NGUYỄN XUÂN TÌNH LLCT GDCD Câu 1 ; hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học và vai trò của mác, angghen, với sự ra đời của CNXHKH? Tại sao nói mác, angghen đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởn.
Trang 1NGUYỄN XUÂN TÌNH
LLCT- GDCD
Câu 1 ; hoàn cảnh ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học và vai trò của mác, angghen, với sự ra đời của CNXHKH? Tại sao nói mác, angghen đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học ?
Khái niệm chủ nghĩa xã hội khoa học:
Theo nghĩa rộng, chủ nghĩa xã hội khoa học (hay chủ nghĩa cộng sản khoa học) là chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung với tính cách là sự luận toàn diện (triết học, kinh
tế chính trị và xã hội – chính trị) về sự diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa cộng sản, là sự biểu hiện khoa học những lợi ích cơ bản và những nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp công nhân Điều ấy nói lên sự thống nhất, tính hoàn chỉnh về mặt cấu trúc của chủ nghĩa Mác – Lênin
Theo nghĩa hẹp, chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác – Lênin Chủ nghĩa xã hội khoa học là bộ phận thể hiện tập trung nhất tính chính trị - thực tiễn sinh động của chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa xã hội khoa học là khoa học về các quy luật xã hội – chính trị, là học thuyết về những điều kiện, con đường giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, về cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân, về cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, về các quy luật, biện pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của chính đảng mácxít nhằm thưc hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân
Những điều kiện và tiền đề khách quan dẫn đến sự ra đời chủ nghĩa xã hội khoa học:
- Điều kiên kinh tế xã hội:
Trang 2Vào những năm 40 thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã đạt được những bước phát triển rất quan trọng trong kinh tế Cuộc cách mạng khoa học – kỹ thuật lần thứ nhất đã thúc đẩy phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh
mẽ Chính sự phát triển đó làm cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bộc lộ mâu thuẫn giữa sự phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa ngày càng cao với quan hệ sản xuất dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.Chính vì vậy mà chủ nghĩa tư bản tạo ra những khả năng hiện thực cho những nhà dân chủ cách mạng tiến bộ nhận thức đúng đắn bản chất của chủ nghĩa tư bản, để
Đó là những điều kiện kinh tế - xã hội khách quan cho chủ nghĩa xã hội khoa học rađời để thay thế các trào lưu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa đã tỏ ra lỗi thời,không còn có khả năng đáp ứng phong trào công nhân trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, đồng thời chủ nghĩa xã hội khoa học ra đời phản ánh bằng lý luận phong trào công nhân
- Những tiền đề văn hóa – tư tưởng (tiền đề lý luận)
Đến đầu thế kỷ XIX, nhân loại đã đạt nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực khoa học, văn hóa và tư tưởng Về khoa học tự nhiên có: thuyết tế bào của M Sơlayđen
Trang 3và T Savanxơ (Đức); thuyết tiến hóa của Đ Đácuyn (Anh); thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng của M Lômônôxốp (Nga) Về khoa học xã hội có: triết học
cổ điển Đức (Ph Hêghen, L Phơbách,…), kinh tế chính trị học Anh (Ađam Smít,
Đ Ricácđô,…), chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán (H Xanhximông, S Phuriê, R.Ôoen,…) Những thành tựu của khoa học, văn hóa, tư tưởng đã tạo ra những tiền đề tư tưởng – văn hóa cho sự ra đời chủ nghĩa Mác nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng
Vai trò của C Mác, Ph Ăngghen đối với sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học:
- Các Mác (1818 – 1883):
C Mác là người sáng lập ra chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và kinh tế chính trị khoa học Ông là lãnh tụ và người thầy của giai cấp vô sản thế giới
Tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” do C Mác và Ph Ăngghen soạn thảo theo sự ủy nhiệm của “Đồng minh những người cộng sản” – một tổ chức công nhânquốc tế, đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học
Trang 4“Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” (2-1848) là tác phẩm bất hủ, là khúc ca tuyệt táccủa chủ nghĩa Mác, là văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của phong trào công nhân, phong trào cộng sản Với những nội dung đã được trình bày một cách rõràng và sáng sủa của thế giới quan khoa học, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản”, theo V.I Lênin, xứng đáng được thừa nhận là Tuyên ngôn của chủ nghĩa xã hội thế giới, là “cuốn sách gối đầu giường cho tất cả những người công nhân giác ngộ”.
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” là kim chỉ nam cho hành động của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Các Đảng Cộng Sản mácxít – lêninnít lấy tác phẩm
“Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản” làm cơ sở cho việc xây dựng đường lối chiến lược và sách lược cách mạng nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: thủ tiêu chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội, để tiến lên chủ nghĩa cộng sản
TẠI SAO ???
Vì Các Mác, Ph Ăng-ghen đã có đóng góp lớn trong việc cung cấp những luận cứ
thuyết phục để biến chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành chủ nghĩa xã hội khoa học Với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C Mác
và Ph Ăng-ghen đã cung cấp cho giai cấp công nhân “vũ khí” lý luận, chỉ rõ vị thế
và vai trò của họ trong sự phát triển của lịch sử Trong toàn bộ lý luận của mình, đặc biệt là trong bộ “Tư bản”, các ông đã phân tích, chứng minh rất rõ rằng, hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sẽ không thể trụ vững trước những mâu thuẫn
cố hữu, nội tại, gắn liền với nó và theo quy luật khách quan, tất yếu nó sẽ bị thay thế bởi hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Trong lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học, các ông cũng chỉ ra con đường dẫn dắt giai cấp công nhân đấu tranh giải phóng thoát khỏi sự nô dịch và bóc lột tư bản chủ nghĩa và tiến tới xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Chính vì vậy, mà sau này, không phải ngẫunhiên, V.I Lê-nin đặc biệt nhấn mạnh rằng: Điều quan trọng nhất trong học thuyết Mác là việc làm sáng tỏ vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản với tư cách
là người xây dựng, kiến tạo xã hội mới.Và đã trải qua 3 giai đoạn để đi lên chủ nghĩa khoa học :
- Giai đoạn thứ nhất: những mầm mống và khuynh hướng tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời cổ đại
Trang 5Chế độ chiếm hữu nô lệ là bước phát triển tất yếu của lịch sử Giai câp quý tộc chủ
nô và giai cấp nô lệ là hai giai cấp cơ bản mang tính chất đối kháng quyết liệt
Mâu thuẫn giai cấp và cuộc đấu tranh giai cấp làm nảy sinh những mầm mống tư tưởng xã hội chủ nghĩa Tư tưởng xã hội chủ nghĩa thời cổ đại thể hiện trong dòng
“văn học chưa thành văn” Thông qua các câu chuyện dân gian như: chuyện thần thoại, chuyện cổ tích, chủ nghĩa xã hội không tưởng một mặt phản ánh sự bất bình của đông đảo quần chúng nhân dân đối với các hành vi áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị; mặt khác, nêu lên ước mơ, khát vọng của công chúng bị bóc lột, bị áp bức
về một xã hội bình đẳng, công bằng, bác ái, nhưng rất mơ hồ, vụn vặt, thậm chí muốn trở về với thời đại “hoàng kim nguyên thủy”
- Giai đoạn thứ hai: Tư tưởng xã hội chủ nghĩa từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII
Chủ nghĩa tư bản ra đời và sau đó phát triển ở một số nước, trước hết là ở châu Âu
Sự phân hóa giai cấp diễn ra mạnh mẽ và kèm theo đó là những xung đột giai cấp cũng diễn ra quyết liệt Giai cấp tư sản từng bước thiết lập địa vị thống trị của mình
và đã dùng nhiều thủ đoạn áp bức, bóc lột tàn bạo đối với người lao động Trong bối cảnh lịch sử đó, đã xuất hiện các nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Thông qua các tác phẩm “ văn học nhân đạo” của mình, các nhà nhân đạo thời cận đại đã lên
án, phê phán chế độ xã hội dựa trên chế độ tư hữu, đòi hỏi phải thay thế chế độ xã hội đó bằng một xã hội mới thực sự công bằng, bác ái
- Giai đoạn thứ ba: Chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán đầu thế kỷ XIX
Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp về cơ bản hoàn thành ở nước Anh và sau đó tiếp diễn ở một số nước Tây Âu Đây là giai đoạnchủ nghĩa tư bản chiến thắng chế độ phong kiến, giai cấp tư sản đã bắt đầu bộc lộ bản chất cố hữu của nó: phản động và bóc lột áp bức nhân dân lao động vì quyền lợi của giai cấp mình; đây cũng là giai đoạn giai cấp vô sản hiện đại hình thành và bắt đầu thức tỉnh về chính trị
Trang 6Trong thời kỳ này, các tư tưởng xã hội chủ nghĩa được thể hiện như là một học thuyết Chủ nghĩa xã hội không tưởng – phê phán đã tố cáo, phê phán sâu sắc xã hội tư bản chủ nghĩa, phủ định nó, đồng thời đề xuất con đường, biện pháp và những dự đoán thiên tài về xã hội tương lai
Câu 2 ;sứ mệnh của giai cấp công nhân ? những điều kiện quy định sứ mệnh của giai cấp của công nhân ? liên hệ với sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân việt nam?
Sứ mệnh công nhân là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư
bản chủ nghĩa, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh
- SỨ MỆNH CỦA GIAI CẤP VIỆT NAM ;
Khái niệm giai cấp công nhân (giai cấp vô sản):
Cũng như mọi hiện tượng xã hội khác, giai cấp công nhân là con đẻ của một hoàn cảnh lịch sử cụ thể và cùng với sự phát triển của lịch sử, cũng luôn luônphát triển với những biểu hiện và đặc trưng mới trong từng giai đoạn nhất định
Sự phát triển của đại công nghiệp không những đã làm tăng thêm số người
vô sản, mà còn tập hợp họ lại thành một tập đoàn xã hội rộng lớn, thành giai cấp vô sản hiện đại Chính vì vậy, một kết luận rút ra là, giai cấp công nhân hiện đại ra đời gắn liền với sự phát triển của đại công nghiệp, nó là sản phẩmcủa bản thân nền đại công nghiệp và lớn lên cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp đó
Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là một trong những giai cấp cơ bản, chủ yếu, đối lập với giai cấp tư sản, là giai cấp bị giai cấp tư sản tước đoạt hết tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống, bị bóc lột giá trị thặng dư Họ là những người được tự do về thân thể
và có quyền bán sức lao động tùy theo cung – cầu hàng hóa sức lao động Đây là giai cấp bị bóc lột nặng nề, bị bần cùng hóa về vật chất lẫn tinh thần
Sự tồn tại của họ phụ thuộc và quy luật cung – cầu hàng hóa sức lao động, phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ Họ phải tạo ra giá trị thặng dư, nhưng giá trị thặng dư lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt
Trang 7Dưới chủ nghĩa tư bản, C Mác và Ph Ăngghen đã định nghĩa rằng, “Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất hết tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc bán sức lao động của mình đế sống”.
Dù giai cấp công nhân có bao gồm những công nhân làm những công việc khác nhau như thế nào đi nữa, thì theo C Mác và Ph Ăngghen, họ vẫn chỉ
có hai tiêu chí cơ bản để xác định, phân biệt với các giai cấp, tầng lớp xã hội khác
- Một là, về phương thức lao động, phương thức sản xuất, đó là những người lao động trong nền sản xuất công nghiệp Có thể họ là người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao Đã là công nhân hiện đại thì phải gắn với nền đại công nghiệp, bởi vì nó là sản phẩm của nền đại công nghiệp Giaicấp công nhân hiện đại là hạt nhân, bộ phận cơ bản của mọi tầng lớp công nhân
- Hai là, về vị trí trong quan hệ sản xuất của giai cấp công nhân, chúng ta phải xem xét trong hai trường hợp sau:
+ Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì giai cấp công nhân là những người vô sảnhiện đại, không có tư liệu sản xuất, nên buộc phải làm thuê, bán sức lao độngcho nhà tư bản và bị toàn thể giai cấp tư sản bóc lột Tức là giá trị thặng dư
mà giai cấp công nhân tạo ra bị nhà tư bản chiếm đoạt Chính căn cứ vào tiêuchí này mà những người công nhân dưới chủ nghĩa tư bản được gọi là giai cấp vô sản
+ Sau cách mạng vô sản thành công, giai cấp công nhân trở thành giai cấp cầm quyền Nó không còn ở vào địa vị bị áp bức, bị bóc lột nữa, mà trở thành giai cấp thống trị, lãnh đạo cuộc đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng
xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa Giai cấp công nhân cùng với toàn thể nhân dân lao động làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu đã công hữu hóa Như vậy họ không còn là những người vô sản như trước và sản phẩm thặng
dư do họ tạo ra là nguồn gốc cho sự giàu có và phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa
Căn cứ vào hai tiêu chí cơ bản nói trên, chúng ta có thể định nghĩa giai cấp công nhân như sau: Giai cấp công nhân là một tập đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền đại công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất có tính chất xã hội hóa
Trang 8ngày càng cao, là lực lượng lao động cơ bản trực tiếp hoặc tham gia vào quá trình sản xuất, tái sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ xã hội; đại biểu cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến trong thời đại ngày nay.
Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Khi phân tích xã hội tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa Mác với hai phát kiến vĩ đại, đó là quan niệm duy vật về lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư, đã chứng minh một cách khoa học rằng sự ra đời, phát triển và diệt vong của chủ nghĩa tư bản là tất yếu và cũng khẳng định giai cấp công nhân là giai cấptiên tiến nhất và cách mạng nhất, là lực lượng xã hội duy nhất có sứ mệnh lịch sử: xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và giải phóng toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội mới –
xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa
Là giai cấp cơ bản bị áp bức dưới chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân chỉ
có thể thoát khỏi ách áp bức bằng con đường đấu tranh giai cấp chống giai cấp tư sản, bằng con đường thủ tiêu chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và thiếtlập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Bằng cách đó, giai cấp công nhân vĩnh viễn thủ tiêu mọi hình thức người bóc lột người, chẳng những tự giải phóng mình, mà còn giải phóng cả các tầng lớp lao động khác, giải phóng dân tộc và giải phóng toàn thể nhân loại
Những điều kiện khách quan quy định sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân:
Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là do địa vị kinh tế - xã hội khách quan của nó quy định:
- Dưới chủ nghĩa tư bản, với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp công nhân ra đời và từng bước phát triển Giai cấp công nhân là bộ phận quan trọng nhất, cách mạng nhất của lực lượng sản xuất có trình độ xã hội hóa cao Đây là giai cấp tiên tiến nhất, là lực lượng quyết định phá vỡ quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, là người duy nhất có khả năng lãnh đạo xã hội xây dựng một phương thức sản xuất mới cao hơn phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, là giai cấp tiêu biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử trong thời đại ngày nay
Trang 9- Mặc dù là giai cấp tiên tiến, nhưng giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất nên buộc bán sức lao động của mình cho nhà tư bản để sống Họ bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư mà họ đã tạo ra trong thời gian lao động Một khi sức lao động đã trở thành hàng hóa, thì người chủ của nó (người vô sản) phải chịu đựng mọi thử thách, mọi may rủi của cạnh tranh; số phận của
nó tùy thuộc vào quan hệ cung – cầu hàng hóa sức lao động trên thị trường làm thuê và phụ thuộc vào kết quả lao động của chính họ Họ bị giai cấp tư sản áp bức, bóc lột và ngày càng bị bần cùng hóa cả đời sống vật chất lẫn đờisống tinh thần Do đó, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản
là mâu thuẫn đối kháng, cơ bản, không thể điều hòa trong xã hội tư bản chủ nghĩa Xét về mặt bản chất, giai cấp công nhân là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa Những điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể giải phóng mình bằng cách giải phóng toàn thể nhân loại khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được
cả thế giới về mình
- Địa vị kinh tế - xã hội khách quan không chỉ khiến giai cấp công nhân trở thành giai cấp cách mạng triệt để mà còn tạo cho họ có khả năng thực hiện được sứ mệnh lịch sử đó Đó là khả năng đoàn kết giai cấp trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản và xây dựng xã hội mới Đó là khả năng đoàn kết với các giai cấp lao động khác chống chủ nghĩa tư bản Đó là khả năng đoànkết toàn thể giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên quy mô quốc tế chống chủ nghĩa đế quốc
Vì vậy, C Mác và Ph Ăngghen khẳng định: “Trong tất cả các giai cấp hiện đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản thực sự cách mạng Các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của nền đạicông nghiệp; giai cấp vô sản, trái lại, là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”
- Liên hệ với sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân việt nam?
GCCN Việt Nam có những đặc điểm chung của giai cấp công nhân:
- Là giai cấp tiên tiến, là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để nhất, là giai cấp có tinh thần đoàn kết, ý thức tổ chức kỷ luật và có tinh thần quốc tế vô sản nhưng do hoàn cảnh lịch sử giai cấp công nhân Viêt Nam còn có những đặc điểm riêng như sau:
Trang 10+Ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, bị ba tầng áp bức nặng nề ngay từ mới
ra đời đã chịu ảnh hưởng của cách mạng Tháng 10 Nga, tiếp thu CN Lênin, không bị ảnh hưởng của các trào lưu tư tưởng tiểu tư sản, GCCN Viêt Nam từ khi có đảng lãnh đạo, đã nhanh chóng bước lên vũ đài chính trị với
Mac-tư cách là một lực lượng chính trị độc lập với mục tiêu:
+ Giải phóng dân tộc xây dựng thành công CHXH và CNCS ở Viêt Nam GCCN khi sinh ra đã kế thừa truyền thống đấu tranh bất khuất chống giặc ngoại xâm của dân tộc, tinh thần đó lại được nhân lên gấp bội khi có sự lãnh đạo của Đảng Sinh ra và trưởng thành ở một nước phong kiến nửa thuôc địa, nông nghiệp lạc hậu nện hạn chế lớn nhất của giai cấp công nhân Viêt Nam
là còn chịu ảnh hưởng tư tưởng nho giáo phong kiến, tác phong của nền sản xuất nhỏ tiểu nông, câu nệ với sách vở, xa rời quần chúng, thoát ly sản xuất, chúng ta đừng có ảo tưởng những tàn dư tâm lý sản xuất nhỏ ấy có thể một ngày, hai ngày bị quét sạch ra khỏi đời sống xã hội
+ GCCN Việt Nam hiện nay gồm người lao động chân tay, lao động trí óc, hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các Doanh nghiệp nhànước, hợp tác xã, khu vực tư nhân, hợp tác liên doanh với nước ngoài, họ đạidiện cho phương thức sản xuất tiên tiến có tri thức Họ là lực lương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, là hạt nhân vững chắc trong liên minh côngnhân, nông dân trí thức
+ Nhược điểm của giai cấp công nhân Việt Nam: như số lượng còn ít, chưa được rèn luyện nhiều trong công nghiệp hiện đại, trình độ văn hoá và tay nghề còn thấp Nhưng điều đó không thể là lý do để phủ nhận sứ mệnh lịch
sử chủ nghĩa GCCN Viêt Nam
+Xét về bản chất thì chưa thể có và không thể có tổ chức chính trị nào, giai cấp nào có thể thay thế được giai cấp công nhân trong sự nghiệp xây dựng một xã hội mới, trong đó nhân dân lao động được làm chủ, đất nước độc lập
và phồn vinh xóa bỏ áp bức bất công, mọi người đều có điều kiện phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc
+Sứ mệnh của GCCN Việt Nam là giải phóng dân tộc và phát triển đất nước theo định hướng XHCN; qua đó giải phóng giai cấp, giải phóng người lao động, xây dựng một “xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”
+ Hiện nay, để sớm đưa đất nước khỏi tình trang kém phát triển, nội dung trọng tâm là đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức
Trang 11và giữ vững định hướng XHCN Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định đẩy mạnh công nghiêp hóa, hiện đại hóa hiện nay là “Rút ngắn quá trìnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng củanền kinh tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá”
+Theo đó phát triển GCCN nước ta cả về số lượng và chất lượng, và tổ chức;nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp đổi mới Phát triển GCCN cũng chính là phát triển, hoàn thiện chủ thể của sứ mệnh lịch sử hiện đại - cơ
sở xã hội quan trọng nhất bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
+ Sứ mệnh lịch sử của GCCN Việt Nam cũng chỉ có thể thực hiện thắng lợi khi quyền lãnh đạo cách mạng của GCCN, thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, được giữ vững và không ngừng tăng cường; Nhà nước XHCN và chế độ dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân dân lao động nước ta không ngừng được hoàn thiện và phát triển
Câu 3:phân tích thực chất và đặc điểm thời kì quá độ Liên hệ với Việt Nam?
C.Mác Ph.Ănghen, V.I.Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trình vận động, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộngsản chủ nghĩa
Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin, có hai con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội Con đường thứ nhất là quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội từ những nước tư bản chủ nghĩa phát triển ở trình độ cao Con đường thứ hai là quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa
xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp, hoặc như
V.l.Lênin cho rằng, những nước có nền kinh tế lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản cũng có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được trong điều kiện cụ thể nào đó nhất là trong điều kiện đảng kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thành đảng cầm quyền) và được một haynhiều nước tiên tiến giúp đỡ
Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình
Trang 12hình thực tế Việt Nam Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng dân tộc, hòan thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội Như vậy, quan niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quan niệm về một hình thái quá độ gián tiếp cụ thể - quá độ từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội Chính ở nội dung cụ thể này Hồ Chí Minh đã cụ thể và làm phong phú thêm lý luận Mác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước
ta có đặc điểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không
-Phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này chi phối các đặc điểm khác, thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nảy sinh nhiều mâu thuẫn Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạng kinh tế - xã hội quá thấp kém của nước ta
của dân, tài dân, sức dân dưới sự lãnh đạo của Đảng để làm lợi cho dân LẤY VD
Câu 4 : Phân tích tính tất yếu quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam.? Nhận thức của đảng ta về quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ?
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam:
Trang 13- Tính tất yếu của sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam:
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1954 ở Miền Bắc và năm 1975 trên phạm vi cả nước theo kiểu quá độ gián tiếp hoặc như V I Lênin nói là kiểu “đặc biệt của đặc biệt” Đó là sự lựa chọn tất yếu dựa trên những căn cứ sau:
+ Căn cứ vào quan điểm của Chủ nghĩa Mác –Lênin cho rằng, ở những nước nghèo nàn lạc hậu, chậm phát triển về kinh tế vẫn có khả năng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội mà không phải trải qua chế độ tư bản chủ nghĩa
+ Căn cứ vào xu thế phát triển của thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủnghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại Đó cũng là thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nên nhiều nước đã đi lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, Triều Tiên, Lào…
+ Căn cứ vào điều kiện lịch sử của cách mạng nước ta, trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam, con đương quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản trước hết là sự lựa chọn của chính Đảng ta: Ngay từ
“Cương lĩnh chính trị năm 1930” đến “ Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” được trình bày ở Đại hội VII năm 1991, Đảng ta đều thể hiện bản lĩnh chính trị về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Cùng với sự lựa chọn của Đảng ta là sự lựa chọn của chính nhân dân lao động nước ta khi theo Đảng làm cách mạng là muốn có cuộc đời ấm no, hạnhphúc Để mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân không có con đường nào khác là con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
Hiện nay, mặc dù trước mắt, chủ nghĩa tư bản còn có tiềm năng phát triển về kinh tế, chủ nghĩa xã hội hiện thực sụp đỗ ở Liên Xô và Đông Âu, nhưng Đảng ta vẫn khẳng định đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là con đường duy nhất đúng đắn Chủ nghĩa xã hội vẫn là khuynh hướng phát triển khách quan của thời đại Nó không chỉ là lý tưởng mà là hiện thực sinh động trong quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam
Trang 14- Những phương hướng – nhiệm vụ cơ bản xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam:
+ Một là, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, lấy liên minh giai cấp công nhân với giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo Thực hiện ngày càng đầy đủ các quyền dân chủ, làm chủ, quyền lực của nhân dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi tội phạm và kẻ thù của nhân dân
+ Hai là, phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướnghiện đại gắn liền với phát triển một nền công nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm, nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa
xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân
+ Ba là, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập tưng bướcquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy hìnhthức phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu
+ Bốn là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và vănhóa, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị tri chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người
+ Năm là, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới
Trang 15+ Sáu là, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiếnlược của cách mạng Việt Nam Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn luôn nâng cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng.
+ Bảy là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
- Nhận thức của đảng ta về quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ?
-Chính quyền do chính nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, đã phải tốn bao xương máu mới giành được, sẽ bị mất; và chính nhân dân lao động lại rơi xuống địa vị người làm thuê, bị bóc lột và khó có thể thực hiện được mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Chúng ta không đi theo con đường TBCN vì thời đại ngày nay không phải là thời đại của CNTB, mặc dù CNTB đang có sự Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể
và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội ” điều chỉnh để thích nghi với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, nhưng CNTB vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn, bất công xã hội thuộc về bản chất của chế độ TBCN Theo quy luật phát triểncủa lịch sử thì CNTB không thể không bị phủ định Vì thế, Đảng ta đã lựa chọn hướng đi phù hợp với lịch sử cụ thể của Việt Nam là thực hiện quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN dựa trên cơ sở củng cố chính quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; dựa vào khối liên minh công - nông - trí thức để tổ chức và huy động mọi tiềm lực của các tầng lớp nhân dân, tiến hành CNH, HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật cho CNXH Con đường này hoàn toàn mới mẻ và không ít khó khăn, nhưng giảm bớt được đau khổ cho nhân dân lao động “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội
-Quá trình xây dựng đất nước quá độ lên CNXH, có lúc Đảng ta đã phạm sai lầm nghiêm trọng về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện, nhưng với bản
Trang 16lĩnh khoa học, Đảng ta đã nhận thức rõ những sai lầm khuyết điểm do
nguyên nhân thiếu kinh nghiệm và nhất là do chủ quan duy ý chí, vi phạm những quy luật khách quan, dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.Qua kiểm điểm, Đảng đã rút ra những bài học kinh nghiêm sâu sắc, đồng thời, tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, từng bước xác định rõ hơn con đường quá độ lên CNXH; quá trình đổi mới tư duy, trước hết là tư duy về kinh tế, Đảng đã xác định rõ hơn phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt và đã thu được những thành tựu to lớn, có ýnghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, như Đại hội XII của Đảng đã nhận định: “Những thành tựu đó tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo: con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn cách mạngViệt Nam và xu thế phát triển của lịch sử”(6) Như vậy, cả từ phương diện lý luận, cả từ phương diện thực tiễn vận động của lịch sử nhân loại suốt thế kỷ
XX, thập niên đầu thế kỷ XXI và đặc biệt từ thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng, xây dựng đất nước ở Việt Nam, việc nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN là một tất yếu khách quan, là hoàn toàn phù hợp với xu thếcủa thời đại, với đặc điểm lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, đáp ứng đúng khát vọng của nhân dân ta
Câu 5:quan điểm và đặc điểm của NN pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở
VN ?phương hướng xây dựng và hoàn thiện NN pháp quyền xã hội chủ nghĩa ?
-QUAN ĐIỂM …
- Thứ nhất, Nhà nước pháp quyền là nhà nước có hệ thống pháp luật đồng
bộ, hoàn chỉnh, có chất lượng cao; thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với tiến bộ xã hội Các cơ quan nhà nước, cán
bộ, công chức và mọi thành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnhchấp hành Hiến pháp, pháp luật
Thứ hai, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đảm bảo mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền của mình thông qua hình thức đại diện (qua cơ quan nhà nước do mình bầu ra) và hình thức trực tiếp
Thứ ba, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường tính pháp chế trong xã hội, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật; bảo đảm thực hiện và bảo vệ quyền tự do cũng như
Trang 17những lợi ích chính đáng, hợp pháp khác của công dân, chịu trách nhiệm trước công dân về mọi hoạt động của mình.
Thứ tư, Nhà nước pháp quyền Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữacác cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp - hành pháp -
tư pháp, nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, xâm hại tới lợi ích hợp pháp của công dân từ phía nhà nước(3)
Nhà nước pháp quyền là một phạm trù lịch sử Nó có những giá trị mang tínhphổ quát, nhưng cũng có những nét đặc thù được quy định bởi đặc điểm, điều kiện cụ thể của từng quốc gia, dân tộc Vì thế, việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền phải phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội cụ thể của mỗi nước Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn coi nhà nước là một nội dung trọng tâm, là cột trụ của hệ thống chính trị, là công cụ thực hiện quyền lực của nhân dân Đồng thời, chủ trương xây dựng Nhà nước Việt Nam theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; lấy liên minh công nông và tầng lớp trí thức làm nền tảng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
- ĐẶC ĐIỂM ;
- Một là, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp
- Hai là, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, mọi chủ thể trong xã hội đều phảitôn trọng và nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật mà Hiến pháp là đạo luật tối cao, bộ luật gốc mang tính nền tảng
Ba là, khẳng định và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tôn trọng sự bình đẳng của mọi cá nhân và thể nhân trong thụ hưởng và phát triển quyền, không có sự phân biệt đối xử, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội
- Bốn là, sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam được Hiến định trong các Hiến pháp trước đây và tiếp tục được khẳng định tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013
Trang 18- Năm là, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân Quyền và nghĩa
vụ của tất cả mọi người, mọi công dân và của mỗi người, mỗi công dân đượcpháp luật và các chủ thể trong xã hội, đặc biệt là Nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy trong khuôn khổ luật pháp
-PHƯƠNG HƯỚNG:
-Trước những vấn đề được đặt ra trên đây, có thể khẳng định rằng, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang trở thành một đòi hỏi khách quan, một nhu cầu tất yếu trong quá trình thực hiện mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân, chúng ta cần chú ý giải quyết các vấn đề sau:
- Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về phương thức và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có hệ thống pháp luật đồng bộ và chất lượng cao
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật của quần chúng nhân dân
- Xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, mở rộng và phát huyquyền làm chủ của nhân dân
- Kiên quyết và đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống bệnh quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước, làm trong sạch bộ máy Đảng và Nhà nước
- Xây dựng thể chế và hoàn thiện bộ máy của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chỉ có thể thực hiện thành công trên cơ sở nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước chuyên chính vô sản, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân Đồng thời, chúng ta cần phải quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Trang 19( THAM KHẢO)
Thứ nhất, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trên cả ba lĩnh vực: xây dựng pháp luật, chấp hành pháp luật và bảo vệ pháp luật Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại với tính công khai, minh bạch cao, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
và yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng Chỉ đạo chặt chẽ quá trình chuẩn bị và thông qua các dự án luật, bảo đảm quán triệt đường lối, quan điểm của Đảng,tổng kết thực tiễn, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp tiên tiến của nước ngoài; tập hợp trí tuệ của các nhà khoa học, các chuyên gia, ý kiến đóng góp của nhân dân, nhất là các đối tượng có liên quan đến việc thi hành pháp luật Các bộ luật, luật ban hành cần bảo đảm tính khả thi, dễ hiểu, quy định cụ thể để khắc phục tình trạng phải chờ đợi văn bản hướng dẫn thi hành.Tăng cường thông tin, tuyên truyền, giải thích, giáo dục pháp luật để nhân dân hiểu và tự giác chấp hành Tổ chức thực hiện và chấp hành nghiêm chỉnhpháp luật, đấu tranh chống các biểu hiện coi thường pháp luật, kỷ cương, phép nước Bên cạnh đó cần đề cao tinh thần “thượng tôn pháp luật,” coi trọng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa, kết hợp sức mạnh của pháp luật với sức mạnh đạo đức, văn hóa và dư luận xã hội Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên trong việc xây dựng, bảo vệ chính quyền, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thu hút sự tham gia ngày càng rộng rãi của nhân dân vào công việc quản
lý nhà nước, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước cũng như trong đời sống xã hội
Thứ hai, chủ động xây dựng và kiến tạo các điều kiện thuận lợi để các giá trị của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể hình thành và phát triển mạnh mẽ Trước mắt cần tập trung tiến hành một cách toàn diện, đồng bộ sự nghiệp đổi mới đất nước, tận dụng mọi thời cơ, vượt lên mọi khó khăn, tháchthức, đưa đất nước đến gần hơn các giá trị của nhân loại Cần có các hình thức đẩy mạnh xã hội học tập, nâng cao trình độ dân trí, tạo lập môi trường
để rèn luyện ý thức và bản lĩnh chính trị của công dân Quyết tâm thực hiện các cơ chế mở rộng dân chủ, đặc biệt là yêu cầu công khai, minh bạch và quyền được thông tin để người dân thực sự được sống, được tham gia vào đời sống chính trị, được biết và cho ý kiến về những quyết sách có liên quan
Có các cơ chế thúc đẩy kinh tế, văn hóa phát triển, vì đời sống vật chất, tinh