DowJones bao gồm 65 loại cổ phiếu được chia thành 3 nhóm chỉ số bình quân nhỏnhư sau:
● Chỉ số Dow Jones công nghiệp bao gồm giá cổ phiếu của 30 công ty hàng đầungành công nghiệp công lại rồi chia cho 1504 (con số này có khi có giảm)
● Chỉ số Dow Jones vận tải bao gồm giá cổ phiếu của 20 công ty hàng đầu ngànhgiao thông vận tải cộng lại chia cho 2785 (con số này có khi tăng)
● Chỉ số Dow Jones dịch vụ công cộng bao gồm giá cổ phiếu của 15 công ty hàngđầu ngành dịch vụ công cộng
Để biết được tình hình phát triển kinh tế gần đây người ta xác định thêmmột số tiêu chuẩn khác Đó là các điểm giới hạn và điểm liệt Chẳng hạn điểmgiới hạn của chỉ số Dow Jones là 800, điểm liệt là 700 Nếu chỉ số Dow Joneshàng ngày vượt quá 800 điểm chung trong nền kinh tế đang đi lên, nếu dưới 800điểm cho biết có nguy cơ xảy ra suy thoái kinh tế
15
Trang 16c) Chỉ số thị trường chứng khoán Việt Nam ( VN INDEX )
Chỉ số thông tin trên thị trường chứng khoán Việt Nam –VN INDEX làchỉ số phản ánh mức giá trên TTCK trong một ngày cụ thể so với mức giá cả tạithời điểm gốc Chỉ số được cấu thành bởi hai yếu tố là loại chứng khoán trọng
số và giá của từng chứng khoán cấu thành ở Việt Nam , trong giai đoạn đầu chỉ
số VN Indẽ là chỉ số duy nhất cho đại diện các cổ phiếu được niêm yết trênTTGDCK Chỉ số này được tính theo phương pháp trọng số giá trị thị trường
1.3 Phân loại đầu tư chứng khoán
16
Trang 17Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán
17
Trang 18Quỹ đầu tư chứng khoán có thể được thành lập theo nhiều loại khác nhaunhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư Sự phát triển các loại hình quỹ đầu tưchứng khoán trên thế giới đã dẫn đến có nhiều tiêu chí để phân loại quỹ đầu tưchứng khoán.
18
Trang 19a/ Phân loại theo phương thức huy động vốn và quyền quản lý: quỹ đầu tư
chứng khoán được chia thành hai loại là quỹ đại chúng và quỹ thành viên
19
Trang 20b/ Căn cứ vào quy mô, cách thức và tính chất góp vốn: quỹ đầu tư chứng
khoán được chia thành 2 loại là quỹ đầu tư dạng đóng và quỹ đầu tư dạng mở
20
Trang 21c/ Phân loại theo tư cách chủ thể của quỹ: Quỹ đầu tư chứng khoán có hai loại
là quỹ không có tư cách chủ thể và quỹ có tư cách chủ thể
21
Trang 22d/ Phân loại theo mục tiêu đầu tư của quỹ: quỹ đầu tư chứng khoán rất đa
dạng về loại hình Sau đây xin được nêu một số loại quỹ đầu tư phổ biến trên thị
trường chứng khoán ở các nước có nền kinh tế phát triển: quỹ đầu tư ngành kinh
doanh; quỹ đầu tư chủ động; quỹ đầu tư thụ động; quỹ đầu tư có mục tiêu đạo đức.
22
Trang 231.4 Mức sinh lời và rủi ro trong đầu tư chứng khoán
23
Trang 244.1.1 Khái niệm
24
Trang 25Khái niệm: Mức sinh lời hay tỉ suất lợi nhuận trong tiếng Anh tạm dịch
là Profitability.Trong thực tế đầu tư chứng khoán người ta thường sử dụng thôngtin về mức sinh lời dưới dạng số tương đối Thực chất mức sinh lời tương đốiphản ánh nhà đầu tư sẽ nhận được bao nhiêu lãi từ một đơn vị vốn đầu tư banđầu
4.1.2 Phân loại
Các loại mức sinh lời
25
Trang 26Tuy nhiên nhà phân tích cũng phải quan tâm tới những loại mức sinh lời khác để
có thể đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn
26
Trang 27a. Mức sinh lời tuyệt đối
27
Trang 28Mức sinh lời tuyệt đối, mức sinh lời dự kiến hay còn gọi là lợi nhuận
dự kiến (lợi suất đầu tư) của một khoản đầu tư được hiểu là phần chênh lệch
giữa kết quả thu được sau một khoảng thời gian đầu tư và phần vốn gốc mà nhàđầu tư bỏ ra
28
Trang 29Trong thực tế, thu nhập của khoản đầu tư vào một tài sản được cấu thành bởi hai
bộ phận:
29
Trang 30+ Thứ nhất là thu nhập do chính bản thân tài sản đó mang lại, đối với các tài sản
là chứng khoán đó là cổ tức hoặc trái tức mà người sở hữu chứng khoán nhậnđược;
30
Trang 31+ Thứ hai là phần lỗ hoặc lãi do giảm hoặc tăng giá của tài sản đầu tư (còn đượcgọi là lỗ hoặc lãi về vốn hay thặng dư vốn – capital appreciation) Như vậy:
31
Trang 32Tổng mức sinh lời = Thu nhập từ chứng khoán (là cổ tức hoặc trái tức) + lãi(hoặc lỗ) về vốn
32
Trang 33b. Mức sinh lời trong một khoảng thời gian
33
Trang 34Giả sử trong năm thứ nhất mức sinh lời khi đầu tư vào một chứng khoán là R1,năm thứ 2 là R2… và giả định toàn bộ phần thu nhập từ cổ phần lại được tái đầu
tư và cũng thu được mức sinh lời tương đương với mức sinh lời của khoản vốngốc thì trong khoảng thời gian t năm, tổng mức sinh lời sẽ là:
34
Trang 35c. Mức sinh lời năm
35
Trang 36Trên thực tế để so sánh được mức sinh lời giữa các tài sản có thời gian đáo hạnkhác nhau, người ta thường sử dụng mức sinh lời theo năm Nếu một tài sản cómức sinh lời là Rm trong m tháng thì mức sinh lời năm (Rn) sẽ là:
36
Trang 37d. Mức sinh lời thực tế và mức sinh lời danh nghĩa
37
Trang 38Gọi R là mức sinh lời danh nghĩa, r là mức sinh lời thực tế, h là tỉ lệ lạm phát, ta
có thể thấy mối quan hệ giữa mức sinh lời danh nghĩa, mức sinh lời thực tế và tỉ
lệ lạm phát qua công thức sau:
38
Trang 39(1+R) = (1+r) x (1+h)
39
Trang 40Suy ra:
40
Trang 41r= [(1+R)/(1+h)] – 1
41
Trang 42R = r + h + rh
42
Trang 43Công thức cho biết mức sinh lời danh nghĩa (R) có ba bộ phận hợp thành.Thứ nhất là mức sinh lời thực tế (r), thứ hai chính là sự đền bù việc giảm giá trịcủa khoản tiền đầu tư ban đầu do lạm phát (h) và bộ phận cuối cùng là sự đền bù
về việc giảm giá trị của mức sinh lời do lạm phát (rh)
43
Trang 44Thành phần thứ ba (rh) thường rất nhỏ, vì vậy, trên thực tế khi tính toánngười ta thường cho bằng 0 Như vây công thức tính mức sinh lời danh nghĩatrên thực tế như sau:
44
Trang 45R = r + h
45
Trang 46e. Mức sinh lời bình quân
46
Trang 47Mức sinh lời bình quân cho biết trong một khoảng thời gian đầu tư nhất định,nhà đầu tư thu được mức sinh lời bình quân một năm là bao nhiêu, từ đó sẽquyết định các khoản đầu tư trong tương lai.
Đầu tư chứng khoán là một hình thức kinh doanh có rủi ro Vì vậy, khitham gia đầu tư trực tiếp vào thị trường chứng khoán cũng như khi đầu tư thôngqua các quỹ, bạn đều cần tìm hiểu trước và chấp nhận được các rủi ro này
1.5 Thu thập và rủi ro
Vậy có những loại rủi ro nào trong đầu tư chứng khoán?
47
Trang 481 Rủi ro hệ thống: còn được gọi là rủi ro thị trường - loại rủi ro có thể ảnh
hưởng đến toàn bộ thị trường, rủi ro này không thể tránh mà chỉ có thểphòng Những rủi ro trong đầu tư chứng khoán của rủi ro hệ thống như: rủi robiến động lãi suất, rủi ro biến động giá hàng hóa, rủi ro tiền tệ, rủi ro tín dụng
và rủi ro thanh khoản
2 Rủi ro cụ thể hay còn gọi là rủi ro phi hệ thống, xảy ra ở từng trường hợp đầu
tư riêng lẻ, ảnh hưởng cá biệt tới khoản đầu tư đó, không có tính chất bao trùm
cả thị trường Rủi ro cụ thể là những rủi ro đặc trưng trong từng ngành hoặc từngcông ty Ví dụ các rủi ro khi đầu tư chứng khoán: tai nạn máy bay tới từ ngànhhàng không, thông tin xấu từ một công ty chứng khoán… không phải toàn thịtrường đều bị ảnh hưởng Vì là những rủi ro đặc trưng, nên không phải tấy cảnhà đầu tư trên thị trường đều cùng nhau chịu rủi ro này
48
Trang 493 Rủi ro xếp hạng: Bất kỳ một ngành công nghiệp, dịch vụ nào đều có các
đánh giá, xếp hạng hàng năm, chủ yếu là vào dịp cuối năm hoặc đầu nămsau Rủi ro về xếp hạng như doanh nghiệp giảm hạng so với năm trước,khiến giá trị của doanh nghiệp giảm, cổ phiếu xuống giá
49
Trang 504 Rủi ro lỗi thời : Rủi ro này có thể xảy ra ở nhiều ngành sản xuất khi các sản
phẩm đã rơi vào tình trạng lỗi thời, không có giá trị đổi mới, không tăngtrưởng lợi nhuận của nhiều năm khiến doanh nghiệp trở nên hoạt động trì trẹ,giá cổ phiếu giảm sút
50